Đầu tư cho dân số là đầu tư cho phát triển
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Dân số là cơ sở tự nhiên để hình thành nguồn nhân lực - một nhân tố cơ bản có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Dân số với các yếu tố cơ bản của mình bao gồm: quy mô, cơ cấu, chất lượng và sự phân bố dân số, khi các yếu tố này đạt đến một sự phù hợp nhất định sẽ có vai trò và tác động rất lớn đối với sự phát triển Ngược lại, mọi sự phát triển suy cho cùng đều hướng tới mục tiêu phục vụ con người, nâng cao đời sống và đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu của con người
Như vậy có thể thấy rằng giữa dân số và phát triển hình thành nên một mối quan hệ biện chứng gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó dân số được coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển Nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ này, hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều có chung một cách nhìn nhận coi đầu tư cho dân số là đầu tư cho sự phát triển Việc phân tích , đánh giá vấn đề trên không chỉ có ý nghĩa ở tầm lý luận mà trên thực tế có vai trò đặc biệt quan trọng tác động vào sự phát triển dân số nói riêng và sự phát triển bền vững của quốc gia nói chung
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng em sẽ tập trung phân tích mối quan
hệ dân số và phát triển trên hai phương diện lý luận và thực tiễn để làm rõ vấn
đề “Đầu tư cho dân số là đầu tư cho phát triển”
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và viết bài, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng em rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đánh giá của cô để bài viết được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 2CHƯƠNG I:
QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
1 Các vấn đề cơ bản của dân số
1.1 Dân số: là số lượng và chất lượng người của một cộng đồng dân cư, cư
trú trong một vùng lãnh thổ (hành tinh, châu lục, khu vực, quốc gia ) tại một thời điểm nhất định
1.2 Quy mô dân số: là số người trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất
định Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống
kê dân số thường xuyên hoặc dự báo dân số
1.3 Phân bố dân cư: là sự sắp xếp dân số một cách tự phát hoặc tự giác
trên một lãnh thổ nhất định, phù hợp với điều kiện sống của họ và với các yêu cầu của xã hội Đó là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa lý, khu vực kinh tế
Chỉ tiêu thường được dùng để đo lường sự phân bố dân cư là mật độ dân số
1.4 Cơ cấu dân số: là tổng số dân được phân chia theo: giới tính, tuổi, dân
tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân
2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển
2.1 Mức sống: được tính theo chỉ tiêu thu nhập trong nước tính theo đầu
người, theo công thức:
GDP/người = tổng GDP/tổng số dân
Năm 2008 GDP/ng của Việt Nam theo ước tính từ 1027-1030 USD/ng Lần đầu tiên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới
2.2 Trình độ dân trí: là sự tổng hợp của hai tiêu chí
Tỷ lệ dân số biết chữ tính cho dân số từ 15 tuổi trở lên
Số năm bình quân đã được nhận đến trường học của những người từ 25 tuổi trở lên
2.3 Tuổi thọ bình quân: là tuổi sống trung bình của mỗi người tính theo cả
nước
Việt Nam giai đoạn 1995-2000 tuổi thọ trung bình là 67,4 tuổi, ở nước Indonexia là 65,1 tuổi, Ấn Độ là 62,6 tuổi và Mianma là 60,1 tuổi.( Nguồn Bộ y
Trang 3tế, Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển, Nhà xuất bản y học, Hà nội
2001, trang 12)
Sự tổng hợp ba chỉ tiêu cơ bản ở trên đã thể hiện mục tiêu phát triển con người, và được gọi là chỉ số phát triển con người Để phát triển con người thì việc nhà nước đầu tư cho dân số giữ vai trò quan trọng và cần thiết Đổi mới chính sách dân số - nguồn nhân lực là nội dung hàng đầu trong công cuộc đổi mới các chính sách và công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước
II HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN Ở CAIRO –
AI CẬP NĂM 1994
Bước vào thập kỷ 80, 90 của thế kỷ 20 quy mô dân số thế giới tăng nhanh
từ 4 tỷ người năm 1975 lên 5 tỷ người năm 1987 và đạt gần 6 tỷ người vào những năm đầu của thập kỷ 90 Dân số tại nhiều quốc gia, khu vực, vùng miền đều có xu hướng gia tăng và khó kiểm soát Những con số này còn có thể gia tăng trong những thập kỷ tiếp theo nếu các quốc gia và cả thế giới không có những nỗ lực hướng tới việc giảm sinh tích cực và tiến tới ổn định quy mô dân số
Mối quan tâm về sự phát triển hài hoà giữa các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội, trong đó con ngưòi được coi là mục đích và động lực chủ yếu của quá trình phát triển đã trở thành cơ sở cho việc hình thành và thực thi những chính sách, chương trình dân số mang tính toàn cầu và của các quốc gia khác nhau trên thế giới
Thời gian để đi đến sự thống nhất và chia sẻ không những trong nhận thức
về mối quan hệ dân số và phát triển mà cả trong việc xác định mục tiêu và các giải pháp cho chương trình dân số của các quốc gia trên thế giới đã được hơn 40 năm.Cho đến nay thế giới đã trải qua 5 kỳ hội nghị quốc tế về vấn đề dân số, trong đó Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ở Cairo năm 1994 với sự tham gia của 180 nước, là hội nghị quan trọng liên quan trực tiếp đến nội dung dân số
và phát triển
Nội dung của hội nghị đề cập đến các vấn đề chủ yếu trong lĩnh vực dân số
và phát triển như: gia tăng dân số và phát triển kinh tế; dân số và an ninh lương thực; dân số và lao động việc làm; dân số và đói nghèo; dân số và giáo dục; dân
số và di dân, đô thị hoá; dân số và bảo vệ môi trường sống; công bằng, bình đẳng giới, vị thế người phụ nữ; dân số và sức khoẻ, quyền sinh sản, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình
Trang 4Hội nghị đã đưa ra Chương trình hành động Cairo 1994 cho 20 năm, trong
đó nhấn mạnh mối liên hệ tổng thể giữa dân số và phát triển, đặt ra mục tiêu đáp ứng nhu cầu cá nhân phụ nữ và nam giới chứ không giới hạn bới các mục tiêu nhân khẩu thuần tuý như giảm mức sinh hay thúc đẩy quy mô gia đình ít con.Các nguyên tắc của Chương trình hành động khẳng định: con người là trung tâm của những mối quan tâm đối với phát triển bền vững, vì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc Quyền phát triển phải được thực hiện để đáp ứng nhu cầu về môi trường và phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Để đạt được phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người, các nước cần giảm bớt và loại trừ những hình mẫu sản xuất, tiêu dùng thiếu bền vững, đồng thời tăng cường các chính sách thích hợp,
kể cả các chính sách liên quan đến dân số
Theo những nguyên tắc này các nước cần tiến hành các biện pháp thích hợp
để đảm bảo tiếp cận rộng rãi với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung, sức khoẻ sinh sản nói riêng trong đó có kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ tình dục dựa trên cơ sở bình đẳng nam nữ
Như vậy, Hội nghị quốc tế Cairo là một dấu mốc quan trọng khẳng định tư duy và nhận thức thống nhất của các quốc gia về mối quan hệ dân số và phát triển Trên cơ sở nội dung và nguyên tắc của Chương trình hành động Cairo các quốc gia căn cứ vào điều kiện của nước mình đưa ra những chính sách dân số phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững
Tình hình thực hiện các nỗ lực giải quyết vấn đề dân số ở các quốc gia hiện nay đã cho thấy điểm trọng tâm của mối quan hệ dân số và phát triển là gắn kết các nỗ lực phát triển ở các khu vực khác nhau của đời sống như kinh tế, chăm sóc sức khẻo, giáo dục, bảo vệ tài nguyên môi trường, tăng cường sự bình đẳng giới với sự phát triển con người
Như vậy, mối quan hệ dân số và phá triển có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 5III QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
Để phân tích làm rõ đầu tư cho dân số là đầu tư cho phát triển thì vấn đề trước hết là nắm vững mối quan hệ giữa dân số và phát triển, giữa chúng sod quan hệ trên những mặt nào? , tác động theo những chiều hướng nào để từ đó hình thành chính sách dân số hợp lý làm động lực cho quá trình phát triển
Quan hệ giữa dân số và phát triển được thể hiện trên 3 nội dung cơ bản, tương quan với nội hàm của quan niệm phát triển bền vững hiện đại Đó là: dân số và kinh tế, dân số với xã hội và dân số với tài nguyên môi trường
1 Dân số và kinh tế
Qua hệ giữa dân số và kinh tế là một trong những nội dung quan trọng được đề cập trong Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo 1994 Nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và kinh tế là tập trung xem xét những vấn đề cơ bản sau: quan hệ giữa dân số với nguồn lao động và việc làm; giữa dân số với tăng trưởng kinh tế; giữa dân số với tiêu dùng tiết kiệm và đầu tư
1.1 Dân số với nguồn lao động và việc làm
Các quá trình biến động dân số về mặt tự nhiên và cơ học đều ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và đi kèm với nó là vấn đề việc làm Thực tế trên thế giới cũng như Việt Nam cho
Các kết quả dân số:
Quy mô dân số
Cơ cấu dân số Phân bố dân số
Các quá trình phát triển:
Tiêu thụ hhoá và dịch vụ:lương thực, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, nhà ở
Tiết kiệm và đầu tư.
Sử dụng nguồn nhân lực.
Sử dụng nguồn lực khác;
đất đai, vốn công nghệ
Các quá trình dân số:
Sinh Chết
Sức khoẻ và dih dưỡng Chất lượng mtrường
g trình phát triển
Trang 6thấy mối quan hệ giữa dân số với nguồn lao động và việc làm cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau Một mặt, sự tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội, mặt khác việc đảm bảo việc làm cho lực lượng lao động lại là vấn đề hết sức khó khăn nếu gia tăng dân số nhanh, nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước, trong khi nền kinh tế chưa phát triển không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm Vì vậy, ở đây chúng ta xem xét mối quan hệ qua lại giữa biến động dân số với nguồn nhân lực và vấn đề giải quyết việc làm.
1.1.1 Dân số và nguồn nhân lực
Dân số và nguồn nhân lực có mối quan hệ rất chặt chẽ và mật thiết về quy
mô, cơ cấu, sự phân bố, chất lượng Sự tăng trưởng dân số hiện nay sẽ là nguồn nhân lực trong tương lai Vì vậy, dân số là cơ sở tự nhiên hình thành nên nguồn nhân lực xã hội
Cùng với xu hướng giảm sinh và tuổi thọ kéo dài, tỉ trọng dân số trong độ tuổi lao động so với tổng số dân ngày càng tăng lên Ở các nước phát triển tỉ lệ này thường cao hơn ở các nước đang phát triển Việt Nam do thực hiện khá thành công các chính sách về dân số nên trong thời gian qua, tỉ lệ phần trăm dân số trong độ tuổi lao động dưới 15 tuổi đang giảm và tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động 15-59 đang tăng Quá trình này được thể hiện thông qua:
Bảng 1 Dân số Việt Nam trong độ tuổi lao động
Năm
Tổng dân số (nghìn người)
Dân số trong độ tuổi lao động
75.644,2 43.819,6 57,91 73/100
76.327,9 44.566,2 58,39 71/100
79.677,9 47.415,9 59,51 69/100
(Nguồn: - Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 1997 và 2002, NXB Thống kê, 1998, 2003
- Bộ Lao động Thương binh xã hội: Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam các năm 96,97,99, nxb Thống kê Hà Nội 97, 98, 2000 và Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999.)
Tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực trong tương lai sẽ vẫn còn cao: một mặt do chính sách giáo dục và do nhu cầu của nền kinh tế thị trường đòi hỏi nhân lực có trình độ cao, tỉ lệ dân số trong độ tuổi từ 15-24 tham gia vào quá trình đào tạo sẽ tăng, vì vậy sự tham gia của họ vào lực lượng lao động giai đoạn
Trang 7đầu sẽ thấp Mặt khác sự tham gia của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vào lực lượng lao động tăng nhanh do họ có gia đình muộn và ít con
Như vậy, xét trên tổng thể quy mô dân số của cả nước tăng thì tỉ lệ tham gia lực lượng lao động sẽ tăng Theo dự báo trong những năm tới Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “ Kỷ nguyên dân số vàng” khi đó số người trong độ tuổi lao động là dồi dào nhất và là nguồn lực vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Dân số với việc làm
Một trong những mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu việc làm cho người lao động muốn lao động trong xã hội, đồng thời phải đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của lao động Các quốc gia đều cố gắng tìm kiếm các giải pháp để tạo ra số lượng việc làm lớn nhất đáp ứng nhu cầu lao động của con người
Lực lượng lao động có việc làm thường xuyên luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia đang phát triển, lao động làm việc trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, gần 70% Song do tác động của quá trình công nghiệp hóa nên lao động trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp đang có xu hướng giảm dần và lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đang tăng lên, đặc biệt là khu vực dịch vụ có mức tăng mạnh nhất cả về số lượng tuyệt đối và tỷ lệ
Bên cạnh lao động có việc làm thường xuyên thì còn một bộ phận người lao động có khả năng lao động và nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm gọi là thất nghiệp Thất nghiệp là biểu hiện của sự không cân bằng của thị trường lao động khi nhu cầu việc làm cao hơn chỗ làm việc Nền kinh tế của mỗi quốc gia muốn có sự tăng trưởng kinh tế thì đều phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp nhất định mà gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Việc làm và thất nghiệp là hai phạm trù có liên quan chặt chẽ với nhau trong sự biến động không ngừng của thị trường lao động và sự phát triển kinh tế xã hội
Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam còn tương đối cao và không ổn định Trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung , bao cấp, thất nghiệp thường được ẩn dưới hình thức thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thấp Từ khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thất nghiệp và thị trường lao động được thừa nhận, do vậy chỉ báo và số liệu về thất nghiệp cao hơn và sát với thực tế hơn thời kỳ trước
Trang 8Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế các nước phải đối mặt với một tỷ lệ thất nghiệp lớn do hậu quả của khủng hoảng kinh tế và dân số vẫn không ngừng gia tăng thì giải quyết việc làm trở thành vấn đề bức thiết hơn cả, nhằm ổn định đời sống của nhân dân.
1.2 Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế
Điều đầu tiên có thể khẳng định rằng, gia tăng dân số có ảnh hưởng và tác động rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là tỉ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người hàng năm Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau thể hiện thông qua công thức sau:
Tỉ lệ gia tăng GNP = tỉ lệ gia tăng GNP - tỉ lệ gia tăng dân số
tính theo đầu người
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người phụ thuộc rất lớn vào tỉ lệ gia tăng dân số Báo cáo về tình hình phát triển thế giới trong những năm gần đây cho thấy: đối với các nước đang phát triển trong khi mức bình quân GNP/ ng thấp thì tỉ lệ gia tăng dân số lại cao, ngược lại đối với các nước phát triển thì mức bình quân GNP/ ng rất cao nhưng tỉ lệ gia tăng dân số đặc biệt là gia tăng tự nhiên lại thâp và có xu hướng giảm
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới 1989-1992, quan hệ giữa thu nhập và GNP bình quân đầu người và tỉ lệ gia tăng dân số năm 1988 của một số quốc gia trên thế giới như sau:
GNP/ng/năm (USD)
Tỉ lệ gia tăng dân số
(%) Nhật Bản
0,3 0,9 1,8
3,4
Gia tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển đã hạn chế tăng trưởng kinh tế, đã và đang làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển về chỉ tiêu GNP/ng ngày càng lớn Năm 1968 mức chênh lệch giữa bình quân GNP/ng ở các nước giàu so với nước nghèo là 30 lần, đến năm 1988 đã tăng lên 55 lần
Mối quan hệ ngược lại giữa tăng trưởng kinh tế với gia tăng dân số thể hiện ở điểm: trước hết, mức thu nhập có ảnh hưởng đến hành vi sinh đẻ Mức thu nhập cao, đời sống khá có ảnh hưởng thuận chiều đến việc sinh con Trong bối cảnh hiện nay khi các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào
Trang 9tạo đã phải trả tiền thì việc mang thai và nuôi dạy con cái sẽ đòi hỏi những khoảng chi tương đối lớn Bên cạnh đó bước chuyển đổi về nhận thức từ việc nhấn mạnh tầm quan trọng của số lượng sang chất lựơng con cái cũng hỗ trợ thêm ảnh hưởng đối với việc sinh con.
Thực tế nước ta cho thấy, nhóm dân cư đô thị có mức thu nhập cao hơn so với nông thôn và cũng là nhóm có mức sinh thấp hơn, mặc dù khả năng kinh tế cho phép họ có thể có nhiều con hơn Tuy nhiên trong sự lựa chọn của mình, việc cân nhắc các chi phí nuôi dạy con cái cùng với các chi phí cơ hội của quá trình mang thai đã khiến cho các gia đình ở đô thị tự nguyện hạn chế số con của gia đình Theo số liệu của cuộc điều tra giàu nghèo năm 1993, bình quân số con của hộ giàu là 2,5, trong khi đó con số này ở hộ nghèo là 3,3
Như vậy, giữa các biến động dân số đặc biệt là gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ qua lại mật thiết, thể hiện rõ nhất ở chỉ tiêu GNP/ng cùng với các tiến bộ về dân số như giảm mức sinh và chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao
1.3 Dân số với tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư
Dân số càng đông thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế càng lớn Tiêu dùng là vấn đề cốt lõi của thị trường Tiêu dùng mở rộng thị trường và thúc đẩy phát triển sản xuất Dân số đông và sức mua cao sẽ tạo ra một nhu cầu về thị trường hàng hóa lớn và chính nó lại thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy nhiên do phụ thuộc vào sức mua của dân cư nên hiện nay có những nước đông dân nhưng thị trường vẫn chưa phát triển, và ngược lại những nước ít dân nhưng thị trường rất phát triển và hoàn thiện
Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy rằng gia tăng dân số nhanh sẽ có những mặt tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội, mà cụ thể là tiêu dùng Ví dụ như sản xuất lương thực, thực phẩm không đủ phục vụ cho tiêu dung, làm nảy sinh nhiều hệ quả khác trong xã hội
Tiết kiệm và đầu tư là hai yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, bởi tiết kiệm nhiều sẽ tạo thêm vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, tăng sản phẩm xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người Tiết kiệm quốc gia được tính theo công thức:
S = GDP – C Trong đó: - S là tiết kiệm quốc gia
- GDP là thu nhập quốc dân sử dụng
- C là tiêu dùng cuối cùng
Trang 10Người ta chứng minh được rằng: khối lượng tích lũy của mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số, nhất là cơ cấu dân số theo độ tuổi Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em nói riêng và tỷ số phụ thuộc nói chung thường lớn nên khối lượng tích lũy nhỏ và tăng chậm Ngược lại, ở các nước phát triển tỷ lệ trẻ em thấp nên có điều kiện nâng cao tích lũy và tăng đầu tư phát triển
Bảng 2 Tỷ lệ đầu tư so với GDP ở một số quốc gia thuộc hai nhóm nước năm 1995
Các nước đang phát triển
(dân số có tỷ lệ trẻ em cao)
Các nước phát triển (dân số có tỷ lệ trẻ em thấp)
142-2 Dân số và xã hội
2.1 Dân số và giáo dục
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống, có mục đích đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Giáo dục có quan hệ mật thiết với các quá trình dân số Hội nghị Cairo 1994 nhấn mạnh giáo dục như một nhân tố cơ bản trong sự phát triển bền vững, là một thành phần của phúc lợi và là phương tiện để cá nhân nhận được kiến thức Giáo dục cũng góp phần lfm giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ tử vong, tăng quyền và vị thế của phụ nữ, nâng cao chất lượng dân số Cả cung và cầu giáo dục sẽ quyết định trình độ học vấn của dân số nói riêng và chất lượng dân số nói chung
Cầu đối với dịch vụ giáo dục phụ thuộc không chỉ vào quy mô và cơ cấu của dân số trong độ tuổi đi học mà còn phụ thuộc vào thu nhập, vào trình độ học vấn của cha mẹ cũng như tình trạng sức khỏe của học sinh
Cung dịch vụ giáo dục được quyết định bởi năng lực của quốc gia trong tích lũy và đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, kể cả cho mở rộng hệ thống và nâng cao chất lượng giáo dục
2.1.1 Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục trong sự phát trỉển kinh tế
Trang 11Dân số tănh nhanh dẫn đến gia tăng số dân trong độ tuổi đi học Nước ta từ năm 1945 đến nay tăng khoảng 3 lần, chỉ tính riêng 25 năm (1955 – 1980) đã tăng 2,3 lần Thời kỳ bùng nổ (1955 – 1960) tỷ lệ tăng dân số cả nước là 4 % Quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số hàng năm dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học Năm học 1955 – 1956 tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học là 6,0 % trong tổng số dân là 25 triệu ng, thì năm học 2000 – 2001 tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học khoảng 28 % trong tổng số dân trên 77 triệu ng.
Bảng 3 Số lượng học sinh qua các năm học
Số học sinh phổ thông cả nước
Trong đó:
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung học chuyên nghiệp
Sinh viên cao đẳng – đại học
17.391,1
10.223,9 5.514,3 1.652,9 126.405 401.664
17.685,3
10.033,5 5.694,8 1.957,0 143.398 421.418
17.776,1
9.741,1 5.863,6 2.171,4 200.148 452.396
17.897,6
9.311,0 6.253,5 2.333,1
(Nguồn: VN 15 năm đổi mới và định hướng phát triển đến năm 2010, nxb.CTQG,HN,2002,tr28 và số liệu tk dân số và kt-xh vn 1975-2001,tr185-186)
So với các nước phát triển, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thường có tỷ lệ dân số trẻ và tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học cao gấp đôi Điều này khiến cho các nước đang phát triển phải cung cấp giáo dục cho số trẻ em nhiều gấp đôi các nước phát triển Những con số về số trường học, phòng học, số lượng giáo viên cùng với hệ thống trang thiết bị dạy học, nghiên cứu luôn ở mức thấp hơn nhu cầu thực tế Từ đó tạo ra áp lực rất lớn cho quá trình thực hiện phát triển kinh tế xã hội đất nước
2.1.2.Tác động của giáo dục đối với dân số
Trong mối quan hệ qua lại giữa dân số và giáo dục, sự phát triển của nền giáo dục quốc gia có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng dân số
Trình độ học vấn cao của dân cư là một trong những yếu tố tác động đến mức sinh, là cơ sở vững chắc cho sự phát triển dân số hợp lý trong quá trình phát triển Mức sinh phụ thuộc vào trình độ học vấn của dân cư mà trước hết là trình độ học vấn của phụ nữ đang ở trong độ tuổi sinh đẻ và sắp bước vào độ tuổi sinh đẻ
Kết quả của cuộc điều tra nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994 cho thấy, trong số những khác biệt về mức sinh theo các đặc trưng kinh tế xã hội của phụ nữ thì sự khác biệt lớn nhất xảy ra với trình độ học vấn
Trang 12Bảng 4 Số con đã sinh trung bình của phụ nữ hiện đang có chồng chia theo tuổi hiện tại và trình độ học vấn
Trình độ học vấn Số con đã sinh
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Cao đẳng trở lên
3,45 3,00 2,39 1,95 1,67
3,16 2,86 2,31 1,91 1,65
91,6 95,3 96,8 97,7 98,6
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Vn 1999 Chuyên khảo về hôn nhân, sinh đẻ và tử vong ở Vn: mức độ, xu hướng và những khác biệt, nxb,tk,hn, 2001,tr44)
Từ những phân tích trên cho thấy, giữa dân số và giáo dục có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau Muốn giải quyết mối quan hệ nay, cùng một lúc phải giảm sự gia tăng dân số, đồng thời tăng cường đầu tư cho giáo dục Ngược lại, thông qua giáo dục và bằng giáo dục mới có thể giảm tỷ lệ gia tăng dân số tiến tới phát triển bền vững Vì vậy đi đến khẳng định rằng: để nâng cao chất lượng giáo dục, để tạo ra những sản phẩm giáo dục – là con người có kiến thức, phẩm chất đạo đức tốt thì phải có sự đầu tư cả về vật chất và tinh thần
2.2 Dân số với y tế
Sức khỏe con người là một trong những mối quan tâm ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu Alma Ata 1978 và Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển Cairo 1994, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe đối với sự phát triển chất lượng dân số và ổn định quy mô, cơ cấu dân số Mối quan hệ giữa dân số và hoạt động chăm sóc sức khỏe là một trong những chủ đề chính cần được quan tâm trong nghiên cứu dân số và phát triển
2.2.1 Các chỉ báo chính để đánh giá ảnh hưởng của y tế đến dân số
Chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng:
- Mức độ thuận tiện của hệ thống dịch vụ
- Tuổi thọ trung bình
Chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và bảo vệ sức khỏe trẻ em
- Tỷ lệ trẻ em được bảo vệ rung thời kỳ chưa sinh, dưới 1 và 5 tuổi
Trang 13- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
- Tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ
Tình trạng sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn
- Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc sức khỏe
- Tỷ lệ phụ nữ làm mẹ an toàn
- Tình trạng dinh dưỡng cho phụ nữ khi có thai và nuôi con
Tình trạng bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS
- Khả năng xã hội quan tâm chăm sóc và giúp đỡ cho ngừơi bị HIV/AIDS
- Những giải pháp can thiệp nhằm phòng chống bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS
Sức khỏe người cao tuổi và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
2.2.2 Ảnh hưởng của dân số tới y tế
Sự gia tăng dân số không kiểm soát được luôn dẫn đến những hệ quả tiêu cực đối với sức khỏe con người và xã hội Đó là tình trạng trẻ em và phụ nữ ít được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, con người có nguy cơ cao bị mắc các bệnh lây nhiễm Trong bối cảnh đó, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe luôn gặp phải những khó khăn, trở ngại lớn cả về phạm vi, quy mô hoạt động cũng như những phương hướng hoạt dộng cơ bản để nâng cao sức khỏe con người
Trên thực tế nhu cầu khám chữa bệnh của đại đa số người dân chưa được đáp ứng Nguyên nhân là do cơ sở y tế chưa đủ, phân bố lại không đều, thiếu các trang thiết bị hiện đại, thiếu thuốc chữa bệnh với chất lượng tốt và thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ làm y tế Đây là những tồn tại lớn của ngành y tế ở hầu hết các nước đang phát triển và nước nghèo, đặc biệt ở khu vực Châu Á và Châu Phi Vì vậy, Chính phủ các nước cần có chính sách đầu tư cho vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân
2.2.3 Tác động của y tế đến dân số
Sự phát triển của hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế tạo cơ sở đã đem lại những thành tựu lớn cho việc chăm sóc sức khỏe người dân: khả năng chữa chạy các loại bệnh thông thường và nguy hiểm, việc phòng chống và hạn chế các dịch bệnh lây nhiễm đã đạt được nhiều tiến bộ Tất cả những thành công đó đã góp phần nâng cao sức khỏe người dân, giảm mức chết tự nhiên và tăng tuổi thọ dân số
Trên thế giới các quốc gia phát triển hầu hết đều có mạng lưới y tế hoàn thiện và hiện đại Ở những nơi đó sức khỏe con người được đảm bảo, tỷ lệ tử
Trang 14vong vì bệnh tật giảm và các phúc lợi xã hội từ hoạt động y tế được tăng cường với chất lượng cao.
Từ những phân tích trên cho thấy giữa dân số và y tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi thành tựu của y tế đều tác động mạnh mẽ đến các quá trình dân số Chính vì vậy tăng cường công tác y tế để giải quyết vấn đề dân số, gắn dân số với phát triển là một nhiệm vụ quan trọng của xã hội hiện nay Các quốc gia phải thực hiện chính sách phát triển ngành y tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tập quán của từng địa phương, vùng miền, đồng thời học hỏi kinh nghiệm tiên tiến về y học của các nước phát triển
2.3 Dân số với vấn đề bình đẳng giới
Vấn đề bình đẳng nam nữ đã và đang thu hút sự quan tâm sâu sắc của các quốc gia và cộng đồng quốc tế Lịch sử phát triển xã hội cho thấy không thể có tiến bộ xã hội nếu như một bộ phận của xã hội còn bị hạn chế hay bị loại trừ ra khỏi những hoật động chính của xã hội Do đó, sự tiến bộ xã hội chỉ có thể đạt được khi bình đẳng nam nữ được thực hiện và phụ nữ trở thành chủ thể tham gia mọi hoạt động xã hội vì sự tiến bộ, đồng thời là người hưởng thành quả của sự tiến bộ đó
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo 1994 và Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ 4 được tổ chức tại Bắc Kinh đã nhất trí cho rằng, bình đẳng giới với dân số và phát triển có mối liên quan mật thiết với nhau, giải quyết vấn đề giới trở thành một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện chương trình dân số và phát triển trên toàn thế giới hiện nay Hội nghị Cairo đã nhấn mạnh nguyên tắc là: “ Tăng cường bình đẳng và công bằng giữa các giới và trao quyền lực cho phụ nữ, xóa bỏ mọi bạo lực chống lại phụ nữ và đảm bảo cho phụ nữ khả năng kiểm soát khả năng sinh sản của chính họ là những nền tảng của các chương trình dân số và các chương trình có liên quan đến phát triển”
2.3.1 Chỉ số phát triển giới (GDI) – một thước đo sự tiến bộ của con người
Đây là chỉ số được xây dựng dựa trên cơ sở tích hợp các số liệu phân theo Nam/ Nữ về tuổi thọ trung bình, tỉ lệ biết chữ của người lớn, tỉ lệ nhập học chung và phần chia sẻ trong thu nhập Chỉ số phát triển giới là một thước đo phản ánh những thành tựu đạt được của một quốc gia trong việc xác lập bình đẳng giới trên thực tế Nếu chỉ số HDI cho chúng ta biết được những thành tựu chung của quốc gia được phản ánh như thế nào trên sự phát triển của con người thì chỉ số GDI cho biết mối tương quan giữa nam và nữ trong việc thụ hưởng
Trang 15các thành tựu phát triển đó Trị số cao tuyệt đối của chỉ số GDI là 1, là chỉ sự đến sự bình đẳng giới hoàn toàn và thấp tuyệt đối là 0 chỉ sự đến sự bất bình đẳng giới hoàn toàn
Bảng 5 Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam và một số nước
Năm 1999 ( 175 nước)
Năm 2003 (175 nước) STT Quốc gia Chỉ số GDI STT Quốc gia Chỉ số GDI
Philippin Việt nam Lào
Nigiêria Xiêra lêôn
0,928 0,927
0,736 0,662 0,483
0,196 0,165
1 2
66 89 109
174 175
Nauy Aixơlen
Philippin Việt nam Lào
Nigiêria Xiêra lêôn
0,94 0,927
0,736 0,687 0,519
0,279 0,165
(Nguồn: UNDP Human Development Report 1995, 1999,2003.)
Chỉ số GDI cao nhất vẫn chưa đạt đến 1, điều này có nghĩa là chưa có một quốc gia nào đảm bảo được sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ Trong khi người phụ nữ ở các nước phát triển đã có những cơ hội rất lớn để đóng góp sức lực của mình cho sự phát triển chung và được thụ hưởng thành quả của sự phát triển đó thì ở nhiều quốc gia khác nhất là ở khu vực Nam Xahara và Nam Á, người phụ nữ bị đặt vào vị trí thứ yếu trong mọi hoạt động của xã hội
2.3.2 Phụ nữ và nam giới với vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản
Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã coi công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu cần được sự quan tâm ủng hộ và hợp tác của từng người, từng gia đình và toàn xã hội Trong đó chủ thể quan trọng nhất và có tính quyết định thuộc về mỗi một người nam và nữ trong xã hội
Các chương trình dân số có thể hiểu là quyền của nam giới và phụ nữ được thông tin và có thể tiếp cận với những biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả và phù hợp với khả năng kinh tế; quyền được chăm sóc y tế để đảm bảo cho người phụ nữ được an toàn trong quá trình mang thai và sinh nở
Trang 16Cần phải có cách nhìn nhận khác trong việc xác định vai trò của người nam giới Vì nếu các chương trình kế hoạch hóa gia đình chỉ tập trung vào đối tượng là nữ giới thì vô hình dung nam giới được đặt bên ngoài và trách nhiệm hoàn toàn thuộc về người phụ nữ, như vậy các biện pháp kế hoạch hóa gia đình sẽ không mang lại hiệu quả như mong đợi.
Những suy nghĩ lệch lạc về giới của xã hội cũng góp phần tăng sức ép tâm lý của người phụ nữ về trách nhiệm của mình Lo nghĩ làm sao thực hiện tốt được các “chức năng truyền thống” của người phụ nữ trở thành gánh nặng trong cuộc đời của rất nhiều phụ nữ Một chương trình dân số chỉ tập trung vào phụ nữ, thiếu những chính sách hỗ trợ và dư luận tích cực nhằm khuyến khích, động viên nam giới tham gia sẽ càng làm tăng sự bất bình đẳng về giới và hạn chế hiệu quả khi thực hiện
Trong quá trình thực hiện các chương trình, chính sách liên quan đến bình đẳng giới cần quán triệt các hiểu rằng: bình đẳng giới không có nghĩa là cần phải thực hiện một sự ngang nhau của nam giới và nữ giới trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội theo phương châm phụ nữ có thể và có quyền làm tất cả những gì mà nam giới có thể và có quyền làm Bình đẳng giới là tạo ra những điều kiện, cơ hội ngang nhau để mọi người (cả nam – nữ) thể hiện được khả năng của mình mà không làm triệt tiêu những sự khác biệt tự nhiên giữa hai giới Bình đẳng giới mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội
Vấn đề đặt ra là muốn đạt được cân bằng về giới trong lĩnh vực dân số nhằm mục đích phát triển, phải cải thiện mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới về những vấn đề kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, chăm sóc, giáo dục con cái, về sự hiểu biết cũng như trách nhiệm chung của họ để phụ nữ và nam giới là những người cộng tác bình đẳng trong mọi hoạt động chung và trong đời sống riêng tư
3 Dân số với tài nguyên và môi trường
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội cần quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa dân số với môi trường Bản tuyên bố Amxtecdam năm 1989 đã khẳng định “Dân số, môi trường và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít”, và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo “Mối liên hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên, sự phát triển” Số dân tăng lên thì nhu cầu cơ bản cho đời sống lấy từ môi trường cũng tăng lên, đi cùng với nó là quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, không có sự bảo tồn và tái tạo sẽ dẫn đến hệ quả
Trang 17không thể tránh được là môi trường tự nhiên bị suy thoái, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên
Môi trường được phân chia thành: môi trường sinh thái và môi trường tự nhiên
Tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ có liên quan, mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình
Tài nguyên bao gồm tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được
Quy mô dân số gia tăng sẽ dẫn đến nhu cầu sản xuất và tiêu dùng tăng lên, đe dọa làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Các nước có tỷ lệ tăng dân số cao sẽ gây thêm sức ép đối với khai thác đất đai và môi trường tự nhiên Có thể dùng công thức sau để minh họa:
Q = P * A và I = P * A * T Trong đó: - Q là quy mô khai thác (sử dụng) tài nguyên
- P là quy mô dân số
- A là bình quân sử dụng tài nguyên theo đầu người
- I là quy mô ô nhiễm môi trường
- T là hệ số ô nhiễm công nghiệpNhư vậy, quy mô sử dụng tài nguyên và quy mô ô nhiễm môi trường tỷ lệ thuận với quy mô dân số, mức độ sử dụng tài nguyên theo đầu người và hệ số ô nhiễm công nghiệp Ở nhóm các nước đang phát triển và chậm phát triển, sự gia tăng quy mô dân số là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường Trong khi đó ở các nước phát triển, sản xuất công nghiệp là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường
Việc phân bố dân cư ở thành thị và nông thôn cũng có tác dộng quan trọng đến môi trường Cùng với quá trình đô thị hóa ồ ạt đã đặt ra những thách thức về môi trường đối với các thành phố về vấn đề vệ sinh, ô nhiễm môi trường sống, nhu cầu nước sạch, giao thông vận tải, rác thải
Tăng trưởng sẽ biến mất do dân số tăng nhanh không kiểm soát nổi Thực chất của mối quan hệ này đòi hỏi các chính sách phải đưa ra được các biện pháp thiết thực để hạn chế việc tăng dân số, bảo vệ tài nguyên môi trường Những biến động dân số trong tương lai, đặc biệt là xu hướng gia tăng dân số vẫn còn
Trang 18nhanh trong thế kỷ 21 thì hệ lụy đến môi trường sống và tài nguyên là rất lớn Theo dự báo dân số của thế giới vào năm 2100 sẽ là 10,185 tỷ người, kéo theo đó là hàng loạt những nhu cầu thiết yếu gia tăng, trong khi đó khă năng tải của các nguồn tài nguyên thiên nhiên là có hạn.
Đối với nước ta, dân số sinh sống chủ yếu ở nông thôn, vì vậy cần phải có chính sách quản lý mức sinh để dân số ở nông thôn phù hợp với sức nuôi của đất, nông dân có thể dựa vào đất đai để sống Áp lực dân số của nước ta đang gây ra sự căng thẳng không kham nổi cho sức chịu đựng của môi trường cả nước, do vậy sẽ khó thực hiện một kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường có hiệu quả để nâng cao chất lượng dân số nếu mức tăng dân số không giảm xuống một tỷ lệ thích đáng Vì vậy tính cấp bách của vấn đề là cần thiết phải có chính sách hướng vào mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số với môi trường, tài nguyên nhằm quả lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có hiệu quả
Những trình bày trên đây là sự khái quát về mặt lý luận để làm rõ mối quan hệ giữa dân số và phát triển Từ bản chất của mối quan hệ này chúng ta thấy rằng muốn đạt được mục tiêu phát triển và phát triển bền vững thì cần thiết phải đặt vấn đề đầu tư cho dân số là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng Vì dân số là cơ sở hình thành tự nhiên của nguồn nhân lực – một nguồn lực quyết định mọi sự phát triển của mỗi một quốc gia
Trang 19CHƯƠNG II:
VIỆT NAM – VỚI CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CHO DÂN SỐ
PHỤC VỤ SỰ PHÁT TRIỂN
Đặc điểm của dân số Việt Nam có thể tóm tắt qua những điểm cơ bản sau: Quy mô dân số lớn: theo điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm
2009 thì dân số Việt Nam là trên 85 triệu người, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới Những dự báo mới nhất của Tổng cục thống kê cho thấy vào năm 2024 dân số Việt Nam có thể đạt con số từ 95,13 triệu ng ( phương án thấp nhất) đến 104,28 triệu ng (phương án cao nhất)
Gia tăng dân số nhanh: trung bình mỗi năm nước ta có thêm khoảng trên 1 triệu trẻ em, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên luôn ở mức cao
Cơ cấu dân số của nước ta thuộc cơ cấu dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động lớn Cơ cấu dân số trẻ vừa tạo ra nguồn nhân lực dồi dào vừa tạo áp lực đối với vấn đề giải quyết việc làm của nền kinh tế
Dân số Việt Nam có sự phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn, giữa các thành phố lớn và các vùng lân cận, giữa đồng bằng và miền núi Khu vực nông thôn chiếm khoảng trên 75% dân số, khu vực thành thị là gần 25% dân số
Với những đặc điểm về dân số nêu trên thì Việt Nam luôn là một trong những quốc gia có dân số đông và ép sức ép của dân số đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường là rất lớn Việt Nam đã thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng tổng sản phẩm xã hội, giải quyết việc làm cho người dân Đồng thời, với sự nỗ lực trong việc tham gia các hội nghị quốc tế, ký kết các hiệp định song phương, đa phương với các quốc gia nhằm hợp tác tích cực về vấn đề dân số Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể về giảm mức sinh, tiến tới ổn định quy
mô dân số và nâng cao chất lượng dân số
Từ sự phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa dân số với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tài nguyên – môi trường đã giúp chúng ta đi đến một kết luận rằng: bất kỳ quốc gia nào mong muốn đạt đạt mục tiêu phát triển bền vững thì cần phải có chiến lược đầu tư cho dân số một cách phù hợp Việt Nam cũng không nằm ngoài kết luận đó Chính phủ Việt Nam đã tích cực đưa ra những chính sách dân số cụ thể nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa dân số và phát triển Kiểm soát được sự gia tăng dân số cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ sẽ có cơ sở để đề ra các chính sách hợp lý nhất Việc đầu tư cho dân số được thể hiện trong những chính sách cụ thể mà chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây