Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao, Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng như Tả Ao phá trấn yểm củ
Trang 1Hầu chuyện chư vị, ai cho là chuyện mê tín dị đoan, thì xin đừng xem nữa Ai có
dạy dỗ gì, tôi cũng không dám nhận, vì tôi không nghiên cứu về Phong thủy Chỉ mua vui cho mấy chỗ bằng hữu bằng dăm ba câu chuyện mà thôi!
(Lâm Khang cẩn bút).
TẢ AO TIÊN SINH
Thầy địa lý Tả Ao là ông Mỗ (không xác định được danh tính) Thuở nhỏ, mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ mắt lòa, ông theo một khách buôn ở phố Phù Thạch (gần rú Thành ở Nghệ An) về Tàu để lấy thuốc chữa bệnh cho thân mẫu Thầy thuốc khen Tả Ao có hiếu nên hết lòng dạy cho
Khi nghề đã thành, sắp về nước, chợt có thày địa lý chính tông đau mắt đã lâu không khỏi, đến mời thày thuốc này đến chữa, do già yếu nên ông thày sai Tả Ao đi chữa thay Khi Tả Ao chữa khỏi mù loà, ông thày địa lý nhìn thấy Tả Ao nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề cho được đây Tả Ao cũng có ý muốn học, vả lại thấy Tả Ao thông minh, hiếu học, để trả ơn chữa bệnh nên thày địa lý nọ đã truyền hết nghề, hơn một năm đã giỏi
Để thử tay nghề của học trò, ông thày bèn đổ cát thành hình núi sông và vùi một trăm đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống Tả Ao đã cắm được 99 kim đúng lỗ đồng tiền (chính huyệt), chỉ sai có một
Xong ông thày nói:
- Nghề của ta đã sang nước Nam mất rồi Rồi cho Tả Ao cái tróc long và thần chú Tả Ao
về nước Nam chữa khỏi bệnh cho thân mẫu
Trước khi từ biệt, ông thày địa lý bên Tàu dặn: Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên Nhưng một lần đi qua Hồng Lĩnh, không hiểu duyên cớ gì Tả Ao lại lên núi và thấy kiểu đất Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc), mừng mà nói rằng: – Huyệt đế vương đây rồi, thày dặn không lên là vì thế Bèn đưa mộ cha về táng ở đấy Ít lâu, vợ Tả
Ao sinh hạ được một con trai
Khi ấy, nhà Minh bên Trung Quốc, các thày thiên văn phát hiện các vì tinh tú đều chầu
về nước Nam nên tâu với nhà Vua, ý là nước Nam được đất sẽ sinh ra người tài, sẽ hại cho nhà Minh Nhà Vua bèn truyền các thày địa lý là nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc Ông thày của Tả Ao biết
là chỉ có học trò của mình mới làm được việc này nên cho con trai tìm đường xuống nước Nam mà hỏi:
Trang 2- Từ khi đại huynh về đã cất được mộ phần gia tiên nào chưa Tả Ao cũng thực tâm thuật lại việc đặt mộ cha mình Con thày Tàu dùng mẹo cất lấy ngôi mộ, bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu Rồi thân mẫu của Tả Ao mất, Tả Ao tìm được đất Hàm rồng ở ngoài nơi hải đảo để táng Đến ngày giờ định táng thì trời gió to sóng lớn, không mang ra được.
Lát sau trời yên, biển lặng ở đó nổi lên một bãi bồi, Tả Ao bèn than rằng: Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc Trời đã không cho thì đúng là số rồi Rồi Tả Ao chán nản gia cảnh, bỏ quê hương chu du khắp bốn phương để chữa bệnh, tìm đất giúp người
Khi già yếu, Tả Ao cũng đã chọn cho mình chỗ an táng kiểu đất Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên Tả Ao có hai người con trai nhưng do Tả Ao chu du thiên hạ, không màng dang vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để nằm dưới mộ và sẽ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn), dặn con cứ thế mà làm Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi nên Tả Ao bèn chỉ đại một gò bên đường mà dặn con rằng: Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế
Ông xuống cáng, chỉ hướng cho người nhà đào Hai con bèn táng luôn ở đó Sau quả nhiên làm Phúc thần
Trang 3Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách địa lý phong thủy thời nhà Nguyễn và sau này Sách Hán Nôm được cho là do Tả
Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 左 左 左 左 左), Tả Ao chân truyền tập (左
左 左 左 左), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 左 左 左 左 左), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 左 左 左 左 左 左 左 左 左), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 左 左 左 左 左), Tả Ao
xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 左 左 左 左 左 左 左 左左 左) Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả
Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm
Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam của Ngô Nguyên Phi … đều nói sơ lược về Tả Ao
Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam Giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc Người đời xưa còn truyền lại bài thơ ca ngợi ông
Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao, Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng (như Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội, núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa,…), các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị kẻ gian ác
Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Tả Ao chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Tả Ao tìm long mạch, huyệt đạo đặt mồ mả Có một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay tại thôn Nam Trì xã Đặng
Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên (nơi có đền thờ Tả Ao): Truyền tích gắn liền với ngôi đền thờ Tả Ao làng Nam Trì còn lưu truyền đến ngày nay là thời kỳ Tả Ao ở khu vực Hưng Yên một thời gian Tả Ao về huyện Thiên Thi (tên cũ của Ân Thi) đã cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân
Trang 4Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, trước thuộc huyện Tiên Lữ, nay thuộc Hưng Yên) phát
về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ Nhất Thi nhì Hới
Tại Nam Trì, Tả Ao đã giúp dân làng lập lại làng, chuyển đền, chùa và tìm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò Tam Thai vượng về võ tướng Đến năm Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải, người họ Đinh làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ
Đệ tam giáp Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và được bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá Hậu duệ của Đinh Tú (lăng mộ tại Nam Trì), chuyển sang sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng, là Đinh Văn Tả – một danh tướng thời Lê-Trịnh
Đền thờ
Có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, nhất là giai thoại khi Tả Ao mất, táng ở “ngôi Huyết thực” để được một làng cúng tế Thực tế, cũng chưa thấy ở đâu (kể cả ở quê hương) có đền thờ Tả Ao và cũng không thấy Tả Ao được phong thần Hiện nay, có lẽ là duy nhất ở thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên có thờ
Tả Ao
Đền Nam Trì nguyên thờ tam vị Thượng đẳng phúc Thần: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công), Cao Biền (Cao Vương) và Tả Ao gắn với Lễ hội Nam Trì (hay Lễ hội: Bảo, Lang, Biền) Trong danh sách 7 vị thần thờ ở đền Nam Trì (3
vị trên và 1 vị phu nhân Lữ Gia và 2 vị phu nhân Cao Biền) thì vị thứ 7 là Nguyễn Lang nhưng thực tế ở Nam Trì thì chỉ biết vị thứ 7 là Tả Ao chứ không biết Nguyễn Lang là ai
Theo lịch sử và thần tích thờ tự đền Nam Trì thì khi Tả Ao giúp dân làng lập lại làng, chuyển chùa, đền thờ về phía Tây Nam; nhớ công ơn Tả Ao, dân làng Nam Trì đã tôn Tả
Ao là vị Bản cảnh Thành hoàng và thờ cùng tam vị Thượng đẳng phúc Thần từ đó đến nay Hiện trong đền Nam Trì có câu đối của Tả Ao tả về địa lý, phong thuỷ làng Nam Trì:
Trang 5“Tây lộ khê lưu Kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ Mộc cư tiền” nghĩa là phía tây của
đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng Tây Bắc hành Kim) – phía đông làng có sông nước tụ, làng nhìn về hướng đông nam (hướng đông nam hành Mộc)
Tả Ao hay Tả Ao tiên sinh, là nhân vật làm nghề địa lý phong thuỷ nổi tiếng
ở Việt Nam Ông được cho là tác giả của một số cuốn sách Hán Nôm cổ truyền bá thuật phong thủy của Việt Nam Trong dân gian tương truyền nhiều giai thoại cổ về hành trạng thuật phong thủy của ông ở các làng xã Việt Nam thời xưa Tả Ao có quê ở làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh)
Ban thờ Tả Ao tại đền Nam Trì
Cuộc đời
Cái tên Tả Ao không phải là tên thật của nhân vật này, mà là tên làng quê của ông, được ông lấy làm tên hiệu và gắn với tác phẩm của mình Cũng tương truyền, tên ông được người xưa lấy tên làng, nơi ông sinh ra để gọi, mà không gọi tên thật Tên thật của ông thì không rõ ràng.Bách khoa toàn thư Việt Nam viết rằng: Tả Ao, trong sách Lịc triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, có tên là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chỉ Còn trong dân gian, xuất phát từ quê hương ông, lưu truyền tên gọi thật là Vũ Đức Huyền Cũng có nguồn nói rằng ông có tên là Nguyễn Đức Huyền Tả Ao sinh vào khoảng năm nhâm tuất (1442), sống thời Lê sơi , tức là khoảng những năm 1442-1509) Có tài liệu cho rằng Tả Ao sinh sống trong khoảng đời vua Lê Hy Tông (1676-1704)
Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách đại lý phong thủy thời nhà Nguyễni và sau này Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân
truyền di thư , Tả Ao chân truyền tập , Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng , Tả Ao tiên sinh địa lý ,Tả Ao xã tiên sư thư
Trang 6truyền bí mật các lục Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở viện nghiên cứu Hán
Nôm Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng: Tả Ao là tên hiệu của
Hoàng Chiêm
Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam
của Ngô Nguyên Phi đều nói sơ lược về Tả Ao
Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả
Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc Người đời xưa còn truyền lại bài thơ ca ngợi ông :
Tả Ao phong thuỷ nhất trên đời Hoạ phúc cầm cân định chẳng sai Mắt Thánh trông xuyên ba thước đất Tay Thần xoay chuyển bốn phương Trời Chân đi Long
Hổ luồn qua gót Miệng gọi trâu dê ứng trả lời Ai muốn cầu sao cho được vậy Mấy ai địa lý được như Tả Ao
Tả Ao còn để lại hai bộ sách, đó là: Địa lý Tả Ao(địa đạo diễn ca),dã đàm Tả Ao tầm long gia truyền và bảy dị bản khác
Giai thoại và truyền thuyết
Tả Ao Tiên sinh - Thầy địa lý Tả Ao là ông Mỗ (không xác định được danh tính) Thuở nhỏ, mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ mắt lòa, ông theo một khách buôn ở phố Phù Thạch (gần rú Thành ở Nghệ An) về Tàu để lấy thuốc chữa bệnh cho thân mẫu Thầy thuốc khen Tả Ao có hiếu nên hết lòng dạy cho Khi có thày địa lý bị mù loà mời ông thày đến chữa, do già yếu nên ông thày sai Tả Ao đi chữa thay Khi Tả Ao chữa khỏi mù loà, ông thày địa lý nhìn thấy
Tả Ao nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề cho được đây Tả Ao cũng có
ý muốn học, vả lại thấy Tả Ao thông minh, hiếu học, để trả ơn chữa bệnh nên thày địa lý nọ đã truyền hết nghề, hơn một năm đã giỏi Để thử tay nghề của học trò, ông thày bèn đổ cát thành hình núi sông và vùi một trăm đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống Tả Ao đã cắm được chín chín kim đúng lỗ đồng tiền (chính huyệt), chỉ sai có một Xong
ông thày nói: Nghề của ta đã sang nước Nam mất rồi Rồi cho Tả Ao cái tróc
long và thần chú Tả Ao về nước Nam chữa khỏi bệnh cho thân mẫu
Trước khi từ biệt, ông thày địa lý bên Tàu dặn: Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên Nhưng một lần đi qua Hồng Lĩnh, không hiểu duyên
cớ gì Tả Ao lại lên núi và thấy kiểu đất Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc), mừng mà nói rằng: Huyệt đế vương đây rồi, thày dặn không lên là vì thế Bèn đưa mộ cha về táng ở đấy Ít lâu, vợ Tả Ao sinh hạ được một con
trai
Khi ấy, nhà Minh bên Trung Quốc, các thày thiên văn phát hiện các vì tinh tú đều chầu về nước Nam nên tâu với nhà Vua, ý là nước Nam được đất sẽ sinh ra người tài, sẽ hại cho nhà Minh Nhà Vua bèn truyền các thày địa lý là
Trang 7nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc Ông thày của Tả Ao biết là chỉ có học trò của mình mới làm được việc này nên cho con trai tìm đường xuống nước Nam mà hỏi:
Từ khi đại huynh về đã cất được mộ phần gia tiên nào chưa Tả Ao cũng thực
tâm thuật lại việc đặt mộ cha mình Con thày Tàu dùng mẹo cất lấy ngôi mộ, bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu Rồi thân mẫu của Tả Ao mất, Tả Ao tìm được đất Hàm rồng ở ngoài nơi hải đảo để táng Đến ngày giờ định táng thì trời gió to sóng lớn, không mang ra được Lát sau trời yên, biển lặng ở đó nổi
lên một bãi bồi, Tả Ao bèn than rằng: Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc Trời đã không cho thì đúng là số rồi
Rồi Tả Ao chán nản gia cảnh, bỏ quê hương chu du khắp bốn phương để chữa bệnh, tìm đất giúp người
Khi già yếu, Tả Ao cũng đã chọn cho mình chỗ an táng kiểu đất Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên Tả Ao có hai người con trai nhưng do
Tả Ao chu du thiên hạ, không màng dang vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để nằm dưới mộ và sẽ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn), dặn con cứ thế mà làm Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi nên Tả Ao bèn chỉ đại một gò bên đường mà dặn con rằng:
Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế Hai con bèn táng luôn ở đó (Sách tang thương ngẫu lục của Phạm
Đình Hổ và Nguyễn Án - NXB Văn học 2001, sách Nam hải dị nhân của Phan
Kế Bính - NXB Thanh niên 1999)
Tả Ao tìm được chỗ táng cho thân mẫu ngoài bãi biển nhưng khi chuẩn bị táng thì mưa gió, sóng biển ầm ầm nên người anh trai sợ mất mộ nên không cho táng Khi Tả Ao ngã bệnh phương xa mới sai học trò đưa về để táng tại nơi đã chọn Được nửa đường người họa trò lại mất trước Về đến quê thì Tả
Ao ốm nặng bèn sai người nhà mang đến chỗ ấy Đường thì xa, liệu chừng không đưa được đến nơi nên bèn chỉ cái gò bên đường (Sách Nam hải dị nhân - NXB Thanh niên 1999)
Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao, Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng (như Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội núi Hàm Rồng Ở Thanh Hoá,… ), các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị
kẻ gian ác Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Tả Ao chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng
là do Tả Ao tìm long mạch, huyệt đạo đặt mồ mả Có một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay tại thôn Nam trif, xã Đặng lễ huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (nơi có đền thờ Tả Ao): Truyền tích gắn liền với ngôi đền thờ Tả
Ao làng Nam Trì còn lưu truyền đến ngày nay là thời kỳ Tả Ao ở khu vực Hưng Yên một thời gian Tả Ao về huyện Thiên Thi (tên cũ của Ân Thi) đã đã cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, trước thuộc huyện Tiên
Lữ, nay thuộc Hưng Yên) phát về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền
Trang 8trong dân gian câu ngạn ngữ nhất Thi nhì Hới Tại Nam Trì, Tả Ao đã giúp dân làng lập lại làng, chuyển đền, chùa và tìm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò Tam Thai vượng về võ tướng Đến năm giáp thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải , người họ Đinh làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ
Đệ tam giáp đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân và được bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá Hậu duệ của Đinh
Tú (lăng mộ tại Nam Trì), chuyển sang sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng là Đinh Văn Tả là một danh tướng thời Lê-Trịnh
1 TỰA Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn Giáo sư Đại học Nhân văn và Nghệ thuật Viện Đại Học Minh Đức Cách đây mấy năm ông Cao Trung đã nhờ tôi đề tựa quyển Địa Lý Tả Ao của ông, nay ông
Tôi may mắn có bộ sách “Tả Ao chân truyền địa lý” do Hà Kim, Duyên
Tự Sơn Nhân hiệu đính, Bất Chuẩn Phiên khắc và hiệu Nghĩa Lợi hàng Đào phát hành năm Kỷ Mùi (1919) đời vua Khải Định.
Tôi đem hai bản so sánh thì thấy hầu hết giống nhau, ngoại trừ một vài chi tiết nhỏ Như thế là chúng ta có thể vững bụng về phần tài liệu.
Nhưng dù là đọc bản in tại Hà Nội hay bản viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh, tôi cũng thấy hết sức khó hiểu Trái lại khi tài liệu trên vào đến tay ông Cao Trung thì nó lại trở nên khúc chiết, rạch ròi, vì nó đã được Tác giả vẫn dùng lối văn giản dị, lối trình bày rõ ràng, lại còn kèm thêm nhiều đồ bản, để minh chứng, giải thích, khiến người đọc có cảm giác rằng: khoa Địa lý cũng không đến nổi quá khó như mọi người thường nghĩ.
Tuy nhiên, tập trước và tập này mới hoàn tất phần căn bản của khoa địa lý Nếu muốn đi sâu vào chi tiết, nếu muốn nắm vững được hết những huyền vi, ảo diệu của khoa địa lý, là một khoa rất khó trong các khoa Cổ học thuật
Chúng ta sau khi đã đọc qua hai tập địa lý của tác giả hẳn đã hài long vàước ao tác giả mau xuất bản cho đủ toàn bộ khoa địa lý, để chúng ta
có đủ tài liệu tham khảo và có được toàn bộ sách quý.
Vì không sành về Địa lý, nên tôi chỉ chú trọng đến sự chính xác của tài
Trang 9liệu, và chỉ biết đề cao phương pháp khảo cứu và bình giải của tác giả, chứ không muốn đi sâu vào chuyên môn.
Tuy nhiên trước khi cho xuất bản tập sách này, tác giả đã đưa cho
nhiều bậc lão thành tinh thông về khoa địa lý xem và đã được các vị hết lời khen tặng, như ta thấy trong “Lời mở đầu” của tác giả.
đã khổ công nghiên cứu về nhiều bộ môn Đông Phương học Còn riêng
về phương diện học vấn, ông cũng có một căn bản hết sức vững chải, một số vốn liếng hết sức dồi dào Văn bằng cử nhân Văn khoa, Văn học Việt Nam của ông chính
Ước mong, đối với quý vị, tập sách này sẽ được đúng như lời cụ Tả Ao: Báu này yêu tựa ngọc vàng
Được thì nên trọng nên sang,
nên giàu Lấy tín lấy kính làm đầu
Đạo có sở cầu, chí có ắt nên.
Lọ là cưỡi hạc đeo tiền Trước tiên
học lấy thần tiên trên đời
Sài gòn, ngày 10 tháng 4 năm 1974
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1969 tập Địa Lý Tả Ao (Địa đạo Diễn Ca) ra đời, trong đó chúng tôi
có giới thiệu tập Địa lý thứ hai: Dã Đàm Tả Ao (Tầm Long gia truyền bảo đàm) tức là bộ này.
Từ khi xuất bản cuốn thứ nhất cho đến nay, chúng tôi được biết luôn luôn quý vị độc giả mong mỏi có cuốn kế tiếp.
Cuốn thứ hai, lẽ ra có thể xuất bản vào năm 1970 mà cho đến ngày nay
1974 nó mới ra đời, vì có nhiều yếu tố đặc biệt, mà chúng tôi xin trình bày lên quý vị, dưới đây:
1 Cuốn trước nặng về loan đầu, cuốn sau nặng về lý khí và hai cuốn này trở nên một cặp thư hùng về căn bản địa lý Muốn được như vậy phải chuẩn bị cho nó thật chu đáo mới khỏi phụ lòng độc giả trông mong, mới xứng với tập trước và mới hoàn thành sứ mạng việc soạn
Trang 10thảo cổ thư.
2 Từ trước tới nay, đã có bao nhiêu man thư về địa lý mà toàn dựa vào
lý khí để làm man thư nên cuốn này, nặng phần lý – khí, phải làm cho
rõ đâu là chân và đâu là cái ngụy của khoa Địa lý, nên tác
giả đã phải ôn lại trên mười bộ sách địa lý vừa cổ thư bí truyền vừa có bán trên thị trường để đối chiếu và loại bỏ đi những phần nào có thể dễ làm cho độc giả dễ nhầm lẫn, khi đọc nó Ngoài ra, cũng phải phân
phân biệt chỗ nào quan trọng, chỗ nào kém quan trọng để nhấn mạnh những chổ quan trọng, cho độc giả mau có ý thức chính xác về phần lý khí, để đỡ nhầm lẫn, bởi nhầm về lý khí thì rất tai hại.
3.Nói là lý khí, nhưng thực thể của nó vẫn là loan đầu Nếu quân thực thể mà trình bày nguyên những gì trừu tượng, vẫn còn làm cho độc giả khó nhận chân, nên các phần lý khí trên sách đều được tác giả cố gắng dung hòa với loan đầu cho có cả thể (loan đầu) và dụng (lý khí) mới là toàn bích.
4 Phần lý khí, nói hết ra một cách quá phân tích sẽ làm mất hứng thú sáng tác của độc giả, và cũng sẽ lại tạo nên hậu quả tai hại là dễ nệ vào phân tích mà quên tổng hợp Khoa địa lý cũng như nhiều khoa khác phải sử dụng cả phân tích lẫn tổng hợp cùng một lúc mới thành công.
Do đó tác giả phải dấu những điều tỉ mỉ dễ nhầm lẫn, nhưng thập phần quan trọng vào những câu, những chữ mà chỉ những ai dùng sự tận kỳ tâm,tận kỳ đạo mới khám phá ra Nếu chỉ đọc không, chỉ lĩnh hội được phần nào sự diệu ảo của nó và vừa đủ cho kiến thức thông thường về địa lý mà thôi.
5 Sau đây lại là sự dung hòa 2 quan niệm mâu thuẩn liên quan đến sự phổ biến khoa địa lý đã làm cho tác giả thắc mắc suốt thời gian soạn bộ sách này:
a Một là nếu không lưu lại sự chân truyền địa lý thì ít lâu sau khoa này
sẽ mai một, đâu còn của báu của tiền nhân.
b Hai là các chân sư sợ rằng “kẻ tục” sẽ tạo nên thị trường địa lý, dù chưa tinh thông Như vậy sẽ gây tai hại cho đời, nếu sự phổ biến nó quá dễ dàng.
Sau khi hoàn tất bộ sách này, may thay tác giả đã cố gắng làm trọn được hai quan niệm mâu thuẫn nhau như trên, và các bậc chân sư, sau khi đọc xong bản thảo, đã thở phào nhẹ nhõm và nói:
“Viết sách Địa lý như thế này thì thật là tuyệt diệu Một trăm, một ngàn năm sau, 2 bộ sách này vẫn là sách chân địa lý Đời sau đọc nó không còn chê trách tiền nhân ở điểm nào Thôi chúng tôi cũng an lòng và tán
Trang 111 Địa lý Tả Ao tiên sinh truyền (của cụ Tả Ao).
2 Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp (của cụ Hòa Chính)
3 Dương gia bí pháp (phối hợp địa lý với các khoa địa lý học Đông phương).
4 Bích ngọc kinh (cổ thư địa lý Trung Hoa).
5 Thanh nang kinh (cổ thư Địa lý Trung Hoa).
Từ mấy trăm năm nay sách địa lý có rất nhiều, nhưng phần lớn là man thư, năm bộ sách nêu trên được coi là bậc nhất chân thư Các bậc tiền bối của chúng ta, chỉ mong mỏi kiếm làm sao cho được một hai bộ trong năm bộ sách kể trên nghiên cứu, là mãn nguyện Chúng tôi đã dịch xong bộ thứ nhất: Địa Lý Tả Ao tiên sinh truyền Bộ Địa Lý Tả Ao tiên sinh truyền sẽ ra mắt quý vị độc
giả sau bộ này Bên cạnh bản dịch có kèm theo nguyên bản để tiện tra cứu và so sánh Chúng tôi được biết vì sự sao chép cổ thư cẩu thả nên hiện nay trên toàn quốc có tới 6 nguyên bản Địa Lý Tả Ao và bản này được coi là chính bản
Sau hết chúng tôi cũng xin thưa trước cùng quý vị độc giả là bộ sách
Dã Đàm Tả Ao này được trình bày khác bộ Địa Lý Tả Ao xuất bản năm
1969 Bộ Địa Lý Tả Ao nặng về mô tả và định nghĩa thì bộ Dã Đàm Tả
Ao lại bắt đầu thoát phép mô tả, để tiến lên phần luận Phần luận sẽ làm cho nhiều quý vị mới học ưa thích vì nó như đưa quý vị đến nhiều khía cạnh đặc sắc hơn, nhưng nếu nệ vào nó quá sẽ nhầm lẫn, nên một
số các vị chân sư đã muốn chúng tôi bỏ đi Sau khi xét đi xét lại các vị lại đồng ý là có thể để được, vì nếu học cao hơn, nhất định phải vượt từ
mô tả qua luận rồi đến triết mới có hy vọng đạtĐạt được đến đây mới thành chân sư của khoa địa lý Mong quý vị lưu tâm và chúc quý vị thành công.
Xuân Giáp Dần 1974
Cao Trung được phần cao nhất: “khai phóng mà vẫn không sai nhầm” của khoa Địa lý
Trang 121 DÃ ĐÀM TẢ AO
Tầm – Long Gia - Truyền Bảo – Đàm
CHƯƠNG THỨ NHẤT
1 Đấng làm quân tử đạo ta
2 Ơn vua, ơn chúa, ơn cha, ơn thầy.
3 Có làm báu cả xưa nay.
4 Văn chương, y dược, đạo này là ba
5 Lấy làm ba Bảo truyền nhà.
6 Song le địa lý thật là thần tiên
7.Học thầy khẩu thụ tâm truyền.
8 Nhiệm màu mọi vẻ, kính tin mười phần.
9 Đạo cao, đức trọng, chưng thân.
10 Hổ long liên phục, quý thần liên kinh.
11 Đức, nhân vốn ở cả mình.
12 Trước là tích đức, sau là tầm long
CHƯƠNG THỨ HAI
TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG
13 Nẻo xa liền hỏi tổ tông.
14 Bởi đâu hòa đến mạch long địa hình
15 Nước phân chữ bát phân minh
16 Hai bên chảy thuận, loan hình tống long.
17 Cửa trời, trên đã mở thông
18 Thượng phân là đấy, chính long thực vào.
19 Đến đâu hai nước tống giao
20 Ấy dưới cửa đất, đóng vào cẩn thay
21 Hạ hợp là đất vậy vay
22 Nơi chính thủy tụ, thực hay chẳng nhầm.
CHƯƠNG THỨ BA
24 LONG NHẬP THỦ
23 Đáo đầu nhất tiết hạ chàm
24 Thấu long cho biết lai lâm chữ gì.
25 Biết phương Nam Bắc Đông Tây
26 Hai mươi bốn vị, can chi chữ nào
CHƯƠNG THỨ TƯ
ÂM DƯƠNG LONG THEO LÝ KHÍ
Trang 1327 Nhận xem cho biết long vào
28 Âm long, âm hướng, thủy toàn phóng âm
29 Dương long, dương hướng chớ nhầm
30 Thủy phóng dương vị, luận âm dụng gì?
CHƯƠNG THỨ NĂM
ÂM DƯƠNG LONG THEO HÌNH THỂ CAO THẤP
31 Âm dương lại có phép kia
32 Âm lai dương thụ, âm su dương hồi
33 Âm là gò đống đất ghềnh
34 Dương là ruộng phẳng đất bằng như lai
35 Núi non kia cũng âm hoài
36 Long cường thì chớ huyệt nơi cao cường
37 Long nhược nơi thấp chớ màng
38 Lai dương hỏa lại dương thì bằng chi.
CHƯƠNG THỨ SÁU
LONG TẢ TOẢN VÀ LONG HỮU TOÀN.
39 Ruộng giống ngọc sích tiện vi
40 Dương tả, âm hữu, long chia hai đường
41 Tích phòng Đông chí sinh dương
42 Nãi dương Giáp Tý khí sương tả hành
43 Khởi tự Hợi, Tý phân minh.
44 Tiến lên ngăn ngắn, thuận hành tả biên
45 Qua Dần, Mão đến Tuất, Càn
46 Chuyển Hợi nhập cuộc, chi huyền phân minh
47 Quần tiên đi, có tống nghinh
48 Mạch nào bên hữu đã đành chân long
49 Xa nhận nước ở tả cung
50 Dương thủy chẩy lại, hội đồng thiên tâm.
51 Đạo trời hạ chí sinh âm.
52 Nãi âm Giáp Tý khí lâm hữu toàn.
53 Tòng Tý nghịch suy Hợi, Càn
54 Qua Dậu, Thân, Tuất đến bên Mão, Dần.
55 Nghịch hành về Cấn, Sửu hành.
56 Chuyển tả nhập cuộc ấy phần Dương long
57 Dù hòa thấy nước hữu cung.
58 Âm thủy chảy lại hội đồng giao dương
59 Âm long dương thủy đã tường.
60 Dương long, âm thủy đôi đường gặp nhau.
61 Bên trước nước đã hợp thâu.
62 Lại nhận có đống bên sau chăng là
Trang 1463 Hoành long thì nước thực thà.
64 Dù chẳng có nước ắt là đối không
65 Âm dương đã có thư hùng
66 Cửa nhà đã hợp vợ chồng liên giao.
67 Ắt là khí dựng thai bào
68 Tự nhiên sinh dục, lẽ nào vậy vay
69 Chân long chính huyệt ở đây
70 Ấy đất hoành kỵ lời thầy truyền ta
71 Kết thoái dư khí còn xa
72 Hoặc đi trăm dặm mới ra chiêu thần.
CHƯƠNG THỨ BẢY
THỦY PHÁP
73 Muốn sinh: tử tức, vượng nhân.
74 Thì tim sinh vị bản thần triều lai
75 Muốn thăng: quan tước, lộc tài
76 Thì tìm Vượng vị, thủy lai hội đường.
77 Cứ nơi mạch ấy cho tường
78 Tả thuận hữu nghịch, đôi đường cho thông.
79 Lập huyệt, tọa hướng, mới dùng
80 Cứ phép bão lại, Huyền Không Ngũ Hành.
81 Cứ như thủy pháp Nang Kinh
82 Kim, Mộc, Thủy, Thổ thông minh như lề
88 Giáp sinh tại Hợi, Ất dành Ngọ cung
89 Hợi thuận, Ngọ nghịch hai dòng.
90 Hẳn còn xuôi ngược cho thông một vì
91 Nước sinh nước vượng chầu về
92 Nước Tử, nước Tuyệt chảy đi mặc lòng.
93 Cứ hướng làm chủ bản cung
94 Kim, Mộc, Thủy, Hỏa cho thông hướng nào.
95 Nhất thì được nước sinh vào
96 Nhì thì được nước khắc vào hướng ta
97 Mong sao sinh khắc đến ta.
98 Là nước ấy có ích chí ta hòa dùng.
CHƯƠNG THỨ TÁM
LUẬN: THẤU LONG
Trang 1599 Phép trong Ngọc sích đã thông.
100 Bèn mới lại luận thấu long cho tường
101 Nhâm long ngôi ở đầu hàng.
102 Bính Tý chính khí một phương chớ rời.
103 Khảm Long, Canh Tý chính ngôi.
104 Quý long: Đinh Sửu là nơi bản về
105 Sửu long: Tân Sửu kể đi
106 Cấn long chẳng lệch hào ly: Mậu Dần
107 Dần long: chính khí Nhâm Dần.
108 Giáp long: Đinh Mão là phần chính cung.
109 Mão long: Quý Mão thì dùng.
110 Canh Thìn chính khí: Ất long đang quyền.
111 Thìn long: chính khí Giáp Thìn.
112 Tốn long: Tân Tỵ đã yên một dòng.
113 Tỵ long: Ất Tỵ thấu long
114 Bính long: Nhâm Ngọ phép trong nhiệm mầu.
115 Ngọ long: Bính Ngọ làm đầu.
116 Thánh hiền truyền dậy trước sau ghi lòng.
117 Quý Mùi: là chính Đinh long
118 Mùi long: Đinh Vị, Khôn dòng: Giáp Thân.
119 Mậu Thân: chính khí long thân.
120 Canh long: Ất Dậu là phần chính Canh.
121 Kỷ Dậu: chính khí Đoài tinh
122 Bính Tuất: chính khí địa hình long Tân.
123 Tuất long: Canh Tuất bản phần
124 Càn long: Đinh Hợi sai phân chớ hề.
125 Hợi long, Tân Hợi một vì
126 Dành dành chính khí thấu suy đã tường.
CHƯƠNG THỨ CHÍN LUẬN:
HƯỚNG NGUYỆT CỦA 24 LONG
127 Lai luận: long, hướng các phương.
128 Tà khí, tạp, bác, âm, dương cho thuần.
129 Nhâm long: ba hướng khả phân.
130 Phương: Ngọ, Khôn, Ất xoay vần kể chi.
131 Tý Long: Khôn hướng về một bề
132 Quý long: hay huyệt hướng về Ngọ, Khôn
133 Sửu long: Bính hướng vi tôn
134 Cấn long tám huyệt kể tồn từng ngôi:
135 Bính, Đinh, Canh, Tân, Tỵ, Mùi
136 Tốn, Đoài tám hướng, trạch chính an ngôi
Trang 16137 Dần long: hai hướng Khôn, Thân
138 Giáp long: định hướng về phần Càn Khôn
139 Mão long: bốn hướng kể rồn
140 Canh, Tân, Đinh, Hợi đã yên một bề
141 Ất long: khôn hướng một vì
142 Thìn long: hai huyệt hướng về Càn, Khôn
143 Tốn long: Tân, Hợi, Cấn môn
144 Dụng ba hướng ấy là khôn sánh tày
145 Tỵ long: một hướng Hợi thần.
146 Bính long, bốn huyệt kể bày làm nơi
147 Hợi, Canh, Tân, Cấn, hướng ngôi
148 Ngọ long: hai hướng về trời: Quý, Nhâm
149 Đinh long: Cấn, Hợi thuần âm.
150 Mùi long: một hướng cục nhằm: Cấn ly
151 Khôn long: phương Quý hướng đi
152 Thân long: Quý, Giáp hai vì cho minh
153 Hướng: Mão, Cấn là long Canh
154 Cấn, Tốn, Tỵ hướng đã đành: Dậu Long
155 Tân long: Tốn, Mão, Cấn cung
156 Ngồi một hướng Ất: Tuất Long địa bàn
157 Cùng theo hướng Ất: Long Càn
158 Bính, Tốn, Đinh hướng Long đồng: Hợi long
CHƯƠNG THỨ MƯỜI
ĐOẠN KẾT
159 Âm long, Âm hướng thủy đồng.
160 Dương long, Dương hướng Thủy cung một bề
161 Âm, Dương đều đã hòa suy
162 Mọi đều nhiệm nhặt, trước suy đã tường.
163 Báu này, yêu tựa ngọc vàng
164 Được thì nên trọng, nên sang, nên giàu.
165 Lấy tín, lấy kính làm đầu 166 Đạo
167 Lọ là cưỡi hạc, đeo tiền
168 Trước tiên học lấy thần tiên trên đời
169 Ắt là gọi có chúa tôi.
170 Mưa móc ơn trời, phúc thay thượng thư
171 Hòa nhà phú quý phong lưu
172 Con con, cháu cháu thiên thu dõi truyền.
173 Đến khi vui đạo Thánh Hiền
174 Ứng lời học trước, thần tiên chép bàn.
Trang 172 Ơn vua, ơn chúa, ơn cha, ơn thầy.
3 Có làm báu cả xưa nay.
4 Văn chương, y dược, đạo này là ba
5 Lấy làm ba Bảo truyền nhà.
6 Song le địa lý thật là
7 Học thầy khẩu thụ tâm truyền.
8 Nhiệm màu mọi vẻ, kính tin mười phần.
9 Đạo cao, đức trọng, chưng thân.
10 Hổ long liên phục, quý thần liên kinh.
11 Đức, nhân vốn ở cả mình.
12 Trước là tích đức, sau là tầm long.
1 Đấng làm quân tử đạo ta
2 Ơn Vua, ơn Chúa, ơn Cha, ơn Thầy
Tìm hiểu học thuật tư tưởng trong văn học sử Việt Nam, kể từ nhà Đinh
là thời kỳ bắt đầu được tự chủ cho đến đời cụ Tả Ao, ta thấy có 4 giai đoạn:
1 Thời Đinh, Lê (tiền Lê), mỗi triều đại chỉ được một hai đời vua Hai triều đại này vì dùng võ công tranh thủ tự chủ, và tư tưởng, học thuật chưa được phát triển, do đó chưa tạo lập được văn hóa độc lập, làm nền tảng cho
văn hóa chỉ đạo dân tộc Rồi khi sức mạnh quân sự không còn nữa, là tàn rụi Đấy là lý do sâu xa của sự ngắn ngủi 2 triều đại Đinh, Lê.
2 Đến đời Lý, nhờ có Vạn Hạnh thiền sư, sau khi giúp Lý Công Uẩn lên ngôi cửu ngũ, lại khéo đem Phật học, dung hòa Nho và Lão - tạo ra tinh thần tam giáo làm nòng cốt cho tư tưởng, học thuật, nên quốc gia bền vững và nhà Lý làm vua đến 8 đời.
3 Tiếp theo, đời Trần nhờ sẵn tinh thần tam giáo hun đúc từ Lý triều,
Trang 18khả dĩ có sức mạnh tinh thần tiềm tàng đáng kể, lại thêm có vua
Thánh, tôi Hiền cũng nên cũng thịnh trị và chiến thắng oanh liệt được quân Nguyên, giữ được nền độc lập để tiếp tục phát huy văn hóa dân tộc.
Ngoài ra nhà Trần lại cố gắng phát triển Nho học, để xã hội được tổ chức theo kịp trào lưu văn minh Nho giáo (dù các Vua nhà Trần đều mộ đạo Phật) Đạo Nho nhờ đó mới có cơ sở và trường thành được vào Triều Lê.
4 Đến đời Lê thì Nho giáo không những trưởng thành, mà còn trở nên gần như lấn át cả Phật và Lão Đóng vai trò quan trọng trong tinh thần
tư tưởng học thuật Việt Nam Cụ Tả Ao sinh vào cuối đời Lê dù là nhà địa lý cũng bị ảnh hưởng sâu đậm của tinh thần này, nên câu mở đầu bài Tầm Long Gia Truyền Bảo Đàm, ta đã thấy ngay tinh thần nho giáo
Tam cương là: - Quân (Vua) - Sư (Thầy) - Phụ (Cha)
Ngũ thường là: - Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín
Rồi đến câu thứ hai, cụ phải trước tiên, chứng tỏ tinh thần tôn quân: ơn Vua, Chúa trước rồi đến Cha và Thầy sau.
(2) Ơn Vua, Ơn Chúa, Ơn Cha, Ơn Thầy
Nhưng đời cụ Tả Ao có vua Lê lại có cả Chúa Trịnh nữa, mà Chúa Trịnh lại quyền hành hơn Vua Lê, nên cụ Tả Ao không dám chỉ nói đến vua, mà phải nói đến cả Vua lẫn Chúa, cho Chúa Trịnh khỏi nghi ngờ (ơn Vua, ơn Chúa, ơn Cha, ơn Thầy).
(3) Có làm báu cả xưa nay
(4) Văn chương y dược đạo này là ba
Các nho sĩ chú trọng nhất là văn chương, nhì đến y lý, ba đến địa
lý và cuối cùng đến lý số.
Cái học của Nho gia không phải chỉ giới hạn vào từ chương, thơ phú mà là môn học bao gồm kiến thức của người cán bộ Nho giáo, trong đó có phép giữ đạo làm người (đạo đức), rồi đến cách thờ Vua giúp nước (kể cả chính trị
lẫn quân sự) Một nho sĩ muốn là nhà chính trị và quân sự giỏi, thì trên phải thông thiên văn, dưới phải đạt địa lý, ngoài ra phải
Trang 19biết các khoa bói toán, để trù liệu và hỏi thần linh những gì mà con người không thể quyết định được chắc chắn.
Nhà Nho, nếu tiến lên thì làm quan Khi lui lại thì phải “đạt vi sư” Với quan niệm đó, nhà nho nếu một khi không làm nổi công
nghiệp thì các cụ sẽ quay về nghiên cứu y lý để chữa bệnh cho thiên hạ, đó cũng là một cách hành đạo tiêu cực Những y sĩ có tâm đạo chỉ cốt làm thuốc để giúp đời hơn là cốt làm giàu Họ làm nghề này với mục đích chính là chữa bệnh cứu đời, dù có tiền hay không cũng chữa Con bệnh nếu có tiền trả thì y sĩ cũng không nỡ tính tiền công quá đáng - Kẻ nghèo khó cũng được tận tâm săn sóc như người sẵn tiền Có những vị làm thuốc chỉ mong đủ ăn Thân chủ đông thì lại tính tiền thuốc nhẹ đi Nhiều vị, chỉ tính tiền thuốc sao cho đủ chi dùng một cách khiêm nhường, để hành nghề, chứ không mong là khi được đông thân chủ, lại càng tính giá cao, để làm giàu Làm thuốc như vậy, cũng là một cách thế hành đạo ở đời.
Sau Y Lý đến khoa địa lý Nếu nho học, các cụ gọi là đạo nho, y lý cũng là đạo làm thuốc thì khoa địa lý cũng là đạo địa lý, bởi vì nhà chân địa lý, cũng dùng sự hiểu biết của mình để làm việc chu toàn mối đạo, mà thánh hiền đã đề xướng Đạo địa lý khác hẳn những thầy địa lý “xôi thịt” Người xưa học địa lý trước là báo hiếu Họ cố tìm cho được ngôi đất kết để giữ nắm xương tàn của cha mẹ cho lâu tiêu hủy thành đất Họ nghĩ rằng khi xương cốt ông bà, cha mẹ, chưa thành đất, thì người vẫn có thể, luôn luôn trở về, sống trên bàn thờ, ở trong gia đình, với con cháu phù hộ
và giúp đỡ con cháu, cùng dự phần vui buồn với người sống Sau nữa, nếu được đất kết thì con cháu cũng nhờ có ngôi đất đó mà làm ăn hưng phát, dài dòng lớn họ, vẻ vang cho người đã quá cố Ngoài ra, nhờ có đất kết, mà dòng giỏi trở nên trâm anh, thế phiệt, giữ được danh thơm truyền thống và để cha mẹ đã quá cố cũng được vui lòng, dù người đã không còn sinh sống với con cháu, trên cõi trần gian này nữa.
Học địa lý, ngoài cách báo hiếu như kể trên,, các cụ còn dùng sự hiểu biết địa lý của mình để làm việc nghĩa Các cụ thấy ai nhân đức, hiền lành, mà quá nghèo, hoặc không có con trai nối dõi, thì các cụ có sứ mạng thay trời giúp cho người nhân đức đó một ngôi đất “cứu bần” hoặc “thêm đinh” Cũng có khi các cụ dành những ngôi đất kết rất lớn cho những ai có công với quốc gia xã hội Các
cụ tin rằng làm địa lý giúp đời như thế, lại còn tạo thêm đức cho nhà mình cũng như là mình làm một nghĩa lớn vậy Ngoài ra, nhà địa lý chân chính, không bao giờ vì tiền, mà để đất lớn cho những
Trang 20người kém đức Làm địa lý với ý hướng như trên, cũng là hành đạo như chân nho sĩ và chân y sĩ Do đó, cụ Tả Ao cho khoa địa lý cũng là đạo, và văn chương, y dược, địa lý là ba đạo:
2 (4) Văn chương, y dược đạo này là ba
Nho, y, lý, số là 4 nghệ của nho sĩ, nhưng lý số các cụ cho là phụ,
vì khoa bói toán ít thiết yếu cho việc hành đạo Các cụ chỉ quý có
3 thứ trên: Nho, Y và địa Các cụ gọi 3 khoa này là 3 của báu của con người tri thức Nếu có gì sở đắc thì nên truyền lại cho con cháu để hậu thế dễ có phương tiện, tiếp tục hành đạo.
(5) Lấy làm ba bảo truyền nhà
Tuy khoa địa lý là của báu thứ ba, trên khía cạnh hành đạo,
nhưng khoa nàylại có một cách thế đặc biệt, khiến cho người có tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên, cỏ cây, non nước, khi thực hành thì nó thấy mình có những thú vị thần
(6) Song le địa lý thật là thần tiên
Tâm hồn Á Đông (là tâm hồn tổng hợp) khác với Tây phương (chú trọng về phân tích) Tây phương: có làm việc, dĩ nhiên họ có du
hý, nhưng sự làm việc và du hý bên Á Đông lại liên kết với nhau một cách chặt chẽ hơn Tây Phương Ta thấy những văn thơ tỏ ý chí hành động của người Á Đông, luôn luôn có ý chí hành lạc bên cạnh Những thơ văn của Nguyễn Công Trứ, tỏ rỏ sự bất phân biệt hành lạc và hành động, một cách rõ rệt Con người tổng hợp
Á Đông khi hàn vi nhàn du thì nghĩ đến sẽ thực hiện chí hướng và khi đang thực hiện chí hướng lại mơ màng đến sự hưởng lạc cho tâm hồn được quân bình Thế mà khoa địa lý lại còn hơn thế nữa,
nó cộng luôn việc làm với hưởng lạc vào một lúc
Con người địa lý ra ngoài thiên nhiên tìm đất kết, đồng thời họ thực hiện các cuộc thú vui du sơn du thủy.
Cái thú “Ngao du nơi hàn cốc, thanh san” là cái thú hưởng lạc với thiên nhiên của Nguyễn Công Trứ, sau khi công thành danh toại, sau khi đã sống đủ và đã làm trọn chí trai Nhưng với nhà địa lý thì hành lạc lại đồng thời một lần với hành nghề Ngao du đó đây
là cách hành lạc của đạo Lão, đạo đạo Tiên Đi vào thiên nhiên, nhìn núi xanh, mây trắng, ánh chiếu vàng, nhìn cỏ non đượm sương mai lóng lánh, nghe suối chảy rì rào bên rừng thu vắng, đem nhân giới nhập vào nhiên giới, nối cái hữu hạn của loài
người vào cái vô hạn của vũ trụ, là thú thanh tao, thần tiên, say đắm, thích hợp cho tâm hồn có vũ trụ chi tâm.
(6) Song le địa lý thật là thần tiên
Trang 21Khoa địa lý, nếu ta gọi là một nghề, thì nghề này cũng có nghệ thuật như các nghề thơ, họa, kiến trúc v.v khác Có nghệ thuật thì có sáng tác Khoa địa lý trong lúc hành nghề, tâm trạng con người khi nhìn núi sông sắp xếp do thiên nhiên, họ thấy sống động khác thường Sống động theo lẽ biến dịch đủ cả âm dương, ngũ hành của dịch lý Họ không coi đất đai đồi núi là những vật
vô tri, xa lạ mà coi nó như những sinh vật rất gần gũi với người
Đó là phép nghi nhân và thác vật của những tâm hồn nghệ sĩ Trong câu thơ “Gió đưa cành trúc la đà” ta thấy vật giới (cây trúc) cũng ngã nghiêng la đà, như con người say cảnh thiên
nhiên lòng rộn nỗi niềm Nhà thơ mời Hàn Mạc Tử cũng đưa sinh khí, cảm giác của con người vào tĩnh vật; một hình thức thác vật rất sinh động: “Chiếc thuyền im bến mới trở về nằm Nghe chất muối thắm dần trong thớ vỏ”.
Thác vật, để cho vật vô tri trở thành có ý nghĩa, có sinh động thì nhà Địa lý nhà nghệ sĩ thiên nhiên với quan niệm dịch lý cũng nhìn toàn thể vật vô tri như: sông núi, cỏ cây, là những cái gì sống động, có sinh hoạt như người, sinh hoạt theo dịch lý.
Này, núi cao là tượng âm thì chỗ thấp, bằng là dương, núi chủ tĩnh thì nước ngược lại, chủ động Mạch đang âm (cao) thì chạy đến chỗ kết huyệt, nó phải đổi sang dương (bằng) cũng như mạch chạy dương (bằng) thì kết huyệt lại chuyển âm (cao)
Thậm chí trong vỏ đất, họ cũng cho là có luồng sinh khí luân lưu, chạy từ tổ sơn về, theo núi phân chia ra nhiều mạch, mỗi mạch chạy đến chỗ nào đủ hợp, đủ độ âm dương thì khí mạch đó tụ lại, kết huyệt, cũng như ngựa cây trong thân cây đến chỗ nào tụ lại thì đâm bông, kết trái, tạo nên sự hiển dương tinh hoa của cây cỏ.
Nhìn thế đất từ tổ sơn đi ra, họ cũng có quan niệm như nhìn cuộc
di hành của một đám rước, hoặc cuộc đưa đón một đại quan trên
lộ trình Khi đang đi, thì có long, sa và thủy, hộ vệ, hai bên quân gia, tiền hô, hậu ủng, khi kết huyệt thì giống như chỗ khai triều của vị Đế Vương hay nơi khai đường của một vị Đại quan; cũng
có tứ linh xung quanh, có bút nghiên ở gần, có án ở đằng trước,
có kỳ ở sau lưng, có tay phải tay trái ôm vòng như vị đường quan hoặc vị đế vương ngồi nghị sự, ngồi khai triều phê sớ, phê án v.v hoặc khung cảnh vị võ quan đang chỉ huy ba quân Cách thác vật và ghi nhân của nhà địa lý sinh động như thế Những cuộc đất nhỏ độ vài mẫu, lớn độ vài chục, vài trăm, vài ngàn mẫu đều được thu vào nhãn quan họ, thành những hiện trạng, tuy đa
Trang 22hình, không cuộc đất nào giống cuộc đất nào, nhưng cùng một nguyên tắc dịch lý, thoát thai của triết học Đông phương: Thế rồi, những nhà địa lý, mỗi khám phá ra một cuộc đất là một sáng tác khác nhau Mỗi sáng tác lại cho nhà địa lý thêm một số tiền kinh nghiệm để làm vốn sáng tác những thế đất kế tiếp khác Kỳ lạ là sáng tác lại là công việc tìm ra vẻ đẹp của cái gì đã có sẵn trong thiên nhiên Mỗi lần đối cảnh lại mỗi lần sáng tác thêm.
Như vậy nhà địa lý cũng là nhà nghệ sĩ thiên nhiên và nói cách khác là nhà nghệ sĩ “thần tiên” với tinh thần đó, nhà nghệ sĩ Tả
Ao hạ bút phê câu:
(6) Song le địa lý thật là thần tiên thì thật là tuyệt.
(7) Học thầy khẩu thụ tâm truyền
(8) Nhiệm màu mọi vẻ kính tin mười phần
câu trên cụ Tả Ao muốn xác định lại giá trị của khoa địa lý Từ trên cả ngàn năm nay, nó là khoa bí hiểm nhất của huyền học Á Đông Có nhiều chứng cớ cho thấy là nó có thật Đó là những ngôi đất kết phát, tạo ra bao nhiều anh hùng, hào kiệt, vua chúa, phú ông, văn sĩ v.v Nhưng mặt khác, nó lại gieo vào lòng nhiều người mối nghi ngờ, bởi có nhiều người học nó mà không đạt được kết quả, dù những vị đó là những nhà khoa bảng, tiến sĩ, cử nhân, văn hay, chữ tốt, học rộng tài cao! Cho đến nay mối nghi ngờ đó vẫn còn làm nhiều người nghiên cứu nó phải thắc mắc, nhất là các nhà học giả tây phương đã đem các phương pháp khoa học để tìm hiểu nó, giải thích nó mà hình như nó vẫn lẫn trốn Những sách khảo cứu về địa lý của Tây phương, có rất
nhiều nhưng có một quyển sách mà người Âu Tây cho là có giá trị nhất do học giả Ernest J Eitel M.A.Ph.D of the London
Missionary Society viết Sách này được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Một vị giám đốc viện bảo tàng Quimet của Pháp tên là M.L.de Moutillé cũng dịch quyển này sang tiếng Pháp lấy tên là:
FENG SHOUI
ou
Principes de sience nafurelle de Chine
Principes de sience nafurelle de Chine Sau khi đọc nó xong chúng tôi sực nhớ đến một cuộc đàm luận về địa lý và câu nói của một
vị chân sư Địa lý Việt Nam đã 40 năm nghiên cứu và thực hành địa lý như sau:
“Khoa địa lý này, người Âu Châu đã nhiều trăm năm cố khám
Trang 23phá, trong đó có cả các vị Cố đạo, các nhân viên các tòa đại sứ Nhưng đến nay họ vẫn không đạt được chân địa lý”.tâm hồn dịch
lý của Á Đông, gặp được chân sư chỉ điểm, có chân thư để học và yêu nó rồi thực hành nó nhiều năm trên đất thì không thể nào đạt được khoa này Suy ngẫm ra, riêng tôi thấy là đúng vì quyển sách coi là giá trị về Địa lý mà người Âu Tây đắc ý kể trên, sau khi xem xong, riêng tôi cũng nhận thấy quyển đó chưa trình bày được 1/3 chân địa lý, bởi lẽ giản dị nhất là nó mới chỉ có cái nhìn vật chất và phân tích một cách phiến diện mà thôi.
Có vị hỏi thế còn sách Địa lý bằng chữ Hán thì sao? Có giá trị và đầy đủ không?
Thưa rằng: Khoa Địa lý có nhiều bí ẩn liên quan đến sự thực hành trên đất mà các sách không sao nói được hết Nghiên cứu nó mà không có thì giờ thực hành thì dù có sách hay cũng phải thiếu sót quá nữa Có thực hành mà không được chân sư thì điểm cho thì cũng tốn nhiều công lao vô ích:
Thì đây cụ Tả Ao, con người học được chân thư, chân sư và thực hành địa lý mấy chục năm liền đã chỉ cho ta biết khoa Địa lý
thuộc về tâm học chỉ thụ đắc khi được khẩu thụ tâm truyền:
(7) Học thầykhẩu thụ, tâm truyền
(8) Nhiệm màu mọi vẻ kính tin mười phần
Nghĩa là ngoài sách vở ra, muốn nắm bắt được hết tinh hoa của Địa lý phải có chân sư tâm truyền và truyền bằng miệng (khẩu thụ) mới hết chỗ ẩn ảo Được như vậy mới học được hết nhiệm màu của địa lý và lúc đó mới thấy đúng, mới tin tưởng địa lý.
(9) Đạo cao đức trọng chung thân
(10) Hổ long liên phục, quỷ thần liên kinh.
Tuy nhiên phần kết luận ở lời mở này, cụ cũng cho biết là dù có giỏi địa lý cũng chưa chắc hưởng được đất quý, nếu không có đạo cao đức trọng Hình như có quỷ thần trông coi các ngôi đất lớn.
Có đạo cao đức trọng, sẽ có phúc mà người có phúc thì mới xứng đáng được đất lớn, mà không có hại Hai câu trên cụ Tả Ao lấy ý nghĩa của câu chữ Hán dưới đây:
Đạo cao: long, hổ phục (đạo cao rồng, hổ cũng phải phục)
Đức trọng: quỷ thần kinh (đức trọng quỷ thần cũng phải sợ) để nhắc ta cần tu nhân, tích đức, trước khi lo việc tìm đất kết.
Chúng tôi hỏi về lý do thì vị này trả lời “Phi người Á Đông có tâm hồn đạo,
Trang 24(11) Đức nhân vốn cả ở mình
(12) Trước là tích đức sau là tầm long
Đất kết là của báu của thế gian trời dành cho người có đức Đức không phải tự nhiên rơi xuống cho mà chính con người phải tạo
ra mới có Có đức rồi sau mới nên tìm đất kết
3 phong thuỷ dương trạch
Vài truyện về thầy địa lý Tả Ao !
Lời nguyền
Làng tôi ven sông Đuống Nếu tính đường chim bay, làng cách trung tâm Hà Nội dăm cây số Đứng trên đê là nhìn thấy mấy khách sạn liên doanh sừng sững mới xây Tuy gần thành phố nhưng quê tôi ít ảnh hưởng cuộc sống thị thành, nếp quê vẫn giữ Phải chăng nét quê sâu đậm mà đình làng còn giữ được Hồi chiến tranh Tây không đốt sau làng cũng không phá Nay người làng tôi tự hào lắm, quê mình đình cổ
to nhất vùng, Thành hoàng là thượng đẳng thần còn sắc mấy đời Vua phong
Chẳng phải đến khi dân làng tự hào, ngày bé tôi đã yêu quý ngôi đình,
có nhiều kỷ niệm về nó Dịp nghỉ hè, tuần trăng, chúng tôi sinh hoạt thiếu niên nhi đồng trống gõ lùng tùng suốt đêm Mấy bận tôi ngủ quên, mẹ ra tận nơi tìm Còn câu chuyện lời nguyền- chiếc đinh đóng trên cột đình ông nội kể, nhiều lần vào đình tôi tò mò xem nó ở đâu Sau này lớn, xa nhà, mỗi dịp về quê tôi đều tranh thủ ghé qua, thư thả thì chiều xuống thả bộ mấy vòng quanh sân đình, ngắm dáng cong cong đình đao hay lớp lớp ngói cổ rêu phong Những lúc ấy, tôi thường suy ngẫm về cuộc đời, về thời gian, về cái ân tình, sự cố hữu của
người dân quê Và rất lạ tôi cứ liên tưởng mái đình kia phủ dày quá khứ, mỗi viên ngói như một giọt thời gian Đến khi đình chuyển thành nhà kho hợp tác xã, ít khi tôi tới nữa Chợt lúc nào đó nhớ về quê
mình, mái đình cổ kính lại thấp thoáng trong ký ức, cả câu chuyện lời nguyền hư hư, thực thực Làng quê, nơi ăm ắp những phong tục, cổ
lệ, người ta sống trong khuôn mẫu lệ tục Tục lệ là thứ nhiều khi ruồng rẫy, dồn đẩy dân quê đến chỗ lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, song cũng lại chính là nó, gắn hút họ với mảnh đất quê làng
Các cụ làng tôi truyền rằng: Xưa, đã lâu lắm rồi, chẳng còn nhớ là năm nào, thầy địa lý Tả Ao qua làng Cảm động trước tấm lòng của dân làng, thầy Tả Ao chỉ cho chỗ đất quý dựng đình Theo thầy, ấy là kiểu đất: hổ trục quần dương Tả hữu có thần Bạch Hổ, thần Thanh Long-
Trang 25hai gò đất cánh đồng bên đình Hậu trẩm là gò đất cao sau đình Thầy lại mách dân làng phá bờ cho thông thuông chuỗi ao hồ trước mặt đình
và khơi con ngòi ra sông Đuống, long mạch sẽ khai thông, giữ được vượng khí Về gò Cái Cờ, ngay đầu làng, chính hướng cửa đình, thầy
Tả Ao dặn, phải hết sức giữ gìn Đấy là tiền án không cho tà thần hung khí xâm tới phạm chính đường Nhớ lời thầy, dân làng tôi xem trọng gò Cái Cờ lắm Cây cối trên gò um tùm Trừ việc hương đăng ngôi miếu
cổ, chẳng mấy ai dám lai vãng đến gò, kể cả đám trẻ trâu
Thế mà một năm có chuyện Ngày ấy không rõ ai tố giác trước quan viên có kẻ giấu diếm táng cốt cha ông vào gò Cái Cờ, nhà nào táng thì
kẻ tố không nói rõ Quan viên được triệu tập gấp ra đình Hay tin các
cụ xôn xao Người lo xúc phạm chốn tôn nghiêm, chuyến này khốn Thảo nào trong làng dịch lợn gà rộ lên, bao người đau bụng, đau mắt
Số quan viên khác nói lo cho dân làng nhưng thực bụng họ sợ kẻ táng
mả ông mả cha kia, chúng sẽ phát Mọi bận phàm đã việc làng thế nào quan viên chẳng ngả ra dăm mâm đánh chén, vậy mà lần ấy diễn ra chóng vánh, cụ tiên chỉ quyết ngay Việc phải nhanh, kẻo lỡ động, chúng biết, nó chuyển đi thì lấy gì làm bằng Ngay chiều đó ông lý ốp đám lực điền, đích thân cụ tiên chỉ cùng nhiều quan viên giám sát Trai đinh săm soi thuốn khắp gò, thứ cần tìm đã thấy Một gã trai đinh thuốn thấy kịch, đúng kiểu gặp gỗ Người ta xúm vào đào Cỗ quách vàng tâm mái cong mai rùa lộ ra Bật nắp tấm thiên, hất gạch đậy tiểu, các cụ sững sờ, trong tiểu bộ cốt "vàng" ươm, đầy ăm ắp Không thể tưởng tượng nổi! Quan viên tức giận, cụ rủa xả đòi quẳng ra sông,
cụ hầm hầm giật mai đòi đập nát Riêng cụ tiên chỉ chỉ cười nửa miệng tuy sắc mặt có tai tái Chờ mọi người nói hả cụ mới lành lạnh phán, đưa về làng Quan viên nhìn nhau chưa rõ ý
Cỗ quách bị điệu sềnh sệch về sân đình Theo lệnh cụ tiên chỉ, trai đinh lôi ra đoạn chão thòng lọng cỗ quách lại, trói gô nó vào gốc si Lúc đó là chập choạng tối, ông Lý vẫn sai mõ đi rao khắp ngõ, dân đinh phải đến tập trung ngay Tối xuống, sân đình đuốc đốt như đình liệu Người ta điểm xem chi giáp nào thiếu vắng ai Đám đông xì xầm: thiếu cánh cháu con ông lý cựu Lý trưởng trình với cụ tiên chỉ mà giọng oang oang như nói với dân làng:
- Bẩm cụ, cánh con cháu nhà Lý Cựu ốm, vắng mặt ạ!
Được phép cụ tiên chỉ, ông lý thông báo việc tầy đình vừa xảy ra Dân làng hồi hộp nín thở nghe Thật là một tin sét đánh ồn ào càng ồn ào hơn khi cụ tiên chỉ phán: tất cả dân đinh bước qua cỗ quách, nhổ nước bọt, táng một vồ Đột lặng im, rồi tiếng lao xao, kẻ tán đồng, người ghê sợ thất đức quá Ông lý phải quát át đi Nghi thức rùng rợn đã
Trang 26diễn ra Từng người từng người một tiến đến Có gã ráng sức nện vồ đến mức chiếc vồ nảy lên, xương cốt bắn cả ra ngoài Đa số dân đinh gượng gạo, làm chiếu lệ, nhất là phe cánh nhà Lý Cựu Tới quá nửa đêm, lúc này bộ cốt nhừ tử cùng mảnh vỡ tiểu sành lộn xộn thành đống trong quách, tưởng đã xong, chỉ còn việc lôi ra sông đổ, dân làng lại nghe cụ tiên chỉ sai Loáng cái có tay trai nọ, mang chiếc đinh sắt tướng tới khúm núm đưa cụ tiên chỉ.
- Trên có thần linh chứng giám, dưới có dân làng - tiếng cụ tiên chỉ sắc lạnh, giữa sân đình đêm khuya nghe mà rờn rợn, dân làng như đứng sát vào nhau hơn- Cái đinh này sẽ đóng lên cột đình Hẹn cho ba hôm, tên láo xược kia chúng bay được phép nhổ, nhổ bằng tay Bằng không, còn ở cái làng này, truyền rằng con cháu bay, đời đời kiếp kiếp không mọc mũi sủi tăm
Chúng bay ở đây là ám chỉ ông Lý Cựu, là con cháu và vây cánh nhà
Lý Cựu Bộ cốt kia, lúc này mười phần chắc bảy tám là bộ cốt bố ông
Lý Cựu Ai vào đây nữa! Biết vậy nhưng vô bằng, làng bắt vạ sao
được Thời Lý Cựu còn đương chức, phe cánh ông mạnh nhất làng Vật đổi sao dời, ông tính sai nước cờ nên tranh trượt cái triện đồng lý
trưởng Sau này làng đình đám, ông vẫn ra dự song ngồi chiếu các ông cựu Tuy vây cánh chẳng còn bằng trước, nhà ông vẫn giàu nhất làng Giàu tới mức ngày bố mất, ông chả vẫn tự hào trước hàng tổng, đưa
ma bố ra đồng, rước xách đâu thèm nhờ vả qua đất ai Từ nhà đến nơi
hạ huyệt mấy cánh đồng, toàn rước trên đất ruộng tư điền nhà ông
Bố mất đã năm năm, chưa thấy Lý Cựu sang cát Dân làng biết không phải thiếu tiền, ông đang chọn đất để mả Một dạo dân làng kháo
nhau, nhà Lý Cựu đón thày Tàu về xem đất Chỉ lạ, mãi không thấy động tĩnh gì Đến khi chuyện vỡ ra mọi người mới hay
Sau vụ hành hình bộ cốt cửa đình mở suốt ba đêm Có người rình xem
kẻ vào đình Rình đâu để bắt Trước có thù oán với nhà Lý Cựu nay được dịp nhìn cho bõ tức; rình vì tò mò hay rình chỉ để mà rình Nào ai thấy gì! Sân đình tối om, đèn đuốc có đâu hoặc người rình chán nản không đợi được Chỉ biết, qua đêm thứ nhất, đêm thứ hai, sáng sớm quan viên lũ lượt ra xem, chiếc đinh vẫn trơ trơ Chẳng phải tinh mắt cũng nhìn thấy những vệt sẫm xung quanh chiếc cột và cả dưới sàn
gỗ Qua đêm thứ ba các vệt ấy không chỉ sẫm màu mà còn có chỗ nhơm nhớp đỏ Đã rõ đấy là máu Có kẻ cố sức nhổ Đinh dài, cắm sâu vào cột lim, nhổ bằng tay làm sao được!
Câu chuyện nhà Lý Cựu mời thày Tàu, giờ dân làng kháo nhau mỗi người một phách, không rõ thực hư thế nào Người thì kể: nhà Lý Cựu mời thày Tàu, thày phán được ngôi đất tại gò Cái Cờ, táng mả bố ở đó
Trang 27còn phát nhưng vì không hậu đãi nên thày phản mới ra nông nỗi này
Có người lại bảo, ông Lý đón phải thày Tàu rởm, mắc mưu phe cánh trong làng vốn có thù oán cũ Chuyện nhiều lắm Nhưng thôi, kén đất kén cát mả kết phát đâu chưa biết, đã thấy bị quật lên rồi Kháo mãi rồi câu chuyện cũng nhạt- còn phải làm ăn chứ, việc nhà người góp bàn được lợi lộc gì Chỉ những kẻ nhớ dai thù sâu vẫn nhắc, rồi xem Thế mà có chuyện thật Vài năm sau tự dưng Lý Cựu đang khoẻ mạnh lăn **ng ra ốm, ốm nặng Được dịp, ông Lý ốm chưa chết có kẻ đã kháo như chết rồi Thật trùng hợp sao, Lý Cựu chết cũng nhanh, chết chưa kịp chia tài sản hay lập di chúc Thế là xảy ra tranh chấp giữa các
bà, bà cả, bà hai, bà ba và đàn con trai gần chục đứa Việc phức tạp phải lên cửa quan kiện tụng, xác ông Lý cứ quàn lại Lúc ấy vợ con còn đầu óc đâu làm ma Rồi tài sản chưa phân, phí tổn tang ma ai là người gánh chịu? Vụ kiện cáo đó quan xử giằng dai, lâu qúa Tranh chấp tài sản xử chưa xong lại tiếp luôn cái án mạng giữa đám con nhà Lý Cựu
Từ lúc ông Lý nằm xuống đến khi ma ra được đồng tròn ba tháng Xong vụ kiện, dân làng đồn, tài sản nhà Lý Cựu vơi quá nửa Số còn lại phân chia, kẻ được hưởng thì đang ở tù hay bị đâm chết mất rồi, đám con trai các bà lẽ trắng tay
Mấy mùa đình đám dân làng thấy cánh con cháu ông Lý Cựu cứ vơi dần Họ lặng lẽ rời khỏi làng, đến lúc không còn ai nữa Câu chuyện về lời nguyền cái đinh, lâu quá rồi, qua mỗi người, mỗi đời kể, lại thêm mắm thêm muối nên càng huyền hoặc, không rõ đâu là thực, đâu là
hư Đến mức nhiều người nghĩ chuyện ấy có thật chăng? Đến như vết đinh trên cột đình ai đã chỉ được nó ở đâu ?
Làng tôi bẵng đi mấy chục năm không mở hội Gần đây, tục xưa được phục hồi Hội làng năm nay câu chuyện thời sự ồn ào nhất: Trước hôm hội có chiếc xe con chạy về làng Xe đỗ sân đình Các cụ làng tôi tiếp ông khách lạ, sang trọng Khách nhận mình vốn gốc ở làng, nay phiêu bạt nơi phương trời xa Về thăm quê hương bản quán, ông còn có một nguyện vọng thành kính, xin dân làng rút lời nguyền cái đinh xưa ồ,
ra lời nguyền cái đinh là có thật! Mười mấy chiếc cột đình đen bóng, to vượt vòng tay, được các cụ trong làng và ông khách lạ săm soi Không một dấu vết Cho đến tận chiếc cột cuối cùng, tìm mãi vẫn không thấy Chợt có người nhìn nơi cao cao, hình như có vệt sẫm hơi gợn lên trên thân cột Khách vừa chạm tay, những vảy tựa gỉ sắt lả tả rơi Trên gò
má ông khách già lăn dài những giọt nước mắt!./
- Dòng họ Nguyễn Thạc và ngôi nhà thờ 300 tuổi
Nói đến dòng họ Nguyễn Thạc ở làng Đình Bảng xứ Kinh Bắc là nhắc đến một dòng họ nổi tiếng, có bảy đời làm quan, công trình xây dựng
Trang 28nhà thờ họ 300 tuổi và đình Bảng - ngôi đình nổi tiếng từ rất xưa trong bảng “xếp hạng di tích” của dân ta:
Thứ nhất là đình Đông Khang
Thứ nhì đình Bảng vẻ vang đình Diềm
Năm 1559 Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm đưa quân lên Kinh Bắc
cự nhau với nhà Mạc, khi qua làng Đình Bảng gặp bà Nguyễn Thị Ngọc Long, nhan sắc tuyệt trần, Thái Vương Trịnh Kiểm đã đưa bà và người
em ruột là Nguyễn Thạc Căn về kinh, phong cho ông chức quan Đặc tiền Phụ quốc Thượng tướng quân Kiệt tiết Tuyên lực Công thần Thái bảo Tuyên Quận công
Bà Ngọc Long được phong là Tần, khi mất được truy phong là Phi (bia
mộ còn ghi: Trịnh Khang Thái Vương Phi chi mộ)
Trong cuốn gia phả họ Nguyễn Thạc (do ông Sủng, cháu 10 đời cụ Nguyễn Thạc Lượng lưu giữ) có 12 đạo sắc của các đời vua phong chức tước và ghi công bảy đời làm quan của dòng họ này:
Ông Nguyễn Thạc Ân là thứ Tổ khảo của dòng họ được phong chức quan Đặc tiền Phụ quốc Thượng tướng Cẩm y vệ quân Đô chỉ huy sứ thần Vũ tứ vệ quân, Vụ sự Tham tán Nghĩa lộc hầu Trụ quốc Trung trật, xứng đáng phong chức Tham đốc vì năm 1629 đã theo giúp
Nguyên soái Thống quốc Chính thanh Đô vương, đánh giặc ở Thuận Hóa có công lao to lớn
Ông Nguyễn Thạc Trang (tức Nguyễn Thạc Chí) con cả Nguyễn Thạc
Ân năm 1656 đã có công vào đất Thuận Quảng dẹp trừ bọn cường khấu và năm 1657 cầm quân giỏi, thu được súng thần công của địch nên được phong là quan Đặc tiền Phụ quốc Thượng tướng Cẩm y vệ quân Đô chỉ huy sứ, Ty Đô chỉ huy sứ Tham đốc thần Vũ tứ Vệ quân vụ
sự, Tăng Đề đốc Thắng Vũ hầu
Ông Nguyễn Thạc Khiêm, con trai Nguyễn Thạc Chí được phong chức quan Tiền công lang tri bạ vệ thần toán do có công đi đánh giặc dữ ở Thuận Quảng và các xã Lưu Thượng, huyện Yên Lộc đã biết theo dõi chiến trận, thông báo tin tức, biên chép rõ ràng Năm 1662 được thăng Cẩn sự lang Quang lộc tự thừa thụy Đình hầu
Đến đời thứ 6, ông Nguyễn Thạc Lượng là con trai Nguyễn Thạc Khiêm được phong quan Tiền công thứ lang, Hội Ninh huyện Thừa Được ban tặng là Minh nghị tướng quân Thần vũ Hiệu lực Điện tiền Đô chỉ huy
Trang 29sứ, Ty Đô chỉ huy sứ, tước Diệu Đình hầu Vợ ông là Nguyễn Thị Tuyên cũng được ban chức Huy Phu nhân do có công nuôi dưỡng Trịnh Trụ.
Ông Nguyễn Thạc Cơ là con cả Nguyễn Thạc Lượng cũng được phong chức quan Từ đó đến nay con cháu trong dòng họ này ngày càng đông đúc, làm ăn tấn tới, nhưng rất ít người thành đạt như cha ông thời xưa, phần nào cũng ứng với lời tiên đoán của Minh sư Tả Ao khi đặt đất cho ngôi mộ tổ của dòng họ này:
Công hầu chỉ có vài đời
Đinh tài thoang thoảng một vài ngàn thu
Tuy vậy con cháu họ Nguyễn Thạc thời nào cũng có người vinh hiển Trong nhà thờ còn có đôi câu đối:
Cổ Pháp tứ linh chung bát điệp sơn hà lưu vượng khí
Hoàng Lê phong vũ nhuận thất truyền châm hốt nhẫn cao non
Đây cũng là lời của thế hệ sau ca ngợi cảnh sắc quê hương Cổ Pháp - đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của nhà Lý mở đầu cho kỷ nguyên mới của đất nước Đồng thời cũng ca ngợi dòng họ Nguyễn Thạc đã có bảy đời làm quan thời Lê - Trịnh
Gia phả và truyền tích làng Đình Bảng kể lại rằng: ngay từ khi làm quan trấn thủ ở Thanh Hóa triều Lê Dụ Tông, ông Nguyễn Thạc Lượng
đã có ý định về quê vui thú điền viên, cung tiến cho dân làng và dòng tộc những kỷ niệm có thể trường tồn cùng với thời gian bèn tích góp lương bổng của mình để mua gỗ làm vật liệu
Năm 1686, khi từ quan về quê an nghỉ tuổi già, ông Nguyễn Thạc
Lượng và vợ là bà Nguyễn Thị Nguyện đã mang theo 8 bè gỗ lim từ Thanh Hóa ra Đình Bảng để dựng nhà Số gỗ này đủ dựng 3 ngôi từ đường cho dòng họ: nhà thờ Bà Chúa thờ Nguyễn Thị Ngọc Long, nhà thờ cụ Quận, thờ Tuyên Quận Công Nguyễn Thạc Căn và đình làng Đình Bảng
Việc **c chạm cho cụm công trình này kéo dài suốt 14 năm ròng Năm
1700, các ngôi từ đường mới dựng xong Hai ngôi có 6 gian (mỗi ngôi
3 gian tiền đường và 3 gian hậu đường) Đặc biệt ngôi nhà thờ thứ ba, gồm 14 gian (7 gian tiền đường và 7 gian hậu đường) thờ các vị tiên tổ với quy mô lớn Ông có dụng ý tuyển thợ giỏi luyện tay nghề làm trước ngôi nhà mẫu của mình trước khi cung tiến cho dân làng một công
Trang 30trình kiến trúc đồ sộ là ngôi đình làng cổ kính còn lại mãi mãi cho dân Đình Bảng và vùng Kinh Bắc Tốp thợ làng Pha (Thanh Hóa) đã được lựa chọn Sau đó đình làng được cất dựng suốt 36 năm.
Tương truyền ông thợ cả, tốp thợ đầu tiên đến xây dựng ngôi nhà thờ,
có mang theo người cháu nội 5 tuổi Khi hoàn thành ngôi nhà thờ và ngôi đình làng thì người cháu nội đó đã là thợ cả tài năng 55 tuổi!
Như vậy ba ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn Thạc và ngôi đình làng được xây dựng khoảng 50 năm mới hoàn thành
Ngôi nhà thờ thứ ba này được dựng trên diện tích 1.044 m2 Kiến trúc gồm 7 gian tiền tế (đã bị phá trong chiến tranh, chỉ còn lại nền nhà), cũng may 7 gian thờ cúng gọi là hậu đường vẫn vô sự
Bảy gian hậu đường này với mặt bằng xây dựng là 135,5 m2 Kiểu thức bình đầu xây gạch, mái lợp ngói mũi hài, khung gỗ lim Cấu trúc kiểu lọng tán chồng tam gồm 8 cột hiên, mỗi cột cao 2,06m, chu vi 85cm; 8 cột cao 2,77m, chu vi 90cm; 16 cột cái cao 4,20m, chu vi 110cm; 8 cột hậu cao 2,20m, chu vi 90cm; tổng số 40 cột lớn - nhỏ Mặt thềm phía trước bó đá tảng xanh, kích thước 30 x 60 x 30 cm
Phần chạm khắc được tập trung ở các đầu bẩy, kẻ trường, con chồng vân long hoàn toàn giống các mảng chạm khắc ở đình làng với những hình hoa lá vân bay cách điệu cùng các con thú 4 chân trên các mảng cốn, con chồng bằng những đường nét chạm khắc tinh xảo, kỹ thuật điêu luyện ở cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII
Một hệ thống cửa bức bàn gồm 28 cửa có kích thước kiểu dáng giống như cửa ở đình làng
Hiện tại ngôi nhà thờ bảy gian hậu đường này do ông Nguyễn Thạc Sủng (cháu 10 đời của cụ Nguyễn Thạc Lượng) sử dụng Tuy ngôi nhà được miêu tả như trên, nhưng cùng mưa nắng thời gian, ngôi nhà đã bị xuống cấp nghiêm trọng, có những cây cột bị mục rỗng nhưng do điều kiện kinh tế, ông không thể trùng tu được Ông nhớ hồi còn bé được nghe các cụ trong họ kể rằng, khi nào ngôi từ đường mục nát thì ở ao Làn (hiện nay đã sung vào hợp tác xã) sẽ nổi lên một bè gỗ lim để dùng vào việc tu bổ… Ai ngờ lời sấm truyền đó lại thành sự thật:
Năm 1996 nhóm kiến trúc sư của Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đang nghiên cứu giải pháp cứu vãn tình trạng xuống cấp của các ngôi nhà Việt cổ đã bỏ ra gần 800 triệu VNĐ (mệnh giá năm 1996) để trùng tu ngôi nhà thờ có 7 gian hậu đường này
Trang 31Hôm tôi đến thăm ngôi nhà thờ 300 tuổi, ông Sủng chỉ cho tôi Giấy chứng nhận văn hóa được UBND tỉnh Bắc Ninh cấp treo trên tường vui
vẻ đầy hứng khởi, nhưng ông còn có ý muốn nhờ Sở Văn hóa - Thông tin làm hồ sơ xin Bộ xem xét để cấp Bằng công nhận di tích quốc gia (bởi ngôi nhà cổ kiểu này cũng không còn mấy) để có giải pháp gìn giữ
và bảo vệ ngôi nhà thờ vừa mới được nhóm kiến trúc sư Nhật Bản giúp trùng tu
Hiện nay do hoàn cảnh nhà ở khó khăn, hai gia đình người em ông Sủng vẫn ở và sinh hoạt tại đây, họ cũng muốn chuyển ra ngoài sinh sống để trả lại vẻ trang nghiêm cho ngôi nhà thờ, nhưng mong có chế tài hợp lý và linh hoạt Được biết Sở Thương mại và Du lịch Bắc Ninh
có đề nghị ông Sủng cho họ đưa khách tham quan ngôi nhà thờ có tuổi đời qua ba thế kỷ này được coi là điểm đến của tour du lịch văn hóa Hà Nội - Kinh Bắc Ông Sủng đã nhận lời nhưng lòng còn bao canh cánh…
Thiết nghĩ, để bảo tồn vốn cổ vật thể là điểm nhấn ở vùng Kinh Bắc này, UBND tỉnh Bắc Ninh và cơ quan bảo tồn - bảo tàng nhà nước cần
có sự đóng góp đầu tư về trí tuệ, vật chất kể cả luật pháp cho ngôi nhà thờ 300 năm tuổi này
Dòng họ Nguyễn Thạc, đình làng Đình Bảng, ngôi nhà thờ 300 tuổi làm cho xứ Kinh Bắc càng thêm hấp dẫn Nó cũng nói lên mỗi miền quê yêu dấu của chúng ta đều ẩn chứa bao điều mới lạ
Huyền thoại nhà địa lý Tả Ao !
Tả ao Phong thủy nhất trên đời
Họa phúc cầm cân định chẳng sai
Mắt Thánh trồng xuyên ba thước đất,
Tay Thần xoay chuyển bốn phương Trời
Chân đi Long Hổ luồn qua gót,
Miệng gọi Trâu Dê ứng trả lời
Ai muốn cầu sao cho được vậy
Ấy ai Địa lý được như ngài
*****
Nhà Phong Thủy nổi tiếng của Việt nam Tả Ao tên thật là NGUYỄN ĐỨC HUYỀN, người làng Tả Ao thuộc tỉnh Hà tĩnh Cụ sống vào đời Chúa Trịnh , gia đình quá nghèo, cha lại mất sớm, mẹ bị mù nên phải tìm đủ mọi việc để giúp đỡ mẹ già Lúc bấy giờ có một ông thầy thuốc người Tầu nổi tiếng về khoa chữa mắt, nên cụ tìm đến xin được hầu hạ thầy
Trang 32để thầy ra tay tế độ chữa mắt cho mẹ mình Ông thày Tầu thấy cụ siêng năng, chăm chỉ lại thông minh nên đã truyền cho cụ một số phương cách chữa mắt Nhờ vậy mà cụ chữa được mắt cho mẹ Khi nghe tin ông thày Tầu sắp về nước, cụ vội vã đến xin phép thầy đi theo hầu hạ và học hỏi thêm về khoa chữa mắt Ông Thầy bằng lòng Thế là cụ bôn ba theo thầy Tàu và được truyền dạy tất cả những gì mà ông thày Tầu có được về nghề chữa mắt, nhất là khi ông thày Tầu đã quá già.Từ đó cụ tự chữa cho nhiều người lành bệnh mắt, danh cụ vang khắp vùng.Có một thày Địa lý nổi danh trong vùng bị đau mắt, nghe danh cụ , liền cho người dẫn đến gặp cụ Chỉ trong một thời gian ngắn ,cụ đã chữa khỏi bệnh mắt cho ông thầy Địa lý Thầy Địa lý
mừng quá, đem vàng hậu tạ, nhưng cụ không nhận mà chỉ xin được làm đệ tử môn Địa lý Phong thủy mà thôi Thấy người có tài đức lại có chí ham học hỏi, nên thầy Địa lý không ngần ngại đồng ý truyền hết những gì về Phong thủy mà mình có được Chẳng bao lâu, cụ đã thành thạo tất cả những gì mà vị thày Địa lý đã truyền cho mình
Qua bao phen thử thách trắc nghiệm tài năng(cái này đã có chuyện, mình sẽ bỗ sung sau),ông thày Địa lý công nhận cụ là người sáng trí, tài cao, đức trọng, nên không tiếc rẻ công sức mình truyền dạy cho
Khi dời nước Tầu về nước, cụ đã chữa mắt cho rất nhiều người, ngoài
ra cụ còn đi tìm những vùng đất tốt và nghiên cứu các Long mạch, các Địa linh ở quanh vùng Cụ không vì tiền bạc, danh vọng mà đi tìm các cuộc đất tốt cho những kẻ không xứng đáng được hưởng Dù cụ giới hạn về khoa địa lý, nhưng nhiều người đã tìm đến cụ để nhờ cụ giúp tìm đất tốt cho nhà cửa, mồ mả, phương hướng thuận lợi cho họ
Dân chúng thời bấy giờ đã gọi cụ là cụ Tả ao ( Làng Tả ao ), danh tiếng của cụ vang đi khắp nơi và người đương thời truyền tụng cho nhau nhiều giai thoại của cụ Tả ao ngay còn lúc cụ còn sống
Tương truyền cụ để lại 2 bộ sách về địa lý:
1/-Địa Lý Tả Ao (Địa Đạo Diễn Ca) 120 câu
2/-Dã Đàm Tả Ao Tầm Long Gia Truyền
Sau này có nhiều dị bản chép lại và có nhiều tên khác:
-ÐỊA LÝ TẢ AO DI THÝ CHÂN CHÍNH PHÁP
-TẢ AO CHÂN TRUYỀN DI THÝ
-TẢ AO CHÂN TRUYỀN TẬP
-TẢ AO TIÊN SINH BÍ TRUYỀN GIA BẢO TÀNG
-TẢ AO TIÊN SINH ÐỊA LÝ
-TẢ AO TIÊN SINH THÝ TRUYỀN BÍ MẬT CÁCH CỤC
-BẢN QUỐC TẢ AO TIÊN SINH ÐỊA LÝ LẬP THÀNH CA
Trang 33Đình, chùa Lệ Mật
Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 8 km về phía đông bắc, Lệ Mật là một làng cổ xưa thuộc vùng văn hóa Kinh Bắc, nay do yêu cầu mở rộng đất đai và cư dân nội thành, đã trở thành một địa danh thuộc phường Việt Hưng, quận Gia Lâm, Hà Nội
Như nhiều làng quê ngoại thành Hà Nội, nơi đây hiện còn lưu giữ một quần thể di tích đình, chùa, miếu… có quy mô bề thế, được quy tụ cận
kề nhau ở ngay giữa trung tâm làng Chùa làng thờ Phật, miếu làng thờ vị công chúa con vua Lý (?), còn đình Lệ Mật thờ đức thánh họ Hoàng, người có công khai khẩn, mở mang đất đai sang phía Tây kinh thành Thăng Long, lập nên khu Thập tam trại Đây một địa danh nổi tiếng, được các nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm, vì việc tìm hiểu lịch
sử Thập tam trại có liên quan mật thiết với việc xác định hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần
Trải qua thời gian, những đổi thay do tác động của tự nhiên và xã hội
đã ít nhiều ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường của làng và các di tích Bài viết này đặt vấn đề khảo sát hiện trạng di tích đình, chùa Lệ Mật với mục đích lưu lại dấu tích xưa cũ của chúng trước nguy cơ “xâm lấn” của quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động ở Lệ Mật trong những năm gần đây
1 Đình Lệ Mật
Trước đây làng Lệ Mật có hai ngôi đình: đình Thượng và đình Hạ Theo các cụ cao tuổi trong làng, đình Thượng là ngôi đình được dựng đầu tiên, vị trí ở sát ủy ban hành chính phường Việt Hưng hiện nay, thờ trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngôi đình này trước được dùng làm trụ sở hành chính xã, sau do xuống cấp nghiêm trọng nên bị dân làng phá vào năm 1960 rồi chuyển các đồ tế tự, bài vị, bằng sắc về phối tự tại đình Hạ
Đình Hạ, vốn được dựng cách vị trí hiện tại khoảng 200 mét Nay dấu tích xưa đã thành đồng, thành bãi, nhưng vẫn còn được dân gian ghi nhận qua việc gọi tên một xứ đồng (ruộng Đình) Các cụ già làng giải thích về việc di chuyển đình Hạ từ “ruộng Đình” ra vị trí hiện nay như sau: Từ khi đình Hạ dựng lên, làng xảy ra nhiều biến cố, đặc biệt là phong hóa bị xuống cấp nghiêm trọng Người ta nhận thấy những người phụ nữ Lệ Mật xưa vốn cần cù, chịu khó, nay như nổi loạn Còn cánh đàn ông dường như mất hết dũng khí, ngày càng trở nên nhu
Trang 34nhược Các cụ bô lão khẳng định, chắc chắn phong thổ của làng có vấn
đề và bàn nhau đi mời thầy địa lý Họ đã mời được thầy Tả Ao (?) một thầy địa lí Trung Hoa nổi tiếng vào thời đấy đến xem xét Ông thầy cho biết: Đình làng bị “hỏng hướng”, nó không những phải chuyển hướng
mà còn phải rời sang vị trí khác Nếu tiếp tục để ngôi đình ở đây, cánh đàn ông trong làng sẽ bị toét mắt và phải làm các việc “tề gia, nội trợ” Còn đám phụ nữ trong làng sẽ trở nên ngang ngược, đi cướp bóc thiên
hạ (?)
Sau khi xem xét đất đai, phong thủy, cảnh quan làng, thầy Tả Ao đã tìm được một nơi “đắc địa” Đó chính là vị trí của ngôi đình Hạ hiện nay Nhưng có một trở ngại: xưa, nơi này là vị trí của chùa Lệ Mật (tương truyền, chùa làng còn được dựng trước cả hai ngôi đình)
Hương lão và các vị chức sắc trong làng bèn bàn với nhà chùa, chuyển chùa Lệ Mật sang mảnh đất bên cạnh để nhường đất dựng đình Ngôi chùa rời đi nhưng tam quan chùa vẫn được giữ nguyên Khách tham quan đến đây, nếu không được dân giải thích cặn kẽ về lịch sử khởi tạo quần thể di tích này, sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi lối kết cấu kỳ lạ: Tam quan chùa cao lớn sừng sững, đứng án ngữ trước tổng thể di tích đình Hạ (bao gồm nghi môn, sân, phương đình, 4 dãy tào mạc và
chính đình) Nó vừa mang đậm dấu ấn xưa cũ của ngôi chùa làng, vừa
là chứng tích ghi nhận một “sự kiện” trong lịch sử văn hóa làng Lệ Mật
Từ con đường rước kiệu vào tới nghi môn đình, khách tham quan phải
đi qua 3 “mảng” di tích: đó là giếng đình, miếu công chúa và tam quan chùa Lệ Mật Ngoài ra, cũng nằm trong quần thể di tích này còn có ao đình rộng tám sào nằm đối diện với tam quan chùa Có lẽ nó nằm
trong kết cấu tổng thể chùa Lệ Mật
Giếng đình: Là giếng tự nhiên, có tên gọi Thiên Hồ Lệ (Giếng thiên tạo) Giếng cũng do thầy Tả Ao yểm, nên trải qua nhiều đời vẫn còn nguyên vẹn, hầu như không bị sụt lở Xưa, cả làng Lệ Mật gánh nước giếng về ăn Giếng đình gắn kết với nhiều giai thoại, truyền thuyết xung quanh vị thành hoàng Lệ Mật Trong tâm thức dân gian Lệ Mật, cùng với miếu công chúa, giếng là một trong những “di tích thiêng”
Miếu công chúa: Không ai rõ miếu công chúa được dựng lên từ thời nào Người được thờ trong miếu là con gái vua Lý Thái Tông (được chàng trai họ Hoàng vớt lên sau trận giao tranh với thủy quái) Người dân cho rằng ngôi miếu xuất hiện như một sự tri ân đối với vị Thành hoàng đang được thờ phụng trong đình Miếu công chúa có kích thước nhỏ bé (rộng 6m2) với kết cấu kiến trúc, điêu khắc đơn giản Nhưng điều kỳ lạ nhất là nó gắn kết chặt chẽ với một cây đa cổ thụ: một phần mái gắn sâu vào thân cây, trong khi phần mái còn lại bị rễ bao phủ
Trang 35Trên cây đa, giữa chạc ba của thân cây mọc lên một cây cọ Dân làng
và khách thăm quan đều cho rằng đây là một hiện tượng “có một
không hai” Miếu công chúa rất thiêng, không ít người do sơ ý nói năng hoặc có những cử chỉ “không phải” xúc phạm đến miếu thiêng mà bị mang vạ suốt đời Dân làng còn gọi đây là “miếu trình” hay “miếu chúa”, vì hàng năm vào dịp hội làng, vào khoảng 8 giờ sáng ngày 22-3
âm lịch diễn ra tục đánh cá ở giếng đình Cá được đánh từ giếng lên, trước khi mang vào đình đều phải “trình” (đặt lên ban thờ rồi thắp hương) qua miếu công chúa
Tam quan: Chúng tôi không hiểu vì sao các cụ rời chùa (nhường đất cho đình Lệ Mật) lại không rời Tam quan Rất may chùa chỉ chuyển sang khu đất nằm sát phía bên phải đình, từ đình có đường tắt đi sang chùa nên nhìn trên kết cấu mặt bằng tổng thể di tích đình - chùa Lệ Mật, người ta thấy vị trí của tam quan cũng không đến nỗi khập
khiễng Các cụ già đều khẳng định, tam quan cùng với chùa Lệ Mật được dựng nên từ thời Lý (?) Chúng tôi chưa tìm được tư liệu nào chứng minh điều này Tam quan chùa Lệ Mật có kích thước cao lớn, bề thế, với lối kết cấu 2 tầng, 8 mái Các mảng chạm nổi trang trí bám kết dày đặc cả hai mặt trong và ngoài So với các tam quan chùa làng khác, đây là một di tích đẹp Có lẽ, một trong các nguyên nhân để dân làng giữ nguyên vị trí hiện nay của tam quan là vì họ không muốn phá
vỡ các mảng chạm nổi trang trí hình tứ linh, bát tiên rất công phu, tinh xảo của người xưa để lại
Đình Hạ: Được trùng tu lần gần đây nhất từ năm 1998, toàn bộ chi phí khoảng trên 600 triệu đồng do công sức đóng góp chủ yếu của dân làng và Thập tam trại, Nhà nước chỉ hỗ trợ 100 triệu đồng Sau nhiều lần trùng tu, đình vẫn giữ nguyên được mặt bằng tổng thể như khi khởi tạo, với lối kết cấu cổ điển của các ngôi đình muộn thời hậu Lê (thế kỷ XVII, XVIII) Từ tam quan bước vào, qua một sân rộng, giữa sân là một bức bình phong, 2 bên 2 dãy tào mạc (tả, hữu vu), mỗi dãy rộng 3 gian, ta bước tới nghi môn đình Hai mảng nghi môn, mỗi bên
có 2 cột nanh cao to sừng sững, được xây nối tiếp với 2 dãy tào mạc nữa, mỗi dãy rộng 5 gian Giữa 2 tào mạc, sát với tiền đình là phương đình, kết cấu bởi 2 tầng 8 mái, đặt vuông vắn, cân đối giữa khoảng sân rộng Qua phương đình, ta bước vào gian tiền tế rộng 7 gian (chưa
kể 2 gian kép) Toàn bộ chính đình có kết cấu mặt bằng kiểu “nội
công, ngoại quốc” được phân định bởi 2 sân thiên tỉnh Sàn đình ngày nay tuy không lót bằng gỗ, nhưng ngay từ khi khởi tạo đã được phân
bố từng mảng nền cao thấp khác nhau để phù hợp với vai vế của các bậc chức sắc, hương lão, giai đinh trong làng
Tòa tiền đình nằm kề sát trung đình, cùng được cấu tạo bởi 2 hàng cột
Trang 36cái, mỗi hàng 8 chiếc (đường kính mỗi cột khoảng 60cm) Toàn bộ vì kèo kết cấu theo kiểu chồng rường ở đây hầu như không có sự tham gia của điêu khắc trang trí (trừ một vài cấu kiện được chạm nông các hình hoa lá cách điệu) Người xem có cảm giác chủ nhân của ngôi đình dường như chỉ chú ý đến quy mô hoành tráng, bề thế của nó mà bỏ qua việc đầu tư cho chạm khắc trang trí.
Gian hậu cung đặt một bức tượng đức thành hoàng và các đồ tế tự Phía trước gian hậu cung đặt 3 hương án trên 3 bậc cao thấp khác nhau Các hương án nay đều được chạm trổ, sơn son thếp vàng rất đẹp Tuy nhiên, toàn bộ nghệ thuật trang trí nội thất đình đều tập trung nơi cửa võng ở đây, trừ các mảng chạm lộng bao quanh làm diềm, phần còn lại được chia thành nhiều ô chữ nhật to nhỏ khác
nhau, tuân thủ theo nguyên tắc đăng đối qua một trục, từ kích thước mảng chạm tới các đề tài trang trí (ví dụ: mai - tùng, hạc - rùa, hoa hồng - hoa cúc…), và từng cặp môtíp trang trí lại đối xứng nhau (rồng, phượng, sư tử, rùa, cuốn thư, hổ phù…) Nhìn trên toàn cảnh, người xem dễ dàng nhận thấy, ở đây, đề tài tứ linh, trong đó đặc biệt là đề tài rồng được ưu tiên hàng đầu Trên đó, có rất nhiều cảnh rồng,
phượng quấn quít, rùa ngậm cuốn thư, hoặc rồng đan xen với cá chép hóa rồng
Trong đình Hạ, ngoài các đồ tế lễ còn một đôi hạc (cao gần 2m) cưỡi trên lưng rùa và một con ngựa trắng Nghe nói trước đây đình Hạ thờ một con ngựa hồng, sau bị mất cắp
2 Chùa Lệ Mật
Nằm theo hướng nam ghé đông, chùa Lệ Mật có tên chữ là Cổ Giao tự Tương truyền, ngôi chùa này đã được dựng lên từ thời Lý (?) Theo suy nghĩ của chúng tôi, niên đại của chùa rất có thể gắn bó mật thiết với niên đại của chiếc cổng tam quan (được xây vào khoảng “cuối Lê, đầu Nguyễn” - thế kỷ XVIII, XIX), hiện đang “ngự” trước sân đình Nhìn vẻ hoành tráng của tam quan này, có thể đoán định rằng, trước kia, chùa
Lệ Mật đã từng được xây dựng rất to lớn, bề thế, như vậy tầm cỡ của
nó mới có thể tương xứng với chiếc cổng
Phần trên chúng tôi đã nói đôi lời về nguyên nhân chuyển chùa Lệ Mật Sau khi chùa Lệ Mật lùi xuống nhường chỗ cho việc dựng đình thì ngôi chùa bị hỏng hướng (nói theo ngôn ngữ dân gian là bị “mất hướng”)
Có thể, chùa làng bị di rời vào thời điểm “Nho thịnh, Phật suy”, nên sự quan tâm của dân làng chỉ tập trung vào ngôi đình Chùa làng Lệ Mật phải nhường chỗ cho đình chứng tỏ Phật giáo tại địa phương này cũng chỉ giữ vai trò khiêm nhường bên cạnh vị thành hoàng của họ (Ngoài
Trang 37ra, cũng còn một cách lí giải khác: vì chùa là của riêng làng Lệ Mật, còn đình là nơi phụng thờ của 13 làng trại, nên các khoản kinh phí đóng góp hàng năm dành cho đình lớn hơn rất nhiều so với chùa) Nói như thế không có nghĩa ở Lệ Mật, người dân không tôn trọng, hoằng dương Phật pháp, bởi chính vùng đất Kinh Bắc là cái nôi Phật giáo của nước ta từ thời đầu công nguyên Bên cạnh việc tế, lễ, cầu đức thành hoàng, người dân bao giờ cũng lễ Phật Các ngày hội đình, nhà chùa bao giờ cũng “góp lễ” tham gia vui chung cùng dân làng Người dân đi hội đình cũng đồng thời sang lễ chùa trong ngày hội vui Xuân Dường như việc tách bạch hội đình ra khỏi không gian chung của cụm di tích (đình - miếu công chúa - chùa) là một khái niệm mơ hồ mà người dân không ai nghĩ đến.
Chùa Lệ Mật đã qua nhiều đợt tu sửa, song, vết tích những lần tu sửa cho thấy, đây chỉ là những “vá víu” mang tính tạm thời, không có quy hoạch, không được đầu tư một cách cẩn thận Ngay cả mặt bằng tổng thể ngôi chùa hiện cũng bị cắt xén, không được vuông vắn
Chùa có kết cấu 5 gian, khung và vì kèo đều được làm bằng gỗ Gian chính kết hợp với hậu cung tạo thành mặt bằng hình chuôi vồ Hiện trạng chùa đang bị xuống cấp nghiêm trọng: Mái chùa thấp, lòng chùa hẹp, sàn chùa bị “ốp lát” một cách tùy tiện, các cột chống đều bị mối mọt Trừ các pho tượng trên Phật điện và mảng cửa võng được sơn thếp, còn các bộ phận khác, hầu như không có trang trí Các pho
tượng Phật cũng rất bé nhỏ, khiêm tốn Di sản của chùa hiện chỉ còn một chuông đồng (đã bị sứt), một tấm bia hậu (bằng đá) niên đại Tự Đức và một vài đôi câu đối cổ (cũng mang niên hiệu Tự Đức)
Trước đây, nằm trong phần đất thuộc sở hữu của chùa còn có hai chiếc ao: Một chiếc nằm trước cổng, một chiếc khác ở bên trái cổng chùa Nay một chiếc đã bị san lấp để làm nhà văn hóa, chiếc kia đã bàn giao cho Ban quản lí di tích Lệ Mật Vì vậy, đất chùa ngày càng bị thu hẹp lại
Không chỉ có đất chùa bị xâm lấn, thời gian gần đây, trong quá trình
đô thị hóa, ao đình nằm trong vành đai xanh của cụm di tích, cũng đã
bị san lấp gần hết (để chuyển cho dự án xây dựng trường mầm non) Đây là một thiệt thòi đáng tiếc cho phong hóa làng Lệ Mật Theo
thuyết phong thủy, không nên hoặc rất hạn chế cải tạo không gian bao quanh di tích, bởi những ao chuôm, dòng chảy, núi đồi… là những
chuẩn mực tạo nên thế đất thiêng liêng tụ phúc Sự tác động của con người một cách quá đáng sẽ làm cho thế phong thủy bị cạn mòn, suy lạc Nhìn chung, những nơi thờ thần không thể thiếu nguồn nước, đặc biệt nước ở phía trước để tạo nên “tụ thủy tích phúc” Người ta tin
Trang 38rằng, với thế đất như vậy thì sức mạnh của thần sẽ lớn hơn và ban ân huệ cho con người càng nhiều.
Là những thiết chế văn hóa được dựng lên do nhu cầu thực hành các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm, nhưng đình, chùa Lệ Mật không những tiếp tục gắn bó với đời sống tâm linh của người dân nơi đây, mà sự hiện diện của chúng còn là những dấu ấn đậm nét, lưu giữ bản sắc văn hóa truyền thống, tạo những cảnh quan đặc sắc của làng quê Việt Nam xưa Do đó, gìn giữ
và phát huy những di sản vật thể di tích đền chùa miếu mạo là ý nghĩa
vô cùng quan trọng bởi nó là một trong những nơi để niềm tin neo đậu
Địa Đạo Diễn Ca Của Cụ Tả Ao ( gồm 120 câu văn vần )
1 Mấy lời để truyền hậu thế
10 Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh
11 Sơn cước mạch đi rành rành
12 Bình dương mạch lẩn, nhân tình không thông
13 Có mạch qua ao, qua sông
14 Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non
15 Lại có mạch phát ngôi dương
16 Nhìn xenm cho tường, ấy mạch làm sao ?
17 Mạch thô đi chẳng khép vào
18 Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương
19 Ba mươi sáu mạch cho tường
20 Trước là cứ sách, sau y lời truyền
21 Ruộng cao uốn xuống thì mạch táng lên
22 Ruộng thấp uốn lên thì mạch táng dưới
23 Bình dương mạch chẳng nề châm gối
24 Hễ chính long thì tả hữu chiều lai
25 Đâu có chính long thì có sơn thủy gối kề
26 Nhưng trên sơn cước non cao
27 Cường long thô mạch, thế nào mới hay ?
28 Tìm nơi mạch nhược long gầy
29 Nhất thời oa huyệt, nhị thời tàng phong
30 Đất có cát địa chân long
Trang 3931 Táng cho phải phép anh hùng giàu sang
32 Nọ như dưới đất bình dương
33 Mạch thích giác điền xem tưởng mới hay
34 Bình dương lấy nước làm thầy
35 Thứ nhất khai khẩu thứ nhì nhũ long
36 Thứ ba mạch thắt cổ bồng
37 Thứ tư sơn chỉ hồi long càng tài
38 Muốn cho con cháu tam khôi
39 Phương nam có bút phương đoài có nghiên
40 Muốn cho con cháu Trạng nguyên
41 Thời tìm “Bút lập”hai bên sắp bầy
42 Nhất là Tân, Tốn mới hay
43 Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bầy đặt lên
44 Bút lập là bút “Trạng nguyê”
45 Bút “Thính giác điền” là bút “Thám hoa”
46 Nhìn xem cho kỹ sẽ là đất hay
47 Khuyên ai học làm thầy địa lý
48 Trước phải đọc sách sau là lượng cao
49 Dự ai khôn khéo thế nào
50 Học mà chẳng xét ấy là “Vô tông”
51 Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết
52 Xem cho biết “Mộc tiết, Kim loan”
53 “Mộc tiết” văn đỗ “Trạng nguyên”
54 “Kim loan” vốn được tước quyền “Quận công”
55 Con Mộc vốn ở phương Đông
56 Con Kim vốn nó ở dòng phương Tây
57 Xem cho biết nó mới hay
58 Táng cho phải phép thực dày vinh hoa
59 Thắt cuống cà phì ra mới kết
60 Xem cho biết huyệt cát huyệt hung
61 Huyệt cát nước tụ vào lòng
62 Đôi bên Long Hổ uốn vòng Chiều lai
63 Huyệt hung Minh đường bất khai
64 Sơn tà thuỷ xạ hướng ngoài tà thiên
65 Táng xuống kinh sáng bất yên
66 Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau
67 Muốn cho con cháu sống lâu
68 Tìm nơi “Huyền vũ” đằng sau cao dầy
69 Long Hổ bằng như chân tay
70 Chẳng cứ tả hữu bằng ngay chẳng lành
71 Kìa như đất có “Ngũ tinh”
72 Nhận xem cho biết “Tương sinh Loan hoàn”
73 Muốn cho con cháu nên quan
74 Thì tìm Thiên Mã phương Nam đứng chầu
Trang 4075 Muốn cho “Kế thế Công hầu”
76 Thì tìm cờ trống dàn chầu hai bên
77 Ngũ tinh cách tú Chiều nguyên
78 Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả bốn bên Loan Hoàn
79 Thổ tinh kết huyệt Trung ương
80 Ấy đất sinh Thánh, sinh Vương đời đời
81 Thiên sơn vạn thuỷ Chiều lai
82 Can chi, bát quái trong ngoài tôn nghinh
83 “Nhị thập bát tú” thiên tinh
84 Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
85 Ngôi “Đế vương” mặc trời chẳng giám
86 Huyệt “Công khanh” chẳng kiếm ai cho
87 Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ
88 Thấy thì làm chớ để lưu tâm
89 Trên sơn cước xa xăm cũng táng
90 Dưới bình dương nửa tháng cũng đi
91 Minh sinh ám tử vô di
92 Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn
93 Quả nhiên huyệt chính Long chân
94 Tiêu sa, nạp thuỷ chớ lầm một ly
95 Táng thôi phúc lý tuy chi
96 “Trâm anh” bất tuyệt “Thư thi” gia truyền
97 Muốn cho con trưởng “Phát tiên”
98 Thì tìm Long nội đất liền quá cung
99 Thanh long Liên châu Cao phong
100 Kim tinh Thổ phụ phát dòng trưởng nam
101 Con gái về bên Hổ sơn
102 Hổ cao thì phát sơn bàn cho thông
103 Phản Hổ con gái lộn chồng
104 Phản Long trai nó ra lòng bất nhân
105 Vô Long như người vô chân
106 Vô Hổ như đứa ở trần không tay
107 Trông Long Hổ lấy làm thầy trước
108 Sau sẽ tìm lấy chỗ huyệt chôn
109 Nước chẳng tỏ tường kể chi
110 Kiếm ăn cũng khá xong thì lại không
111 Con trai thì ở bất trung
112 Con gái thất tiết chả dùng cả hai
113 Thấy đâu Long Hổ Chiều lai
114 Minh đường thuỷ tụ huyệt tài mới hay
115 Tiên quan hậu quỷ sắp bầy
116 Án dày muôn tháp Chiều dày phải cao
117 Xem huyệt nào làm cho phải phép
118 Chớ đào sâu mà thiệt như không