Kỹ thuật chọn mẫu cũng được nêu trong Chuẩn mực kiểm toán số 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác” trong hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế. Tuy nhiên, các công ty kiểm toán khác nhau sẽ lựa chọn kỹ thuật chọn mẫu riêng. Nắm bắt được vai trò và ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính và trải qua quá trình thực tập tại công ty kiểm toán và kế toán AAC để biết được thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán tại công ty, kết hợp với việc tham khảo các tài liệu và sự giúp đở tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Đoàn Thị Ngọc Trai và các anh chị trong công ty kiểm toán em đã chọn đề tài nghiên cứu “ Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC”.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, hoạt động kiểm toán đã trở thànhnhu cầu tất yếu của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ Kiểm toán báo cáo tàichính với mục tiêu là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xácnhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiệnhành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực
và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Để có đủ căn cứ nhằm đưa ra ý kiến
về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần thiết phải thu thập các bằng chứng có hiệu lực.Trong khi đó, đối với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay, các đơn vị có quy mô tài sản
và hoạt động tài chính càng mở rộng nên quy mô của đối tượng kiểm toán ngày càng lớn
và cùng với việc giới hạn thời gian kinh phí cũng như nhân sự cho một cuộc kiểm toánkhông cho phép kiểm toán viên tiến hành kiểm tra toàn bộ các dữ liệu kế toán Chính vìvậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để có một chương trình kiểm toán hợp lý vừa đảm bảokhía cạnh về chất lượng vừa bảo đảm khía cạnh về tính hiệu quả của cuộc kiểm toán Và
để giải quyết được vấn đề đó tất yếu phải tiến hành kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toánbáo cáo tài chính
Kỹ thuật chọn mẫu cũng được nêu trong Chuẩn mực kiểm toán số 530 “Lấy mẫu kiểmtoán và các thủ tục lựa chọn khác” trong hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và
hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế Tuy nhiên, các công ty kiểm toán khác nhau sẽlựa chọn kỹ thuật chọn mẫu riêng
Nắm bắt được vai trò và ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính và trải qua quá trình thực tập tại công ty kiểm toán và kế toán AAC để biết đượcthực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán tại công ty, kết hợp với việc thamkhảo các tài liệu và sự giúp đở tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Đoàn Thị Ngọc Trai
và các anh chị trong công ty kiểm toán em đã chọn đề tài nghiên cứu “ Hoàn thiện kỹthuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kếtoán AAC”
Đề tài gồm có 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Phần 2: Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tạicông ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Phần 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáotài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1 Khái niệm về chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chọn mẫu kiểm toán: Là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị (gọi
là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng cácđặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Chuẩn mực số 530 “Lấy mẫu kiểm toán vàcác thủ tục phân tích khác”, chọn mẫu kiểm toán là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên sốphần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ saocho mọi phần tử đều có cơ hội được chọn Lấy mẫu kiểm toán giúp cho kiểm toán viênthu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của phần tử được chọnnhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể Lấy mẫu có thể thực hiện theophương pháp thống kê và phi thống kê
2 Sự cần thiết của chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chọn mẫu được sử dụng bởi việc kiểm tra toàn bộ rất khó thực hiện được, do đốitượng của kiểm toán quá lớn Trong một cuộc kiểm toán đối tượng cụ thể của nó là cácnghiệp vụ, tác nghiệp cụ thể, những tài sản cụ thể, những chứng từ cụ thể và thường biểuhiện bằng số tiền xác định Số lượng các nghiệp vụ, tác nghiệp, các tài sản, các chứng từrất lớn mà trong kiểm toán báo cáo tài chính không thể kiểm tra tất cả các tài sản, cũngkhông thể soát xét và đối chiếu tất cả các chứng từ kế toán, các số dư tài khoản mà nếu
có thực hiện chi phí cũng quá lớn Các công ty kiểm toán lại bị giới hạn bởi nguồn lực
về thời gian, tiền bạc và con người, do vậy luôn phải cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợiích thu được Công ty kiểm toán chỉ có thể bỏ ra một khoản chi phí nhất định Thời giancho một cuộc kiểm toán cũng bị giới hạn từ hai phía công ty kiểm toán và khách hàng.Việc xác định thời gian, chi phí bỏ ra và cần bao nhiêu nhân viên với trình độ như thếnào phải được cân nhắc bởi nhiều yếu tố trong đó có đặc điểm hoạt động kinh doanh củakhách hàng, rủi ro của cuộc kiểm toán và giá phí của cuộc kiểm toán Vì vậy, việc kiểmtra 100% dữ liệu kế toán là rất khó thực hiện, nhiều khi lại gây tốn kém mà không đemlại hiệu quả Mặt khác các bằng chứng thu được từ việc chọn mẫu kiểm toán chỉ là mộttrong các nguồn để thu thập bằng chứng của kiểm toán viên và kiểm toán viên cũngkhông tìm kiếm một sự chắc chắn, chính xác tuyệt đối
3 Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán
Chọn mẫu kiểm toán trên cơ sở sử dụng các đặc trưng mẫu để suy rộng cho đặc trưngcủa toàn bộ tổng thể chính vì vậy bất cứ khi nào kiểm toán viên chọn mẫu từ tổng thểmục tiêu cũng là để có một mẫu đại diện Một mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm củamẫu cũng giống như những đặc điểm của tổng thể
Nhưng trên thực tế kiểm toán viên không biết mẫu có tính đại diện hay không dù sau
đó tất cả các khảo sát đã hoàn tất Tuy nhiên kiểm toán viên có thể tăng khả năng đạidiện của mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giá
Hai vấn đề khiến cho mẫu không có tính đại diện là sai số không chọn mẫu và sai sốchọn mẫu Rủi ro của sự phát sinh này được gọi là rủi ro không do chọn mẫu và rủi ro dochọn mẫu cả hai đều có thể kiểm soát được
4 Các khái niệm khác liên quan đến chọn mẫu
4.1 Tổng thể được chọn mẫu
Tổng thể là tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiêncứu Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể Cụ thể, trong kiểm toántổng thể được hiểu là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên chọn mẫu để có thể đi đến
Trang 4một kết luận.Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụcấu thành một tổng thể Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thểcon và mỗi nhóm được kiểm tra riêng.
4.2 Phần tử mẫu
Phần tử mẫu hay còn gọi là đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tổngthể.Ví dụ, các séc trong bảng kê nộp tiền, các phiếu chi, phiếu thu, hoá đơn bán hànghoặc số dư nợ các khoản phải thu khách hàng Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiền
tệ, một đơn vị hiện vật hoặc số lượng
4.3 Mẫu đại diên
Mẫu đại diện là mẫu mang đặc trưng của tổng thể mà mẫu được chọn ra Ví dụ, quakiểm soát nội bộ xác định 4% phiếu chi không có chứng từ gốc đính kèm Nếu tronghàng ngàn phiếu chi chọn ra 100 phiếu chi thấy có đúng bốn lần thiếu chứng từ gốc thìmẫu chọn là tiêu biểu
4.4 Cỡ mẫu
Tập hợp các đối tượng kiểm toán được chọn ra một cách ngẫu nhiên làm đại diệntrong quá trình khảo sát một đặc điểm hay một dấu hiệu nào đó của tổng thể thường gọi
là một tập hợp mẫu hay một mẫu
Số phần tử có trong mẫu thường được gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu, thôngthường là khá nhỏ so với tổng thể chọn mẫu
4.5 Rủi ro do chọn mẫu
Rủi ro do chọn mẫu là khả năng mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên kiểm tramẫu có thể khác với kết luận của kiểm toán viên đạt được nếu kiểm tra trên toàn bộ tổngthể với cùng một thủ tục Có hai loại rủi ro chọn mẫu:
Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức rủi ro thực tế(đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có(đối với thử nghiệm cơ bản) Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hiệu quả của cuộc kiểmtoán và có thể dẫn đến ý kiến không xác đáng
Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn rủi ro thực tế (đối vớithử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là không có (đối vớithử nghiệm cơ bản) Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hiệu quả của cuộc kiểm toán vì
nó thường dẫn tới các công việc bổ sung để chứng minh rằng các kết luận ban đầu làkhông đúng
4.6 Rủi ro không do chọn mẫu
Rủi ro không do chọn mẫu là việc kiểm toán viên đưa ra những kết luận sai lầmkhông phải do lỗi chọn mẫu mà do các yếu tố không liên quan trực tiếp đến việc chọnmẫu Chẳng hạn kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không phù hợp vớimục tiêu kiểm toán hoặc sử dụng đúng thủ tục nhưng không phát hiện ra sai sót trongmẫu đã chọn do thiếu thận trọng Các trường hợp dẫn tới rủi ro không do chọn mẫu baogồm:
Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng: Kiểm toán viên có thể đánh giá sai lầm
về rủi ro tiềm tàng trong đối tượng kiểm toán Có thể kiểm toán viên cho rằng có ít saiphạm trọng yếu tồn tại trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm quy môcông việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được các sai phạm
Đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát: Kiểm toán viên có thể qua lạc quantin tưởng vào khả năng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn chặn phát hiện và
Trang 5sửa chữa kịp thời các sai phạm nên họ có xu hướng giảm công việc cần thiết vì vậy kếtquả cũng như trường hợp đánh giá sai về rủi ro tiềm tàng là không phát hiện ra các saiphạm.
Lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc kiểmtoán không hợp lý Ví dụ gửi thư xác nhận các khoản phải thu theo sổ sách trong khi đómục tiêu là tìm các khoản phải thu chưa được ghi sổ, hoặc cũng có thể đã chọn được cácthủ tục thích hợp nhưng việc triển khai các thủ tục đó lại để xảy ra sai sót
Kiểm toán viên có thể kiểm soát được rủi ro không do chọn mẫu và có khả năng làmgiảm rủi ro không do chọn mẫu tới mức có thể chấp nhận được thông qua việc lập kếhoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách cẩn thận, đồng thời phải thực hiệncác thủ tục kiểm soát chất lượng chặt chẽ và thích hợp đối với công việc kiểm toán
5 Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê
5.1 Chọn mẫu thống kê
Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để tính kết quả thống
kê có hệ thống Phương pháp này lựa chọn các phần tử của mẫu một cách ngẫu nhiên và
sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu
Phương pháp chọn mẫu thống kê có hai đặc điểm cơ bản:
Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu
Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm địnhlượng rủi ro do chọn mẫu
Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau:
Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán
Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫuchọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán
Kiểm toán viên phải chỉ rõ các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức trọngyếu
5.2 Chọn mẫu phi thống kê
Là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc hai đặc điểm của phương pháp chọnmẫu thống kê
Trong các phương pháp chọn mẫu phi thống kê, kiểm toán viên không định lượngđược rủi ro chọn mẫu Thay vào đó, các kết luận được tiếp cận với các tổng thể trên mộtcăn cứ phán đoán nhiều hơn
Trong quá trình chọn mẫu kiểm toán, kiểm toán viên có thể sử dụng phương phápchọn mẫu thống kê hoặc phương pháp chọn mẫu phi thống kê, tùy thuộc vào xét đoánnghề nghiệp của kiểm toán viên để lựa chọn phương pháp hiệu quả hơn nhằm thu thậpđược đầy đủ bằng chứng kiểm toán Ví dụ, trong thử nghiệm kiểm soát sự phân tích củakiểm toán viên về bản chất và nguyên nhân của sai sót sẽ quan trọng hơn việc phân tíchthống kê về tần suất xảy ra của sai sót Trong trường hợp này phương pháp chọn mẫuphi thống kê là phương pháp được sử dụng
Dù sử dụng phương pháp chọn mẫu thống kê hay phương pháp chọn mẫu phi thống
kê thì chúng đều bao gồm hai phần là quá trình chọn mẫu và quá trình đánh giá kết quảchọn mẫu Quá trình chọn mẫu quyết định chọn lựa các phần tử mẫu từ tổng thể, còn quá
Trang 6trình đánh giá kết quả đưa ra những kết luận dựa trên đánh giá ban đầu của kiểm toánviên về tổng thể Ví dụ, kiểm toán viên chọn 100 phiếu nhập kho từ tổng thể, kiểm tratừng phiếu nhập kho để xác định có đính kèm biên bản kiểm nghiệm hàng hóa vật tưnhập kho hay không và đã xác định là có 5 trường hợp sai phạm Việc quyết định 100phiếu nhập kho nào được chọn từ tổng thể là một vấn đề của quá trình chọn mẫu Việc điđến kết luận về tỷ lệ sai sót trong tổng thể có một tỷ lệ sai sót mẫu là 5% là một vấn đềcủa quá trình đánh giá.
6 Các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu
6.1 Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
Chọn mẫu ngẫu nhiên, nói đơn giản chỉ là một phương pháp lựa chọn các phần tửvào mẫu mà nguyên tắc của chọn mẫu ngẫu nhiên là mỗi phần tử trong tổng thể đều có
cơ hội như nhau để được chọn
Ưu điểm chung phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên là có thể cho kết quả tốt nếu giữacác đơn vị của tổng thể chung không có gì khác biệt nhau nhiều, cho phép thu được mẫu
có tính đại diện cao, có thể suy rộng các kết quả của mẫu cho tổng thể với một sai số xácđịnh, song để vận dụng phải có toàn bộ danh sách của tổng thể nghiên cứu
Còn nhược điểm của phương pháp này là nếu tổng thể chung có kết cấu phức tạp thìmẫu sẽ khó đảm bảo tính đại biểu, mặt khác, đối với các tổng thể lớn có hàng ngàn đơn
vị thì việc lập số rút thăm và đặt số hiệu cho từng đơn vị cũng gặp khó khăn
Lưu ý mẫu được chọn ngẫu nhiên là mẫu không có thiên lệch, chứ chưa chắc chắn làmột mẫu đại diện cho tổng thể Cách chọn này vẫn có thể tồn tại rủi ro là mẫu được chọnkhông chứa đựng những đặc trưng của tổng thể
Có ba phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thông dụng là bảng số ngẫu nhiên, chươngtrình chọn số ngẫu nhiên và chọn mẫu hệ thống
6.1.1 Bảng số ngẫu nhiên
Chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên bảng số ngẫu nhiên là phương pháp lựa chọn ngẫunhiên rất đơn giản dựa trên bảng số ngẫu nhiên đã được thiết kế sẵn, bao gồm các sốngẫu nhiên độc lập được sắp xếp thuận lợi cho việc lựa chọn ngẫu nhiên
Bảng số ngẫu nhiên là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếpmột cách thuận lợi dưới dạng bảng biểu để làm dể dàng cho việc chọn số ngẫu nhiên cónhiều chữ số Bảng này được đánh số theo các hàng và các cột, với năm chữ số trong
mỗi cột.Ví dụ loại bảng này được trình bày ở phụ lục 1.
Công dụng đích thực của bảng số ngẫu nhiên rất quan trọng nhằm đảm bảo cho quátrình chọn lựa một mẫu ngẫu nhiên Có 4 bước khi sử dụng bảng này
Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất
Mục tiêu của định lượng đối tượng kiểm toán là gắn cho mỗi phần tử của tổng thểvới một con số duy nhất và từ đó ta có thể có được mối quan hệ giữa các số duy nhấttrong tổng thể với bảng số ngẫu nhiên
Thông thường đối tượng kiểm toán đã được mã hóa trước bằng con số duy nhấtchẳng hạn 1.000 phiếu chi được đánh số thứ tự từ 0001 đến 1.000 Tuy nhiên trong một
số trường hợp kiểm toán viên có thể cần thiết phải đánh số lại cho tổng thể để có thể cómột hệ thống số duy nhất tương thích với bảng số ngẫu nhiên Chẳng hạn, nếu các
Trang 7nghiệp vụ đã được đánh số A-001, B-001, thì kiểm toán viên có thể dùng các con số đểthay thế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001, 2-001
Trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số đã
có một cách tối đa để đơn giản hóa việc đánh số Ví dụ, trong một quyển sổ chứa cáckhoản mục tài sản kiểm toán gồm 60 trang, mỗi trang gồm 40 dòng Để có con số duynhất, có thể kết hợp số thứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có sốthứ tự từ 0101 đến 6040
Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với đối tượng được kiểm toán đã định
Do đối tượng kiểm toán đã được định lượng bằng các con số cụ thể nên vấn đề đặt ra
là trong bảng số ngẫu nhiên Có thể xảy ra một trong 3 trường hợp:
Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số
như các con số ngẫu nhiên trong bảng Khi đó quan hệ tương quan 1 - 1 giữa định lượngđối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên trong bảng tự nó đã được xác lập
Thứ hai, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng chữ số ít
hơn 5 chữ số Chẳng hạn, trong ví dụ nêu ở bước 1, kiểm toán viên cần chọn ra 100phiếu chi trong số 1.000 phiếu chi đánh số từ 0001 đến 1.000 Các số này là số gồm 4chữ số Do vậy, kiểm toán viên có thể xây dựng mối quan hệ với bảng số ngẫu nhiênbằng cách lấy 4 chữ số đầu hoặc 4 chữ số cuối của số ngẫu nhiên trong bảng Nếu trườnghợp số định lượng còn ít chữ số hơn nữa thì có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên
Thứ ba, các số định lượng của đối tượng kiểm toán có số các chữ số lớn hơn 5.
Khi đó đòi hỏi kiểm toán viên phải xác định lấy cột nào trong bảng làm cột chủ và chọnthêm những hàng số ở cột phụ của bảng Chẳng hạn, với số có 8 chữ số ta có thể ghépmột cột chính với 3 chữ số của một cột phụ nào đó để được số có 8 chữ số
Bước 3: Lập hành trình sử dụng bảng
Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn các số ngẫu nhiên Hướng đó có thể dọc(theo cột) hoặc ngang (theo hàng), có thể xuôi (từ trên xuống dưới) hoặc ngược (từ dướilên trên) Việc xác định này thuộc quyền phán quyết của kiểm toán viên song cần đượcđặt ra từ trước và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọn mẫu Một vấn đề cần phảiđược đặc biệt quan tâm ở đây là lộ trình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong hồ sơkiểm toán để khi một kiểm toán viên khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũngchọn được mẫu tương tự
Bước 4: Chọn điểm xuất phát
Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang Để chọn điểm xuất phát, bảng số ngẫunhiên nên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trong bảng đểlàm điểm xuất phát
Khi sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất hiệnnhiều hơn một lần Nếu kiểm toán viên không chấp nhận lần xuất hiện thứ hai trở đi thìcách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu không thay thế) Ngược lại,chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu thay thế) là cách chọn mà một phần tử trong tổng thể có thểđược chọn vào mẫu nhiều hơn một lần Trong hầu hết các trường hợp kiểm toán viênthường loại bỏ các số (phần tử) trùng lặp, hay nói cách khác là thường sử dụng chọnmẫu không thay thế Mặc dù chọn mẫu thay thế vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiên nhưng sốlượng phần tử mẫu thực tế khảo sát sẽ giảm đi và lúc đó độ tin cậy của mẫu chọn cũnggiảm theo
Trang 86.1.2 Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình của máy tính
Là phương pháp mà các hãng kiểm toán lớn thường sử dụng, họ thuê hoặc tự xâydựng các chương trình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy vi tính nhằm tiết kiệm thời gian vàgiảm sai sót trong mẫu
Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôn trọng haibước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên là lượng hoá đối tượngkiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữa đối tượng kiểmtoán đã định lượng với các con số ngẫu nhiên Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy vitính tạo ra
Thông thường, ở đầu vào của chương trình cần có số nhỏ nhất và số lớn nhất trongdãy số thứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và có thể cần có một sốngẫu nhiên làm điểm xuất phát Ở đầu ra thường là bảng kê số ngẫu nhiên theo trật tựlựa chọn hoặc theo dãy số tăng dần hoặc cả hai Chọn mẫu bằng chương trình máy vitính có thể loại bỏ được những số không thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bịtrùng lắp và tự động phản ánh kết quả vào giấy tờ làm việc Song ưu điểm nổi bật nhấtvẫn là làm giảm sai sót chủ quan do con người trong quá trình chọn mẫu
6.1.3 Chọn mẫu hệ thống
Chọn mẫu hệ thống là cách chọn sao cho chọn được các phần tử trong tổng thể cókhoảng cách đều nhau gọi là khoảng cách mẫu Khoảng cách mẫu này được tính bằngcách lấy số phần tử của tổng thể chia cho số phần tử của mẫu
Ví dụ, nếu tổng thể có kích thước (N) là 1.000 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn (n) là 20thì khoảng cách mẫu (k) sẽ được tính như sau:
Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn
sẽ lựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cách cố định Đơn vị mẫu đầu tiên đượcchọn ngẫu nhiên nên mỗi đơn vị ban đầu có cơ hội được chọn là ngang nhau Tuy nhiên,sau khi đơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗi đơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau
để được chọn vào mẫu Để tăng tính đại diện của mẫu kiểm toán viên cũng có thể chọnnhiều điểm xuất phát ngẫu nhiên Ví dụ, nếu ở ví dụ trên khoảng cách mẫu hiện tại là 50
và với số điểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết là 5 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh
là 250 (5 x 50) Năm điểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến
251 Sau đó tất cả các khoản mục cách nhau một khoảng cách k = 250 sẽ được chọn ra
kể từ điểm xuất phát ban đầu
Chọn mẫu hệ thống rất đơn giản, kiểm toán viên không cần đánh số lại tổng thể vìchỉ cần căn cứ vào khoảng cách là có thể xác định được phần tử nào sẽ được chọn vào
Trang 9lệch nếu các phần tử trong mẫu không được sắp xếp một cách ngẫu nhiên hoàn toàn Do
đó trước khi áp dụng chọn mẫu hệ thống cần xác định tổng thể có được sắp xếp ngẫunhiên không
6.2 Phương pháp chọn mẫu phi xác suất
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu trong đó các phần tửkhông có cơ hội như nhau để được lựa chọn vào mẫu mà kiểm toán viên dựa vào nhậnđịnh nghề nghiệp để phán xét và quyết định chọn phần tử nào vào mẫu Ba phương phápchọn mẫu phi xác suất phổ biến là phương pháp chọn mẫu theo khối, chọn mẫu tình cờ
và chọn mẫu theo xét đoán
6.2.1 Chọn mẫu theo khối
Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp các đơn vị kế tiếp nhau trong một tổngthể Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tử còn lạicũng được chọn tất yếu Mẫu chọn có thể là một khối liền hoặc nhiều khối rời gộp lại.Chẳng hạn, chọn ra một mẫu bao gồm tất cả các phiếu nhập kho trong tháng 7 và tháng 9
để kiểm tra nghiệp vụ nhập kho hàng hóa vật tư trong năm Hoặc kiểm toán viên cũng cóthể lấy tất cả các nghiệp vụ trong qúy 3 để kiểm tra sau đó suy rộng kết quả cho cả năm.Việc chọn mẫu theo lô đối với các cuộc khảo sát nghiệp vụ chỉ được chấp nhận nếu
số lượng lô là hợp lý Nếu quá ít lô thì khả năng có một mẫu không có tính đại diện là rấtlớn, có xét đến khả năng của những điều như những thay đổi của hệ thống kế toán, vàbản chất thời vụ của rất nhiều ngành nghề kinh doanh
Phương pháp chọn mẫu cả khối có ưu điểm là tổ chức gọn nhẹ, tiết kiệm thời gian,chi phí và không cần phải lập danh sách tất cả các đơn vị trong tổng thể Tuy nhiênphương pháp này cũng có nhược điểm là nếu các đơn vị mẫu tập trung, không phân bốđồng đều trong tổng thể sẽ làm giảm tính đại diện của mẫu nên sai số chọn mẫu sẽ tăng
Vì vậy, để phát huy được ưu điểm của chọn cả khối chúng ta nên sử dụng nó trongtrường hợp giữa các đơn vị trong mỗi khối có sự khác nhau đáng kể, song giữa các khốilại giống nhau về bản chất
6.2.2 Chọn mẫu tình cờ
Chọn mẫu tình cờ được thực hiện bằng cách kiểm toán viên xem lướt qua tổng thể vàlựa chọn các phần tử mà không chú ý đến quy mô, nguồn gốc, đặc điểm của chúng để cốgắng có một mẫu không thiên lệch Tuy nhiên tính chất không thiên lệch này khó có thểđảm bảo vì tùy theo mỗi người mà có những phần tử này được ưu tiên hơn những phần
tử khác Chính vì vậy nhược điểm nghiêm trọng nhất của cách chọn này là rất khó đểhoàn toàn vô tư khi chọn lựa các phần tử của mẫu
6.2.3 Chọn mẫu theo xét đoán
Chọn mẫu theo xét đoán là việc kiểm toán viên dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệpcủa mình để lựa chọn các phần tử của mẫu trong các trường hợp kích cỡ nhỏ hoặc có cáctình huống không bình thường thì chọn mẫu theo nhận định có cơ hội cho sự xuất hiệncủa mẫu đại diện Khi chọn mẫu theo xét đoán
Theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ: Nếu có nhiều loại nghiệp vụ trong phạm
vi kiểm toán thì mỗi nghiệp vụ nên có mặt trong mẫu được chọn
Theo người phụ trách công việc: Nếu có nhiều người phụ trách về nghiệp vụtrong kỳ thì mẫu được chọn nên bao gồm nghiệp vụ của mỗi người
Trang 10 Theo qui mô của nghiệp vụ kinh tế: Các nghiệp vụ, khoản mục có số tiền lớncần được chọn nhiều hơn để kiểm tra.
7 Kỹ thuật phân tổ trong kiểm toán
Kiểm toán viên thường phân tổng thể thành các tổ trước khi xác định quy mô củamẫu cũng như thực hiện chọn mẫu Phân tổ là kỹ thuật phân chia tổng thể thành nhiềunhóm nhỏ hơn (gọi là tổ hoặc tầng) mà các phân tử trong cùng một nhóm có những đặctính khá tương đồng nhau thường theo quy mô lượng tiền Các tổng thể con sẽ đượcchọn mẫu độc lập và kết quả của các mẫu được đánh giá một cách độc lập hoặc kết hợp
để từ đó suy ra kết quả của toàn tổng thể Nhiệm vụ của kiểm toán viên là phải phân định
tổ một cách rõ ràng để mỗi đơn vị mẫu chỉ thuộc một tổ
Việc phân tổ sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một tổ và giúp kiểm toán viên cóthể tập trung vào những bộ phận chứa đựng nhiều khả năng sai phạm Với kỹ thuật phân
tổ các phân tử có đặc trưng bất thường sẽ được tách ra thành các tổng thể con riêng biệt,mỗi tổng thể mới đồng nhất với tổng thể cũ điều đó giúp cho việc lấy mẫu đại diện chotổng thể dễ dàng hơn
Bên cạnh đó, phân tổ giúp kiểm toán viên gắn việc chọn mẫu với khái niệm trọngyếu, đồng thời áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp cho mỗi tổ
Ví dụ khi lựa chọn các khoản phải thu để xác nhận kiểm toán viên có thể phân tổ vàthử nghiệm như sau:
1 22 Các khoản từ 100 triệu trở lên Kiểm tra 100%
2 121 Các khoản từ 10 đến 100 triệu Dựa vào bảng số
ngẫu nhiên
3 85 Các khoản nhỏ hơn 10 triệu Chọn hệ thống
4 14 Các khoản có số dư có Kiểm tra 100%
8 Chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện khi kiểm toán viên cho rằng hệ thống kiểmsoát nội bộ có được thiết kế và vận hành hiệu quả tức là rủi ro kiểm soát được đánh giáthấp, kiểm toán viên sẽ dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị để giảm bớt cácthử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Dựa trên sự hiểu biết về hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên xác định các đặc điểm của một thủ tục kiểmsoát được thực hiện, cũng như các điều kiện dẫn đến sai phạm nếu không thực hiện đầy
đủ thủ tục kiểm soát Sau đó, kiểm toán viên có thể thử nghiệm về sự tồn tại hay khôngtồn tại của các đặc điểm đó
Như vậy thử nghiệm kiểm soát được dùng để cung cấp cho kiểm toán viên các bằngchứng về khả năng đảm bảo ngăn chặn và phát hiện các sai sót trọng yếu của hệ thốngkiểm soát nội bộ
Lấy mẫu kiểm toán cho thử nghiệm kiểm soát thường thích hợp khi thực hiện các thủtục kiểm soát đã để lại bằng chứng về sự thực hiện và phương pháp chọn mẫu thườngđược áp dụng một cách rộng rãi trong thử nghiệm kiểm soát là chọn mẫu thuộc tính.Chọn mẫu thuộc tính là một phương pháp được dùng để ước tính tỷ lệ của các phần
tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc một thuộc tính được quan tâm Tỷ lệ
Trang 11này được gọi là tần số xuất hiện và là tỷ số của phần tử có chứa thuộc tính đặc thù vớitổng số phần tử trong tổng thể Tần số xuất hiện thường được biểu hiện bằng số tỷ lệ.Kiểm toán viên thường quan tâm đến sự xuất hiện các ngoại lệ của tổng thể và xem tần
số xuất hiện là tần số lệch lạc hoặc tần số sai số
Như vậy, chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát hầu như chỉ có phương pháp chọnmẫu thuộc tính là thông dụng, phổ biến và thường xuyên được sử dụng nhất Vì vậy ởphần này sẽ trình bày chọn mẫu cho thử nghiệm kiểm soát theo phương pháp chọn mẫuthuộc tính
8.1 Xác định mục tiêu của thử nghiệm kiểm soát
Mục tiêu của thử nghiệm kiểm soát là nhằm thu thập các bằng chứng về sự thiết kế
và hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm toán viên thực hiện thửnghiệm kiểm soát nhằm để khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được họ đánh giá trongkhâu lập kế hoạch Do vậy, việc chọn mẫu thuộc tính để kiểm tra sẽ cung cấp cho kiểmtoán viên những bằng chứng rằng một hệ thống kiểm soát nội bộ cụ thể đang hoạt độnghữu hiệu và thích đáng nhằm khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được đánh giá sơ bộtrong khâu lập kế hoạch
8.2 Xác định các thuộc tính và định nghĩa sai phạm
Kiểm toán viên sử dụng những nhận định nghề nghiệp để xác định những thuộc tính
và các điều kiện sai lệch cho một thử nghiệm kiểm soát cụ thể
Thuộc tính là những đặc điểm mà nó cung cấp những minh chứng rằng một hoạtđộng kiểm soát đã được thực hiện Ví dụ sự hiện diện các chữ ký của một cá nhân cótrách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm soát trên một số tài liệu thích hợp
Khi mà phần tử không có một hoặc một vài thuộc tính đó thì phần tử đó được gọi làmột sai phạm Chẳng hạn kiểm toán viên đang thực hiện một thử nghiệm kiểm soát đốivới việc đo lường các nghiệp vụ bán hàng Một trong những hoạt động kiểm soát màkiểm toán viên quyết định thử nghiệm là rà soát lại các hóa đơn bán hàng mà đã đượckiểm tra bởi một nhân viên kế toán Việc kiểm tra của nhân viên kế toán bao gồm:
So sánh lượng trên hóa đơn với các chứng từ vận chuyển
So sánh giá trên mỗi hóa đơn với bảng giá đã được phê chuẩn
Kiểm tra tính chính xác số học của mỗi hóa đơn
Ký trên hóa đơn để khẵng định hóa đơn đã được kiểm tra
Trong khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát này, kiểm toán viên có thể xem mộtnghiệp vụ là sai phạm nếu tồn một hoặc một số các điều kiện sau đây:
Số lượng trên hóa đơn không khớp với chứng từ vận chuyển
Giá trên hóa đơn không khớp với bảng giá đã được phê chuẩn
Hóa đơn vẫn tồn tại những sai sót về mặt số học
Không có chữ ký thể hiện hóa đơn đã được kiểm tra
Cần lưu ý, các thuộc tính và những điều kiện sai phạm cần được xác định rõ trướckhi thử nghiệm kiểm soát được thực hiện
Trang 128.3 Xác định tổng thể
Kiểm toán viên phải xác định tổng thể mà mẫu được chọn ra phải phù hợp với mụctiêu kiểm toán cụ thể Chẳng hạn kiểm toán viên muốn kiểm tra tính hiệu lực của mộthoạt động kiểm soát được thiết kế nhằm khẳng định tất cả các phiếu chi đã được ghichép đầy đủ thì khi đó kiểm toán viên sẽ không chọn mẫu từ sổ chi tiết tiền mặt vì tổngthể đó bao gồm tất cả các phiếu chi đã được ghi sổ và có thể không bao gồm các phiếuchi chưa được ghi sổ Tổng thể hợp lý để phát hiện ra sai phạm đó phải là một tổng thểbao gồm các nghiệp vụ chi tiền cụ thể là tập chứng từ lưu các phiếu chi
Kiểm toán viên phải xác định được tổng thể cần kiểm tra, việc xác định được tổngthể là rất quan trọng vì tất cả các kết luận đều nhằm vào tổng thể mà mẫu được chọn ra.Tuỳ theo từng loại hình kiểm tra, từng mục tiêu kiểm toán mà tổng thể đó được xác định
có những đặc điểm khác nhau, tuy vậy tổng thể được xác định phải đảm bảo hai yêu cầu:
Phù hợp: Tổng thể phải phù hợp với mục đích của việc chọn mẫu Ví dụ, nếu
mục tiêu của kiểm toán viên là kiểm tra xem các khoản phải thu có bị cao hơn thực tếkhông, thì tổng thể là danh sách các khoản phải thu
Đầy đủ: Tổng thể phải luôn đầy đủ Ví dụ, nếu kiểm toán viên định chọn các
phiếu nhập kho từ một hồ sơ, nếu không đảm bảo rằng hồ sơ có lưu giữ đầy đủ các phiếunhập thì không thể rút ra kết luận về tất cả các phiếu nhập kho trong kỳ Tương tự, nếukiểm toán viên có ý định sử dụng mẫu để đưa ra kết luận về hoạt động của hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ trong kỳ báo cáo thì tổng thể phải bao gồm tất cả cácphần tử liên quan trong kỳ đó
8.4 Xác định các phương pháp lựa chọn các phần tử
Nếu sử dụng phương pháp chọn mẫu thống kê thì phương pháp lựa chọn các phần tửcủa mẫu là ngẫu nhiên Còn nếu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi thống kê thì phươngpháp lựa chọn các phần tử mẫu là phi xác suất Chẳng hạn, kiểm toán viên có thể lựa chọnphương pháp chọn mẫu thống kê bằng cách sử dụng bảng số ngẫu nhiên
8.5 Xác định cỡ mẫu
Các yếu tố cơ bản quyết định đến cỡ mẫu trong thử nghiệm kiểm soát bao gồm: rủi
ro về độ tin cậy cao hệ thống kiểm soát nội bộ, tỉ lệ sai phạm cho phép và ước lượng tỉ lệsai phạm của tổng thể Ngoài ra kích thước tổng thể cũng ảnh hưởng tới kích cỡ mẫunhưng chỉ khi tổng thể rất nhỏ
• Rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ (Risk of Overreliance_ROR)
Rủi ro về độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm rủi ro do độ tin cậythấp và rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ Tuy nhiên đối với rủi ro
về độ tin cậy thấp vào hệ thống kiểm soát nội bộ tức là kết quả mẫu làm kiểm toán viênđánh giá rủi ro kiểm soát là cao hơn so với thực tế do đó họ sẽ thực hiện các thử nghiệm
cơ bản nhiều hơn mức cần thiết Như vậy điều này chỉ không mang lại hiệu quả của cuộckiểm toán Riêng đối với rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ tức làkhả năng kết quả mẫu làm cho kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn thực tế.Như vậy kiểm toán viên dựa quá nhiều vào kiểm soát nội bộ, họ sẽ giảm các thử nghiệm
cơ bản một cách không đúng đắn dẫn đến tính hiệu lực của kiểm toán giảm xuống
Kiểm toán viên sẽ xác định rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộdựa vào nhận định nghề nghiêp Tuy nhiên với những lý do nêu trên kiểm toán viên phải
Trang 13xác định rủi ro phải ở mức thấp từ 5% đến 10% Nói cách khác nếu mức rủi ro do độ tincậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ thấp là 5% thì đồng nghĩa với mức tin cậy 95%.
• Mức sai phạm có thể bỏ qua (Tolerable Deviation Rate_TDR)
Mức sai phạm có thể bỏ qua là tỉ lệ sai phạm tối đa của tổng thể đối với một thủ tụckiểm soát nào đó mà kiểm toán viên có thể bỏ qua Tỷ lệ sai phạm có thể bỏ qua (ký hiệu
là TDR) càng cao thì cỡ mẫu càng nhỏ
Cũng như rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, việc xác địnhmức sai phạm có thể bỏ qua cũng dựa trên phán đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên vàxác định dựa vào mức rủi ro kiểm soát ban đầu và tầm quan trọng của thủ tục kiểm soát(thủ tục kiểm soát càng quan trọng thì TDR càng thấp)
Theo kinh nghiệm của kiểm toán viên tỉ lệ sai phạm có thể bỏ qua có thể biến đổinhư sau:
• Tỷ lệ sai phạm kỳ vọng của tổng thể (Expected Population Deviation Rate – EDR)
Tỉ lệ sai phạm kỳ vọng của tổng thể là tỉ lệ sai phạm kiểm toán viên dự kiến sẽ pháthiện trong mẫu lấy ra từ tổng thể Tỷ lệ sai phạm dự kiến của tổng thể (ký hiệu là EDR)cao, tức là kiểm toán viên phán đoán sai phạm lớn, thì cỡ mẫu cần thiết lớn
Để ước lượng tỉ lệ sai phạm kỳ vọng của tổng thể kiểm toán viên thường sử dụngkết quả mẫu từ năm trước, chúng thường được lưu trong hồ sơ kiểm toán Kiểm toánviên cũng có thể ước lượng dựa vào kinh nghiệm của mình với các thử nghiệm tương tựđối với các cuộc kiểm toán khác, hoặc bằng việc kiểm tra thử một mẫu nhỏ
Như vậy, tổng hợp các nhân tố ảnh hướng đến cỡ mẫu được tập hợp trong bảng sau:
tố
Ảnh hưởng tới
cỡ mẫu cần có
Yêu cầu của kiểm toán viên:
- Rủi ro độ tin cậy cao vào kiểm soát nội bộ
(ROR)
- Mức sai phạm có thể bỏ qua (TDR)
TăngTăng
Giảm
GiảmCác đặc trưng của tổng thể:
- Tỷ lệ sai phạm dự kiến của tổng thể (EDR)
- Quy mô tổng thể TăngTăng Tăng (ẢnhTăng
hưởng khôngđáng kể)Trên cơ sở xác định rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, mức saiphạm có thể bỏ qua và tỉ lệ sai phạm kỳ vọng của tổng thể kiểm toán viên sẽ sử dụng
Trang 14công thức thống kê để xác định cỡ mẫu cần thiết nếu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộctính thống kê Tuy nhiên để giúp cho kiểm toán viên ứng dụng chọn mẫu thuộc tính mà
không cần đến công thức toán học phức tạp phụ lục 2 được xây dựng để hổ trợ cho kiểm
toán viên xác định kích cỡ mẫu cho thử nghiệm kiểm soát với mức 5% và 10% rủi ro về
độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ Các bảng này được lấy từ sổ tay hướngdẫn cách chọn mẫu kiểm toán của AICPA (Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ).Khi sử dụng bảng để tính qui mô mẫu ban đầu, phải thực hiện bốn bước:
(1) Chọn bảng có liên quan với mức rủi ro do độ tin cậy cao
(2) Định vị tỉ số sai phạm chấp nhận được ở phía trên bảng
(3) Định vị tỉ số sai phạm ước lượng ở cột ngoài cùng bên trái
(4) Đọc theo cột tỉ số sai phạm chấp nhận được thích hợp cho đến dòng tỉ số sai phạmước lượng thích hợp Con số nằm trên giao điểm này là qui mô mẫu ban đầu.Khi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính phi thống kê, kiểm toán viên cũng dựa vàorủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ và mức sai phạm có thể bỏ qua đểxác định cỡ mẫu theo xét đoán nghề nghiệp nhưng không cần định lượng nhân tố này
8.6 Lựa chọn và kiểm tra các phần tử của mẫu
Sau khi xác định được qui mô của mẫu cần chọn kiểm toán viên sẽ tiến hành việc lựachọn các phần tử của mẫu theo phương pháp chọn mẫu đã xác định Khi chọn các phần
tử mẫu, kiểm toán viên cần phải chọn các phần tử bổ sung nhằm thay thế các phần tửkhông hợp lệ Một phần tử không hợp lệ là phần tử không mang một thuộc tính cụ thểtheo yêu cầu
Sau khi chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm toán đểtìm ra các sai phạm của mẫu Kiểm toán viên cần chú ý tới các dấu hiệu không bìnhthường chẳng hạn biểu hiện gian lận Các thủ tục kiểm toán được thực hiện giống nhautheo cùng cách thức khi chọn mẫu thống kê hay chọn mẫu phi thống kê Kiểm toán viênkiểm tra từng phần tử trong mẫu để xác định liệu xem nó có phù hợp với định nghĩathuộc tính hay không và duy trì sự ghi chép về tất cả các sai phạm tìm được
8.7 Đánh giá kết quả mẫu
Sau khi kiểm tra các khoản mục mẫu cũng như tóm tắt các sai phạm so với thực tế,kiểm toán viên phải đánh giá kết quả mẫu Khi đánh giá kết quả mẫu, kiểm toán viênkhông chỉ xem xét sai phạm thực tế quan sát được mà còn phải đánh giá bản chất của saiphạm đó
Khi kiểm toán viên áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính thống kê, việc đánh giá cóthể thực hiện bằng hai cách:
• Cách thứ nhất: Căn cứ vào việc so sánh giữa số sai phạm cho phép xuất hiện
trong mẫu với số sai phạm thực tế xuất hiện trong mẫu Sai phạm cho phép xuất hiệntrong mẫu được xác định qua bảng cỡ mẫu thống kê cho thử nghiệm kiểm soát, tỉ lệ sai
phạm cho phép là con số nằm trong ngoặc đơn được thể hiện trong phụ lục 2 Khi sai
phạm tìm được trong mẫu mà không vượt quá số sai phạm cho phép (con số trong ngoặcđơn) thì kiểm toán viên kết luận rằng tỷ lệ sai phạm của tổng thể không vượt quá tỷ lệsai phạm cho phép, do vậy mức rủi ro kiểm soát đánh giá ban đầu là phù hợp Nhưngnếu sai phạm tìm thấy trong mẫu mà vượt quá sai phạm cho phép thì khi đó, kiểm toánviên kết luận rằng tỷ lệ sai phạm của tổng thể lớn hơn tỷ lệ sai phạm cho phép, do đó rủi
ro kiểm soát được đánh giá ban đầu như kế hoạch là không đúng, cần đánh giá tăng rủi
Trang 15• Cách thứ 2: Căn cứ vào việc so sánh giữa tỷ lệ sai phạm tối đa của tổng thể
(AUDR) với mức sai phạm có thể bỏ qua (TDR) Kiểm toán viên phải tính toán tỉ lệ saiphạm tối đa (AUDR) ở mức rủi ro chấp nhận được của độ tin cậy cao vào hệ thống kiểmsoát nội bộ (ROR) AUDR là tỉ lệ sai phạm cao nhất của tổng thể AUDR được xác định
bằng cách sử dụng một bảng biểu chọn mẫu thuộc tính, như phụ lục 3, sau đó AUDR
- Phát hiện một hay vài dấu hiệu gian lận, kiểm toán viên cần phải:
+ Đánh giá các ảnh hưởng của các sai phạm đến báo cáo tài chính
+ Thực hiện các thủ tục kiểm toán thích hợp để thu thập bằng chứng về loạisai phạm này
Nếu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính phi thống kê, kiểm toán viên so sánh tỷ lệsai phạm của mẫu với TDR Nếu tỷ lệ sai phạm của mẫu khá nhỏ so với TDR thì có thểkết luận, mức ROR có thể chấp nhận được Còn nếu tỷ lệ sai phạm của mẫu gần bằngvới TDR thì kết luận tỷ lệ sai phạm của tổng thể khó có thể nhỏ hơn TDR, lúc này kiểmtoán viên cần áp dụng sự xét đoán để xác định khi nào cần giảm bớt sự tin cậy vào kiểmsoát nội bộ, hay cần phải đánh giá tăng rủi ro kiểm soát
8.8 Lập tài liệu về các thủ tục chọn mẫu
Kết thúc quá trình lấy mẫu thuộc tính, kiểm toán viên sẽ dẫn chứng tất cả các khíacạnh quan trọng của các bước trước đó trong hồ sơ kiểm toán
9 Chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và
số dư Thử nghiệm cơ bản chỉ liên quan đến giá trị các khoản mục Các thử nghiệm cơbản được thiết kế để phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính
Do đó, kỹ thuật lấy mẫu cho thử nghiệm cơ bản được thiết kế để ước lượng số tiền saisót ở một số dư tài khoản
Chọn mẫu kiểm toán cho các thử nghiệm cơ bản thường được tiến hành qua các bướcsau:
1 Xác định mục đích của thử nghiệm
2 Xác định tổng thể
3 Chọn lựa kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán
4 Xác định cỡ mẫu
5 Quyết định phương pháp chọn lựa các phần tử của mẫu
6 Chọn lựa và kiểm tra các phần tử của mẫu
7 Đánh giá kết quả mẫu
8 Lập tài liệu về các thủ tục chọn mẫu
Để thực hiện chọn mẫu kiểm toán, kiểm toán viên có thể áp dụng các kỹ thuật chọnmẫu theo đơn vị tiền tệ hoặc chọn mẫu biến đổi
9.1 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là cách chọn lấy 1 đơn vị tiền tệ làm đơn vị tổng thể
Do vậy, tổng thể sẽ là tổng số tiền luỹ kế của đối tượng kiểm toán và đơn vị mẫu cũng sẽ
Trang 16Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ hay được sử dụng vì những lý do sau:
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ tự động làm tăng khả năng của việc chọn cácphần tử có số tiền cao từ tổng thể đang được kiểm toán Trong các cuộc kiểm toán kiểmtoán viên thường thực hiện tập trung vào những phần tử này vì nói chung chúng đại diệncho mức rủi ro cao nhất của các sai phạm trọng yếu
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ dễ áp dụng, vì nó thuận tiện cho việc sử dụngmáy tính
Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ luôn luôn đem lại một kết luận mang tính thống
kê là một số tiền
Tuy nhiên, khi áp dụng chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng có một số hạn chế như:chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ từ các tổng thể lớn mà không có sự giúp đỡ của máy tính cóthể kém hiệu quả, trong các trường hợp các khoản mục không đồng nhất về tính trọngyếu biểu hiện qua số tiền thì chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ có thể không phát huy tính ưuviệt nói trên Các phần tử của tổng thể có số dư ghi sổ là 0 không có cơ hội được chọntrong quá trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ dù có thể chúng đã bị báo cáo sai, các số dưnhỏ mà bị báo cáo thiếu đáng kể cũng có ít cơ hội được chọn vào mẫu, khả năng các số
dư âm không được đưa vào mẫu thí dụ như các số dư có trong các khoản phải thu
Kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng sử dụng các cách như chọn mẫu dựa theobảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu dựa trên chương trình máy vi tính và chọn mẫu hệ thống
9.2 Chọn mẫu biến đổi
Là một kỹ thuật giúp kiểm toán viên ước lượng bằng chỉ tiêu giá trị, kỹ thuật này rấthữu ích trong kiểm toán Thí dụ: kiểm toán viên có thể dùng kỹ thuật chọn mẫu biến đổi
để ước lượng giá trị hàng tồn kho, ước lượng các khoản phải thu khách hàng
9.2.1 Chọn mẫu biến đổi thống kê
Các phương pháp chọn mẫu biến đổi thống kê bao gồm ước lượng trung bình đơn vị,ước lượng tỉ số và ước lượng sai biệt
9.2.1.1 Phương pháp ước lượng bình quân đơn vị
Là phương pháp ước lượng giá trị trung bình của một phần tử trong tổng thể bằngcách xác định giá trị trung bình mẫu với mức rủi ro chọn mẫu định trước
Xác định cỡ mẫu được xác định theo công thức sau:
Cỡ mẫu = Kích thước tổng thể x Hệ số từ chối sai x Độ lệch chuẩn ước tính
Khoảng ước lượng dự kiếnTrong đó:
• Độ lệch chuẩn của một tổng thể là thước đo sự phân tán của giá trị các phần tửđối với giá trị trung bình của tổng thể Giá trị các phần tử càng cách biệt nhau nhiều thì
độ lệch chuẩn của tổng thể càng lớn Độ lệch chuẩn được tính bằng công thức sau:
Trang 172 1
N
i
xi x N
=
−
∑
Trong thực tế, kiểm tốn viên khơng tính được độ lệch chuẩn của tổng thể, thay vào
đĩ kiểm tốn viên tính được bằng cách rút ra từ một mẫu thử nghiệm với khoảng 50phần tử với một cơng thức thống kê như sau:
1
) (
n
i
• Khoảng ước lượng dự kiến: là phạm vi cộng thêm hay trừ đi xung quanh kết quảmẫu và giá trị tổng thể được kỳ vọng là nằm trong khoảng đĩ Khoảng ước lượng dựkiến là khoảng ước lượng tạm tính để xác định cỡ mẫu, nĩ được tính bằng cơng thức:
sai chối từ số Hệ
sai nhận chấp số Hệ 1
qua bỏ thể có lầm Sai +
=
kiến dự lượng ước Khoảng
Hệ số từ chối sai được hình thành từ rủi ro từ chối sai Rủi ro từ chối sai của một tổngthể là khả năng kết quả mẫu chỉ ra rằng tổng thể mẫu cĩ sai sĩt trọng yếu, trong khi thực
tế khơng cĩ sai sĩt trọng yếu Rủi ro này tương tự như rủi ro do độ tin cậy thấp vào kiểmsốt nội bộ Loại này cĩ thể mang lại sự khơng hiệu quả trong kiểm tốn
Từ mức rủi ro từ chối sai và mức rủi ro chấp nhận sai đã định, kiểm tốn viên sẽ tìm
được hệ số chấp nhận sai và hệ số từ chối sai bằng cách tra bảng hệ số rủi ro (phụ lục 4)
Đánh giá kết quả mẫu:
Từ cỡ mẫu cần thiết, kiểm tốn viên tiến hành chọn lựa và kiểm tra các phần tử mẫu.Qua đĩ, xác định được:
- Giá trị trung bình mẫu:
n
xi x
xi : Giá trị phần tử i trong mẫu
x : Giá trị trung bình của mẫu
n : Số phần tử của mẫu
xi : Giá trị phần tử thứ i của mẫu
x : Giá trị trung bình
của mẫu
n : Số phần tử của mẫu
Trang 18- Độ lệch chuẩn của mẫu:
1
) (
mẫu của
chuẩn lệch Độ x sai nhận
chấp số Hệ x thể tổng
thước Kích qua
bỏ
thể có
lầm Sai chỉnh
của thước Kích x
toán kiểm mẫu
bình trung trị Giá thể
tổng của
tính ước trị Giá
Ước lượng trung bình là một phương pháp cĩ độ tin cậy cao dù rằng tổng thể cĩ mức
độ sai sĩt cao hay thấp, quy mơ sai sĩt lớn hay nhỏ, sai sĩt một bên hoặc sai sĩt cả haibên Phương pháp này chỉ khơng chính xác nếu các giá trị phần tử trong tổng thể bị lệchnhiều Phương pháp này cịn cĩ ưu điểm là chỉ cần giá trị kiểm tốn của mỗi phần tử
9.2.1.2 Phương pháp ước lượng tỷ số và ước lượng sai biệt
Ước lượng tỷ số: Kiểm tốn viên dùng một mẫu để ước lượng tỷ số giữa giá trị kiểm
tốn và giá trị sổ sách của một tổng thể Tỷ số này được ước lượng bằng cách chia tổng
số giá trị đúng của mẫu cho tổng số giá trị sổ sách của các phần tử trong mẫu theo cơngthức sau:
1
1
Sau đĩ, giá trị ước lượng của tổng thể sẽ được tính bằng cách nhân R với giá trị sổsách của tổng thể
Ước lượng sai biệt: Kiểm tốn viên dùng một mẫu để ước lượng mức sai biệt trung
bình giữa giá trị đúng và giá trị sổ sách của một phần tử trong tổng thể Mức sai biệttrung bình được tính bằng cách chia tổng số sai biệt giữa giá trị đúng và giá trị sổ sáchcủa các phần tử của mẫu theo cơng thức sau:
R : Tỷ số ước lượng giữa giá trị kiểm tốn và giá trị sổ sách
aj: Giá trị kiểm tốn của phần tử thứ j
bj: Giá trị sổ sách của phần tử thứ j
n : Số phần tử của mẫu
Trang 191
Sau đó, tổng số sai biệt giữa giá trị sổ sách của tổng thể và giá trị đúng được ước tính
sẽ được xác định bằng cách nhân sai biệt trung bình với số lượng phần tử của tổng thể
9.2.2 Chọn mẫu biến đổi phi thống kê
Sự khác biệt chủ yếu trong chọn mẫu thống kê và phi thống kê trong các thử nghiệm
cơ bản là xác định cỡ mẫu và đánh giá kết quả mẫu
- Xác định cỡ mẫu: Chọn mẫu biến đổi phi thống kê vẫn phải xem xét các nhân tốảnh hưởng đến cỡ mẫu nhưng không định lượng được các nhân tố đó Sự ảnh hưởng cácnhân tố được trình bày như sau:
- Đánh giá kết quả mẫu: Từ sai sót tìm được trong mẫu, kiểm toán viên dự đoán saisót trong tổng thể (sai sót dự kiến), có xem xét đến rủi ro lấy mẫu nhưng không địnhlượng được rủi ro này
- Khi sai sót ước lượng dự kiến lớn hơn sai sót có thể bỏ qua, kiểm toán viên kếtluận tổng thể có khả năng sai sót trọng yếu Ngược lại khi sai sót dự kiến nhỏ hơn sai sót
có thể bỏ qua, kiểm toán viên phải xét đoán xem liệu có thể chấp nhận tổng thể không cósai sót trọng yếu hay không Sai sót dự kiến càng gần với sai sót có thể bỏ qua, khả năng
có sai sót trọng yếu trong tài khoản sẽ càng lớn
d : Sai biệt trung bình giữa giá trị kiểm toán và giá trị
sổ sách
aj : Giá trị kiểm toán của phần tử thứ j
bj : Giá trị sổ sách của phần tử thứ j
n : Số phần tử của mẫu
Trang 20PHẦN II: THỰC TẾ VẬN DỤNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN
VÀ KẾ TOÁN AAC
1 Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Tên giao dịch bằng tiếng Anh : Auditing and Accounting Company AAC LimitedTrụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh TP Đà Nẵng
AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc lựachọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm yếttrên sàn giao dịch chứng khoán Năm 2008 cũng là năm thứ hai AAC được Ủy banChứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuận đủ điều kiện để kiểm toán các tổ chứcphát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam theo
Quyết định số 02/2008/QĐ-UBCK ngày 02/01/2008
Ngày 06/01/2008 vừa qua, AAC đã được Hội đồng xét trao giải “ Thương mại Dịch
vụ - Top Trade Services 2007 ” - Bộ Thương mại bình chọn là một trong 06 công tykiểm toán được nhận giải cup “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services 2007” Giảithưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu hoạt động trong 11 lĩnh vựcThương mại dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO, đã có nhữngđóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thương mại
dịch vụ nói riêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểm toán Giải thưởng “Top Trade
Service 2007” một lần nữa góp phần làm phong phú thêm bảng thành tích mà AAC đãđạt được trong những năm qua, đặc biệt là tăng cường vị thế, uy tín và thương hiệu củaAAC trên thị trường dịch vụ kiểm toán và kế toán
Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã trở thành thành viêncủa hãng Kiểm toán quốc tế Polaris International Đây được coi là bước ngoặc lớn trongquá trình phát triển của công ty
1.2 Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển
AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung thực và bí mật số liệu
của khách hàng, đó cũng chính là lời cam kết của công ty đối với mọi khách hàng trên
Trang 21với thực tiễn Hoạt động của AAC nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừa những rủi rocho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi
và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
và thông lệ kiểm toán quốc tế Phù hợp với những quy định hiện hành về hoạt động kiểmtoán của Nhà nước Việt Nam
AAC có đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, chất lượng cao, uy tín Đạo đức nghềnghiệp và ý thức trách nhiệm cao Không những thế AAC còn có hệ thống đội ngũ kiểmtoán được đào tạo có hệ thống ở Việt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Úc, Nhật Bản…và có nhiềukinh nghiệm thực tế về kiểm toán và tư vấn tài chính – kế toán- thuế ở Việt Nam và quốc
tế, 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên cao cấp của AAC được đào tạotrực tiếp từ các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của cộng đồng châu âu thông quachương trình hợp tác kiểm toán và kế toán của dự án EURO- TAPVIET do cộng đồngchâu âu tài trợ Ngoài ra, nhân viên của AAC còn được đào tạo chuyên sâu bởi cácchương trình đào tạo trên đại học về tài chính kế toán, luật ở Việt Nam và các nước khácnên suốt quá trình phát triển công ty tạo dựng được lòng trung thành của khách hàng, cácnhà đầu tư ở khắp nơi Nhờ có đội ngũ kiểm toán chất lượng cao, ý thức trách nhiệm vàđạo đức nghề nghiệp trong sáng nên quá trình hoạt động AAC chưa hề xãy ra sai sót, rủi
ro cho khách hàng, AAC luôn được các nhà đầu tư, các cơ quan chức năng tín nhiệm vàđánh giá cao về chất lượng phục vụ
1.3 Các dịch vụ của công ty
Công ty kiểm toán và kế toán AAC được cấp giấy phép hoạt động trong việc cungcấp các dịch vụ về kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính và quản lý, dịch vụ đào tạo vàtuyển dụng, dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ tin học Trong các dịch vụ được phép cung cấpthì công ty chủ yếu hoạt động ở ba lĩnh vực là kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính vàquản lý – đây là những hoạt động thường xuyên và đem lại doanh thu chính cho công ty;trong đó kiểm toán là hoạt động chính của công ty
Dịch vụ kiểm toán :
Đây là hoạt động chính mang lại doanh thu cho công ty, và nhờ hoạt động kiểm toáncông ty được biết đến như là một công ty hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực kiểmtoán, được nhiều khách hàng tín nhiệm và hợp tác
Trong lĩnh vực kiểm toán, công ty cung cấp dịch vụ về hầu hết các mảng kiểm toán như:
- Kiểm toán báo cáo tài chính
- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành (kiểm toán xây dựng cơ bản)
- Kiểm toán báo cáo quyết toán dự toán
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán tuân thủ
- Kiểm toán nội bộ
- Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế
- Kiểm toán thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước
Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xây dựng cơ bản là hai mảngchính trong lĩnh vực kiểm toán
Dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng đào tạo: Thế giới hiện nay đang thay đổi từng phút từng
giây để có được thành công mỗi người phải biết nắm bắt từng cơ hội đồng thời phải biếtkiểm soát các rủi ro Thông qua việc cung cấp các nghiệp vụ tư vấn hiệu quả và các khóahọc cập nhật các kiến thức mới nhất AAC đã tham gia thành công vào việc giúp cáckhách hàng của mình thích ứng với môi trường mới
Các dịch vụ tư vấn và đào tạo do AAC cung cấp bao gồm
Trang 22• Đăng ký chế độ kế toán doanh nghiệp
• Tư vấn thực hành thuế
• Tư vấn đầu tư và thủ tục cấp phép
• Tư vấn thành lập doanh nghiệp
• Tư vấn xác định giá trị và cổ phần hóa doanh nghiệp
• Tư vấn tổ chức bộ máy kế toán
• Tư vấn tài chính
• Tổ chức lớp chuẩn mực kiểm toán và kế toán
• Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ
• Tổ chức lớp ôn tập và cấp chứng chỉ hành nghề kế toán
• Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng
• Tổ chức lớp thực hành kế toán
• Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán
Dịch vụ tư vấn thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càng đống vai trò quan trọng do
các quy định về thuế ngày càng phức tạp Thông qua đội ngũ các chuyên gia am hiểu vềcác sắc thuế và tận tâm AAC sẵn sàng hộ trợ các khách hàng hoàn thành đúng các nghĩa
vụ thuế với nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các lợi thế về thuế trong hoạt động kinhdoanh để tăng lợi ích của chủ sở hữu công ty Đối với nhiều cá nhân thuế thu hút được
sự quan tâm ngày càng nhiều hơn Với khả năng của mình AAC giúp khách hàng củamình có đầy đủ sự tự tin hoàn thành nghĩa vụ thuế của nhà nước cũng như đảm bảo đượcgiá trị tài sản của mình AAC sẵn sàng bảo vệ khách hàng trong mọi trường hợp tranhchấp xãy ra AAC luôn nỗ lực để xây dựng uy tín của chính mình, niềm tin đối vớikhách hàng không chỉ vì khách hàng, vì nhà nước mà còn vì cộng đồng
Các dịch vụ thuế AAC cung cấp bao gồm:
• Đăng ký và kê khai thuế
• Tư vấn kế hoạch thuế
• Cung cấp các văn bản thuế có liên quan
Dịch vụ tin học: Đây là lĩnh vực khá mới và chưa thực sự mạnh trong hoạt động của
công ty Trong hoạt động này, công ty cung cấp dịch vụ:
• Cung cấp và tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán vàquản lý
• Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học
• Các dịch vụ khác có liên quan
1.4 Khách hàng chính của công ty
Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC là công ty kiểm toán lớn nhất miền trunghiện nay Với đội ngũ nhân viên tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao đã tạonên hình ảnh công ty uy tín trong tâm trí khách hàng và được chính phủ, Bộ ngành đánhgiá cao Mạng lưới khách hàng của công ty trải dài khắp cả nước từ nam ra bắc với nhiềuloại hình kinh doanh và quy mô khác nhau
Doanh nghiệp trong nước gồm có:
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO)
Tổng công ty xây dựng Miền Trung
Tổng công ty XNK xây dựng Việt Nam (VINACONEX)
Các công ty thuộc Bộ giao thông vận tải
Công ty xổ số kiến thiết Quảng Ngãi, Kon Tum, Phú Yên
Công ty điện Gia Lai
Trang 23Công ty sách thiết bị Gia Lai
Công ty xây lắp Thừa Thiên Huế
Công ty cổ phần kinh doanh nhà Thừa Thiên Huế
…………
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
Công ty giày Rieker
Công ty liên doanh khoáng sản Bimal Bình Định
Công ty liên doanh ô tô Tanda
Công ty liên doanh giấy Việt Nhật (VIJACHIP)
Công ty liên doanh dăm gỗ Bình Định (BINHDINHCHIP)
Công ty phụ tùng xe DaerYang
Công ty Daiwa Việt Nam
Công ty TNHH dinh dưỡng động vật EH Bình Định Việt Nam
Dự án 334/9513A “Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em”- CORDAID
Dự án xây dựng trung tâm cắt may Nhật Bản…
1.5 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
1.5.1 Tổ chức bộ máy quản lý
Công ty đã xây dựng một mô hình quản lý theo các phòng ban chức năng Mô hìnhnày giảm thiểu chi phí hành chính, giảm các bộ phận trung gian trong quá trình quản lý.Các kế hoạch, chiến lược hoạt động của ban giám đốc được phổ biến thẳng xuống cho
Phòng giám đốc
Phòng kiểm toán XDCB
Phòng
tư vấn đào tạo
Phòng kiểm toán BCTC
Phòng
hành
chính
Trang 24các bộ phận thực thi và ngược lại mọi sự phản hồi từ các bộ phận triển khai hoạt độngcũng được Ban giám đốc nắm bắt nhanh chóng.
1.5.2 Tổ chức về nhân sự
Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC là loại hình doanh nghiệp dịch vụ nên tàisản lớn nhất của công ty chính là con người AAC luôn xem yếu tố con người là nhân tốquyết định và quan trọng trong định hướng kinh doanh của mình Vì thế, AAC chú trọngnhiều đến việc đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên, luôn tạo điều kiện cho các nhânviên trau dồi học hỏi lẫn nhau và nâng cao chất lượng của các kiểm toán viên trong công
ty AAC là một trong số các công ty kiểm toán ra đời và hoạt động tại Việt Nam, hoạtđộng của AAC không ngừng phát triển và khẳng định được vị thế của mình trên thịtrường cung cấp dịch vụ kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính Hiện nay, AAC là công
ty kiểm toán lớn nhất miền trung với chất lượng dịch vụ luôn đáp ứng yêu cầu của mọikhách hàng trong toàn quốc Có được thành công như hiện nay là một quá trình đầu tư
và phát triển của đội ngũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên trong công ty Hiện nay, toàncông ty có 100 nhân viên trong đó khoảng 27 được công nhận kiểm toán viên quốc gia,100% tốt nghiệp đại học và trên đại học
Tổng giám đốc công ty: Là người đại diện của công ty trước Bộ trưởng bộ tài chính và
cơ quan pháp luật về toàn bộ quá trình hoạt động của công ty
• Tổng giám đốc sẽ đánh giá rủi ro của hợp đồng kinh tế liên quan đến hoạtđộng của công ty, duy trì mối quan hệ với cán bộ cao cấp của công ty
• Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầmquan trọng
• Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã thực hiện ký báo cáokiểm toán và thư quản lý
• Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộckiểm toán hoặc ủy quyền lại
Phó tổng giám đốc: AAC có 2 phó tổng giám đốc làm việc trong lĩnh vực báo cáo tài
chính và xây dựng cơ bản
• Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhânlực, hành chính, kế hoạch và các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ
Trang 25• Chịu trách nhiệm trước phó tổng giám đốc và pháp luật Việt Nam
Trưởng, phó phòng: Mỗi lĩnh vực chuyên môn có một trưởng phòng và một phó phòng.
Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và đóng vai trò quan trọng tronglĩnh vực hoạt động của công ty Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trong ban quản lý củacông ty, họ có vai trò như cầu nối giữa tổng giám đốc, ban quản lý và các nhân viêntrong công ty, chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề nhân sự, phối hợp hoạt động vàđảm nhận các vấn đề về công việc hành chính Trưởng phòng có vai trò rất quan trọngtrong việc tạo môi trường làm việc đầy tính chuyên nghiệp, chất lượng chuyên môn cao,góp phần phát triển tối đa nguồn nhân lực của công ty
Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt cho trưởng phòngđiều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thực hiện các côngviệc do trưởng phòng ủy quyền
Ban quản lý: Bao gồm các trưởng phó phòng kiểm toán và tư vấn tài chính– kế toán và
một số kiểm toán viên tiêu biểu của công ty Mỗi người chịu trách nhiệm phụ trách một
số khách hàng cụ thể do tổng giám đốc chỉ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến của cáctrưởng phòng
Kiểm toán viên chính: Là người được cấp phép hành nghề hoặc giấy chứng nhận hành
nghề tương đương Chịu trách nhiệm giám sát công việc của các trợ lý kiểm toán Báocáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một số công việc kiểm toán
• Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hổ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sựcho cuộc kiểm toán
• Có trách nhiệm cao khi làm kiểm toán, cách ứng xữ linh hoạt, khéo léo trongcông việc
Trợ lý kiểm toán viên: Là người tham gia công việc kiểm toán nhưng chưa được công
nhận trúng tuyển kỳ thi kiểm toán viên cấp quốc gia Tùy theo năng lực và thâm niêncông tác trợ lý kiểm toán viên được chia thành ba loại:
• Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người thử việc sau thời gian là 3 tháng, đượctrúng tuyển chính thức vào công ty cho đến 1 năm sau đó và chưa trúng tuyển kỳ thikiểm toán viên cấp quốc gia Theo thông lệ, những người mới tốt nghiệp các trường kinhdoanh, những trường đại học và người có trình độ kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vựckiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là trợ lý mới vào nghề Trợ
lý kiểm toán viên cấp 1 được phân công thực hiện công việc dưới sự chỉ dẫn nghiệp vụcủa một kiểm toán viên khác và hiếm khi chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty
• Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được 2 năm,chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó
• Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được 3 năm, có nhiềukinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán cho công tycho những công ty nhỏ
1.6 Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán và kế toán AAC:
Để đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như
để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho lập báo cáo kiểmtoán của kiểm toán viên
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế toán AACgồm ba giai đoạn:
Chuẩn bị kiểm toán
Thực hiện kiểm toán
Kết thúc cuộc kiểm toán
1.6.1 Chuẩn bị kiểm toán:
Trang 26Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quá trình kiểm toán, có vị trí vô cùngquan trọng trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính Chuẩn mực kiểm toán 300 nêurõ: kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán kiểm toán để có thểđảm bảo được cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả
Lập kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy
đủ và có giá trị làm căn cứ để kiểm toán viên đưa ra ý kiến đưa ra ý kiến của mình vềBCTC của khách hàng Không những thế, công việc này còn giúp hạn chế được nhữngsai sót và nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, tạo dựng được niềm tin và uy tín đốivới khách hàng Quy trình chuẩn bị kiểm toán ở công ty TNHH kiểm toán và kế toánAAC gồm hai giai đoạn là tiền kế hoạch và lập kế hoạch
a Tiền kế hoạch:
Các công việc trong giai đoạn tiền kế hoạch bao gồm việc quyết định có chấp nhậnkiểm toán hay không, tìm hiểu lý do khách hàng có nhu cầu kiểm toán, lựa chọn đội ngũnhân viên thực hiện cuộc kiểm toán và ký kết hợp đồng kiểm toán
Quyết định thực hiện kiểm toán:
- Nếu là khách hàng mới thì AAC phải thận trọng xem xét kỹ tất cả các mặt về tìnhhình hoạt động, các điểm đặc biệt, cơ cấu tổ chức của khách hàng…trước khi chấp nhậnkiểm toán nhằm tránh mọi rủi ro có thể xảy trong và sau cuộc kiểm toán
- Đối với khách hàng AAC đã từng kiểm toán thì công ty chỉ xem xét các sự kiệnđặc biệt xảy ra trong và sau cuộc kiểm toán năm trước, nếu đã có những mâu thuẩnnghiêm trọng xảy ra thì có thể AAC sẽ không tiếp tục kiểm toán cho khách hàng nữa
Tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán:
- Để hiểu rõ hơn về khách hàng và thuận tiện cho công tác kiểm toán, AACthường tiến hành tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán Từ đó, AAC có thể xác địnhđược tầm quan trọng, mục đích và các bước công việc cần làm của mỗi cuộc kiểm toán
Ví dụ, khách hàng mời kiểm toán báo cáo tài chính nhằm mục đích công khai thông tintài chính ra bên ngoài, hoặc là theo yêu cầu của công ty mẹ ở nước ngoài…
Lựa chọn nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán:
Tại công ty AAC, việc lựa chọn đội ngũ nhân viên cho một cuộc kiểm toán đượcthực hiện bởi các trưởng phòng, dựa vào đặc điểm riêng biệt và lĩnh vực hoạt động củamỗi khách hàng…mà việc chọn số lượng, kinh nghiệm và năng lực của đoàn kiểm toáncho mỗi cuộc kiểm toán là khác nhau
Ví dụ: Để thực hiện kiểm toán tại một công ty có 100% vốn nước ngoài, các nhânviên được chọn thực hiện cuộc kiểm toán này phải có khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt
để có thể trao đổi với khách hàng và lập báo cáo kiểm toán bằng tiếng Anh…Đối vớinhững khách hàng có quy mô nhỏ, xét thấy công việc tương đối đơn giản thì có thể chỉcần hai nhân viên cho cuộc kiểm toán đó, trong đó có một kiểm toán viên làm trưởngđoàn
b Lập kế hoạch kiểm toán
Các công việc trong giai đoạn lập kế hoạch bao gồm:
Tìm hiểu thông tin hay cập nhật thông tin: Khách hàng, hệ thống kế toán, hệthống kiểm soát nội bộ
Phân tích báo cáo tài chính
Tham chiếu cuộc kiểm toán năm trước
Kế hoạch kiểm toán
Tài liệu và thông tin yêu cầu khách hàng cung cấp cho cuộc kiểm toán
Hoạt động này bao gồm các nội dung sau:
Bản ghi nhớ kế hoạch kiểm toán – B1
Trang 27 Các điểm cần lưu ý của năm trước – B2
Hợp đồng kiểm toán – B3
Tìm hiểu về khách hàng – B4
Chương trình xem xét hệ thống kế toán – B5
Phân tích tóm tắt hệ thống kiểm soát nội bộ - B6
Các thủ tục phân tích theo kế hoạch – B7
Ghi chú những thảo luận về kế hoạch kiểm toán – B8
Tài liệu và thông tin đề nghị khách hàng lập – B9
Kiểm tra kế hoạch kiểm toán – B10
1.6.2 Thực hiện kiểm toán:
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thíchứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Đó là quá trìnhtriển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằmđưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính trên
cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy
Nội dung cơ bản của giai đoạn thực hiện kiểm toán ở công ty TNHH kiểm toán và kếtoán AAC:
• Quy định về nhiệm vụ của nhóm trưởng: Nhóm trưởng giữ vai trò hết sứcquan trọng trong toàn bộ quá trình kiểm toán và thực hiện các nhiệm vụ sau:thảo luận với khách hàng, liên hệ khách hàng để sắp xếp kiểm kê TSCĐ, tổchức lưu trữ hồ sơ, lập kế hoạch kiểm toán và phân tích hồ sơ, sắp xếp, kiểmtra, đánh giá các thành viên trong nhóm…
• Các quy trình nghiệp vụ phát sinh đặc trưng của một doanh nghiệp: Mỗidoanh nghiệp khác nhau có quy trình các nghiệp vụ phát sinh khác nhau Tuỳtheo tính trọng yếu của vấn đề mà quy định kiểm toán viên nào thực hiện kiểmtra quy trình nào
• Nguyên tắc sắp xếp, đánh số và tham chiếu giấy làm việc: Giấy làm việc phảiđược sắp xếp, đánh số và tham chiếu phù hợp với quy định chung của công tynhằm đảm bảo dễ kiểm tra, so sánh và thuận tiện cho việc lưu trữ hồ sơ
• Các ký hiệu sử dụng thống nhất trên giấy làm việc:
Đã kiểm tra chứng từ gốc hoặc các tài liệu có liên quan Xanh
Đã được bên thư ba xác nhận, đã nhận được thư phúc đáp Số liệu khớp
Đã đếm, đã xem xét tài sản vật tư trực tiếp vào thời điểm kiểm toán Xanh
Số liệu cần theo dõi và điều chỉnh Cần bổ sung chứng từ hoặc các tài
liệu khác có liên quan (ghi rõ người đã bàn luận) W XanhKhông cần theo dõi nữa, đã điều chỉnh hoặc bổ sung chứng từ gốc W XanhBút toán điều chỉnh số # trang giấy làm việc ADE# Đỏ
Trang 28Đã bàn luận và trao đổi dứt điểm với kế toán trưởng, thủ quỹ, người có
• Chương trình kiểm toán
- Mục tiêu kiểm toán: Đạt được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực về mộthay nhiều cơ sở dẫn liệu về BCTC
- Cơ sở dẫn liệu BCTC: Đầy đủ, hiện hữu, đánh giá, chính xác, sở hữu,trình bày
- Bằng chứng kiểm toán có hiệu lực: Số lượng và chất lượng của bằngchứng, hiệu quả chi phí, nâng cao giá trị kiểm toán
- Các chương trình kiểm toán chi tiết:
Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền
Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khách hàng
Chương trình kiểm toán khoản ứng trước cho người bán
Chương trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khác
Chương trình kiểm toán hàng tồn kho
Chương trình kiểm toán khoản tạm ứng cho nhân viên
Chương trình kiểm toán chi phí trả trước và chi phí chờ kếtchuyển
Chương trình kiểm toán tài khoản thế chấp, kí cược, ký quỹngắn dài hạn
Chương trình kiểm toán tài sản cố định
Chương trình kiểm toán đầu tư tài chính…………
1.6.3 Hoàn thành cuộc kiểm toán:
Kết thúc kiểm toán là một giai đoạn của quy trình kiểm toán kiểm toán BCTC Đây
là giai đoạn các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện kiểm toán, nêu ra
ý kiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo cáo kiểm toán
Trong giai đoạn này cơ bản có các nội dung:
- Trước khi kết thúc cuộc kiểm toán tại văn phòng công ty khách hàng, trưởngnhóm họp các thành viên lại thảo luận và trao đổi những vấn để được ghi trong giấy làmviệc đồng thời cùng kế toán khách hàng làm rõ những vấn đề còn khúc mắc cần giảiquyết
- Trưởng nhóm lập biên bản trao đổi, họp và trao đổi với ban giám đốc khách hàng
và những người có liên quan
- Sử dụng thủ tục phân tích để rà soát lại báo cáo tài chính lần cuối cùng, thốngnhất những bút toán điều chỉnh với khách hàng và tiến hành lập báo cáo tài chính (lưu ý:lập báo cáo tài chính là trách nhiệm của khách hàng, việc kiểm toán lập báo cáo tài chínhcủa đơn vị khách hàng vì mục đích dễ dàng theo dõi số liệu, thống nhất mẫu biểu vớikhách hàng), báo cáo kiểm toán, đóng hồ sơ
- Nhóm trưởng kiểm toán gửi hồ sơ làm việc và bản thảo báo cáo kiểm toán lênphòng kiểm soát, giám đốc kiểm tra phê duyệt và xin ý kiến lãnh đạo (nếu cần)
- Phòng kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ nhằm cho cuộc kiểm toán cóchất lượng cao hơn, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra
- Sau khi bản thảo được duyệt, nhóm trưởng lập báo cáo kiểm toán chính thức, viếtthư quản lý ký tên và trình lên ban soát xét và giám đốc ký duyệt Sau đó gửi cho hộiđồng quản trị khách hàng
- Kết thúc kiểm toán và lưu hồ sơ
- Xem xét các sự kiện phát sinh sau cuộc kiểm toán
Trang 29- Xem xét giả thiết hoạt động liên tục
Các giấy tờ làm việc cụ thể trong giai đoạn này ở công ty TNHH kiểm toán và kế toánAAC gồm:
- Chỉ mục giấy làm việc
- Xác nhận bản thảo báo cáo kiểm toán
- Trang trình duyệt
- Trao đổi với khách hàng khi kết thúc kiểm toán
- Danh mục kiểm tra cuối cùng
- Bàn luận về thư quản lý
- Tổng kết của nhóm trưởng
- Tổng kết của các thành viên trong nhóm
- Kiểm tra khái niệm hoạt động liên tục
- Kiểm tra sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ
- Biên bản ghi nhận tiến độ làm việc
- Bảng chấm công
Tuỳ theo từng công ty, từng đối tượng khách hàng cụ thể mà công ty TNHH kiểmtoán và kế toán AAC tiến hành thực hiện các công việc cụ thể trong giai đoạn kết thúckiểm toán sẽ có sự khác nhau Đối với những công ty nhỏ, các nghiệp vụ phát sinhkhông nhiều Thời gian thực hiện kiểm toán ngắn, công ty TNHH kiểm toán và kế toánAAC có thể bỏ qua bớt một số giấy tờ làm việc không cần thiết như: Biên bản ghi nhậntiến độ làm việc, bảng chấm công…mà vẫn đảm bảo được chất lượng của cuộc kiểmtoán và không ảnh hưởng đến hình ảnh công ty đối với khách hàng
2 Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công
ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
2.1 Chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát
2.1.1 Tổng quan về chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện
Công ty AAC chỉ thực hiện thử nghiệm kiểm soát khi kiểm toán viên cho rằng hệthống kiểm soát nội bộ có được thiết kế và vận hành hiệu quả tức là rủi ro kiểm soátđược đánh giá thấp
Tuy nhiên, thử nghiệm kiểm soát tại công ty AAC rất ít được thực hiện, chủ yếu thựchiện đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên mà kiểm toán viên đánh giá banđầu về hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành có hiệu quả nhằm làm cơ sởcho cuộc kiểm toán năm sau Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
do AAC thực hiện chủ yếu chỉ để hiểu về hệ thống kiểm soát, cách thức hạch toán, lưuchứng từ để phục vụ cho kiểm tra chi tiết
Kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do AAC thực hiện là kỹ thuật chọnphi thống kê Qui trình chọn mẫu khái quát có ba bước cơ bản đó là thiết kế mẫu, lựachọn các phần tử của mẫu và kiểm tra, đánh giá kết quả mẫu
Xác định mục tiêu thử nghiệm kiểm soát:
Thực tế tại Công ty AAC, sau khi kiểm toán viên tìm hiểu về các thủ tục kiểm soátcủa khách hàng và từ đó đánh giá tốt về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, khi đó
Trang 30kiểm toán viên sẽ tiến hành thử nghiệm kiểm soát để thu thập bằng chứng về sự thiết kế
và hoạt động hiệu quả của các thủ tục kiểm soát nội bộ Kiểm toán viên sẽ xác định mụctiêu của thử nghiệm kiểm soát cho từng chu trình nghiệp vụ trên cơ sở hiểu biết về thủtục soát nội bộ của khách hàng trong giai đoạn lập kế hoạch Chẳng hạn, thủ tục kiểmsoát nội bộ về nghiệp vụ thu tiền của khách hàng là tất cả các khoản thu của doanhnghiệp cần lập phiếu thu có chữ ký của người nộp tiền, thủ quỹ, người lập phiếu, kế toántrưởng thì kiểm toán viên xác định mục tiêu của thử nghiệm là kiểm tra sự tồn tại và hiệuquả của thủ tục đó
Như vậy, việc xác định mục tiêu thử nghiệm kiểm soát trên cơ sở sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ là hoàn toàn hợp lý vì mục tiêu của tất cả các thử nghiệm kiểm soát nhằm thu thập bằng chứng chứng minh sự thiết kế và hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ như đã đánh giá ở khâu lập kế hoạch.
Xác định các sai phạm
Thực tế tại công ty AAC, việc xác định các sai phạm hoàn toàn dựa trên những đặcđiểm qui định về thủ tục kiểm soát nội Khi tiến hành kiểm toán những dấu hiệu nàokhông đúng với những qui định về thủ tục kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đều đượckiểm toán viên kết luận là một sai phạm
AAC xác định sai phạm là các phần tử kiểm tra không phù hợp với những qui định về thủ tục kiểm soát nội bộ Việc xác định sai phạm này không qui định một cách rõ ràng
mà chỉ quy định một cách chung chung, do đó trong quá trình kiểm tra các phần tử của mẫu có thể bỏ sót một số sai phạm
có được kết luận đúng về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
Có thể nhận thấy, phương pháp chọn mẫu do AAC thực hiện thường chọn mẫu với qui mô lớn điều này làm cho rủi ro chọn mẫu giảm xuống mức thấp Tuy nhiên chọn mẫu
là nhằm làm giảm chi phí và tiết kiệm thời gian, chọn mẫu lớn không mang lại những ưu điểm và mục đích thiết yếu của chọn mẫu là giảm chi phí và tiết kiệm thời gian.
b Lựa chọn các phần tử của mẫu
Công ty AAC sử dụng chọn mẫu phi thống kê nên phương pháp chọn các phần tử củamẫu là phi xác suất
Trong thử nghiệm kiểm soát các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu mà công
ty thường sử dụng là: chọn mẫu theo khối, chọn mẫu tình cờ, kết hợp chọn mẫu theokhối và chọn mẫu theo phán đoán nghề nghiệp
Chọn mẫu theo khối: Là phương pháp được công ty sử dụng nhiều nhất Và chủ yếu
chọn mẫu theo khối các nghiệp vụ theo thời gian như tháng, quý Việc chọn mẫu cácphần tử phát sinh theo tháng giúp kiểm toán viên kiểm tra được tính liên tục của nghiệp
vụ, đồng thời việc tìm kiếm chứng từ cũng đơn giản, tiết kiệm được thời gian Khi chọn
Trang 31mẫu theo khối, công ty AAC thường không xác định trước cỡ mẫu cần chọn, số lượngphần tử trong khối chọn được chính là cỡ mẫu Theo kinh nghiệm của kiểm toán viên, họthường chọn khối các tháng có nhiều nghiệp vụ phát sinh, có thể chọn nhiều tháng do đó
cỡ mẫu đủ lớn để giảm được rủi ro do chọn mẫu
Chọn mẫu tình cờ: Đây cũng là phương pháp chọn các phần tử của mẫu mà công ty
sử dụng Chọn mẫu tình cờ trong thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên thường thực hiệnchủ yếu là sẽ chọn tình cờ các nghiệp vụ trong tất cả các tháng Cách chọn này hoàn toànphù hợp với đặc điểm chọn mẫu mà công ty thực hiện đó là chọn mẫu có kích thước lớn.Chẵng hạn, kiểm toán viên sẽ tình cờ chọn 20 phiếu chi bất kỳ trong tháng 1, chọn tiếp
20 phiếu chi bất kỳ trong tháng 2 và lần lượt cho đến tháng 12 để kiểm tra sự phê chuẩntrên phiếu chi Đây là cách chọn mẫu tình cờ mà công ty thực hiện phổ biến trong thửnghiệm kiểm soát
Kết hợp chọn mẫu theo phán đoán nghề nghiệp, chọn mẫu theo khối: Thực tế trong
thử nghiệm kiểm soát do AAC thực hiện, kiểm toán viên thường ít sử dụng riêng phươngpháp chọn mẫu theo phán đoán Vì chọn mẫu theo phán đoán có thể cho một mẫu không
đủ lớn Khi đó, kiểm toán viên sẽ kết hợp thêm chọn khối theo thời gian
Do áp dụng chọn mẫu phi thống kê nên việc chọn các phần tử của mẫu như AAC thực hiện là phù hợp, việc lựa chọn mẫu dễ dàng, nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian so với các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Nhược điểm của các phương pháp chọn các phần tử của mẫu trên có thể cho một mẫu thiên lệch Tuy nhiên, đối với qui mô mẫu khá lớn của AAC nên mẫu được chọn là mẫu có tính đại diện cho tổng thể
c Kiểm tra mẫu và đưa ra kết luận
Sau khi đã chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các phần tử, xác địnhcác sai phạm và tổng hợp các sai phạm Kiểm toán viên chỉ có thể ước lượng sai sót củatổng thể từ sai sót của mẫu bằng chính nhận định của bản thân chứ không thể áp dụngcác công thức tính toán một cách khoa học được Đôi khi kiểm toán viên thường sử dụngkết quả mẫu để đánh giá tổng thể
Đối với thử nghiệm kiểm soát, căn cứ vào số sai phạm trong mẫu, kiểm toán viên hầu như không có sự suy ra tổng thể điều này là không hợp lý với lý thuyết chọn mẫu Tuy nhiên việc đánh giá chủ yếu dựa trên sai phạm phát hiện trên mẫu AAC vẫn áp dụng với lý do cỡ mẫu được chọn là lớn.
Trên đây là khái quát về chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát được thực hiện bởicông ty AAC, tuy nhiên đối với từng khách hàng khác nhau, việc thực hiện chọn mẫu cónhững điểm khác biệt về cỡ mẫu hay phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu nhưngnói chung việc chọn mẫu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên
và nguyên tắc một cỡ mẫu được chọn phải lớn
2.1.2 Minh họa về chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty AAC thực hiện tại khách hàng ABC
Công ty cổ phần ABC được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nướcTiền thân thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2005 tiến hành cổ phầnhoá và hoạt động từ năm 2006
Công ty là đơn vị hạch toán độc lập, hoạt động sản xuất kinh doanh theo Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh số 3403000079 của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Luật Doanhnghiệp, Điều lệ Công ty và các quy định pháp lý hiện hành có liên quan
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty
- Chế biến đường, mật, thực phẩm
- Chế biến đồ uống, bao bì
- Khai thác nước khoáng
Trang 32- Kinh doanh thương mại, dịch vụ tổng hợp
- Sản xuất chế biến và kinh doanh nước khoáng
- Xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng
- Xây dựng, sửa chữa và lắp đặt máy móc thiết bị,
- Gia công chế tạo các sản phẩm cơ khí phục vụ các ngành sản xuất và dân dụng -Sản xuất và kinh doanh mía (mía giống và mía nguyên liệu)
a Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán tiền mặt
Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán các khoản thu tiền mặt
• Thủ tục kiểm soát của khách hàng đối với các nghiệp vụ thu tiền mặt
- Tất cả các khoản thu tiền mặt của doanh nghiệp phải lập phiếu thu, phiếu thu phảiđược lập thành ba liên, ghi đầy đủ các thông tin trên phiếu thu, có đầy đủ chữ ký
- Bộ phận kế toán thanh toán lập phiếu thu, sau đó chuyển cho kế toán trưởng soátxét và giám đốc ký duyệt và chuyển cho thủ quỹ tiến hành thu tiền và nhập quỹ
- Phiếu thu lập thành 3 liên, một liên giao cho khách hàng, một liên thủ quỹ giữ đểghi sổ rồi chuyển cho kế toán thanh toán để ghi sổ chi tiết tiền mặt, một liên lưu tại nơilập phiếu
• Phương pháp chọn mẫu
Trên cơ sở hiểu biết về những thủ tục kiểm soát nội bộ mà doanh nghiệp ABC quyđịnh, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra sự tồn tại của các thủ tục đó, những phiếu thukhông ghi đầy đủ các nội dung, chữ ký của các bên liên quan được kiểm toán viên xemxét là một sai phạm
Đây là năm kiểm toán đầu tiên đối với khách hàng, nên kiểm toán viên chọn mẫu vớiquy mô mẫu khá lớn để đánh giá đúng về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng làm
cơ sở cho các cuộc kiểm toán năm sau Bên cạnh đó, do là năm kiểm toán đầu nên kiểmtoán viên chưa có được phán đoán cụ thể nào đối với khách hàng
Kiểm toán viên quyết định chọn tình cờ các phiếu thu của từng tháng Mỗi tháng kiểm toán viên chọn 80 phiếu thu riêng tháng 5 kiểm toán viên quyết định kiểm tra toàn
bộ các phiếu thu do trong tháng lượng hàng bán ra nhiều nhất trong năm.
Sau khi kiểm tra, kiểm toán viên không phát hiện ra có sai phạm nào từ mẫu Trên cơ
sở đó kết luận lại hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ thu tiền mặt là hoạt độnghiệu quả như đánh giá ở khâu lập kế hoạch kiểm toán
Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán các khoản chi tiền mặt
•Thủ tục kiểm soát của khách hàng với nghiệp vụ chi tiền
- Tất cả các khoản chi đều phải lập phiếu chi và phải được xét duyệt, phiếu chiđược lập thành 3 liên, phiếu chi phải có đầy đủ nội dung và chữ ký của thủ quỹ, ngườinhận tiền, người lập phiếu, kế toán trưởng
- Khi ký duyệt chứng từ, kế toán trưởng kiểm tra, đối chiếu các chứng từ liên quan
- Các phiếu chi phải được đánh số liên tục, và phải ghi định khoản trên phiếu chi
- Các phiếu chi phải chứng từ gốc hợp lệ kèm theo như giấy đề nghị tạm ứng, hóađơn mua hàng, bảng thanh toán tiền lương Đối với hóa đơn mua hàng khi được thanhtoán phải được đóng dấu đã thanh toán trên hóa đơn
Trang 33- Phiếu chi được lập thành 3 liên, liên 1 lưu nơi lập phiếu, liên 2 giao cho ngườinhận tiền, liên 3 kế toán quỹ dùng để ghi sổ quỹ và sau đó chuyển cho kế toán thanhtoán để ghi sổ kế toán.
• Phương pháp chọn mẫu
Để xác định sự tồn tại của các thủ tục kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên tiến hànhchọn mẫu để kiểm tra Hình thức lưu trữ chứng từ của công ty ABC đối với các phiếuchi tiền mặt là theo từng tháng và kiểm toán viên xác định tổng thể chọn mẫu là toàn bộcác phiếu chi của đơn vị
Kiểm toán viên chọn khối các phiếu chi quý 4 để kiểm tra sự phê duyệt trên phiếu
chi, kiểm tra xem phiếu chi có đầy đủ các chữ ký như qui định hay không Sở dỉ kiểmtoán viên chọn khối các phiếu chi quý 4 để kiểm tra sự đầy đủ các chữ ký trên phiếu chi
là do từ tháng 10 đơn vị khách hàng có sự thay đổi về nhân sự kế toán thanh toán, kiểmtoán viên nghi ngờ về khả năng xãy ra sai phạm trong quý này là có thể xãy ra
Kiểm toán viên chọn khối các phiếu chi trong tháng 12 để kiểm tra tính liên tục của
các phiếu chi Việc chọn mẫu theo khối trong trường hợp này là hoàn toàn hợp lý nếuchọn mẫu tình cờ thì khó có thể kiểm tra được Việc chọn các phiếu chi tháng 12 đểkiểm tra trên cơ sở số lượng các nghiệp vụ chi tiền trong tháng nhiều là hợp lý tuy nhiêncần lưu ý các tháng khác cũng có thể xãy ra sai sót
Kiểm toán viên chọn tình cờ 40 phiếu chi trong mỗi tháng để kiểm tra xem các phiếu
chi có đính kèm chứng từ gốc hay không, đồng thời kiểm tra các hóa đơn xem có đóngdấu “đã thanh toán” hay không
b Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán hàng tồn kho
Đối với nghiệp vụ nhập kho trong kỳ
•Thủ tục kiểm soát đối với hàng tồn kho nhập trong kỳ
- Nghiệp vụ mua hàng phải xuất phát từ bộ phận có nhu cầu, bộ phận này sẽ viếtphiếu đề nghị mua hàng, sau đó phiếu đề nghị mua hàng sẽ được chuyển cho người cóthẩm quyền duyệt xét Đơn đặt hàng chỉ được đặt khi có chữ ký và đóng dấu của ngườiduyệt xét Để kiểm soát tốt hơn việc đặt hàng, doanh nghiệp quy định cho mỗi bộ phận
có nhu cầu một mẫu phiếu đề nghị mua hàng riêng và trên mỗi phiếu đề nghị mua hàngđược đánh số thứ tự
- Phiếu nhập kho phải đính kèm với bản phô tô chứng từ vận chuyển và bản phô tôcủa hoá đơn mua hàng, phiếu đề nghị mua hàng để tiện việc theo dõi, đối chiếu số liệu
- Phiếu nhập kho phải ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu cũng như có đủ chữ kýcủa những người liên quan
- Tổ chức hệ thống kế toán đảm bảo các nghiệp vụ nhập kho được ghi chép chínhxác và đầy đủ
• Phương pháp chọn mẫu
Tại công ty ABC phiếu nhập kho được lưu riêng theo từng tháng, kiểm toán viên xácđịnh tổng thể chọn mẫu là các phiếu nhập kho trong kỳ và kiểm toán viên tiến hành chọnmẫu tình cờ 30 phiếu nhập kho trong mỗi tháng để kiểm tra xem các phiếu nhập kho cóđính kèm với các chứng từ gốc kèm theo không, đồng thời kiểm tra, so sánh số liệu trêncác phiếu nhập kho chứng từ kèm theo để kiểm tra sự khớp đúng số liệu giữa các chứng
từ, đồng thời đối chiếu sổ chi tiết xem nghiệp vụ nhập kho đã được ghi sổ chưa và cóchính xác về mặt số liệu hay không
Trang 34Từ sổ chi tiết chọn các nghiệp vụ nhập kho có giá trị trên 50 triệu đồng trong quý 4
để kiểm tra thêm các nghiệp vụ nhập kho, phiếu nhập kho có giấy đề nghị mua hàngđược xét duyệt chưa, có hóa đơn đính kèm hay không, có đầy đủ các chữ ký hay không.Cách chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát dựa vào giá trị của chứng từ của AAC làchưa phù hợp, vì mục đích của thử nghiệm kiểm soát là đánh giá hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng chứ không quan trọng số tiền là bao nhiêu, do vậy cần phải dựa vào
số lượng chứng từ sổ sách cần kiểm tra
Đối với nghiệp vụ xuất kho trong kỳ
• Thủ tục kiểm soát đối với hàng tồn kho xuất trong kỳ
- Trưởng phòng bán hàng có trách nhiệm phê duyệt đơn hàng Do khách hàng củađơn vị là công ty thương mại, các đại lý, các cơ sở kinh doanh bán lẻ, các công ty sảnxuất bánh kẹo nên số lượng mỗi đơn đặt hàng là khá nhiều sản phẩm Chính vì vậy đòihỏi trưởng phòng bán hàng phải trực tiếp phê duyệt đơn đặt hàng để đảm bảo cung cấp
đủ lượng hàng theo yêu cầu của khách hàng Khi phê duyệt trưởng phòng sẽ ký trên đơnđặt hàng làm bằng chứng cho sự phê duyệt đó
- Khi có lệnh bán hàng, bộ phận bán hàng sẽ trực tiếp làm phiếu xuất kho Ngườilập phiếu ký để xác nhận việc lập phiếu, giám đốc ký và kế toán trưởng ký để phê duyệtviệc xuất bán, thủ kho ký để xác nhận việc xuất kho, khách hàng ký để xác nhận việcnhận đúng và đủ hàng
- Phiếu xuất kho hàng bán phải có đính kèm lệnh bán hàng, bản phô tô đơn đặthàng đã được phê duyệt, phiếu xuất kho vật tư phải có đính kèm giấy đề nghị xuất vật tư
đã được phê duyệt để tiện việc theo dõi, đối chiếu số liệu
- Phiếu xuất kho được lập thành 3 liên, liên gốc lưu lại tại bộ phận bán hàng, 1 liênthủ kho giữ để ghi thẻ kho, 1 liên chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi hàng tồn kho
- Tổ chức hệ thống kế toán đảm bảo các nghiệp vụ xuất kho được ghi chép chínhxác và đầy đủ
• Phương pháp chọn mẫu
Chọn khối các phiếu xuất kho trong tháng 2 và tháng 6 Đây là 2 tháng mà lượng
xuất kho nhiều nhất trong năm Kiểm toán viên kiểm tra xem các phiếu xuất kho đượcđánh số liên tục hay không đồng thời cũng kiểm tra xem trên phiếu xuất có ghi đầy đủcác nội dung cũng như là chữ ký hay không Việc chọn khối các phiếu xuất kho tháng 2
và tháng 6 là theo nhận định của kiểm toán viên, tuy nhiên có thể các tháng khác cũngxãy ra sai phạm
Kiểm toán viên chọn tình cờ 30 phiếu xuất kho trong mỗi tháng để kiểm tra xem các
đơn đặt hàng đính kèm phiếu xuất kho đã được phê duyệt hay không và có chữ ký củangười phê duyệt không, đồng thời kiểm toán viên còn kiểm tra luôn số liệu giữa phiếuxuất kho với các chứng từ kèm theo
2.2 Chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết
2.2.1 Tổng quan về chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết do công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện
Trong thử nghiệm cơ bản, AAC thường kiểm tra chi tiết theo từng khoản mục trênbảng cân đối phát sinh tài khoản của khách hàng để phát hiện ra những sai sót về mặt số
Trang 35tiền có ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của các khoản mục trên báo cáo cáo tàichính.
Kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết do AAC thực hiện là kỹ thuật chọn phithống kê Qui trình chọn mẫu khái quát cũng có ba bước cơ bản đó là thiết kế mẫu, lựachọn các phần tử của mẫu và kiểm tra và đánh giá kết quả mẫu
Thực hiện thiết kế mẫu
Thiết kế mẫu là công việc đầu tiên AAC thực hiện, bao gồm việc xác định mục tiêukiểm toán, hướng kiểm tra từng khoản mục, xác định tổng thể, xác định cỡ mẫu sẽ chọn
để kiểm tra
• Xác định mục tiêu kiểm toán
Xác định mục tiêu kiểm toán từng khoản mục là công việc đầu tiên mà kiểm toánviên phải thực hiện để xác định hướng kiểm tra Tại AAC, mục tiêu kiểm toán được ghi
rõ trong giấy làm việc của từng tài khoản
Mục tiêu kiểm toán của từng khoản mục khác nhau là khác nhau, đối với nhữngkhoản mục tài sản, khoản mục nợ phải trả, vốn chủ sỡ hữu… đều có những mục tiêukiểm toán riêng
• Xác định hướng kiểm tra
Sau khi đã xác định được mục tiêu kiểm toán đối với từng khoản mục AAC thường xácđịnh hướng kiểm tra trước khi xác định tổng thể được chọn mẫu vì hướng kiểm tra ảnh hưởngđến việc xác định đối tượng kiểm tra Hướng kiểm tra này thường dựa trên kinh nghiệm nghềnghiệp của kiểm toán viên đồng thời cũng căn cứ vào mục tiêu kiểm toán
- Trường hợp kiểm tra theo hướng nghi ngờ giá trị sổ sách bị khai tăng so vớithực tế: Việc chọn mẫu sẽ được tiến hành từ sổ sách xuống chứng từ
- Trường hợp kiểm tra theo hướng nghi ngờ giá trị sổ sách bị khai giảm so với thựctế: Việc kiểm tra sẽ được tiến hành từ các chứng từ đối chiếu lên sổ sách
Hướng kiểm tra cho từng mục tiêu của khoản mục sẽ được kiểm toán viên ghi lại trêngiấy làm việc mục cách thực hiện kiểm toán
• Cỡ mẫu trong thử nghiệm chi tiết
Sau khi đã xác định được mục tiêu hướng kiểm tra và xác định tổng thể, kiểm toánviên sẽ xác định cỡ mẫu cần chọn Cũng như chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát,chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết AAC áp dụng phương pháp chọn mẫu phi thống kênên kiểm toán viên hoàn toàn không sử dụng công thức toán học mà xác định cỡ mẫutheo nhận định của chính kiểm toán viên thực hiện Cỡ mẫu mà kiểm toán viên xác địnhthường lớn để giảm thiểu rủi ro do chọn mẫu xuống mức thấp nhất Đối với một số mục
Trang 36tiêu mà kiểm toán viên cho rằng dễ xãy ra sai sót, kiểm toán viên sẽ tiến hành kiểm tratoàn bộ
Tuy nhiên đối với một số phương pháp chọn mẫu kiểm toán viên sẽ không xác địnhchính xác cỡ mẫu cần chọn mà chỉ xác định khoảng mẫu sẽ chọn ra Như chọn mẫu theonghiệp vụ đối ứng chi phí, chọn mẫu với giá trị số tiền…Những trường hợp này cỡ mẫu
sẽ không được xác định cụ thể trước
Thực hiện chọn các phần tử của mẫu
Sau khi đã thực hiện thiết kế mẫu bao gồm xác định mục tiêu kiểm toán, xác địnhhướng kiểm tra, xác định tổng thể và xác định cỡ mẫu, kiểm toán viên sẽ tiến hành lựachọn các phần tử của mẫu để tiến hành kiểm tra
Phương pháp lựa chọn các phần tử mà AAC thường áp dụng trong thử nghiệm chitiết là chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng, chọn mẫu khối theo thời gian, chọn mẫu tình
cờ, chọn mẫu theo phán đoán, chọn mẫu dựa vào giá trị phần tử
• Chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng trên sổ chi tiết
Đây là phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu đặc trưng mà AAC áp dụng mộtcách phổ biến khi kiểm tra tất cả các khoản mục Theo đó kiểm toán viên sẽ căn cứ vào sổsách của từng tài khoản chọn các nghiệp vụ đối ứng với chi phí để kiểm tra Đây là cáchchọn mẫu và kiểm tra gián tiếp có hiệu quả đối với các khoản mục chi phí Do đặc điểmcủa tất cả các công ty không lưu chứng từ chi phí riêng mà các chứng từ phát sinh chi phínày thường được lưu ở các khoản mục khác chứng từ tiền mặt, chứng từ tiền gửi ngânhàng, chứng từ xuất kho …do đó nếu kiểm tra theo cách trực tiếp thì việc tìm chứng từ đểđối chiếu và kiểm tra là rất khó trong khi đó số lượng nghiệp vụ chi phí lại rất nhiều Đây
là phương pháp chọn các phần tử của mẫu khá đặc trưng của AAC
• Chọn mẫu theo giá trị của phần tử
Đây là phương pháp chọn các phần tử mà kiểm toán viên sẽ dựa vào số tiền của cácnghiệp vụ mà chọn ra phần tử cần kiểm tra Thông thường kiểm toán viên căn cứ vào sổsách và theo phán đoán nghề nghiệp cũng như đặc điểm ngành nghề kinh doanh của đơn
vị, kiểm toán viên sẽ xác định giá trị được lựa chọn Phương pháp này thường được kếthợp với phương pháp chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng chẳng hạn trên sổ chi tiết tiềnmặt kiểm toán viên chọn các nghiệp vụ chi tiền đối ứng với chi phí có số tiền từ 5 triệuđồng trở lên
• Chọn mẫu theo khối thời gian
Đây là phương pháp lựa chọn các phần tử khá phổ biến trong các thử nghiệm chi tiết
mà AAC thực hiện Kiểm toán viên sẽ chọn khối các nghiệp vụ trên sổ sách hay chọnkhối các chứng từ theo từng tháng hay từng quý theo mục tiêu kiểm toán và hướng kiểmtra Đặc điểm của chọn khối theo tháng mà AAC thực hiện thường chọn khối lớn, thôngthường phổ biến là chọn theo quý Đối với trường hợp này, kiểm toán viên sẽ không xácđịnh trước quy mô mẫu mà chỉ xác định số tháng hay qúy sẽ chọn Cỡ mẫu là số phần tử
mà kiểm toán viên chọn ra
• Chọn mẫu tình cờ
Kiểm toán viên sẽ chọn tình cờ các phần tử của tổng thể có thể là trên sổ chi tiết haytrên chứng từ Để đảm bảo cỡ mẫu là lớn và tất cả các tháng đều được kiểm tra kiểmtoán viên sẽ chọn tình cờ theo từng tháng cho tất cả các tháng trong năm Cách chọn nàycũng giống như trong thử nghiệm kiểm soát mẫu AAC áp dụng
• Chọn mẫu theo phán đoán nghề nghiệp
Trong thử nghiệm chi tiết, AAC cũng sử dụng phương pháp lựa chọn này Khi kiểmtoán viên theo nhận định để lựa chọn các phần tử Thông thường là căn cứ vào cuộc
Trang 37kiểm toán năm trước kiểm toán viên biết được các sai phạm thường xãy ra để kiểm tralại năm tài chính này đã khắc phục chưa hay cũng có thể kiểm toán viên căn cứ vào đặcđiểm kinh doanh của khách hàng, sự thay đổi về nhân sự trong năm tài chính để phánđoán khu vục dễ xãy ra sai sót và tiến hành chọn mẫu kiểm tra.
Thực hiện kiểm tra và xử lý sai sót
Sau khi lựa chọn các phần tử của mẫu kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểm toánphù hợp với những mục tiêu, hướng kiểm tra cụ thể đối với từng phần tử được chọn.Các sai sót sẽ được kiểm toán viên ghi lại trên giấy làm việc để tổng hợp những saisót cần điều chỉnh khi đưa ra biên bản trao đổi với khách hàng
AAC chọn mẫu với cỡ mẫu là lớn nên thông thường, KTV tiến hành kiểm tra trên mẫunhưng kết quả sai phạm từ mẫu không được suy ra tổng thể Điều này chưa hợp lý
2.2.2 Minh họa về chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết do công ty AAC thực hiện tại khách hàng XYX
Vì công ty cổ phần ABC là công ty được kiểm toán năm đầu tiên nên AAC chủ yếu
là kiểm tra toàn bộ do đó để minh họa rõ kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản,
em xin minh họa kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong công ty cổ phần XYZ, là khách hàngkiểm toán năm thứ 3 của đơn vị
Khách hàng XYZ là công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng Công ty Cổ phầnXYZ được thành lập từ việc cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước Công ty sản xuất kinhdoanh vật liệu xây dựng theo quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.Ngành nghề kinh doanh chính:
• Khai thác mỏ nguyên liệu và phụ gia;
• Sản xuất kinh doanh xi măng, gạch lát terrazzo;
• Sản xuất đá dăm các loại
• Gia công lắp đặt các sản phẩm cơ khí;
• Xây dựng các công trình dân dụng;
• Kinh doanh vật liệu xây dựng và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng
Sau đây là minh họa kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết đối với một sốkhoản mục do AAC thực hiện tại công ty cổ phần XYZ
a Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán tiền mặt
Đặc điểm nổi bật của kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê áp dụng trong kiểm toán khoảnmục tiền mặt mà AAC thực hiện là sử dụng phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫuđối ứng với chi phí đây là phương pháp lựa chọn các phần tử chủ yếu và được áp dụngcho tất cả các đơn vị khách hàng khi kiểm toán khoản mục tiền mặt Chính vì vậy, kiểmtoán viên thường không xác định cỡ mẫu khi thực hiện chọn mẫu Ngoài ra, AAC còn sửdụng các phương pháp khác để lựa chọn các phần tử của mẫu cho phù hợp với mục tiêu
kiểm toán khoản tiền mặt Đặc biệt, từ năm 2009, với công văn số 10220\BTC-TCT
quy định về vấn đề khấu trừ thuế giá trị gia tăng thì AAC còn có phương pháp lựa chọn
các phần tử của mẫu riêng cho khoản mục tiền mặt là chọn các khoản thanh toán có giá
trị trên 20.000.000 đồng để xác định xem có những trường hợp thanh toán hóa đơn giá
trị gia tăng trên 20.000.000 đồng thì sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng Đây làphương pháp kiểm toán gián tiếp cho tài khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu
Trang 38trừ đối ứng với tài khoản tiền mặt Cụ thể kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trìnhkiểm toán tiền mặt do AAC thực hiện như sau:
Xác định mục tiêu kiểm toán khoản mục tiền mặt
Kiểm toán viên xác định các mục tiêu kiểm toán làm căn cứ xác định hướng kiểm tra
cụ thể Kiểm toán viên xác định mục tiêu kiểm toán của khoản mục tiền mặt này baogồm các mục tiêu sau:
- Số dư tiền mặt là có thực tại ngày lập báo cáo tài chính
- Các nghiệp vụ thu, chi tiền mặt được ghi chép đầy đủ, chính xác
- Các nghiệp vụ thu, chi tiền được ghi chép là thực sự phát sinh
- Chia cắt niên độ được thực hiện một cách chính xác đối với các khoản nhập quỹcũng như đối với các khoản xuất quỹ, hay nói cách khác các nghiệp vụ liên quan đếntiền được ghi chép theo đúng niên độ mà chúng phát sinh
- Các nghiệp vụ đối ứng chi phí phải hợp lý hợp lệ Đây là mục tiêu để kiểm toánviên kiểm tra gián tiếp các khoản mục chi phí
Xác định hướng kiểm tra, chọn mẫu và kiểm tra các phần tử của mẫu
Sau khi đã xác định mục tiêu kiểm toán đối với tài khoản tiền mặt, kiểm toán viên sẽxác định hướng kiểm toán cho từng mục tiêu, hướng kiểm toán sẽ kiểm tra từ sổ sáchđến chứng từ hay từ chứng từ đến sổ sách Hướng kiểm tra sẽ được kiểm toán viên ghilại ở phần cách thực hiện kiểm tra trên giấy làm viêc, căn cứ vào hướng kiểm tra đókiểm toán viên xác định tổng thể cần kiểm tra và lấy mẫu Quá trình thực hiện chọn mẫukiểm toán viên thực hiện như sau:
• Đối với mục tiêu về sự có thực của số dư tài khoản tiền mặt cuối kỳ, kiểm toánviên sẽ tiến hành đối chiếu biên bản kiểm quỹ với số chi tiết, sổ cái và bảng cân đối kếtoán Tại đơn vị khách hàng, sổ chi tiết, sổ cái biên bản kiểm quỹ được lập theo từngtháng theo yêu cầu quản lý của đơn vị, tuy nhiên kiểm toán viên chỉ chọn và kiểm tra,đối chiếu với biên bản kiểm kê quỹ cuối kỳ
•Kết hợp với việc kiểm tra sự phát sinh của các khoản chi tiền cũng như khoảnmục chi phí, tổng thể là các nghiệp vụ chi tiền trên sổ chi tiết, kiểm toán viên lướt đọc sổchi tiết và thấy rằng số lượng nghiệp vụ phát sinh đối ứng chi phí là chủ yếu và có giá trịlớn do đó kiểm toán viên sẽ chọn các nghiệp vụ chi tiền đối ứng với chi phí có giá trị từ5.000.000 đồng trở lên để kiểm tra xem có thực sự phát sinh không, nếu có phát sinh thì
có chứng từ hợp lệ kèm theo hay không, bên cạnh đó còn kiểm tra sự chính xác giữa sổliệu trên sổ sách và phiếu chi, căn cứ vào nội dung chi tiền để xác định đơn vị hạch toánvào chi phí là đúng không Đặc biệt nếu có nghiệp vụ chi tiền lớn hơn 20.000.000 đồngkiểm toán viên phải kiểm tra xem chứng từ kèm theo có hóa đơn giá trị gia tăng với giátrị trên 20.000.000 đồng không, những trường hợp này sẽ không được khấu trừ thuế giátrị gia tăng đầu vào
Như vậy việc xác định giá trị các khoản chi đối ứng với chi phí trong trường hợp này
là 5.000.000 đồng, giá trị 5.000.000 đồng này được xác định dựa trên sự xét đoán củakiểm toán viên Theo nhận định của kiểm toán viên khi nhìn vào sổ chi tiết tài khoản tiềnmặt thì số lượng các nghiệp vụ này chiếm khoảng 35% tổng số nghiệp vụ chi tiền nhưnglại chiếm số tiền đến khoảng 70% tổng số tiền phát sinh Cách chọn này giúp kiểm toánviên có thể tập trung vào việc kiểm tra các nghiệp vụ chi tiền có giá trị lớn thường dễxãy ra sai phạm Tuy nhiên cũng có những trường hợp có thể xãy ra sai phạm với nhữngkhoản chi tiền nhỏ hơn 5.000.000 đồng
• Chọn toàn bộ các khoản chi tiền mặt trên 20.000.000 đồng, đối ứng với các tài khoảnkhác, kiểm tra phiếu chi và các chứng từ gốc kèm theo nếu khoản chi đó thanh toán cho
Trang 39hóa đơn giá trị gia tăng trên 20.000.000 đồng thì không được khấu trừ thuế đầu vào theo
công văn 10220\BTC-TCT của Bộ tài chính Đây là cách kiểm tra gián tiếp đối với
khoản mục thuế giá trị gia tăng đầu vào thông qua kiểm tra phát sinh có của tài khoảntiền mặt
Đánh giá kết quả
Sau khi đã chọn mẫu và kiểm tra chi tiết, các sai sót trong quá trình kiểm tra chi tiếtđược kiểm toán viên ghi lại trên giấy làm việc để nhóm trưởng tổng kết và trao đổi vớikhách hàng Kết quả các sai sót trong mẫu kiểm toán viên không suy rộng cho tổng thể
mà sử dụng để đưa ra nhận xét và kết luận về khoản mục kiểm toán
Các sai sót mà được kiểm toán viên ghi trên giấy làm việc của tài khoản tiền mặtđược kiểm tra chi tiết
PC 15/1 Mua bếp ga phục vụ bếp ăn 142 25.000.000 Hóa đơn quá 6 thángkhông được khấu trừ thuế.
133 2.500.000
PC 71/3 Chi tiền mua quà tết thiếu
nhi
627 6.250.000 Hạch toán sai nguồn,
không được khấu trừ thuế
133 625.000
PC 11/4 Mua văn phòng phẩm
642 12.500.000Hóa đơn ghi sai mã số thuếkhông được khấu trừ thuế
và loại khỏi chi phí hợp lýhợp lệ khi tính thuế thunhập doanh nghiệp
133 1.250.000
Việc căn cứ vào các sai phạm từ mẫu, kiểm toán viên đưa ra kết luận về những saiphạm trên của khoản mục tiền mặt Đưa ra kết luận của tổng thể như vậy là có phầnkhông phù hợp bởi vì có thể sai phạm còn xảy ra ở các phần tử mà kiểm toán viên chưakiểm tra Nhưng do cỡ mẫu là khá lớn nên AAC vẫn chấp nhận cách thực hiện này
b Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
Cũng áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê, nhưng đối với chọn mẫu trong khoảnmục phải thu khách hàng có điểm khác so với chọn mẫu trong khoản mục tiền mặt Đốivới khoản tiền mặt thì kiểm toán viên đa số kiểm tra phát sinh trong kỳ, chính vì vậy
tổng thể để chọn mẫu chủ yếu là các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ Tuy nhiên, đối với
khoản mục phải thu khách hàng kiểm toán viên ngoài kiểm tra các phát sinh có trong kỳ,các nghiệp vụ bất thường, phát sinh đối ứng chi phí nếu có Kiểm toán viên còn phảikiểm tra sự chính xác của số dư cuối kỳ của khoản mục phải thu khách hàng bằng cách
gửi thư xác nhận số dư cuối kỳ cho các khách hàng của đơn vị, khi đó tổng thể chọn
mẫu chính là các khoản phải thu cuối kỳ Các phát sinh nợ trong kỳ của khoản phải thu
sẽ được kiểm tra tham chiếu bởi các tài khoản liên quan như tài khoản doanh thu Cụ thể
kỹ thuật chọn mẫu trong khoản mục phải thu khách hàng AAC thực hiện như sau:
Xác định mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
- Số dư khoản phải thu phải tồn tại tại ngày lập bảng cân đối kế toán
- Tất cả các khoản phải thu phải được ghi chép đầy đủ, chính xác
- Các khoản phải thu được ghi chép là thực sự phát sinh
- Các khoản dự phòng được tính toán hợp lý để giá trị thuần của nợ phải thu kháchhàng gần đúng với giá trị thuần có thể thực hiện được
Xác định hướng kiểm tra, chọn mẫu và kiểm tra các phần tử của mẫu