Bài tiểu luận về lập chiến lược phát triển cho khoa quản trị trường Đại học Luật Tp.HCM đã tiến hành nghiên cứu từ các tài liệu liên quan đến khoa quản trị trường ĐH Luật nói riêng cũng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh 3
a Quá trình hình thành 3
b Chức năng, nhiệm vụ và định hướng phát triển 4
c Nguồn lực giảng dạy 5
II Phân tích môi trường bên trong, bên ngoài của khoa Quản trị 6
a Mục tiêu đào tạo của khoa Quản trị 6
b Phân tích môi trường bên ngoài 7
c Phân tích môi trường bên trong 18
d Phân tích SWOT 20
III Phát triển chiến lược cho khoa Quản trị 21
LỜI KẾT 24
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Cô và các bạn thân mến,
Khi được thông báo làm bài tập về quản trị chiến lược cho khoa quản trị, nhóm chúng em đã hết sức
“bấn loạn” vì không biết phải làm từ đâu và làm như thế nào Tuy nhiên cũng phải xắn tay áo lên mà làm thôi Và nhóm em cũng chợt nhận ra hóa ra là sinh viên của khoa quản trị mà kiến thức về khoa lại ít đến như vậy, chúng em đã bắt đầu tìm hiểu từ những điều cơ bản nhất như là mục tiêu, định hướng phát triển của khoa…cho đến tìm hiểu thông tin từng giảng viên của khoa
Bài tiểu luận về lập chiến lược phát triển cho khoa quản trị trường Đại học Luật Tp.HCM đã tiến hành nghiên cứu từ các tài liệu liên quan đến khoa quản trị trường ĐH Luật nói riêng cũng như ngành quản trị nói chung từ các lĩnh vực giáo dục cho đến kinh tế, xã hội, pháp luật…
Bài tiểu luận về lập chiến lược phát triển cho khoa quản trị trường ĐH Luật giới thiệu những thông tin cơ bản về khoa quản trị trường ĐH Luật, thể hiện những điểm mạnh điểm yếu của khoa qua bảng phân tích, những yếu tố bên ngoài bên trong tác động đến khoa và ngành nói chung…từ đó đề ra biện pháp khắc phục và định hướng phát triển cho khoa
Mặc dù được hoàn thành với nhiều cố gắng nhưng tiểu luận chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót và những ý kiến trái chiều Nhóm It’s OK chân thành mong nhận được sự góp ý của cô và các bạn để nhóm có cái nhìn nhiều chiều về khoa
Nhóm It’s OK xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn môn quản trị chiến lược: cô Hà Thị Thanh Mai đã hướng dẫn và trả lời những câu hỏi của chúng em
Trân trọng cảm ơn
Tp.HCM, ngày 22 tháng 11 năm 2014
Trang 3I Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
a Quá trình hình thành
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh là trường đào tạo luật hàng đầu ở khu vực phía Nam, đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu để góp phần xây dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới và các quốc gia trong khu vực
Năm 1982, sau khi tái thành lập Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ra Quyết định số QĐ/ĐT ngày 16/10/1982 về việc thành lập Trường Trung học Pháp lý TP Hồ Chí Minh trên cơ sở Trường Cán bộ tư pháp trước đây Trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ trung cấp pháp lý
199-Từ năm 1983 -1988, Trường phối hợp với Trường Đại học Pháp lý Hà Nội mở lớp đại học pháp lý
Ngày 25/12/1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 357-CT về việc thành lập Phân hiệu Đại học Pháp lý TP Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tư pháp Phân hiệu có nhiệm vụ phối hợp với Trường Đại học Pháp lý Hà Nội đào tạo cán bộ có trình độ đại học pháp lý cho các tỉnh phía Nam
Ngày 6/7/1993, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 368/QĐ-TC về việc đổi tên Phân hiệu Đại học Pháp lý TP Hồ Chí Minh thành Phân hiệu Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Ngày 30 tháng 3 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo ký Quyết định số 1234/GD-ĐT thành lập Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh trực thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh trên
cơ sở sáp nhập Phân hiệu Đại học Luật TP HCM và Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp TP HCM
Trang 4Ngày 10 tháng 10 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 118/2000/QĐ-TTg về việc thay đổi tổ chức của Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Theo Quyết định số 118/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, Trường Trường Đại học Luật tách ra khỏi Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
b Chức năng, nhiệm vụ và định hướng phát triển
Trải qua một chặng đường phát triển, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã và đang từng bước khẳng định vị trí, vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý và truyền bá pháp luật lớn ở khu vực phía Nam Trong xu hướng đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, yếu tố cạnh tranh trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo ngành luật nói riêng đặt ra cho Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh yêu cầu bắt buộc phải đổi mới để phát triển, phải đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và đủ các trình độ để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã có những chiến lược, sách lược, kế hoạch tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm đào tạo về pháp luật ở phía Nam Trong những năm qua, nhà trường đã cố gắng từng bước khẳng định thương hiệu trong quá trình xây dựng mô hình phát triển và nâng cao chất lượng của giáo dục đại học thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực ngành luật có chất lượng cao cho các
cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp và các doanh nghiệp, kể cả các cơ sở giáo dục có đào tạo chuyên ngành luật và không chuyên luật; sớm hội nhập với giáo dục đại học trong khu vực và thế giới Theo đó, sẽ mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài của nhà trường trong tương lai
Những định hướng trên của Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong các văn bản của Đảng, Chính phủ Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Xây dựng Trường Đại học Luật
Trang 5Hà Nội và Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật”
c Nguồn lực giảng dạy
Đến thời điểm tháng 12/2012 số lượng CBGV của Trường đã tăng gần 3 lần so với năm 1996 (từ 115 lên 320 CBGV) Nhà trường có 210 giảng viên, trong đó có 48 tiến sĩ (gấp gần 8 lần so với năm 1996), 140 thạc sĩ (gấp 23 lần so với năm 1996), 01 GVCC, 38 GVC (tăng gần 4 lần so với năm 1996), Nhà trường hiện đang có 01 Nhà giáo Ưu tú, 01 Giáo sư, 08 Phó giáo sư Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ của các phòng, trung tâm của Trường cũng đã tăng (từ 53 người năm 1996 lên 111 người năm 2012) với chất lượng làm việc cao
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh hiện có 8 Khoa và bộ môn (thuộc trường) đào tạo đại học và sau đại học, 2 trung tâm trực tiếp thực hiện công tác đào tạo Năm học 2009-2010, Trường có
6 chuyên ngành đào tạo đại học (Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Quốc tế, Luật Hình sự, Luật Hành chính và Quản trị - Luật), 5 chuyên ngành đào tạo thạc sỹ (chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tội phạm học - Điều tra tội phạm) và 3 chuyên ngành tiến sỹ (Luật Kinh tế, Luật Hình sự và Luật Hành chính - Nhà nước) với gần 12.000 học sinh, sinh viên, học viên theo học Hàng năm, có khoảng 3.300 học sinh, sinh viên, học viên ở các trình độ trung cấp, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ tốt nghiệp với nhiều chuyên ngành luật khác nhau, bổ sung một nguồn nhân lực quan trọng cho xã hội nói chung và khu vực các tỉnh phía Nam nói riêng
+ Các Khoa và Bộ môn: Khoa Khoa học cơ bản, Khoa Luật Thương mại, Khoa Luật Dân
sự, Khoa Luật Hình sự, Khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Khoa Luật Quốc tế, Khoa Quản trị, Bộ môn Anh văn pháp lý
+ Các Phòng: Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Đào tạo, Phòng Đào tạo không chính quy, Phòng Đào tạo sau đại học, Phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế, Phòng Công tác Chính trị - Sinh viên, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Quản trị - Thiết bị, Phòng Thanh tra
Trang 6
+ Các Trung tâm và tương đương: Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Phương pháp giảng dạy, Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trung tâm Nghiên cứu pháp luật về quyền con người và quyền công dân, Trung tâm Tư vấn pháp luật & Đào tạo ngắn hạn, Trung tâm Học liệu, Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Pháp luật Nhật Bản,Tạp chí Khoa học pháp lý, Trạm Y tế
Trong kỳ tuyển sinh 2009, trường đã tuyển sinh ngành Quản trị - Luật, vào năm 2011, trường tuyển sinh thêm ngành học mới: Quản trị kinh doanh Đầu tháng 6 vừa qua, Bộ GD-ĐT cho phép trường tiếp tục thí điểm tuyển sinh và đào tạo ngành Quản trị - Luật Hiện nay, trường là nơi duy nhất ở Việt Nam được phép đào tạo ngành Quản trị - Luật, một song ngành (kết hợp Quản trị kinh doanh và Luật), thời gian đào tạo là 5 năm
Và sau đây, chúng ta sẽ tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đưa ra chiến lược phát triển cho khoa Quản trị trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
a Mục tiêu đào tạo của khoa Quản trị
Khoa Quản trị trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh hiện đào tạo 2 ngành: Quản trị - Luật và Quản trị kinh doanh
Mục tiêu đào tạo của ngành Quản trị - Luật:
- Về kiến thức: Đào tạo cử nhân ngành Quản trị _ Luật có năng lực chuyên môn cao theo tiêu chuẩn quốc tế, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức nghề nghiệp, có sức khỏe, đáp ứng được nhu cầu
xã hội Chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức hiện đại về kinh doanh, luật Cử nhân ngành Quản trị _ Luật của trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh có khả năng hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp, hiểu biết các vấn đề quản trị, tổ chức phức tạp, đồng thời nắm vững các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, điều mà những người ở vị trí
Trang 7lãnh đạo thường phải đối mặt, đáp ứng và thích nghi với môi trường kinh doanh trong nước và quốc
tế luôn biến động trong điều kiện cạnh tranh cao, sử dụng thành tạo Tiếng anh và Tin học ứng dụng
- Về kỹ năng : Có các kỹ năng chuyên sâu không chỉ về lĩnh vực quản trị kinh doanh mà còn
có cả kỹ năng nhìn nhận, tư duy về các vấn đề pháp lý Cử nhân Quản trị _ Luật cũng được giáo dục
về thái độ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tuân thủ đúng pháp luật trong lĩnh vực quản trị kinh doanh
- Về khả năng công tác: Sau khi tốt nghiệp, sinh viên ngành Quản trị _ Luật của Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, với khối kiến thức sâu về quản trị kinh doanh và kiến thức nền tảng về pháp luật, có thể làm việc trong các lĩnh vực: dịch vụ công cộng, thương mại/kinh doanh quốc tế, quản trị doanh nghiệp, tài chính, tư vấn quản trị, tư vấn tài chính, tư vấn luật kinh doanh Có nhiều thuận lợi khi làm việc tại các ngân hàng thương mại; các định chế tài chính quốc tế; các hiệp hội ngành nghề; các công ty tư vấn về luật
Mục tiêu đào tạo ngành Quản trị kinh doanh:
- Ngành Quản trị kinh doanh cung cấp cho sinh viên kiến thức hiện đại về quản trị knih doanh
và những bài học kinh nghiệm quản lý của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm giúp sinh viên có những kỹ năng cần thiết và phẩm chất phù hợp để quản lý doanh nghiệp một cách khoa học và hiệu quả
- Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc ở các doanh nghiệp công ty, tổng công ty, các đơn vị hoạt động trên các lĩnh vực: sản xuất, dịch vụ, xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ
b Phân tích môi trường bên ngoài
Phân tích môi trường bên ngoài cho ta biết doanh nghiệp có thể làm gì, bao gồm các yếu tố khách quan bên ngoài nhưng có tác động chi phối hoạt động và ảnh hưởng của doanh nghiệp, thông qua phân tích môi trường vĩ mô – PEST và môi trường vi mô – 5 lực tác động
Trang 8 Môi trường vĩ mô – PEST
Chính trị - pháp luật
định Nền chính trị ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề nói chung và ngành giáo dục nói riêng Mặt khác, môi trường chính sách còn chưa thuận lợi Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đang trong quá trình hoàn chỉnh, trong khi năng lực của cán bộ xây dựng và thực thi chính sách còn yếu
xếp vào diện “đầu tư cho tương lai”, luôn được ngân sách nhà nước quan tâm chăm lo trên cả 2 khía cạnh: Một là, cơ bản không thu thuế hoặc chỉ động viên ở mức “tượng trưng”; Hai là, bảo đảm ưu tiên chi ở mức cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu theo dự toán được duyệt Chính sách, pháp luật về thuế được thiết kế thuận lợi, ưu đãi cao đối với cả đầu vào và sản phẩm, dịch vụ đầu ra của giáo dục đại học, cụ thể như sau:
khoa học, giáo trình, sách giáo khoa và các nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ dùng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập
tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu kỹ thuật; Không thu thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động dạy học, dạy nghề của các cơ sở đào tạo (bao gồm cả tiền học, tiền ở ký túc xá, suất ăn tập thể thu của sinh viên)
trường đại học, cao đẳng
tài trợ nhận được của các cơ sở giáo dục đại học có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chi trả, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân dành cho cơ sở giáo dục đại học
theo diện xã hội hoá như: Miễn tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất; Miễn tiền thuê
Trang 9đất trong trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư dự án; Miễn tiền thuế sử dụng đất hàng năm; Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 10% suốt
dự án, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, giảm thuế 50% trong 5 năm hoặc 9 năm tiếp theo, tùy thuộc địa bàn thực hiện dự án)
đã khẳng định quyền tự chủ của các trường đại học trong một điều luật riêng – Điều 32 về quyền
tự chủ của cơ sở giáo dục đại học (Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ
ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục) Sự kiện này được xem là một bước tiến quan trọng trong quan điểm quản trị đại học của nhà nước Việt Nam nói chung và Bộ Giáo dục nói riêng, vì đây là lần đầu tiên quyền tự chủ của trường đại học được đưa vào văn bản pháp luật (mặc dù quyền tự chủ đã trở thành một quyền luật định của các trường đại học từ hơn một năm nay, nhưng dư luận xã hội và bản thân các trường đại học của Việt Nam, kể cả các trường đại học tư thục hoàn toàn không nhận kinh phí của nhà nước, vẫn cho rằng nhà nước – mà cụ thể là Bộ Giáo dục – đang kiểm soát các trường quá chặt chẽ với những quy định chi li, không đúng với tinh thần trao quyền tự chủ cho các trường.)
Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Ngày 4.11.2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Quyết định
Trang 10số 549/QĐ-TTg ngày 4/4/2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt Đề án tổng thể “Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật” Đề án này nhằm tập trung nguồn lực xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật, có đội ngũ cán bộ, giảng viên vững mạnh; hệ thống chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo tiên tiến; cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, cơ sở thực hành và thư viện hiện đại, có mô hình quản trị tiên tiến…
Kinh tế
Môi trường kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của thị trường Có sức mua mới có thị trường Tổng sức mua phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế thuộc các lĩnh vực khác nhau, sự thay đổi kết cấu tiêu dùng cũng như sự phân bổ sức mua ở các vùng khác nhau Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có tác dụng quyết định đối với giáo dục trên các mặt: chương trình giáo dục, điều kiện học, quy mô và tốc độ phát triển giáo dục Kinh tế quyết định hệ thống, cấu trúc giáo dục
Kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng trong năm 2009 vẫn trong thời kỳ khó khăn do hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 Tuy nhiên chính phủ Việt Nam
đã có những chính sách hiệu quả kiềm chế sự suy thoái và dần dần hồi phục nền kinh tế Năm 2011
do những bất ổn vĩ mô cuối năm 2010 (Lạm phát tăng nhanh, thâm hụt thương mại lớn, hệ thống tài chính đứng trước nguy cơ bất ổn cao) và những tác động phụ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm Tiếp nối với những khó khăn của năm 2011, tình hình phát triển kinh tế của năm 2012 vẫn chủ yếu là khó khăn, vướng mắc kinh tế gắn với khủng hoảng, bất ổn Tình hình kinh năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp như Hàng tồn kho ở
Trang 11mức cao, sức mua yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể Kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu
Ở trong nước, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn, tồn kho hàng hóa vẫn ở mức cao Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu Tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng phần nào đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước tình hình phát triển kinh tế Việt nam cho thấy ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được cải thiện Kinh tế vĩ mô Việt Nam tiếp tục ổn định: lạm phát giảm, cải thiện tài khoản đối ngoại và ổn định thị trường ngoại hối Tăng trưởng GDP năm 2014 dự báo ở mức khiêm tốn khoảng 5,4%, do có sự hỗ trợ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế tạo vẫn mạnh Bên cạnh đó, cầu trong nước của Việt Nam vẫn còn yếu do lòng tin của khu vực tư nhân chưa
đủ mạnh, tỷ lệ nợ trên vốn của các doanh nghiệp nhà nước và tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại còn cao
Các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo gồm xây mới, cải tạo mở rộng, đầu tư mua sắm trang thiết bị cho các trường học từ mầm non đến đại học và dạy nghề công lập hoặc tư nhân đều được ngân sách Tp.Hồ Chí Minh hỗ trợ 100% lãi vay bằng nguồn vốn kích cầu
Trang 12Nguồn dữ liệu Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt Nam
Đánh dấu năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, lạm phát tại Việt Nam bùng nổ trong năm 2008 Tình hình có vẻ nhanh chóng được kiểm soát trong năm 2009, nhưng ngay sau đó
là cú hồi mã thương nhức nhối năm 2010 và 2011 Năm 2012 và cả 2013, lạm phát đã hạ nhiệt nhanh Lạm phát đang tiếp tục giảm nhẹ ổn định ở mức 7% nhưng đây vẫn là mức cao
Lạm phát tăng sẽ làm cho chi phí cho việc giảng dạy tăng, dẫn đến học phí tăng
Thu nhập của người dân đang tăng, ước tính con số này sẽ lên tới 1.900 USD vào năm 2013 Thu nhập tăng có khiến cho chi tiêu tăng trong tình hình kinh tế hiện nay hay không? Theo một nghiên cứu tổng quan về cuộc sống người dân Việt Nam năm 2013 chỉ ra rằng: Thu nhập cá nhân tăng nhưng tăng là do ảnh hưởng của lạm phát Vì vậy người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu hơn