Giới thiệu chungTreo tranh trong ngày tết đã trở thành một thú chơi tao nhã, một phong tục đẹp của người nông dân Việt Nam xưa, cứ mỗi dịp Tết Nguyên đán, các gia đình dù giàu hay nghèo,
Trang 1Bài 24:Thường thức Mĩ Thuật Giới thiệu một số tranh dân gian Việt Nam
Nhóm 1-Tổ 2 Thành viên:+Thu Hà
+Bảo Ngọc +Đức Lương +Hà Phương +Hoàng Hải +Phương Huyền
+Tuấn Kiệt
Trang 2Nguồn gốc của tranh Đông Hồ
Tranh Đông Hồ là một loai tranh dân gian truyền thống của làng Đông Hồ-một làng nhỏ thuộc vùng Kinh Bắc(Bắc Ninh).Làng tranh Đông Hồ xưa là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian,
thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng trên 35 km Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương chỉgọi là làng Hồ) nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ
Quanh năm rất nhiều khách du lịch trong ngoài nước đến làng tranh Đông Hồ thăm và mua tranh Đông Hồ làm kỷ niệm Một số khách sạn, nhà hàng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bức tranh khổ lớn để trang trí cho cách phòng khách, hoặc phòng ăn lớn Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ đường gần nhất du khách thường đi là xuôi theo đường Quốc lộ số
5 (đường đi Hải Phòng) đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng
15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km nữa, qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh) là đến phố Hồ-huyện lỵ Thuận Thành Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ Cũng có thể đi hết phố
Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ dẫn đường xuống làng Đông Hồ
Làng Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái Các cụ làng Đông Hồ vẫntruyền lại mấy câu ca rằng:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có sông tắm mát có nghề làm tranh.
Làng Đông Hồ nằm ngay sát bờ sông Đuống, ngày xưa chỉ cách sông một con đê, đó là ý trong câu "Có sông tắm mát có nghề làm tranh" Ngày nay, do sự bồi lấp của dòng sông nên từ đê ra đến mép nước giờ khá xa
Trang 3Giới thiệu chung
Treo tranh trong ngày tết đã trở thành một thú chơi tao nhã, một phong tục đẹp của người nông dân Việt Nam xưa, cứ mỗi dịp Tết Nguyên đán, các gia đình dù giàu hay nghèo, ngoài bánh chưng, thịt mỡ dưa hành cũng không thể thiếu câu đối đỏ cùng những bức tranh tết Những bức tranh dân gian màu sắc tươi tắn được dán lên tường nhà cho không khí thêm phần rộn rã, ấm cúng Trong các loại tranh chơi tết của vùng châu thổ Bắc Bộ, bên cạnhnhững dòng tranh như Kim Hoàng-Hà Tây, Hàng Trống-Hà Nội,
có lẽ tranh dân gian Đông Hồ là điển hình hơn cả
Trang 4Tranh dân gian Đông Hồ hay nói đầy đủ hơn là tranh khắc gỗ dângian Đông Hồ ra đời từ khoảng thế kỷ XVII, tại làng Đông Hồ tỉnh Bắc Ninh, một vùng đất trù phú, nông nghiệp phát triển, đời sống văn hoá ca,tất cả tạo thành cái nôi cho một dòng tranh chân quê, đậm đà chất dân tộc Mang trong mình những nét tinh túy riêng với những giá trị văn hóa to lớn Tranh tết Đông Hồ không phải là
sự minh họa về ngày tết mà thông qua nội dung của các bức tranh này là sự gửi gắm, là lời chúc phúc cho những gì tốt đẹp nhất cho một năm mới, một năm phát tài, phát lộc, bằng những hình ảnh biểu tượng dân dã, gần gũi nhưng lại chứa đựng nhữngthông điệp ẩn ngữ đầy tính nhân văn
Trang 5Chất liệu, Màu sắc
Nét độc đáo đầu tiên thu hút người xem của Tranh dân gian Đông
Hồ chính là màu sắc và chất liệu giấy in Giấy dùng in tranh là loạigiấy dó (làm từ vỏ cây dó) với đặc tính xốp, mềm, mỏng, dai, dễ hút màu mà khi in không bị nhòe Loại giấy này được quét lên một lớp hồ điệp để tạo nét sáng óng ánh đặc thù: người ta nghiềnnát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ đượcnấu từ bột gạo tẻ,hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó Chổi lá thông tạo nên những nét ganh chạy theo đường quét, và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh của những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng
Trang 6Có thể nói trong tranh dân gian Đông Hồ, chỉ nguyên sự óng ả của nền điệp cũng đủ sự hấp dẫn, nếu điệp lại được lướt thêm một nước hòe, màu in lại được thay đổi màu một lần nữa, ngả sang màu óng ánh như màu tơ tằm, các màu hòa quện với nhau tạo thành các màu kỳ diệu Bên cạnh đó, màu in cũng là một nét độc đáo trong quá trình sáng tạo, khám phá, tìm tòi và ứng dụng các nguyên vật liệu gần gũi từ tự nhiên vào hoạt động nghệ thuật (Màu đen lấy từ than xoan hay than lá tre; Màu vàng lấy từ hoa hòe; Màu đỏ lấy từ sỏi non, gỗ vang; Màu xanh từ lá chàm, gỉ đồng ) điều này phản ánh cuộc sống và tâm hồn gần gũi với thiên nhiên của con người Việt Nam.Đây là kinh nghiệm, sự sáng tạo, thậm chí còn là bí quyết gia truyền của mỗi nghệ nhân Chínhnhờ sự cầu kỳ, cẩn thận trong cách chế màu mà tranh Đông Hồ luôn tươi sáng, rực rỡ và không bị bay màu.
Trang 7Những thay đổi hiện nay so với thời xưa
Tranh Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết cả Tranh gần gũi còn vì hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn trong chương trình giáo dục phổ thông Ngày nay lệ mua tranh Đông Hồ treo ngày Tết đã mai một,làng tranh cũng thay đổi nhiều: làng Đông Hồ ngày nay có thêm nghề làm vàng mã Nghề giấy dó ởlàng Yên Thái (Bưởi, Tây Hồ) cũng đã không còn Tuy vậy, tranh Đông Hồ vẫn đóng vai trò nhưmột di sản văn hóa, một dòng tranh dân gian không thể thiếu
Trang 8Theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tại thường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màu trắng vào điệp quét giấy để bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên "thường", màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bản khắcmới
có bản không được tinh tế như bản cổ Một điểm đáng lưu ý khácnữa là một số bản khắc đã đục bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm)bên cạnh phần hình của tranh khiến tranh ít nhiều bị què cụt về mặt ý nghĩa Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này ước đoán là:
+Thời sau năm 1945, chữ Hán và chữ Nôm bị chính quyền coi
là phong kiến lạc hậu, liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đục bỏ
+Thế hệ sau này không phải ai cũng đọc và hiểu được các ký tự
ấy nên tự ý bỏ đi
+Cũng do không đọc hiểu được nên các ván khắc truyền lại "tam sao thất bản", đến mức còn lại các ký tự nhưng không đọc được
ra chữ gì
Về nội dung tranh, lưu ý rằng có sự gần gũi nhất định giữa nội dung tranh khắc gỗ màu của Việt Nam với của Trung Quốc, có những tranh mà cả hai nước đều có, song tranh Đông Hồ phát triển thành một hướng riêng tồn tại nhiều thế kỷ và được thừa nhận như dòng tranh dân gian được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam
Trang 9Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh với những cách thể hiện rất riêng, độc đáo, tinh tế và giàu chất biểu cảm Ngày nay "Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia và đang được lập hồ sơ trình UNESCO để xét tặng danh hiệu
Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Với sự thành công cũng như sự quan tâm đó, mong rằng tranh dân gian Đông Hồ sẽ mãi "tồn tại, phát triển", lưu giữ và phát huy những giá trị vốn có của mình, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của nhân dân lao động
Trang 10Một số tranh dân gian Đông Hồ điển hình
Tranh “Đám cưới chuột”
Giới thiệu chung:
Nhân vật mèo cường hào ác bá, họ hàng nhà chuột thấp cổ bé họng cả đời không được sống yên thân vì lo sợ sẽ bị mèo ăn thịt Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, bức tranh còn một màu sắc khác, màu sắc mang tính triết học mà giản dị của sự cộng sinh vàchính điều này tạo nên những giá trị tư tưởng mang đậm văn hóaViệt Nhìn vào bức tranh "Đám cưới chuột", ai cũng có thể thấy một ngày hội rực rỡ đang diễn ra Gia đình nhà chuột không có
vẻ gì cáu kỉnh, chỉ hơi nghiêm túc hơn một chút vì ít nhiều đó cũng là thời khắc của một đám cưới
Nhân vật mèo nhận lễ trong tư thế trang trọng, có đôi chút dò xét
Trang 11nhưng cũng tỏ rõ thái độ tôn trọng ngày lễ lớn của đôi vợ chồng mới Theo thang bậc của tự nhiên, sự chia sẻ này là cách để họ hàng nhà chuột giải quyết mâu thuẫn tự sinh giữa chuột và mèo
Họ hàng nhà chuột, vốn hiểu sự yên ổn của mình cần có cả sự
no đủ của mèo nên đã “mừng mà làm” (“hưng tác”, chữ trên đầu nhân vật chuột thứ hai)
Đám cưới diễn ra rất đúng nghi lễ, ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau Chàng xênh xang hớn hở trong bộ áo gấm xanh, nàng mặc áo màu gụ Họ được rước đi, rạng rỡ trên con đường làng màu son nhạt với những vạt cỏ màu mạ Chuột chú rể được che lọng tía tượng trưng cho vinh quang, danh vọng lớn Chuột cô dâu dịu dàng trong chiếc kiệu bát cổng có nhiều hoa văn trang trí.Bốn chú chuột hầu hạ, ghé vai khiêng Đám rước còn có biển đỏ, dàn nhạc Hai chú chuột thổi hai chiếc kèn có cung bậc khác nhau: Kèn pha và kèn đại
Bức tranh tưng bừng về màu sắc, hài hòa về nhân vật và rất dễ nhận thấy niềm vui và sự sinh sôi đâu đó Nó khiến người ta nhớ lại những đám cưới đầy màu sắc của Việt Nam thời xa xưa,
những đám cưới được tổ chức trong một tâm thế hết sức thiêng liêng và ẩn chứa đầy bí mật của những nghi thức được truyền lại
từ bao đời, những đám cưới mà chỉ cần nghe thấy tiếng khèn cũng đã có thể tưởng tượng ra cảnh dân làng mặt mày rạng rỡ chen chúc nhau ra xem cô dâu
Trang 12Tranh “Thầy đồ cóc”
Giới thiệu chung:
Trong bức tranh là cả một thế giới của cóc, nhái, ễnh ương rất nhộn nhịp trong lớp học với một thầy ếch lớn ngồi chễm chệ trên chiếc sập đang dạy học
Bức tranh Thầy đồ cóc thuộc dòng tranh dân gian làng Đông Hồ Vào phiên chợ tết các bà mẹ Việt Nam thường mua cho con bức tranh này với hy vọng con mình xẽ chăm chỉ học hành, ngày một thông minh sáng lán
Trong bức tranh là cả một thế giới của cóc, nhái, ễnh ương rất nhộn nhịp trong lớp học với một thầy ếch lớn ngồi chễm chệ trên chiếc sập đang dạy học Hình tượng sinh vật, nhưng chúng lại có hành động nhân cách hóa như người Trên bức tranh có dòng chữ “Lão Oa độc giảng” Tức là ông Ếch một mình giảng dạy (Oa
có thể dịch là “ếch”, nhưng trong dân gian vẫn gọi tranh này là
“Thầy đồ Cóc”, chữ “độc” trong tranh dịch là đọc, nhưng cũng đồng âm với “độc” là cô độc, một mình)
Trang 13Hình tượng con cóc đã tồn tại và phổ biến từ rất lâu trong nền văn hiến Lạc Việt Đối với những nhà nghiên cứu hoặc những ai
đã từng nhìn thấy những chiếc trống đồng, thạp đồng Lạc Việt chắc không quên hình ảnh con cóc trên những vật thể này Cóc
đã từng oai vệ với vai trò là “cậu ông trời” trong các câu chuyện dân gian Việt Nam, Nhưng trong bức tranh dân gian này, cóc chỉ khiêm tốn làm một ông giáo già ngồi dạy học
Trang 14Tranh “Đấu vật”
Giới thiệu chung:
Đây là một trong những bức tranh nổi tiếng của làng Đông Hồ, vẽ
về cảnh đấu vật của nam giới trong ngày xuân Các đấu thủ đều đóng khố - theo đúng phong tục của người Việt trong cái rét của mùa xuân để lộ thân hình vạm vỡ, tráng kiện Nhìn bức tranh, 3 đôi vật đang rất căng thẳng, “bên 8 lạng, người nửa cân”, chưa phân thắng bại Chúng ta nhận biết được điều này là do ở bút pháp tượng trưng của dòng tranh Đông Hồ 3 đôi vật này được thể hiện ở 3 mô hình hình học: đôi vật bên trên là hình tam giác cân, đôi vật bên trái là hình thang cân, và bên phải là hình bán nguyệt Cả 3 mô hình này đều có đáy lớn nằm dưới rất vững chãichứ không hề thiên lệch, khó đổ Chính những mô hình hình học vững chãi này đã thể hiện sự ngang bằng sức lực giữa các đô vật
Trang 15Tranh “Vinh Hoa”
Giới thiệu chung:
Tranh Vinh hoa là hình bé trai ôm gà trống Gà trống chữ Hán là đại kê, có âm đồng với chữ đại cát/đại kiết Đại cát cũng là tên 1 quẻ bói tốt nhất trong Bát quái
Tranh Phú quý là hình bé gái ôm con vịt Ý nghĩa chúc tụng của 4bức tranh này đều được nghệ nhân thể hiện rõ ràng ở tên tranh.Trong bộ tứ quí này lại được chia làm 2 cặp bé trai – bé gái: Lễ trí– Nhân nghĩa và Vinh hoa – Phú quý với hàm ý chú cho có concái thì phải có đủ cả trai lẫn gái, hay “có nếp có tẻ” như cách nóicủa các cụ xưa, như vậy mới là tròn đầy
Qua những bức tranh dân gian khác của làng Đông Hồ, bạn đọclại thấy hình ảnh đặc thù quen thuộc từ thời Hùng Vương Đó làcon Cóc, một biểu tượng cho nền văn minh chữ viết của VănLang; con Rùa biểu tượng cho phương tiện chuyển tải chữ viết ở
Trang 16thời kỳ đầu lập quốc (“giống rùa lớn thường chỉ thấy ở sôngDương Tử”, như học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết trong tác phẩm
“Sử Trung Quốc” của ông) Hình ảnh trong tranh chú bé ôm Rùa,
ôm Cóc là những hình tượng rất đặc thù trong văn hoá Việt Nam
Có thể nói rằng: khó có thể chứng minh được những hình ảnhnày đã xuất hiện đâu đó từ một nền văn hoá khác; hoặc có thểchứng minh được rằng: những hình tượng này xuất hiện từ thờiViệt Nam hưng quốc Hay nói một cách khác: nội dung và nhữnghình tượng này đã có từ một thời rất xa xưa: Thời Hùng Vương,cội nguồn của văn hoá Việt Nam Bên cạnh những nét nghĩa gầngũi, dân dã đã phân tích bên trên, trong nội dung sâu xa của bộtranh này, chúng ta còn nhận thấy một tư duy tiếp nối và là hệquả của một thuyết vũ trụ quan cổ Đó là thuyết Âm dương Ngũhành
Trang 17Tranh “Bà Triệu”
Giới thiệu chung:
Đây là một bức tranh lịch sử được khẳng định ngay từ tên gọi, lưu truyền trong dân gian và hình tượng trên tranh.Tuy trên tranh không có lời chú như tranh Hai Bà, nhưng thể hiện Bà Triệu theo như truyền thuyết về hình tướng và tính cách của bà là ngực lớn, khí phách hiên ngang Hình tượng Bà Triệu trên tranh có tư thế thoải mái, như đang múa một đường quyền trên lưng voi Con voi
về tư thế như đang chồm lên, nhưng sắc thái thì lại như bị phục
Trang 18tùng Phải chăng, bức tranh này muốn miêu tả hình ảnh Bà Triệu đang thuần phục voi dữ Đây là giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa củaBà.
Về phong cách thể hiện bức tranh này, có nét tương đồng và gầngiống với tranh Hai Bà Trưng Nhưng trong tranh Bà Triệu có tínhước lệ hơn so với tranh Hai Bà, thể hiện ở tư thế ngồi của bàTriệu trên lưng voi Về hình tượng con voi của Bà Triệu có nétgiống như voi của Hai Bà, nhưng phong cách uyển chuyển vàđiêu luyện hơn Bành voi của Bà Triệu tuy trang trí cầu kỳ chứng
tỏ một đẳng cấp cao trong xã hội, nhưng lại không có cờ và lọng
là những biểu tượng của địa vị và quyền lực như trong tranh Hai
Bà Mặc dù trong cả hai tranh đều chứng tỏ một trình độ bậc thầy
về tạo dựng hình tượng; nhưng sự thể hiện tính trừu tượng trongtranh Hai Bà hết sức cao cấp, đến mức đáng kinh ngạc (qua hìnhtượng gợi cho người xem phải tưởng tượng một tình huống bênngoài hình tượng) Còn trong tranh Bà Triệu, tính trừu tượng thấphơn mặc dù đã đạt trình độ bậc thầy khi diễn tả tính cách đầy khíphách của Bà Điều này cho thấy hai bức tranh này được diễn tả
ở hai thời kỳ cách nhau khá xa và tất nhiên không thể cùng tácgiả
Trang 19Tranh “Hứng dừa”
Giới thiệu chung:
Tranh Hứng dừa là một gia đình hạnh phúc với 1 vợ, 1 chồng cùng 2 người con Người chồng với việc khó nhất là trèo cây hái dừa thể hiện vai trò trụ cột trong gia đình, người vợ không dùng tay hứng mà lại dùng váy làm cho khung cảnh có nét gì đó hài hước, hai đứa trẻ thì ôm chặt gốc dừa
Hình ảnh cây dừa được lựa chọn chính bởi đặc điểm của trái dừa: cùi trắng chứa đựng bên trong là dòng nước trong mát thể hiện cho tình cảm gia đình, vợ chồng thủy chung, trong trắng, hạnh phúc, ngọt ngào Hai trái dừa tượng trưng cho hai trái tim bên nhau, người vợ đưa váy ra hứng chứ không dùng tay chính
là vì sợ đánh rơi mất quả ngọt hạnh phúc Hai đứa bé ôm chặt gốc dừa như lo sợ cây rung làm cha ngã cũng chính là đang bảo
Trang 20vệ nền tảng, gốc rễ hạnh phúc gia đình Bức tranh còn đi kèm với
ý thơ:
“ Trong như ngọc, trắng như ngà
Đây trèo đấy hứng cho vừa lòng nhau”
Xem tranh Hứng dừa rồi nhìn sang Đánh ghen ta thấy sự trái ngược hoàn toàn Gia đình đa thê với cảnh xung đột giữa các bà
vợ rằng:
“Măng non nấu với gà đồng
Thử chơi một chuyến xem chồng về ai”
Ông chồng đứng giữa hai bà chỉ còn biết than thở:
“Thôi thôi nuốt giận làm lành
Chi đừng sinh sự nhục mình nhục ta”
Lấy cái hạnh phúc vẹn tròn, trắng trong của Hứng dừa để đối với cái xung đột, ganh ghét trong Đánh ghen các cụ ta ngày xưa chính là muốn đưa ra quan niệm cũng là sự phê phán, là bài học
để xây dựng hạnh phúc gia đình