đối tượng điều chỉnh của luật dân sự
Trang 1LỜI MỞ Đ ẦU
Bộ luật dân sự năm 2005 được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ ngày01/01/2006 Đây là bộ luật lớn nhất của nước ta hiện nay Với 777 điều luật, bộluật dân sự điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính phổ biến trong đời sống củanhân dân ta hiện nay
Ngành luật dân sự quy định cách chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử củacác chủ thể trong giao lưu dân sự nhằm bảo đảm sự ổn định và lành mạnh hoácác quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa.Luật dân sự được coi là luật chung trong lĩnh vực luật tư bao gồmcác quy định liên quan đến quyền lợi của chủ thể và về nguyên tắc có thể thayđổi bằng sự thoả thuận của các bên Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản
và quan hệ nhân thân theo nghĩa rộng bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân vàgia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trong nền kinh tế thị trường /
Để làm rõ vấn đề đối tượng điều chỉnh của luật dân sự thì chắc bài viết sau
sẽ giúp các bạn hiểu được phần nào về vấn đề trên Mặc dù đã cố gắng nhưng bàiviết khó tránh khỏi những khiếm khuyết , rất mong các bạn và thầy cô góp ý đểbài viết được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn./
Trang 2Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan
hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sởbình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệulực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
I) Lịch sử của luật dân sự việt nam:
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, luật dân sự Việt Nam không đượctách ra thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các
bộ luật phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn triều hìnhluật (Hoàng Việt luật lệ) Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộluật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện Ví dụ ở Nam Kỳ thì
bộ luật dân sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm
1931 và tại Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) rađời năm 1936 Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh vớingười Pháp nên chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luậtdân sự này Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/
SL để "sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật" nhằm sửa đổi một sốđiều trong các bộ dân luật cũ này Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm
1959 tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để "đình chỉ việc áp dụng luật pháp
cũ của phong kiến đế quốc" Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếuhẳn bộ luật dân sự thực thụ Một số mảng của luật dân sự được tách ra thành các
bộ luật khác như Luật hôn nhân và gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luậtnhư thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự nhưthừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v không được điều chỉnh trực tiếp Các quy định
về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim
Trang 3khí quý và đá quý v.v và nói chung mang nặng tính chất hành chính Có thể liệt
kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình(1986), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vàoViệt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồngkinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế (1990), Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự(1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôikhi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây ra nhiều khó khăn cho việc ápdụng pháp luật
Năm 1995, quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộluật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996) Sau 10 năm thi hành, Bộluật Dân sự đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một số quy định không phù hợpvới sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường, không rõ ràng hay khôngđầy đủ hoặc còn mang tính hành chính Nhiều bộ luật mới ra đời có các nội dungliên quan đến Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 nhưng bộ luật này lại không điềuchỉnh, sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa chúng cũng như chưa có sự tương thíchvới các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sựsửa đổi Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm
Trang 4phóng sức sản xuất,khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân,mỗi tập thể laođộng và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo điều kiện cho mọi ngườiViệt Nam phát huy ý chí tự lực,tự cường,cần kiện xây dựng tổ quốc,ra sức làmgiàu cho mình và cho đất nước Trong đó, mọi người được tự do kinh doanh theopháp luật, được bảo hộ quyền sở và thu nhập hợp pháp.
Hệ thống pháp luật của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam baogồm nhiều nghành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng ,phức tạp.Trong
đó ,mỗi nghành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định Nhữngnhóm quan hệ xã hội do một nghành luật điều chỉnh được gọi là đối tượng điềuchỉnh của ngành luật đó Để điều chỉnh các quan hệ xã hội,nhà nước sử dụngcác biện pháp tác động khác nhau,hướng cho các quan hệ xã hội phát sinh,thayđổi,chấm dứt phù hợp với ý chí nhà nước Phương pháp tác động của nhà nướclên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào các quan hệ xãhội cần điều chỉnh bằng pháp luật
II) Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự việt nam
Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Việt Nam là những nhóm quan hệ vềnhân thân và tài sản trong quan hệ dân sự ,hôn nhân và gia đình ,kinhdoanh ,thương mại ,lao động (Điều 1 BLDS năm 2005)
Các quan hệ dân sự là những quan hệ xã hội phát sinh một cách khách quan.Chúng tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loạingười Pháp luật dân sự là công cụ pháp lý của nhà nước thực hiện chức năngđiều chỉnh các quan hệ dân sự, nó ra đời và tồn tại cùng với nhà nước và là mộtphạm trù lịch sử Trong từng thời kỳ nó có thể chỉ là các quy định về dân sự giản
Trang 5đơn chưa thành một nghành luật độc lập nhưng đã có vị trí , vai trò tích cực trongviệc điều chỉnh , bảo vệ quan hệ sở hữu, quan hệ tài sản tồn tại khách quan trong
xã hội
1) Quan hệ tài sản :
Nhóm quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật dân sự Quan
hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản dưới dạng tưliệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng hay giao dịch chuyển quyền chiếm hữu ,sửdụng tài sản đó trong quá trình sản xuất ,phân phối lưu thông Quan hệ tài sảnbao giờ cũng gắn liền với một tài sản và khái niệm quan hệ tài sản có liên quanchặt chẽ với khái niệm tài sản.Trong luật dân sự,tài sản không chỉ bao gồm các
đồ vật nằm trong sở hữu ,trong sự quản lí hay sử dụng của một người nào đó màcòn bao gồm cả quyền yêu cầu mang nội dung tài sản,như quyền yêu cầu trả nợchuyển giao đồ vật đã bán các quan hệ tài sản bao giờ cũng phát sinh và tồntại trong mối liên hệ với tài sản nhất định hoặc với việc chuyển giao các quyềnlợi về tài sản từ người này sang người kia
Tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong những tiền đề vật chất quantrọng cho sự phát triển của kinh tế xã hội Các quan hệ tài sản và sở hữu đượcđiều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật thuộc các nghành luật khác nhau : Hiếnpháp ,luật đất đai ,luật dân sự Trong luật dân sự, các quy phạm pháp luật điềuchỉnh các quan hệ tài sản và sở hữu giữ vị trí trung tâm Tuy nhiên ,ngoài nghĩa
là đối tượng ( hay khách thể của quyền sở hữu ).Tiền đề vật chất quan trọng làmphát sinh các quan hệ tài sản trng giao lưu dân sự ( hợp đồng, thừa kế, ).Kháiniệm tài sản được xác định rõ tại điều 172 BLDS : “ tài sản bao gồm vật cóthực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản ”.Như vậy , kháiniệm tài sản theo quy định của bộ luật dân sự khái quát và mở rộng phù hợp với
Trang 6nền kinh tế thị trường Đối với mỗi loại tài sản , điều kiện để cho chúng trởthành đối tượng của quyền sở hữu và là cơ sở làm phát sinh quan hệ tài sản tronggiao lưu dân sự cũng rất khác nhau vật có thực là những vật nhìn thấy ,sờ thấyđược (trong dân luật la mã gọi là tài sản hữu hình ), chúng có sẵn trong tự nhiênhoặc do con người sáng tạo ra, vật đó phải có ích và con người có thể chiếm giữđược làm của mình Tiền , giấy tờ trị giá được bằng tiền ( séc, tín phiếu , kỳphiếu,công trái , ) cũng là một loại tài sản có giá trị trao đổi, lưu thông kinh tế Khi chủ sở hữu thực hiện các quyền năng pháp lý đối với loại tài sản này phảituân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nước Các quyền tài sản ( sản phẩmsáng tạo trí tuệ, quyền đòi nợ )cũng trị giá được bằng tiền và được phépchuyển dịch trong giao lưu dân sự
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường ,khái niệm tài sản trong giao lưu dân sự,kinh tế được mở rộng hơn Để xây dựng chế độ pháp lý đối với mỗi loại tài sảnnhằm hướng dẫn hành vị xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ tài sản , luậtdân sự phân loại tài sản theo thông lệ quốc tế thành bất động sản và động sản Ởcác nước khác nhau , phạm vị tài sản đưa vào giao lưu dân sự được pháp luật quyđịnh khác nhau phụ thuộc vào quan niệm của nhà nước đó về tài sản và quyền sởhữu Các tài sản được đưa và giao lưu dân sự phải luôn luôn thuộc về chủ sởhữu nào đó ( cá nhân, tổ chức )
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa con người với con người về một tài sản nào đó,chứ không phải là quan hệ giữa con người với đồ vật.Các quan hệ tài sản rất đadạng ,phong phú và các chủ thể tham gia vào các quan hệ này cũng rất khác nhau( có thể là cá nhân hay tổ chức ) nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt,tiêu dùng , sảnxuất – kinh doanh Trong nhiều trường hợp chủ thể tham gia vào quan hệ tàisản còn chính là nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là
Trang 7đại diện chủ sở hữu đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân (điều 206 bộ luậtdân sự ).
Các quan hệ tài sản là những quan hệ kinh tế cụ thể được phát sinh giữa ngườivới người trong quá trình sản xuất ,phân phối ,lưu thông tư liệu sản xuất ,tư liệutiêu dùng và cung ứng dịch vụ trong xã hội Điều đó có nghĩa là , các quan hệ tàisản có liên quan trực tiếp với quan hệ sản xuất và phù hợp với phương thức sảnxuất thuộc hạ tầng cơ sở của xã hội Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng , cácquan hệ tài sản nói chung không liên quan gì tới quan hệ sản xuất
Mối liên hệ qua lại giữa các quan hệ tài sản và quan hệ sản xuất đặc biệt quantrọng và rất phức tạp Vấn đề này C.MÁC viết “ trong sản xuất xã hội của cuộcsống ,con người tham vào các quan hệ nhất định và cần thiết không phụ thuộcvào ý chí con người –các quan hệ sản xuất mà chúng phù hợp với từng giai đoạnphát triển của lực lượng sản xuất nhất định ” Suy ra các quan hệ sản xuất xãhội là những quan hệ mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý chí conngười Tính độc lập của các quan hệ sản xuất đối với ý chí con người được đặctrưng ở 3 yếu tố
Thứ nhất, khi được sinh ra con người đã đứng trước một giai đoan phát triểncủa quan hệ sản xuất nhất định, phù hợp với mức độ phát triển của lực lượng sảnxuất Tất nhiên con người đó phải tham gianvào một hệ thống các mối quan hệsản xuất đang tồn tại và không thể thay đổi hệ thống đó theo ý mình
Thứ hai, do đặc điểm xã hội của sản xuất và phân công lao động, để đảm bảocuộc sống và lao động ,con người phải tham gia vào các quan hệ giữa họ vớinhau ,phải trao đổi kết quả lao động của mình và chính điều đó đã thu hút conngười vào hệ thống các mối quan hệ sản xuất – xã hội đang tồn tại
Trang 8Thứ ba, sự tồn tại độc lập của các quan hệ sản xuất xã hội đối với ý chí conngười còn được thể hiện chỗ, khi tham gia vào các quan hệ với người khác , traođổi thành quả lao động, con người không ý thức đầy đủ được tất cả sự đa dạng
và phức tạp của các quan hệ sản xuất xã hội mà họ tham gia Tuy nhiên trongkhuôn khổ của sự cần thiết đó con người đã thể hiện ý chí ,tức là hành động cósuy nghĩ và có ý thức để đạt được những mục đích đặt ra và cuối cùng, quan hệsản xuất là kết quả của hoạt động có ý thức của con người trong quá trình sảnxuất ,phân phối, trao đổi và tiêu dùng các tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.Khi tham gia vào các quan hệ với nhau bằng cách đó con người bị thu hút vào hệthống các quan hệ sản xuất – xã hội đang tồn tại Nhận xét về điểm này Lê ninviết : “khi trao đổi các sản phẩm lao động con người đã tham gia vào các quan hệsản xuất ,thậm chí cả khi chưa ý thức được rằng ở đấy có quan hệ sản xuất xãhội”
Sự liên hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và quan hệ tài sản thể hiện ở chỗmột mặt các quan hệ tài sản ( quan hệ kinh tế cụ thể ) chỉ là hình thức biểu hiệncủa quan hệ sản xuất , nhưng mặt khác ,các quan hệ sản xuất – xã hội suy chocùng chính là sự liên kết chặt chẽ , phức tạp thành quả của nhiều loại hoạt độngkhác nhau của con người trong quá trình sản xuất ,phân phối trao đổi, tiêu dùngsản phẩm lao động Hay nói cách khác, quan hệ tài sản là mặt chủ quan củaquan hệ sản xuất
Pháp luật điều chỉnh hành vi xử sự của con người Nó chỉ có khả năng tácđộng đối với các quan hệ có ý chí Chỉ có các quan hệ kinh tế cụ thể ,tức là cácquan hệ giữa những người cụ thể về việc chiếm hữu hoặc chuyển giao các phụclợi vật chất mới là quan hệ tài sản biểu lộ ý chí của các bên tham gia quan
hệ thông qua các quy phạm pháp luật ,nhà nước tác động lên các quan hệ tàisản , tức là các quan hệ có ý chí mang nội dụng kinh tế ,hướng cho các quan hệ
Trang 9đó phát sinh, phát triển phù hợp với ý chí nhà nước Vì vậy, sự tác động này nếuphù hợp với những quy luật khách quan sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ sản xuất
và lực lượng sản xuất phát triển và ngược lại Có thể nói rằng , quan hệ tài sản là
sự biểu hiện về ý thức của chủ thể , của nhà nước về quan hệ sản xuất trong mộtgiai đoạn lịch sử nhất định Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu và nhiều loại hình kinh doanh,việc xác định đúng các quan hệ tài sản phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ thúcđẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
Như đã phân tích ở trên các quan hệ tài sản rất đa dạng , phong phú và là đốitượng điều chỉnh của nhiều ngành luật : luật nhà nước ,luật hành chính ,luật tàichính , luật đất đai, luật dân sự Mỗi ngành luật điều chỉnh các quan hệ này ởmột phạm vi, mức độ và giới hạn nhất định , bằng phương pháp đặc thù củamình Luật dâ sự chỉ điều chỉnh những quan hệ tài sản có những tính chất và đặcđiểm sau đây :
Về tính chất quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh là quan hệ xã hội giữangười này với người khác đối với một tài sản nhất định Đó không phải là quan
hệ giữa người với vật, hoặc giữa vật với vật quan hệ tài sản là quan hệ có ý chí( thể hiện ý chí của các bên tham gia ) Chính nhờ có yếu tố ý chí mà các quan hệnày mới chịu sự tác động của pháp luật Các quan hệ tài sản luôn gắn liền với tàisản ( nhờ có tài sản mới có thể cá thể hoá được các quan hệ xã hội tức là mới cóthể phân biệt được quan hệ tài sản này với quan hệ tài sản khác ) Ví dụ : cùng làquan hệ mua bán nhưng quan hệ mua bán nhà ở khác với quan hệ mua bán xemáy , xe đạp Đối với mỗi loại tài sản nhà nước quy định một chế độ pháp lýkhác nhau khi tham gia vào các quan hệ cụ thể , các chủ thể phải căn cứ vào cácquy định của pháp luật để xử sự cho phù hợp
Trang 10Về đặc điểm, quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh là các quan hệ mangtính chất hàng hoá - tiền tệ Đây mới là tiêu chuẩn để phân biệt các nhóm quan
hệ tài sản do mỗi nghành luật điều chỉnh Phần lớn các quan hệ tài sản bắt nguồn
từ việc trao đổi hàng hoá ,dịch vụ,các sản phẩm trí tuệ theo cơ chế thị trường.Một số tài nguyên thiên nhiên (điều 17 Hiến Pháp 1992 ) tuy là khách thể đặcbiệt của quyền sở hữu toàn dân ( mà nhà nước là đại diện ) nhưng lại không phải
là khách thể của quyền dân sự do các quy phạm pháp luật dân sự điềuchỉnh Trong trường hợp nếu chúng là đối tượng của quyền dân sự thì chỉ làquyền được phát sinh từ các quy phạm pháp luật của nghành luật khác Ví dụ :quyền sử dụng đất đai , rừng , khai thác các tài nguyên khoáng sản Theo quanđiểm hiện nay đất đai cũng “ có giá ” và pháp luật quy định người sử dụng đất có
5 quyền : quyền chuyển nhượng, chuyển đổi , cho thuê quyền sử dụng đất , thếchấp quyền sử dụng đất và để lại thừa kế quyền sử dụng đất Luật dân sự điềuchỉnh loại quan hệ tài sản đặc biệt này theo phương pháp đặc thù Chẳng hạn ,khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng , chuyển đổi quyền sử dụng đât, , các bêntham gia phải tuân thủ các quy định của luật đất đai và các quy định cụ thể củaluật dân sự Quan hệ tài sản mang tính hàng hoá - tiền tệ trong nền kinh tế hoạtđộng theo cơ chế “ tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh ” với nhau càng cầnphải có sự điều tiết bằng các quy phạm pháp luật Quy luật thị trường trong nềnsản xuất hàng hoá chi phối các quan hệ tài sản mà chúng được biểu hiện dướihình thức tiền tệ Trong sự trao đổi thông qua hình thức hàng - tiền : sức laođộng và các hoạt động dịch vụ khác cũng được coi là hàng hoá
Một đặc điểm khác của quan hệ tài sản là tính đền bù tương đương Do phátsinh trên cơ sở sử dụng hình thức tiền – hàng trong lưu thông phân phối ,trao đổinên các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh phải tuân theo quy luật giá trị.điều đó có nghĩa là những người tham gia quan hệ tài sản có giá trị tương đương
Trang 11với giá trị hàng hoá mà mình đã nhận Chỉ có một số rất ít các quan hệ tài sản doluật dân sự điều chỉnh không có tính đền bù như : quan hệ tặng, cho, cho mượn,cho vay không lấy lãi, để lại thừa kế các quan hệ tài sản không có đền bù nàychủ yếu phát sinh trên cơ sở tình cảm.
Những người tham gia quan hệ tài sản là chủ thể (theo phương diện pháp lí )độc lập với nhau ,có tài sản riêng và hoàn toàn chủ động định đoạt tài sản đó, họkhông bị phụ thuộc,ràng buộc với nhau bởi bất kì mối quan hệ hành chính , hay
xã hội khác Do độc lập và có tài sản riêng nên những người tham gia quan hệ tàisản ở vào vị trí bình đẳng với nhau ( bình đẳng ở đây không phải về quyền vànghĩa vụ ) Đó là sự bình đẳng mang yếu tố nội hàm của quan hệ đó trên tinhthần “ thuận mua, vừa bán ”, không có sự ép buộc nhau , kể cả quan hệ tặng ,cho , thừa kế chủ thể của các quan hệ tài sản này rất đa dạng ( cá nhân, phápnhân ) nhưng đều có mục đích là nhằm thoả mãn nhu cầu về vật chất , tinh thần.Các quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh được phân thành hai loại cơ bảnsau đây :
- Các quan hệ tài sản gắn với việc chiếm giữ những đối tượng vật chất nhấtđịnh – chúng được gọi là các quan hệ sở hữu ( quan hệ vật quyền ) Đây làcác quan hệ tài sản ở trạng thái “ tĩnh ”
- Các quan hệ tài sản trong lĩnh vực trao đổi ( giao lưu dân sự ) những lợiích vật chất , được gọi là các giao dịch dân sự ( quan hệ trái quyền ) Đây
là hình thức pháp lý phổ biến được sử dụng trong lưu thông dân sự và traođổi hàng hoá ( quan hệ tài sản ở trạng thái “động ” )
Tóm lại : các quan hệ tài do luật dân sự điều chỉnh là quan hệ giữa người nàyvới người khác đối với một tài sản nhất định Các quan hệ này hình thànhmột cách khách quan trong quá trình sản xuất , phân phối lưu thông tư liệu