1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ tổng thống Mỹ

136 834 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy đã tập hợp được các bang trong một cộng đồng chính trị và đưa ra nhiều biện pháp nhằm củng cố, phát triển liên bang, nhưng do thiếu vắng cả hệ thống cơ quan hành pháp lẫn tư pháp, nó

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Khoa luật

-*** -

Nguyễn Anh Hùng

Chế độ tổng thống Mỹ

luận văn thạc sỹ luật học

Hà Nội - 2008

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

Khoa luật

-*** -

Nguyễn Anh Hùng

Chế độ Tổng thống mỹ

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà n-ớc và pháp luật

Mã số : 60 38 01

Luận văn thạc sỹ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: Pgs.ts nguyễn đăng dung

Hà Nội - 2008

Trang 3

1.2.1 Những giai đoạn phát triển của chế độ tổng thống Mỹ 16

1.2.1.1 Giai đoạn 1789-1877: Nền móng và các tiền lệ 16

1.2.1.2 Giai đoạn 1877-1901: Sự thay đổi nhiều mặt 21

1.2.1.3 Giai đoạn 1901-1945: Vững mạnh trong môi

1.2.1.4 Giai đoạn từ năm 1945 đến nay: Ổn định, toàn

1.3 Quan niệm và sự đánh giá về chế độ tổng thống Mỹ 30

Trang 4

Chương 2 : ĐỊA VỊ VÀ QUYỀN HẠN CỦA TỔNG THỐNG MỸ 49

2.1 Phương thức tổ chức và sự phân bố quyền lực chính trị

2.1.1 Thuyết "Tam quyền phân lập", Hiến pháp và các nguyên

tắc tổ chức, phân chia quyền lực của Nhà nước Mỹ 49

2.2.2.1 Người đứng đầu Nhà nước và xã hội 65

2.2.2.2 Người lãnh đạo nền hành chính và toàn quyền

2.3.2.3 Triệu tập kỳ họp Quốc hội bất thường 75

2.3.2.4 Bổ nhiệm ghế thượng nghị sĩ tạm thời bỏ trống 76

Trang 5

2.3.3.1 Đề cử và bổ nhiệm thẩm phán liên bang 80

2.3.3.3 Hạ lệnh truy nã và bắt giữ tội phạm đặc biệt

2.3.4 Quyền trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng 81

2.3.5 Quyền trong lĩnh vực danh dự và nghi lễ quốc gia 82

Chương 3: PHƯƠNG THỨC THIẾT LẬP TỔNG THỐNG MỸ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

A Tài liệu tiếng Việt 126

B Tài liệu tiếng Anh 131

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Nước Mỹ đã và đang là cường quốc hàng đầu thế giới với sức ảnh

hưởng mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quân sự lan toả tới nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên khắp các châu lục Nhìn nhận vai trò và vị thế đặc biệt đó, cả giới nghiên cứu lẫn phương tiện thông tin và dư luận công chúng đều rất quan tâm đến chế độ tổng thống Mỹ - một lĩnh vực quan trọng bậc nhất của hệ thống chính trị Hoa Kỳ

1.2 Chế độ tổng thống Mỹ là mô hình nguyên thủ quốc gia cộng hoà

mang bản chất tiên phong, tiêu biểu và có tác động rộng rãi Tiên phong vì đây là một trong ít hình thức nguyên thủ quốc gia cộng hoà đầu tiên, tự thân hình thành, khẳng định và phát triển Tiêu biểu vì nó thể hiện rõ ràng, đầy đủ nhất các đặc tính của một mô hình nguyên thủ quốc gia cộng hoà hiện đại: tính quyền lực tối cao, tính dân chủ, tính xã hội, tính liên tục và ổn định Có tác động rộng rãi vì nó tồn tại, phát triển suốt hơn hai thế kỷ qua, là trung tâm

và chi phối toàn bộ nền chính trị Mỹ, đồng thời ngày càng trở thành mô hình nguyên thủ quốc gia mẫu của nhiều nước (khoảng gần 1/3 số quốc gia trên thế giới hiện nay theo kiểu chế độ tổng thống này)

1.3 Dù ban đầu đã đạt được ít nhiều thành công, nhưng ngành luật hiến

pháp nước ngoài ở Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, đầy tính sơ lược và khái quát Trong điều kiện đó, chế định nguyên thủ quốc gia cũng chỉ được đề cập chung chung, sơ sài và chế độ tổng thống Mỹ chỉ được coi bình thường như hàng chục mô hình nguyên thủ quốc gia khác Thực trạng này đã không đánh giá đúng được những đặc tính, giá trị khác biệt và ưu thế của chế độ tổng thống Mỹ Như vậy, nghiên cứu kỹ càng và toàn diện chế độ tổng thống Mỹ

sẽ là một nhu cầu cần thiết nhằm bổ sung, hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia, góp phần làm phong phú, cụ thể hoá và phát triển ngành luật hiến pháp nước ngoài ở Việt Nam nói chung

1.4 Quan hệ Việt - Mỹ từng trải qua nhiều thăng trầm, song đã được

bình thường hoá từ năm 1995 và có những bước tiến tích cực Nghiên cứu,

Trang 7

tìm hiểu về chế độ tổng thống Mỹ là việc rất cần thiết để góp phần hiểu rõ cơ cấu, hoạt động và cốt lõi của hệ thống chính trị Mỹ, giúp xây dựng, phát triển quan hệ phù hợp giữa hai nước Ngoài ra, việc nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tổng thống Mỹ chắc cũng sẽ gợi mở việc chia sẻ, chọn lọc, tiếp thu một số điểm tích cực, tương đồng đối với quá trình đổi mới, phát triển và hoàn thiện định chế chủ tịch nước Việt Nam

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Như vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu chế độ tổng thống Mỹ là rất cần thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, đây là vấn đề rộng lớn, phức tạp và do một số nguyên nhân chủ quan, khách quan khác, nên cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu tổng thể hoặc chi tiết về chế độ tổng thống Mỹ

Trước năm 1975, tại miền Nam Việt Nam, dưới chính quyền Sài Gòn,

đã xuất hiện các ấn phẩm pháp lý - chính trị nghiên cứu về Hoa Kỳ, trong đó

có đề cập đến chế độ Tổng thống Mỹ Song sự đề cập đó chỉ chút ít, giữ vai trò tham khảo, hỗ trợ cho nội dung chính của tác phẩm Chẳng hạn, cuốn sách

Cuộc chuẩn bị vĩ đại của C V Doren (Cam Ninh dịch, Việt Nam Khảo dịch

xã, 1966) viết về tiến trình soạn thảo và thông qua Hiến pháp Mỹ nguyên thuỷ

1787, trong đó có trình bày chế định tổng thống trong Hiến pháp được xây

dựng như thế nào Cuốn Những chế độ chính trị hiện nay của M Duverger

(Nhà xuất bản Khai trí, 1967) giới thiệu và phân tích các mô hình thể chế chính trị phổ biến trên thế giới đương thời, trong đó có hình thức cộng hoà tổng thống Mỹ ( trong chương nhan đề “Những chế độ theo tiêu thức Mỹ”)

Giáo trình Luật Hiến pháp và Chính trị học của Nguyễn Văn Bông (Nxb Sài Gòn, 1967) lại đề cập đôi nét về chế độ tổng thống Mỹ ở phần viết về chế định nguyên thủ quốc gia Còn tác phẩm Lực lượng chính trị của Trần Thị

Hoài Trân (Nxb Sài Gòn, 1972) thì viết chủ yếu về cơ cấu tổ chức, hoạt động, quan hệ của các đảng phái và tổ chức chính trị, trong đó có điểm qua vai trò của chế độ tổng thống trong nền chính trị Hoa Kỳ

Trang 8

Sau năm 1975, khoa học pháp lý - chính trị Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, nhưng vấn đề nghiên cứu về chế độ tổng thống Mỹ vẫn chưa tạo được bước tiến nào Tính đến nay, vẫn chưa có sách viết riêng về chế độ tổng thống

Mỹ Một số bài đăng trong các tạp chí Nhà Nước & Pháp Luật, Khoa Học Chính Trị, Châu Mỹ Ngày Nay, Nghiên Cứu Lập Pháp, Dân Chủ & Pháp Luật, Sinh Hoạt Lý Luận thường chỉ hoặc đề cập chế độ tổng thống như một

bộ phận bình thường trong nền chính trị, hoặc tìm hiểu về một lĩnh vực liên

quan đến Tổng thống Mỹ Chẳng hạn, bài Chính thể cộng hoà tổng thống của

Mỹ (PGS TS Nguyễn Đăng Dung - Tạp chí Châu Mỹ Ngày Nay, số 1/1995)

viết khái quát về hình thức chính thể và cơ cấu tổ chức, hoạt động của Nhà

nước Hoa Kỳ, chứ không viết riêng về chế độ tổng thống Mỹ Bài Quyền phủ

quyết của Tổng thống Hoa Kỳ (Trương Xuân Danh - Tạp chí Châu Mỹ Ngày

Nay, số 2/1999) viết về các loại quyền phủ quyết, khả năng, mục đích, ý

nghĩa phủ quyết dự luật của Tổng thống Mỹ Bài Chức năng, thẩm quyền và

hoạt động giám sát hành pháp của Quốc hội Mỹ (Nguyễn Anh Hùng - Tạp

chí Châu Mỹ Ngày Nay, số 11/2002) viết về việc Tổng thống và ngành hành pháp bị Quốc hội Mỹ giám sát như thế nào Các sách báo phổ thông (không thuộc lĩnh vực pháp lý - chính trị) và phương tiện thông tin đại chúng thì thường chỉ cung cấp thông tin cập nhật về hoạt động, quan hệ của Tổng thống, kèm theo một số lời bình luận, chứ không mang tính nghiên cứu khoa học, tổng quát hoặc chuyên sâu

Khác hẳn ở Việt Nam, tại nhiều nước trên thế giới - nhất là ở các quốc gia Bắc Mỹ và Tây Âu - việc tìm hiểu, nghiên cứu về chế độ tổng thống Mỹ phát triển rất mạnh Nhiều hội nhóm, câu lạc bộ nghiên cứu về chế độ tổng thống Mỹ được thành lập, quy tụ các chính trị gia, nhà nghiên cứu và những người quan tâm tìm hiểu chế độ tổng thống Mỹ Một số trường phái, trào lưu nghiên cứu chế độ tổng thống Mỹ cũng xuất hiện và đã có những học giả dành cả cuộc đời mình cho vấn đề hấp dẫn này (như Th E Cronin, M A Genovese, Th E Patterson, R J Spitzer ) Có người đã xây dựng cả luận

thuyết về chế độ tổng thống Mỹ, như A Schlesinger với "chế độ tổng thống

Trang 9

vương quyền" (The Imperial Presidency - Houghton Mifflin, Boston, 1973)

hay S.A Shull với "chế độ tổng thống hai chức vị" (The Two Presidencies -

Nelson-Hall, Chicago, 1991) Cũng có người dày công nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của tất cả các Tổng thống Mỹ, cho ra đời những bách khoa

toàn thư giá trị, tiêu biểu là M Nelson với cuốn "The Presidency A to Z: A

Ready Reference Encyclopedia" (Congressional Quarterly, Washington DC,

1992) và W A Degregorio với cuốn "The Complete Book of U.S President"

(Gramercy Book, New York, 2002) - sách này từng được dịch ra tiếng Việt, được ấn hành 2 lần ở Việt Nam bởi Nxb Chính trị quốc gia và Nxb Văn hóa Thông tin Ngoài những công trình nghiên cứu tổng quát và tổng thể, còn có nhiều công trình nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu về một vấn đề nào đó của chế

độ tổng thống Mỹ, chẳng hạn cuốn "The Presidential Veto" của R J Spitzer

(SUNY Press, Albany, 1988) viết riêng về sự phủ quyết của Tổng thống, cuốn

"Presidential War Power" của L Fisher (University Press of Kansas,

Lawrence, 1995) lại chỉ viết về thẩm quyền chiến tranh của Tổng thống

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tổng thể và chi tiết về chế độ tổng thống Mỹ, gồm các đối tượng:

- Sự hình thành, tồn tại, phát triển; các đặc tính, giá trị, ý nghĩa và ảnh hưởng của chế độ tổng thống Mỹ

- Những yếu tố cơ bản của chế độ tổng thống Mỹ: địa vị, quyền hạn và phương thức thiết lập

- Một số vấn đề liên quan trực tiếp, mật thiết tới chế độ tổng thống Mỹ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu tổng quát về chế độ tổng thống Mỹ trên nền tảng pháp lý - chính trị Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu sâu về 3 yếu tố cơ bản cấu thành nên chế độ Tổng thống Mỹ: địa vị, quyền hạn và phương thức thiết lập

Trang 10

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có tham khảo, áp dụng thêm một số cơ sở

lý luận hiện đại, tiến bộ khác

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Luận văn sử dụng phối kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: biện chứng - lịch sử, phân tích - tổng hợp - hệ thống hoá, thống kê - chứng minh,

so sánh - đối chiếu, địa chính trị - xã hội học Luận văn cũng kết hợp lý thuyết pháp lý với thực tiễn chính trị, đồng thời tìm hiểu, nhìn nhận đánh giá chế độ tổng thống Mỹ từ nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau, với tôn chỉ tạo sự khách quan và dễ chấp thuận Luận văn đưa ra một số khẳng định và quan điểm của tác giả, nhưng không đề cao, tuyệt đối hoá các quan điểm đó Ngôn ngữ luận văn tuân thủ tính khoa học, chính xác nhưng đồng thời thể hiện mềm dẻo, hùng biện, tránh hiện tượng quá khô khan, trùng lặp, luẩn quẩn như từng thấy trong một số luận văn luật học

6 ĐÓNG GÓP MỚI VÀ GIÁ TRỊ CỦA LUẬN VĂN

Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về chế độ tổng thống Mỹ, luận văn này có những đóng góp mới và giá trị nổi bật sau:

- Là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu tổng thể và chi tiết về chế độ tổng thống Mỹ

- Là công trình nghiên cứu quy mô về một loại hình chế độ chính trị quan trọng nhất của cường quốc hàng đầu thế giới

- Làm rõ tiến trình hình thành, tồn tại, phát triển và những giá trị, ý nghĩa, vai trò của chế độ tổng thống Mỹ

- Nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về phương thức thiết lập, địa vị và quyền hạn của Tổng thống Mỹ

- Là công trình kết hợp được nhuần nhuyễn lý thuyết pháp lý và thực tiễn chính trị

- Thể hiện đúng đắn, sống động vị thế, ảnh hưởng của Tổng thống và chế độ tổng thống Mỹ cả ở trong nước Mỹ lẫn trên thế giới

- Góp phần bổ sung, phát triển ngành luật hiến pháp nước ngoài ở Việt Nam; xây dựng quan hệ tích cực Việt - Mỹ; và là nguồn tài liệu tham khảo cho quá trình đổi mới, hoàn thiện định chế chủ tịch nước Việt Nam

- Giúp mở rộng, nâng cao tri thức, hiểu biết về Nhà nước và nền chính trị Mỹ

Trang 12

- Có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên ngành pháp lý - chính trị cũng như những ai quan tâm đến Tổng thống và nước Mỹ

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được cấu trúc bao gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

Bài diễn văn lời lẽ đơn sơ, buổi lễ cũng diễn ra ngắn ngủi, nhưng nó mang ý nghĩa tinh thần thật lớn lao và thiêng liêng Nó là kết quả của cả một giai đoạn lịch sử phức tạp, gói ghém biết bao cố gắng, trí tuệ, tình cảm, mồ hôi, xương máu trong khát vọng tự do, dân chủ, công lý, tiến bộ của toàn thể nhân dân Mỹ

Sau một thế kỷ rưỡi ồ ạt thăm dò, định cư, khai phá, xung đột, chinh phục và dựng xây, dân di cư châu Âu đã trở thành người chủ vững chắc của dải đất rộng lớn trù phú phía đông sông Mississippi Bằng cố gắng bành trướng, đến năm 1763, Nhà nước Anh đã thiết lập được quyền lực của mình trên toàn bộ miền đất gồm 13 bang này Quan hệ giữa 13 thuộc địa Bắc Mỹ với Đế quốc Anh tuy là hậu quả của lịch sử, nhưng không phù hợp với thực tế bấy giờ Phơi phới sức trẻ và khao khát tự do, những người dân ngày càng cảm thấy ngột ngạt khi mà miền đất mới hùng mạnh, đầy tiềm năng của họ phải phụ thuộc vào một hòn đảo xa xôi, già cỗi và bảo thủ với chính thể quân chủ chuyên chế Quan hệ đang dần trở nên gượng ép, hình thức và lỏng lẻo kia đột ngột suy thoái trầm trọng khi chính quyền Anh áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm siết chặt sự cai quản Việc hạn chế tự do chính trị và bòn rút kinh

tế các thuộc địa Bắc Mỹ đã thổi bùng lên ngọn lửa chống Anh Tháng 9/1774, dân cư 13 bang nhóm họp Đại hội Lục địa lần thứ nhất, kêu gọi Hoàng đế và

Trang 14

Nghị viện Anh thay đổi chính sách đối với Bắc Mỹ Không được đáp ứng, họ

tổ chức tiếp Đại hội Lục địa lần thứ hai vào tháng 5/1775, thành lập quân đội

để đấu tranh vũ trang Ngày 4/7/1776, Đại hội Lục địa thông qua Tuyên ngôn Độc lập, cắt đứt mọi quan hệ phụ thuộc với Vương quốc Anh Cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài từ năm 1776 cho đến năm 1783 và kết thúc bằng Hiệp ước Paris, trong đó Anh buộc phải công nhận nền độc lập của Hợp chúng quốc Mỹ gồm 13 bang thuộc địa trước đây

Sau khi tuyên bố độc lập, Đại hội Lục địa hoạt động như một cơ quan đại diện chung của các bang và gấp rút soạn thảo kế hoạch cho một liên bang

Đến ngày 1/3/1781, tất cả các bang đã phê chuẩn, chấp thuận bản Điều lệ Hợp

bang (The Articles of Confederation), theo đó các bang thống nhất lại với

nhau dưới sự điều hành của Hội đồng Hợp bang Gồm thành viên là đại biểu của tất cả các bang, hoạt động theo nguyên tắc tập thể (các quyết định phải được đa số bang đồng ý - đặc biệt phải được không dưới 9 trên 13 bang tán thành nếu là quyết định quan trọng), Hội đồng Hợp bang có chức năng lãnh đạo hoạt động đối ngoại và quốc phòng, giải quyết những tranh chấp lãnh thổ giữa các bang, quy định tiêu chuẩn đo lường, tiền đúc, bưu chính và quan hệ với người da đỏ, còn các bang vẫn duy trì sự độc lập và chủ quyền đối với tất

cả các lĩnh vực khác

Hội đồng Hợp bang, như vậy, mang dáng dấp của một quốc hội với chức năng đại diện và lập pháp hạn chế Tuy đã tập hợp được các bang trong một cộng đồng chính trị và đưa ra nhiều biện pháp nhằm củng cố, phát triển liên bang, nhưng do thiếu vắng cả hệ thống cơ quan hành pháp lẫn tư pháp, nó không thiết lập được quyền lực quốc gia đủ mạnh để buộc các bang thi hành luật chung, áp đặt mức thuế, điều chỉnh ngân sách, kiểm soát thương mại, xây dựng quân đội v.v Hậu quả là đến đầu năm 1786, nước Mỹ suy sụp trầm trọng về mọi phương diện và liên bang bị đe dọa bởi nguy cơ tan rã Những người có trách nhiệm liền quyết định phải triệu tập một hội nghị để kiếm tìm giải pháp cứu vãn, trong đó chắc chắn phải thiết lập một mô hình nhà nước

liên bang hợp lý với nòng cốt là chế độ nguyên thủ quốc gia mạnh để khẳng

Trang 15

định và tập trung quyền lực, cùng một hệ thống cơ quan hành pháp mạnh để quản lý xã hội hữu hiệu

Hội nghị khai mạc cuối tháng 5/1787 tại Philadelphia với sự tham dự của 55 đại biểu các bang (trừ Rhole Island) - phần lớn đều là những người ưu

chung ý niệm về một liên bang thống nhất và hùng mạnh hơn Họ tranh luận

rất sôi nổi, thẳng thắn để cố gắng cùng nhau soạn thảo ra một hiến pháp

(constitution) làm nền tảng pháp lý cơ bản cho hệ thống chính trị tương lai

của Hợp chúng quốc Chế độ tổng thống Mỹ được đặc biệt chú ý và việc nó được quy định trong Hiến pháp cũng như áp dụng trong thực tế sau này bắt nguồn từ mớ quan điểm đa dạng và sự thảo luận nghiêm túc mà sôi động (đôi khi đến gay gắt) của các đại biểu:

Ngày 25/5/1787, Hội nghị chính thức bắt đầu Đoàn đại diện Virginia - bang trội nhất và có truyền thống chính trị nhất - chủ động đề xuất một dự án

nhằm thay thế Hội đồng Hợp bang bởi nhà nước trung ương mới gồm một cơ quan lập pháp toàn quốc, một cơ quan hành pháp toàn quốc và một cơ quan tư pháp toàn quốc Cơ quan hành pháp - mà gồm cả một vài thành viên của cơ quan tư pháp - sẽ do cơ quan lập pháp chỉ định, có quyền xem xét, chấp thuận hay bác bỏ những đạo luật do cơ quan lập pháp toàn quốc hoặc các cơ quan lập pháp bang thông qua Sau mấy ngày thảo luận về những vấn đề bức xúc nhất của liên bang, ngày 1/6, Hội nghị chuyển sang xem xét Mục 7 của Kế hoạch Virginia liên quan đến cơ quan hành pháp Mục này đề nghị "cử một vị tổng thống" do cơ quan lập pháp toàn quốc bầu

1 Các đại biểu có độ tuổi trung bình khoảng 40 (những nhân vật sẽ góp phần quan trọng trong các cuộc tranh luận còn trẻ hơn nữa: Alexander Hamilton chỉ mới 30 tuổi và James Madison 36) Trong 55 người thì 39 đã từng tham dự các đại hội lục địa, 31 là luật gia và

22 có bằng cấp đại học.

2 Kế hoạch Virginia (Virginia plan) là các đề nghị bãi bỏ Điều lệ Hợp bang và thiết lập một chính quyền trung ương mạnh, được Edmun Randolph đệ trình lên Hội nghị Lập hiến năm 1787 (nó còn được gọi là Bản dự thảo Randolph, mặc dù phần lớn được James Madison viết) nhân danh toàn bộ đoàn đại biểu bang Virginia Phần nhiều trong bản dự thảo cuối cùng đã được đưa vào Hiến pháp Mỹ, chẳng hạn như, một nền lập pháp lưỡng viện, một nền hành pháp và tư pháp toàn quốc, đại diện lập pháp căn cứ vào số dân theo

Trang 16

ra, để hoạt động trong một thời gian (không thấy nói rõ); tổng thống được bầu lại nhiệm kỳ thứ hai và chỉ được hưởng mức lương cố định trong suốt thời gian đương chức; "ngoài quyền thi hành pháp luật, tổng thống còn được hưởng quyền chấp hành mà liên bang từng giao cho Hội đồng Hợp bang" [15, tr.36].

Đại biểu Wilson liền đề xuất rằng cơ quan hành pháp chỉ gồm một nhân vật thôi và được đại biểu Pinckney ủng hộ Sau một hồi tạm nghỉ, Chủ tịch Hội nghị Washington hỏi có nên nêu lại vấn đề không Đại biểu Franklin cho đó là một điểm rất quan trọng và ông hy vọng các vị đại biểu sẽ trình bày

ý kiến về vấn đề này trước khi đem ra tranh luận Phần đông đại biểu do dự vì

họ không thể nào nghĩ tới một vị tổng thống duy nhất mà không liên tưởng đến một vị vua Cuộc cách mạng giành độc lập chẳng những đã chống lại nước Anh mà còn phủ nhận Vương triều Anh Hoàng đế Anh George III bấy giờ là biểu tượng chuyên chế khét tiếng mà nhân dân Mỹ căm ghét Không đại biểu nào tin rằng họ có thể quay lại chế độ quân chủ hoặc một bản hiến pháp ủng hộ chế độ đó lại được toàn dân Mỹ chấp thuận Nhiều người thấy rõ nền quân chủ hại nhiều hơn lợi nhưng vẫn e ngại việc một vị tổng thống duy nhất dễ trở nên độc tài nếu ông ta đứng đầu một nền cộng hoà còn non trẻ, nhiều thành phần và nhiều biến động - những yếu tố thuận lợi thường dẫn đến kết cục là sự chuyên chế trung ương

Đại biểu Rutledge mở màn cuộc tranh luận bằng tuyên bố rằng các đại biểu được quyền tự do giãi bày quan điểm của họ mà không hề bị ràng buộc

gì sau này Riêng ông, ông tán thành có một vị tổng thống duy nhất, nhưng không muốn cho người đó quyền tuyên chiến và quyền ký kết điều ước quốc

tế Đại biểu Sherman cho rằng "tổng thống" chẳng qua là một công chức thuộc cơ quan lập pháp toàn quốc và cơ quan này - có nhiệm vụ chỉ định tổng thống - được quyền tự do chỉ định một hoặc nhiều vị tuỳ theo trường hợp Wilson tán thành "một vị tổng thống duy nhất" vì chỉ có vậy tổng thống mới gánh vác được trọng trách một cách xứng đáng, linh động và đầy nghị lực; còn vài quyền do Hoàng đế Anh nắm giữ trước kia - như quyền tuyên chiến

Trang 17

và ký kết điều ước - đều thuộc quyền lập pháp, không nên ban cho tổng thống

Mỹ theo Kế hoạch Virginia Đại biểu Gerry thì ủng hộ chủ trương lập thêm một hội đồng bên cạnh tổng thống để tạo ra sự khách quan và tín nhiệm Đại biểu Randolph kịch liệt phản đối sự thống nhất trong cơ quan hành pháp, cho đấy là mầm mống của chế độ quân chủ và theo ông, bộ máy hành pháp liên bang phải gồm nhiều nhân vật - rất có thể là 3 người Hội nghị vẫn chưa quyết định gì về sự lựa chọn phương án một hay nhiều vị tổng thống, mà chỉ nhất trí nên thành lập một cơ quan hành pháp toàn quốc Tiếp theo, các đại biểu bàn tới vấn đề quyền hạn dành cho tổng thống Ngày hôm đó, hội nghị thoả thuận rằng cơ quan hành pháp phải có quyền "thi hành pháp luật trong nước" Các đại biểu hoãn lại việc nghiên cứu phương pháp bầu cử để thảo luận thời gian nhiệm kỳ tổng thống Lúc bỏ phiếu ủng hộ đề nghị nhiệm kỳ 7 năm, 5 bang

bỏ phiếu thuận, 4 chống và 1 trắng (Massachusetts) Đến khi hội nghị bàn tới vấn đề "cách thức chỉ định", Wilson nhấn mạnh rằng tổng thống phải do dân bầu, cũng như đối với cơ quan lập pháp toàn quốc vậy Đại biểu Mason rất tán đồng, nhưng e việc đó khó thực hiện được, tuy nhiên ông cũng hy vọng rằng Wilson sẽ có thời gian để nghĩ ra biện pháp thích hợp hơn

Ngày hôm sau (2/6), Wilson đưa ra một chương trình với mục đích cho nhân dân có thể lựa chọn tổng thống mà không cần sự can thiệp của các tiểu bang hoặc của cơ quan lập pháp toàn quốc Theo đó, chia các tiểu bang ra thành nhiều quận, cho các cử tri bỏ phiếu bầu hội viên viện thứ nhất của cơ quan lập pháp toàn quốc rồi để những hội viên này lựa chọn những người xứng đáng trong các quận đi bỏ phiếu lập ra cơ quan hành pháp toàn quốc Đồng thời, cho các cử tri bỏ phiếu theo bang - chứ không phải theo đầu người

- để quyết định nên có một hay nhiều vị tổng thống Chương trình này của Wilson bị phủ quyết phũ phàng với 8 phiếu chống 2 phiếu thuận (mặc dù sau này nội dung cơ bản của nó được Hiến pháp ghi nhận và áp dụng)

Đến khi bàn tới vấn đề lương bổng, Franklin đề nghị rằng tổng thống sẽ được thanh toán chi phí cần thiết, nhưng không được hưởng lương hoặc tiền thưởng Ông liệt kê một số viên chức cao cấp ở Pháp và Anh tuy chẳng có lương

Trang 18

bổng gì mà công việc vẫn được thi hành chu đáo Ông cũng nhắc lại phong tục của giáo dân Quaker hơn một thế kỷ trước đó từng ra phục vụ không công cho đoàn thể ở những chức vị khó nhọc Ông còn minh hoạ bằng việc Washington suốt 8 năm (1775-1783) đảm nhiệm chức Tổng Chỉ huy Quân đội Lục địa Mỹ

mà không hề hưởng đồng lương nào và khẳng định sẽ luôn tìm được những người như vậy ở Hợp chúng quốc Đại biểu Hamilton ủng hộ và tăng cường quan điểm của Franklin bằng những lý lẽ sắc sảo Tuy nhiên, phần đông đại biểu cho việc tổng thống không hưởng lương bổng là thiếu thực tế và coi Franklin giống "một triết gia cổ hủ hơn là một chính khách hiện đại" trong vấn đề này!

Trở lại vấn đề tổng thống cá nhân hay tập thể, khi Rutledge đề nghị (và Pinckney ủng hộ) rằng chỉ nên lập một vị tổng thống thôi thì Randolph kiên quyết phản đối với 4 lý do: một là, nhân dân luôn chống lại mọi hình thức quân chủ trá hình; hai là, sự thống nhất không cần thiết lắm, và nhiều nhân vật cùng lãnh đạo cơ quan hành pháp cũng vẫn có khả năng để thực hiện các mục tiêu chung; ba là, sự tín nhiệm cần thiết sẽ không bao giờ được đặt hết cả vào một vị tổng thống duy nhất; bốn là, nên chỉ định một người cự ngụ gần trung tâm quốc gia làm tổng thống, và do đó những nơi xa xôi sẽ không được hưởng quyền bình đẳng Randolph đề nghị nên có một hội đồng tổng thống gồm 3 nhân vật "thuộc các khu vực khác nhau trong nước"

Cuộc bàn cãi tiếp diễn vào ngày 4/6 khi Wilson đứng lên chỉ trích Randolph là đã quá đề cao mục đích được lòng người mà ít chú ý đến tính thực tế và hiệu quả của vấn đề Wilson tin chắc rằng nhân dân - sau khi thấy

rõ "một vị tổng thống duy nhất đâu phải là một ông vua" - sẽ nhận thấy chế độ tổng thống cá nhân đâu có gì gọi là quân chủ trá hình Trong cả 13 bang, đều có một vị nguyên thủ duy nhất ở mỗi bang (với tư cách thống đốc hoặc chủ tịch) mà

"chưa bang nào nghĩ tới chuyện lập 3 nguyên thủ một lúc cả" [15, tr.40] Cơ quan hành pháp toàn quốc nếu có 3 vị nguyên thủ cùng lúc thì sẽ chẳng còn gì

là sức mạnh và sự ổn định nữa! Đến khi biểu quyết, 3 bang (New York, Delaware, Maryland) bỏ phiếu chống, còn 7 bang khác đều tán thành mô hình tổng thống cá nhân

Trang 19

Tổng thống có quyền ngừng thi hành một đạo luật nào đó trong nhiều năm - đề xuất này của đại biểu Butler chỉ được Franklin ủng hộ, còn các đại biểu khác đồng loạt phản đối Theo gợi ý của Gerry, mọi người dần nhất trí (trừ bang Connecticut và Maryland) là tổng thống có quyền phủ quyết một đạo luật mà đạo luật đó sau này chỉ có thể được thông qua với sự tán thành của ít nhất 2/3 số hội viên có mặt trong từng viện của cơ quan lập pháp toàn quốc Nhưng Mason bất bình ra mặt: "Về vấn đề này chúng ta đã đi quá xa Chúng ta hiện giờ không thành lập một chính phủ kiểu Anh nữa, mà đang thành lập một chế độ quân chủ nguy hiểm hơn nhiều Liệu các ngài có định dọn đường cho một chế độ quân chủ cha truyền con nối chăng? Liệu các ngài

có cho rằng nhân dân sẽ hài lòng thấy sự thay đổi này chăng? Nếu vậy tôi xin mạn phép nói rằng: các ngài đã lầm! " [15, tr.40] Mason, cũng như phần lớn phái cao tuổi trong Hội nghị, luôn phản đối chế độ quân chủ và sự tăng cường quyền hành cho tổng thống Còn phái trẻ tuổi - trước sự nhu nhược cùng thực trạng lộn xộn của liên bang - lại muốn một vị tổng thống đầy uy quyền và họ hoàn toàn tin tưởng rằng ý chí của nhân dân có thể kiềm chế được tổng thống

Dù sao, cả hai phái đều chung quan điểm là chế độ tổng thống Mỹ vừa phải khác hẳn chế độ quân chủ, vừa phải ngăn chặn được nguy cơ xuất hiện một bạo chúa cộng hoà Ngành hành pháp phải đủ mạnh để thực thi quyền lực, duy trì liên bang và đảm bảo an ninh; nhưng lại không được quá mạnh khiến

có thể ảnh hưởng xấu đến quyền tự do, dân chủ của mọi người

Những ngày tiếp theo, Hội nghị bàn bạc các lĩnh vực khác và thảo luận

về dự án do đoàn đại biểu bang New Jersey đề xuất Đến ngày 18/6, Hamilton phát biểu rất dài (liền khoảng 5-6 giờ!), phản đối cả Kế hoạch Virginia lẫn Kế hoạch New Jersey và đưa ra dự án của mình Theo đó, về phần hành pháp, trưởng ngành hành pháp sẽ có quyền hạn rộng lớn như một vị vua - kể cả quyền phủ quyết tuyệt đối các đạo luật, bổ nhiệm thống đốc bang và giữ nhiệm kỳ rất lâu dài Kế hoạch Hamilton nhìn chung không được ủng hộ và thời gian sau đấy, mỗi khi bàn đến chế độ tổng thống, các đại biểu lại quay về

Kế hoạch Virginia, đồng thời tham khảo thêm những quy định về chế độ

Trang 20

thống đốc trong hiến pháp các bang - đặc biệt là Hiến pháp bang Massachusetts

Ngày 26/7, về cơ bản, Hội nghị thảo luận xong mọi vấn đề và cho soạn một dự án Hiến pháp căn cứ vào kết quả thu được Ngày 6/8, bản Dự án Hiến pháp Hoa Kỳ đem trình trước toàn thể hội nghị, bao gồm nhiều quy định hơi khác so với sự mong đợi của các đại biểu Dự án cũng đặt những tên mới cho các cơ quan nhà nước liên bang:"cơ quan lập pháp toàn quốc" gọi là "Quốc hội",

"viện thứ nhất" là "Hạ (Nghị) viện", "viện thứ hai" là "Thượng (Nghị) viện", "cơ quan tư pháp toàn quốc" là "Toà án Tối cao" ; riêng "trưởng ngành hành pháp" đổi là "Tổng thống Hợp chúng quốc Mỹ (Hoa Kỳ)" và được gọi là "Ngài"!

Ngày 7/8, Hội nghị một lần nữa xem xét kỹ càng từng điều khoản của

Dự án Hiến pháp Riêng chế độ tổng thống quy định trong toàn bộ Điều II và một phần Điều I được các đại biểu chấp thuận ngay, không cần tranh luận, tuy

có phải sửa đổi, bổ sung tí chút Ngày 17/9, Hiến pháp được Hội nghị thông qua rồi chuyển tới các bang để trưng cầu việc chấp thuận Ngày 18/9/1787, Hội nghị bế mạc Hiến pháp chính thức có hiệu lực từ ngày 21/6/1788 - khi bang thứ 9 là New Hampshire phê chuẩn (nhưng phải đến ngày 29/5/1790, bang thứ 13 là Rhode Island - vốn không cử đại biểu tham gia Hội nghị - mới phê chuẩn)

Ngay sau khi Hiến pháp có hiệu lực, chính quyền liên bang và các bang

đã khẩn trương chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên Từng làm Tổng Chỉ huy Quân đội Lục địa rồi Chủ tịch Hội nghị Lập hiến Philadelphia, là vị anh hùng dân tộc mà uy danh đã lừng lẫy đến mức huyền thoại, Washington (công dân bang Virginia) được toàn bộ 69 đại cử tri của 10 bang bầu làm Tổng thống vào ngày 4/2/1789 (các bang North Carolina và Rhode Island vẫn chưa phê chuẩn Hiến pháp nên không tham gia bầu cử; còn bang New York

đã không thể quyết định kịp nên không gửi đại cử tri đi bầu) John Adams (công dân bang Massachusetts) giành được 34 phiếu, trở thành Phó Tổng thống Cuộc bầu cử tuy không toàn diện, lại gặp nhiều trục trặc do thiếu kinh nghiệm, nhưng vẫn thành công, trở thành cuộc thiết lập nguyên thủ quốc gia

Trang 21

mới mẻ, dân chủ, tiến bộ nhất trên thế giới thời bấy giờ Và buổi lễ nhậm chức lịch sử diễn ra ngày 30/4/1789

1.2 NHỮNG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC TÍNH CỦA CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG MỸ

1.2.1 Những giai đoạn phát triển của chế độ tổng thống Mỹ

Lịch sử quốc gia và dân tộc Hoa Kỳ luôn gắn chặt với mô hình nguyên thủ đặc trưng của họ Sự tồn tại vững chắc, hoạt động hiệu quả và không ngừng lớn mạnh của chế độ tổng thống là yếu tố quan trọng bậc nhất làm nên

sự hùng cường của nước Mỹ ngày nay

Tính quy tụ cao, khiến chế độ tổng thống Mỹ vẫn giữ được gần như vẹn nguyên những nét cơ bản ban đầu trong suốt quá trình phát triển Tuy vậy, là một thiết chế động với những chức năng, những quan hệ rất phong phú, phức tạp, nhuốm đẫm hơi thở thời đại, chế độ Tổng thống Mỹ cũng mang dáng vẻ riêng trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và đó chính là cơ

sở để phân kỳ tương đối sự phát triển của nó

1.2.1.1 Giai đoạn 1789 - 1877: Nền móng và các tiền lệ

Có thể coi đây là giai đoạn thử nghiệm, đầy biến động và phát triển rất mạnh của chế độ tổng thống Mỹ - sự phát triển mang tính định hình Những quy phạm sơ sài và khái quát của Hiến pháp đã khiến việc áp dụng chế độ tổng thống Mỹ - một mô hình nguyên thủ quốc gia hoàn toàn mới lạ trên thế giới thời bấy giờ - trở nên không dễ dàng và lại càng khó khăn hơn trong hoàn cảnh của một nước Mỹ non trẻ đang bộn bề với những nhiệm vụ, những nhu cầu cấp bách về kiến thiết và củng cố Các cuộc tranh luận xoay quanh chế độ tổng thống Mỹ vẫn diễn ra sôi nổi khắp nơi, chủ yếu tập trung vào vấn đề bầu

cử và quyền hạn, gây nên những ảnh hưởng quan trọng Các nhà lập hiến Mỹ cũng dần thấy rằng, thực tế áp dụng chế độ tổng thống đã khác nhiều so với quy định của Hiến pháp và những gì họ mong đợi - ví dụ, họ hy vọng Tổng thống sẽ là nhân vật trung lập, không thuộc đảng phái chính trị nào, nhưng

Trang 22

thực tế chỉ có Washington đáp ứng được điều đó, còn tất cả các Tổng thống tiếp theo đều bị chi phối mãnh liệt bởi tư tưởng và hành động đảng phái

Trong giai đoạn này, vai trò nguyên thủ quốc gia và vai trò người đứng đầu hành pháp chưa phát triển tương xứng, đồng bộ Quan hệ giữa Tổng thống (trên tư cách người đại diện liên bang) với các bang vốn là quan hệ rất nhạy cảm, nhưng lại không hề được Hiến pháp quy định nên đã dần bị hình thức hoá trước khả năng độc lập khá mạnh của các bang: nhiều bang không tin tưởng, không tuân phục địa vị và quyền lực tổng thống - đỉnh cao là sự kiện 11 bang miền Nam chống đối chính sách giải phóng nô lệ của Tổng thống (1861 - 1865) Abraham Lincoln (1809 - 1865), cùng tách khỏi liên bang, bầu lên một tổng thống riêng, gây ra cuộc nội chiến tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ Phương thức thiết lập rườm rà và bất hợp lý đã sớm dẫn đến rắc rối trong cuộc bầu cử năm 1800, buộc Nhà nước Mỹ phải ban hành Điều bổ sung thứ XII của Hiến pháp vào năm 1804, thay thế phần lớn quy chế bầu cử tổng thống Quyền hành lớn, lại chưa bị giới hạn chặt chẽ, cùng với nhu cầu cấp bách về mở rộng, thống nhất và ổn định liên bang khiến các Tổng thống Mỹ hoạt động khá tự chủ, nhưng đôi khi tùy tiện, thậm chí có xu hướng lạm quyền - điển hình là việc Tổng thống (1865 - 1869) Andrew Johnson (1808 - 1875) bị Quốc hội buộc tội lạm quyền và suýt bị cách chức năm

1868 Chưa có quy định chính thức về bộ máy giúp việc và những quyền lợi đặc biệt mà Tổng thống được hưởng, nên các Tổng thống phải làm việc rất căng thẳng Còn non trẻ và quá bận rộn với những nhiệm vụ đối nội, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chưa tạo được ảnh hưởng quốc tế đáng kể; quyền lực nguyên thủ quốc gia của Tổng thống Mỹ, vì thế, cũng chưa được phát triển mạnh trên phương diện đối ngoại

Dù mang những hạn chế như vậy, chế độ Tổng thống Mỹ vẫn tồn tại

vững và liên tục bởi nhiều nguyên do, quan trọng nhất có lẽ là nhờ khả năng

và vai trò cá nhân đặc biệt của các vị Tổng thống Phần lớn trong số 18 Tổng

thống giai đoạn này đều là những người xuất sắc, có quá khứ nhân thân chói lọi: Tổng thống (1789 - 1797) George Washington (1732 - 1799) được coi là

Trang 23

“người sáng lập nước Mỹ”; Tổng thống (1801 - 1809) Thomas Jefferson (1743 - 1826) - nhà tư tưởng vĩ đại, tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập; Tổng thống (1809 - 1817) James Madison (1751 - 1836) - tác giả chính của Hiến pháp; Tổng thống (1829 - 1837) Andrew Jackson (1767 - 1845) - nhà dân chủ và cải cách, người hùng trong trận chiến chống Anh năm 1815 và chống Tây Ban Nha năm 1818; Tổng thống (1861 - 1865) Abraham Lincoln (1809 - 1865) - người chủ trương thống nhất nước Mỹ và giải phóng nô lệ; Tổng thống (1869 - 1877) Ulysses S Grant (1822 - 1885) - vị tướng thiên tài chỉ huy quân đội miền Bắc trong cuộc Nội chiến 1861 - 1865 v.v Là nhân vật trung tâm của một thể chế hoàn toàn mới lạ, đứng đầu một liên bang cộng hoà rộng lớn mà non trẻ, họ phải gánh vác sứ mệnh của kẻ “đi tiên phong trên mảnh đất chưa ai đặt chân” (đúng như lời Washington) Bằng uy tín, nghị lực

và tài năng đặc biệt, họ đã hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh vất vả đó, góp phần quyết định trong việc mở rộng lãnh thổ, phát triển kinh tế, nâng cao dân chủ cho Hợp chúng quốc, đồng thời duy trì sự tồn tại liên tục và vững mạnh của chế độ tổng thống Bất chấp mọi khó khăn ngăn trở, họ mạnh dạn tự ý đặt

ra hàng loạt tiền lệ cần thiết nhằm hoàn thiện chế độ tổng thống - những tiền

lệ mà ngay cả các nhà lập hiến Mỹ cũng không ngờ tới hoặc không dám quy định Đáng kể nhất là:

(1) Tiền lệ về tham khảo ý kiến Nội các:

Trên cơ sở tham khảo ý kiến các bộ trưởng - giống như việc từng thành lập Hội đồng Chiến tranh để cố vấn cho mình trong thời kỳ chống Anh giành độc lập - Tổng thống Washington đã nêu gương cho các Tổng thống sau này

về chuyện thường xuyên tham khảo ý kiến Nội các

(2) Tiền lệ về quyền chọn Nội các:

Trước kia, Quốc hội thường không thẩm tra lại việc bổ nhiệm của Tổng thống Washington (chủ yếu do tôn trọng cá nhân ông, chứ không phải nguyên tắc quy định vậy), từ đó hình thành nên một tập quán chung là “Tổng thống

có quyền chọn Nội các” Quốc hội thường chỉ thừa nhận việc bổ nhiệm Nội

Trang 24

các của Tổng thống mà thôi - thậm chí điều đó vẫn được áp dụng ngay cả khi đảng đối lập chiếm đa số trong Quốc hội

(3) Tiền lệ về giới hạn hai nhiệm kỳ:

Ban đầu, Hiến pháp Mỹ chưa quy định mỗi Tổng thống có thể giữ chức tối đa bao nhiêu nhiệm kỳ Tổng thống Washington đáng lẽ đã đặt ra tiền lệ một nhiệm kỳ, vì ngay khi mới nhậm chức (năm 1789), ông đã quyết định mình sẽ thôi chức vĩnh viễn vào năm 1793; nhưng thực tế đã buộc ông tiếp tục đảm nhận nhiệm kỳ thứ hai (1793 - 1797), bởi lúc đó Chính phủ trung lập (phi đảng phái) mà ông cố công duy trì đang có nguy cơ tan rã Như vậy, ông ngầm quy ước giới hạn 2 nhiệm kỳ Tiền lệ này được các Tổng thống tiếp theo giữ nghiêm đến tận năm 1940, khi Tổng thống (1933 - 1945) Franklin D Roosevelt (1882 - 1945) ra ứng cử và trúng cử vào nhiệm kỳ thứ ba Năm

1951, Nhà nước Mỹ đã ban hành Điều bổ sung thứ XXII của Hiến pháp, chính thức hoá tiền lệ về giới hạn hai nhiệm kỳ

(4) Tiền lệ về sự lựa chọn Chánh án Toà án Tối cao:

Khi John Jay từ chức Chánh án Tòa án Tối cao (năm 1795), Tổng thống Washington đáng lẽ có thể chọn một thẩm phán Toà án Tối cao lên thay thế, đúng như mong muốn và dự đoán của nhiều người Nhưng Washington

đã không hành động như vậy - ông không lấy thâm niên, kinh nghiệm nghề nghiệp làm tiêu chuẩn để lựa chọn người lãnh đạo ngành tư pháp quốc gia Ông đã định hình một tiền lệ mới, theo đó các Tổng thống kế tiếp có thể lựa chọn trong số nhiều người trẻ tuổi, tài giỏi, năng động để bổ nhiệm vào chức vị Chánh án Toà án Tối cao thay cho việc chỉ chọn trong số ít những thẩm phán tối cao đương chức - thường già cả, bảo thủ, chậm chạp

(5) Tiền lệ bác bỏ sự can thiệp của Hạ viện trong lĩnh vực đối ngoại:

Sau khi Thượng viện Mỹ thông qua Hiệp ước Jay (ký kết với Anh năm 1795), Hạ viện lại yêu cầu Tổng thống Washington cho xem tất cả giấy tờ có liên quan trực tiếp tới quá trình đàm phán dẫn đến Hiệp ước này Nhưng Washington từ chối với lý do, theo Hiến pháp, Hạ viện không được quyền can thiệp vào chuyện đàm phán, ký kết, thông qua điều ước quốc tế, cũng như

Trang 25

nhiều vấn đề đối ngoại khác Như vậy, ông đã đặt ra một tiền lệ cho các Tổng thống tiếp theo có thể bác bỏ những yêu sách tương tự của Hạ viện

(6) Tiền lệ về đặc quyền:

Năm 1807, Tổng thống Jefferson bị đòi ra hầu toà để làm chứng trong

vụ xét xử Aaron Burr vì tội mưu phản và bị yêu cầu phải đem theo mọi giấy

tờ có liên quan tới vụ này Nhưng Jefferson từ chối, không chịu đến toà và chỉ đồng ý cung cấp những thông tin nào ông muốn Với xử sự này, Jefferson đã tạo nên tiền lệ về đặc quyền của Tổng thống

(7) Tiền lệ về bổ nhiệm người thân tín và có công:

Trong hai nhiệm kỳ (1829 - 1837), Tổng thống Jackson đã bãi nhiệm, sa thải hàng ngàn công chức liên bang và thay thế bằng những người đã ủng hộ mình trong cuộc tranh cử Ông coi đó là một quyền lợi cơ bản của đảng thắng cử và được người ta gọi bởi thuật ngữ “ chế độ chiến lợi phẩm” (spoils system) Thực ra, Washington và Jefferson cũng từng làm thế, nhưng chỉ đến Jackson, việc ấy mới trở thành nguyên tắc dùng sự

bổ nhiệm chức vụ để thưởng công cho những hoạt động chính trị Mặc dù

bị dư luận phản đối mạnh mẽ, những người kế nhiệm Jackson vẫn áp dụng rộng rãi tiền lệ này và chỉ đến năm 1881 - khi một kẻ có công không được đền bù như mong muốn đã ám sát Tổng thống (1881) James A Garfield (1831 - 1881) - thì việc tuyển dụng, bổ nhiệm công chức liên bang mới được thay đổi cho an toàn và hiệu quả hơn

(8) Tiền lệ về kế vị đầy đủ:

Là Phó Tổng thống Mỹ đầu tiên lên kế vị khi Tổng thống đương nhiệm

từ trần, Tổng thống (1841 - 1845) John Tyler (1790 - 1862) nhậm chức giữa không khí tranh luận gay gắt về địa vị của ông Luật pháp bấy giờ chưa quy định rõ sự kế vị Rất nhiều người cho rằng, trong những trường hợp đặc biệt kiểu này, Phó Tổng thống chỉ được đảm nhận quyền cùng nghĩa vụ của Tổng thống chứ không được nhận chức Tổng thống và như vậy, Tyler thực ra chỉ là Quyền Tổng thống (Acting President) Nhưng Tyler cương quyết phản đối Ngay từ đầu, ông đã tự coi là Tổng thống và cho rằng địa vị, quyền lực của

Trang 26

rắn, Tyler gửi trả nguyên vẹn mọi thư tín gửi tới cho ông với tư cách là cho một “Quyền Tổng thống”! Quan điểm của Tyler cuối cùng trở thành tiền lệ, cho phép các Phó Tổng thống Mỹ trở thành “Tổng thống” - với đầy đủ ý nghĩa, giá trị của từ này - khi Tổng thống đương nhiệm đột ngột từ trần

1.2.1.2 Giai đoạn 1877 - 1901: Sự đổi thay nhiều mặt

Công cuộc tái thiết sau nội chiến kết thúc tốt đẹp, nước Mỹ bước vào

kỷ nguyên chuyển mình mạnh mẽ Lãnh thổ tiếp tục được mở rộng và thống nhất, đồng thời với việc tăng cường quyền lực trung ương Nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc Rất nhiều thiết chế “không chính thức” (đảng phái, nhóm áp lực ) hình thành và cạnh tranh sôi động, tạo nên sự đa dạng, phức tạp và cơ cấu mới, thế cân bằng mới cho hệ thống chính trị Đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ nổi lên như hai tổ chức hùng hậu đối lập, cùng nhau hoặc luân phiên khống chế quyền lực nhà nước Với việc trục xuất Tây Ban Nha khỏi châu

Mỹ và chiếm của nước này các thuộc địa Puerto Rico, Guam, Philippines qua cuộc chiến tranh chớp nhoáng năm 1898, Hoa Kỳ bắt đầu khẳng định vai trò cường quốc cùng sức mạnh can thiệp quốc tế của mình

Những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến chế độ tổng thống Mỹ Vai trò nguyên thủ quốc gia và vai trò người đứng đầu hành pháp đã phát triển đồng

bộ, hài hoà Tổng thống và chế độ tổng thống đã được tất cả các bang thừa nhận cả về pháp lý lẫn trên thực tế Quyền lực tổng thống vì vậy tập trung và khả năng thực hiện suôn sẻ hơn nhưng lại bị giám sát chặt chẽ hơn do cơ chế kìm giữ - đối trọng giữa Quốc hội và Toà án Tối cao với Tổng thống bắt đầu khôi phục giá trị sau một thời kỳ dài giảm sút hiệu lực Qua nhiều sửa đổi, phương thức bầu cử vẫn còn bộc lộ những bất hợp lý - điển hình là việc Tổng thống (1877 -1881) Rutherford B Hayes (1822 - 1893) và Tổng thống (1889 - 1893) Benjamin Harrison (1833 - 1901) đắc cử nhờ hơn đối thủ số phiếu đại

cử tri, nhưng lại kém về số phiếu cử tri thường Việc mở rộng đối tượng được quyền bầu cử, các luồng nhập cư ồ ạt, nhiều thiết chế mới xuất hiện và tạo ảnh hưởng v.v đã khiến các Tổng thống Mỹ không còn bành trướng nổi vai trò cá nhân như trước nữa Họ giành được chức một cách vất vả, hoạt động

Trang 27

thận trọng và không ai trong 6 Tổng thống giai đoạn này cầm quyền nhiệm

phát triển trong lĩnh vực danh dự, nghi lễ quốc gia và đối ngoại Quyền lợi Tổng thống cũng được tăng cường, đáng kể nhất là sự sửa đổi mức lương còi cọc và cải thiện quy chế bảo vệ - tuy vậy vẫn chưa ngăn được nhiều biến cố đáng tiếc như việc Tổng thống (1881) Garlfield (1831 - 1881) và Tổng thống (1887 - 1901) William McKinley (1843 - 1901) bị ám sát Tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ giữa Tổng thống với đảng phái chính trị được khẳng định và kể từ đây không ai có thể đắc cử tổng thống nếu không phải là thành viên của đảng Dân chủ hoặc đảng Cộng hoà Chế độ tổng thống Mỹ đã phát triển vững chắc trong nước, đồng thời ảnh hưởng khuôn mẫu của mình ra khắp châu Mỹ Latinh và được cộng đồng quốc tế công nhận là một mô hình nguyên thủ quốc gia phổ biến

1.2.1.3 Giai đoạn 1901- 1945: Vững mạnh trong môi trường khủng hoảng

và hai cuộc chiến tranh thế giới (1914 - 1918; 1939 - 1945) tác động mạnh đến toàn nước Mỹ nói chung cũng như chế độ tổng thống nói riêng Vai trò nguyên thủ quốc gia và vai trò người đứng đầu hành pháp đã gắn bó mật thiết và chuyển hoá linh động Các Tổng thống đều phát huy được hết mức năng lực và vị thế cá nhân của mình Để đảm bảo an ninh chính trị và kinh tế trong tình trạng khẩn cấp, họ sử dụng thường xuyên những quyền hành đặc biệt, nhiều khi làm xê dịch hoặc phá vỡ hàng rào giới hạn của Hiến pháp Quan hệ kiềm chế và đối trọng giữa ba cơ quan nhà nước trung ương (Quốc hội - Tổng thống - Toà án Tối cao) mất đi trạng thái cân bằng do ưu thế nghiêng hẳn về phía Tổng thống

3 Grover Cleveland (1837-1908) giữ chức tổng thống hai nhiệm kỳ nhưng không liên tiếp (1885-1889 và 1893-1897) Còn William McKinley nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ hai liên tiếp vào ngày 4/3/1901 nhưng lại từ trần (do bị ám sát) sau đó không lâu (ngày 14/9/1901).

Trang 28

Phương thức thiết lập cũng có một số thay đổi quan trọng Từ năm

1920 - khi Điều bổ sung thứ XIX của Hiến pháp trao quyền bầu cử cho cả phụ

nữ - phạm vi đối tượng được bầu Tổng thống mở rộng rất nhiều cả về số lượng lẫn tính chất Nền móng chế độ tổng thống vì vậy trở nên vững chắc, bình đẳng và toàn diện hơn (Tổng thống sẽ là đại diện của toàn dân Mỹ chứ không còn riêng của nam giới như trước nữa!) Để tăng tính liên tục và nâng cao hiệu quả chính trị, Điều bổ sung thứ XX được ban hành vào năm 1933, chuyển ngày nhậm chức từ 4/3 xuống 20/1, rút ngắn khoảng cách tế nhị từ lúc trúng cử đến lúc chính thức cầm quyền của Tổng thống Việc F D Roosevelt đắc cử 4 lần liên tiếp (năm 1932, 1936, 1940, 1944) khiến người ta bắt đầu xem xét nghiêm túc vấn đề giới hạn số nhiệm kỳ tổng thống

Quyền hành tổng thống được mở rộng, tăng cường trong lĩnh vực lập pháp, an ninh quốc phòng và đối ngoại Quyền lợi cũng được bảo đảm hơn và mặc dù có nhiều biến động phức tạp, không ai trong 7 Tổng thống giai đoạn này bị ám sát Năm 1939, vượt qua nhiều cản trở thực tế và bất chấp cả việc Hiến pháp không quy định, F D Roosevelt chính thức cho thiết lập bộ máy giúp việc - sự kiện đánh dấu bước phát triển đặc biệt quan trọng của chế độ tổng thống Mỹ: từ đây, Tổng thống Mỹ đã có một cơ quan đắc lực giúp mình củng cố địa vị và điều hành xã hội, phối hợp và kiểm soát những mặt hoạt động cơ bản nhất của quốc gia, quyền lực tổng thống (nhất là quyền hành pháp) lớn mạnh, vững chắc hơn trước rất nhiều và bắt đầu mang sắc thái mới của chế độ nguyên thủ quốc gia hiện đại

1.2.1.4 Giai đoạn từ năm 1945 đến nay: Ổn định, toàn diện hoá và hiện đại

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai kết thúc đã đưa nước Mỹ lên vị trí cường quốc hàng đầu thế giới Chế độ tổng thống Mỹ được dịp bành trướng

mô hình khuôn mẫu của mình ra khắp các châu lục Quyền lực tổng thống Mỹ cũng được mở rộng và khẳng định ưu thế trong lĩnh vực đối ngoại

Tuy vậy, nhìn chung, tốc độ phát triển chế độ tổng thống Mỹ giai đoạn này có phần chững lại với xu hướng ổn định và toàn diện hoá Trong nước, nền kinh tế năng động, cơ cấu chính trị - pháp lý phức tạp và sự can thiệp

Trang 29

mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ đã làm thay đổi nhiều giá trị cổ truyền của chế độ tổng thống, đặt nó vào trạng thái phát triển vừa linh hoạt lại vừa thận trọng Ngoài nước, mặc dù Tổng thống Mỹ trở thành nhân vật có uy lực bậc nhất thế giới và mô hình nguyên thủ quốc gia kiểu Mỹ đã phổ biến rộng rãi, chế độ tổng thống Mỹ bắt đầu phải vất vả cạnh tranh ảnh hưởng với hàng loạt mô hình nguyên thủ quốc gia khác - không kém phần ưu việt - mới xuất hiện khắp nơi

Phương thức thiết lập tiếp tục được hoàn thiện và các điều khoản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp ban hành trong giai đoạn này đều ít nhiều nhằm mục đích ấy Điều bổ sung thứ XXII (năm 1951) giới hạn mức tối đa 2 nhiệm kỳ đối với những ai giữ chức Tổng thống Điều bổ sung thứ XXIII (năm 1961) cho phép công dân Thủ đô Washington được tham gia bầu cử ra Tổng thống, Phó Tổng thống Điều bổ sung thứ XXIV (năm 1964) cấm việc coi đóng thuế thân hoặc các loại thuế khác của công dân như một điều kiện để được đi bỏ phiếu Điều bổ sung thứ XXV (năm 1967) quy định rõ những trường hợp Phó Tổng thống trở thành Tổng thống và việc lập Phó Tổng thống mới nếu chức

vị này bị khuyết Điều bổ sung thứ XXVI (1971) hạ mức tuổi được quyền bầu cử của công dân Mỹ xuống còn 18 Với các điều bổ sung thứ XXIII, XXIV, XXVI, phạm vi đối tượng bầu cử tổng thống đã được mở rộng tối đa, nhưng thực tế tỷ lệ người đi bầu so với người có quyền bầu tổng thống vẫn còn thấp Những yếu tố nhân thân (tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn ) của 11 Tổng thống giai đoạn này đều rất khác nhau và khác xa những Tổng thống trước kia, chứng tỏ cử tri Mỹ thời hiện đại đã dễ dãi hoá nhiều tiêu chuẩn cần

có của ứng cử viên tổng thống; họ chỉ tập trung vào một số tiêu chuẩn thiết thực nhất - chẳng hạn như khả năng lãnh đạo, điều hành của ứng cử viên

Tương ứng sự gia tăng nhu cầu phức tạp của việc quản lý nhà nước, quyền hành tổng thống không ngừng lớn mạnh một cách tự nhiên, ngấm ngầm và người ta chỉ chợt nhận rõ điều đó vào năm 1974 - khi Tổng thống (1969 - 1974) Richard M Nixon (1913 - 1998) phải từ chức do dính líu vào

Trang 30

vụ Watergate5 Bộ máy giúp việc cũng phình to, nắm giữ vai trò ngày càng quan trọng nhưng có phần quan liêu Chế độ quyền lợi quy định rõ ràng và bảo đảm chắc chắn hơn đã đưa Tổng thống trở thành nhân vật được hưởng đặc quyền ưu đãi lớn nhất nước Mỹ (trừ phương diện kinh tế) Quốc hội và Toà án Tối cao dần lấy lại được ưu thế của mình trong quan hệ với Tổng thống, dù vẫn bị lép vế trước sức nặng của quyền hành pháp Mối liên kết giữa Tổng thống với các đảng chính trị giảm hẳn tính cực đoan khi Tổng thống ngày càng thoả hiệp, hợp tác tốt đẹp hơn với những phe phái đối lập, ngày càng ít đảng viên thuần tuý ủng hộ Tổng thống đảng mình và ngày càng có nhiều ứng cử viên tổng thống độc lập (không thuộc bất cứ đảng phái nào) Tuy tồn tại ổn định, vững chắc và giải quyết khá hiệu quả những vấn đề gay cấn của xã hội hiện đại, chế độ tổng thống Mỹ bắt đầu phải đối phó với hàng loạt trào lưu phủ nhận khả năng hợp thời của nó, đòi phải có những thay đổi, cải cách cơ bản và xu hướng này chắc chắn tiếp tục mạnh lên trong tương lai

1.2.2.1 Tính quyền lực tối cao

5 Watergate là vụ bê bối chính trị ở Mỹ từ năm 1972 đến 1974, dẫn đến Tổng thống Richard M Nixon phải từ chức Sự việc là, sau khi bắt được 5 "tên trộm" giả danh thợ sửa ống nước đột nhập Văn phòng của đảng Dân chủ tại Khu liên hợp Watergate ở Thủ

đô Washington để cài đặt máy nghe lén vào ngày 17/6/1972, Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) dần tìm ra manh mối của chiến dịch do thám này: chính các nhân vật thân cận Tổng thống Nixon cùng với bộ máy trợ giúp tranh cử của ông ta đã tổ chức vụ đột nhập, nhằm vào đối thủ chính trị là đảng Dân chủ Tuy nhiên, những kết quả điều tra của FBI đã bị ỉm

đi dưới mưu toan che đậy của Tổng thống và ban lãnh đạo đảng Cộng hoà, cho tới khi hai

phóng viên Bob Woodward là Carl Bernstein của tờ Washington Post phơi bày trên mặt báo

Quốc hội Mỹ bèn lập uỷ ban điều tra và tháng 7/1974 tiến hành khởi tố Nixon Trước nguy

cơ bị phế truất, ngày 9/8/1974, Tổng thống Nixon tuyên bố từ chức Nhân vật giấu tên cung cấp thông tin (cho phóng viên) có mật danh "Deep Throat" đã được công bố danh tính vào tháng 5/2005: một (cựu) nhân viên FBI - ông W .Mark Felt.

Trang 31

Đặc tính này bắt nguồn từ và tương xứng với vai trò, vị thế có một không hai của Tổng thống Mỹ Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và

xã hội, đại diện tối cao duy nhất cho nước Mỹ trong cả quan hệ đối nội lẫn đối ngoại Quyền lực tổng thống là kết tinh quyền lực của toàn thể nhân dân, quốc gia và dân tộc Mỹ Những giá trị đó sâu rộng, mạnh mẽ, toàn diện hơn hẳn vai trò, vị thế, quyền lực của các thiết chế chính trị trung ương khác bởi vì Quốc hội, Toà án Tối cao, ban lãnh đạo đảng phái, nhóm

áp lực chỉ là đại diện tập thể cho Nhà nước hoặc nhân dân Mỹ trên một

số lĩnh vực, ở một số mức độ nhất định và hầu như chỉ gói gọn trong phạm

vi đối nội Tính quyền lực tối cao duy trì và phát triển được nhờ những đảm bảo vững chắc Chế độ tổng thống Mỹ được thừa nhận cả về pháp lý lẫn thực tế, cả ở trong nước lẫn ngoài nước Địa vị nguyên thủ quốc gia được khẳng định, quyền lực tổng thống được Nhà nước và nhân dân Mỹ tuân phục Tổng thống cũng nắm giữ đầy đủ mọi phương tiện có khả năng giúp mình củng cố vị thế và thực thi hữu hiệu quyền hành

So với các mô hình nguyên thủ quốc gia khác, chế độ tổng thống Mỹ

mang tính quyền lực tối cao trọn vẹn hơn bởi sự thực chất của nó Thật vậy, ở

nhiều nơi trên thế giới, quyền lực tối cao trang bị cho nguyên thủ quốc gia chỉ trên danh nghĩa, còn thực tế thì quyền lực ấy thuộc về nhân vật khác, ví dụ thủ tướng - người đứng đầu ngành hành pháp (tại những nước theo chính thể đại nghị), giáo chủ (tại những nước mà tôn giáo bao trùm đời sống xã hội - như ở Iran), thủ lĩnh quân sự (tại những nước mà quân đội thao túng chính quyền)

Ở Mỹ, quyền lực tổng thống thể hiện trên thực tế hoàn toàn tương xứng với những quy định trong luật, đồng thời Tổng thống rất có thực quyền do vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là thủ tướng Nền tảng dân chủ - pháp lý cao, nhu cầu lãnh đạo - điều hành xã hội phức tạp, khả năng đại diện tập trung - tiêu biểu cho một cường quốc và lối sống thực tế - thực dụng có lẽ là 4 nguyên nhân cơ bản nhất khiến người Mỹ không chấp nhận sự hữu danh vô thực trong thiết chế quyền lực tối cao của nước mình

Trang 32

1.2.2.2 Tính dân chủ

Tuy dân chủ là tính chất của nhiều tổ chức chính trị Mỹ, nhưng chỉ ở chế độ tổng thống nó mới được thể hiện đầy đủ và sắc nét Phủ nhận hoàn toàn mô hình quân chủ, chế độ tổng thống được thiết lập từ nguồn gốc dân chủ, do nhu cầu dân chủ và có sứ mệnh vừa bảo đảm tối cao, vừa định hướng tiên phong cho nền dân chủ Mỹ Đó thực sự là thiết chế bởi dân, của dân và vì dân

Xem xét toàn bộ quy trình chế độ tổng thống Mỹ, sẽ thấy tính dân chủ bao trùm rộng khắp Mọi công dân Hoa Kỳ chính gốc, đạt đủ tuổi Hiến pháp

ấn định thì đều có thể tham gia ứng cử và bầu cử tổng thống Tổng thống được bầu một cách công khai, bình đẳng bởi mọi thành phần nhân dân trên khắp lãnh thổ liên bang và giữ cương vị nguyên thủ quốc gia trong giới hạn từng nhiệm kỳ ngắn 4 năm (chứ không phải nhiệm kỳ quá dài hạn hoặc suốt đời) Quyền lực tổng thống là đại diện tập trung thống nhất của quyền lực toàn dân Chế độ tổng thống tồn tại, hoạt động theo pháp luật (tức là theo ý chí chung của nhân dân đã được chính thức hoá), chịu sự đánh giá, kiểm sát trực tiếp và gián tiếp của dân Tư cách chính trị cơ bản nhất của Tổng thống cũng giống như mọi người Mỹ bình thường khác - đều là công dân Trừ yếu

tố quyền lực bắt buộc phải có do chức năng, nhiệm vụ nguyên thủ quốc gia, nhìn chung quan hệ giữa Tổng thống Mỹ với nhân dân khá công bằng, gần gũi, cởi mở Trên nhiều phương diện, khoảng cách địa vị giữa Tổng thống với các công dân Mỹ rất ngắn, mơ hồ - khác hẳn với ở hầu hết mọi nước trên thế giới

1.2.2.3 Tính xã hội rộng rãi

Mô hình tổng thống Mỹ là một trong những thiết chế xã hội đại chúng nhất Địa vị, quyền lực, phương thức thiết lập, hoạt động, vai trò, quan hệ của Tổng thống đều mang giá trị xã hội rộng rãi, đều ít nhiều có và cần có mọi thành phần xã hội tham gia Sự tham gia ấy chỉ phải kèm theo một số tiêu chuẩn nhất định mang tính tự nhiên (nhằm đảm bảo hiệu quả cho chế độ tổng thống ), chứ không bị hạn chế bởi những điều kiện xã hội Thực tế lịch sử

Trang 33

cũng cho thấy các Tổng thống Mỹ có những đặc điểm xã hội rất khác biệt nhau, lại xuất thân từ đủ loại giai cấp, nhưng điều đó đã không hề ảnh hưởng

tới quan hệ, ý nghĩa và tư cách Tổng thống như nhau của họ

ra tích cực, hiệu quả, hợp thời và thích nghi Thứ hai, trong cả tư tưởng lẫn hành động, người Mỹ không bao giờ chấp nhận thiết lập chính thể quân chủ hoặc độc tài tại Hoa Kỳ Theo họ, chỉ có chính thể cộng hoà mới tạo dựng và đảm bảo tối đa được những giá trị tự do, dân chủ Chế độ tổng thống vì vậy trở thành mô hình nguyên thủ quốc gia duy nhất họ lựa chọn, khiến nó tồn tại

ở Mỹ giữa sự ủng rộng rãi và không phải cạnh tranh Thứ ba, kỷ cương pháp

lý chặt chẽ cùng văn minh dân chủ cao đã bảo vệ hữu hiệu chế độ tổng thống

Mỹ khỏi sự tấn công của các nguy cơ gián đoạn vốn thường chỉ phát sinh trong môi trường pháp lý và dân chủ thấp kém Thứ tư, bản thân địa vị, quyền lực của Tổng thống là tối cao và vững chắc, khiến tự hình thành nên một giá trị mang sức nặng ghê gớm không dễ gì lay chuyển Thứ năm, nhìn chung người Mỹ có ý thức trách nhiệm chính trị lớn, họ đủ khôn ngoan giữ cho những biến động xã hội chỉ gây ảnh hưởng trong giới hạn nhất định, chứ

6

Chẳng hạn, cũng bề dày thời gian xấp xỉ chế độ tổng thống Mỹ, nhưng chế độ tổng thống Pháp bị gián đoạn nghiêm trọng hàng chục lần do việc tái lập thể chế quân chủ, cách mạng vũ trang, thay đổi Hiến pháp Nền cộng hoà Pháp hiện nay được tổ chức theo Hiến

Trang 34

không thái quá đến mức có thể tổn hại đến các thể chế cơ bản nhất của quốc gia (Tổng thống, Hiến pháp ) Thứ sáu, phương thức thiết lập dự trù đầy đủ cho sự kế nhiệm liên tục: Tổng thống mới được bầu lên trước khi Tổng thống

cũ mãn nhiệm một khoảng thời gian khá dài (chừng 4 tháng - từ năm 1933 trở

về trước, và khoảng 1,5 tháng - sau năm 1933) ; thời điểm Tổng thống cũ chính thức thôi chức cũng là lúc Tổng thống mới chính thức nhậm chức; luôn

có Phó Tổng thống hoặc người thay thế tương đương để đảm nhiệm chức vụ nếu Tổng thống từ trần hoặc không thể tiếp tục lãnh đạo

Xét về mặt hoạt động thực tế, tính liên tục của chế độ tổng thống Mỹ thể hiện tuyệt đối và mạnh mẽ hơn nhiều so với các thiết chế nhà nước trung ương khác Quốc hội Mỹ chủ yếu hoạt động mỗi khi xem xét, biểu quyết các chính sách lớn và dự thảo, thông qua luật Toà án Tối cao Mỹ thực chất cũng chỉ hoạt động, giải quyết công việc của mỗi năm từ tháng 10 năm đó đến tháng 6 năm sau Trong khi ấy, Tổng thống và bộ máy giúp việc ông ta hoạt động liên tục suốt ngày đêm quanh năm Điều này lý giải bởi sự đương nhiên không bao giờ ngưng nghỉ của tiến trình hành pháp mà Tổng thống là nhân vật đứng đầu, trực tiếp chỉ đạo

Tính liên tục của chế độ tổng thống Mỹ tương tác rất chặt chẽ với tính

ổn định - đến mức nhiều người cho rằng chúng bao hàm nhau Suốt lịch sử phát triển, chế độ tổng thống Mỹ luôn giữ vững sự ổn định nội tại của mình trước những biến loạn của xã hội Và mặc dù đã phải co giãn rất nhiều để phù hợp với thực tế từng thời, nó vẫn bảo lưu gần như vẹn nguyên bản chất cùng các giá trị chủ yếu được xác lập trong Hiến pháp nguyên thuỷ 1787

1.3 NHỮNG QUAN NIỆM VÀ SỰ ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG MỸ

Từ lúc phôi thai đến nay, mô hình tổng thống Mỹ luôn là đối tượng thu hút rất nhiều quan niệm, rất nhiều sự đánh giá khác nhau và mức độ phong phú, phức tạp của chúng hình như không giảm đi theo thời gian Điều này cũng dễ hiểu đối với thiết chế đặc biệt nhất, quan trọng nhất trong một xã hội

đa dạng, của một dân tộc năng động, ham mê nhận thức và xét đoán Đương

Trang 35

nhiên, chỉ những quan niệm, đánh giá xác đáng, hữu ích mới được chế độ tổng thống Mỹ tiếp thu trong quá trình cải biến, hoàn thiện bản thân mình; nhưng các quan điểm còn lại cũng có ảnh hưởng nhất định và làm nổi bật nhiều giá trị tinh tế của mô hình tổng thống Mỹ - những giá trị được nhận biết, khẳng định qua so sánh Ngoại trừ các quan niệm, đánh giá về địa vị, quyền lực, phương thức thiết lập, vai trò, quan hệ, hoạt động v.v mà sẽ được đề cập và phân tích kỹ càng trong những chương mục khác, ở đây vẫn còn một

số khía cạnh cơ bản nữa cần xem xét

1.3.1 Về cơ cấu cá nhân

Cuộc tranh luận gay go giữa các nhà lập hiến Mỹ về lựa chọn cơ cấu tổng thống cá nhân hay tập thể coi như kết thúc từ năm 1787 với việc Hiến pháp ghi nhận mô hình tổng thống một người và quy định này được áp dụng nghiêm ngặt trên thực tế suốt hơn hai thế kỷ qua Nhưng trong giới nghiên cứu

và trong xã hội Mỹ, sự tranh luận về đề tài ấy không hề chấm dứt, thậm chí nhiều khi còn trở nên sôi động, phức tạp với những ý tưởng mới, cách nhìn mới

Những người chủ trương mô hình tổng thống tập thể cho rằng nguyên thủ quốc gia nước Mỹ nên là một hội đồng gồm nhiều nhân vật cùng có địa vị, quyền lực, nhiệm kỳ như nhau, được bầu lên từ các khu vực lãnh thổ khác nhau của liên bang Hội đồng sẽ lãnh đạo theo nguyên tắc tập thể, mọi quyết định được đưa ra sau khi các thành viên cùng bàn bạc và biểu quyết lấy đa số (để biểu quyết nhanh gọn, số thành viên nên lẻ: 3, 5, 7, 9 ) Tổ chức như vậy, chế độ tổng thống Mỹ sẽ có cơ sở xã hội rộng rãi và thỏa mãn nhiều mục đích chính trị Thứ nhất, tính dân chủ, cộng hòa bao trùm cả nhà nước lẫn xã hội

Mỹ được thể hiện tuyệt đối khi mà không còn một cá nhân duy nhất nào có địa vị, quyền lực cao hơn hẳn các cá nhân khác và khi mà mọi khu vực dân cư trên khắp lãnh thổ liên bang đều có đại diện của mình trong cơ cấu nguyên thủ quốc gia Thứ hai, ngăn ngừa được sự xuất hiện chế độ quân chủ núp bóng dưới hình thức cộng hòa vốn rất dễ xảy ra trong mô hình tổng thống cá nhân - quan điểm này bùng lên sức thuyết phục của nó nhất khi con trai Tổng

Trang 36

thống (1797 - 1801) John Adams (1735 - 1826)7

là John Quincy Adams (1767

thủ Jackson và khi F Roosevelt đắc cử 4 nhiệm kỳ liên tiếp, giữ quyền lực cho mãi tới lúc từ trần Thứ ba, hạn chế tối đa khả năng lạm quyền, độc tài vốn thường trực nơi mô hình tổng thống cá nhân (như những biểu hiện độc tài

rõ rệt của Tổng thống Jackson, Lincoln, T Roosevelt, F Roosevelt và hàng loạt hành vi lạm dụng đặc quyền hành pháp của Tổng thống Nixon chẳng hạn) Thứ tư, hội đồng tổng thống hoạt động tập thể nên các quyết định đưa ra sẽ xác đáng, dân chủ, không cực đoan và chắc chắn được ủng hộ rộng rãi

Ngược lại, những người chủ trương mô hình tổng thống cá nhân cho rằng nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ nhất thiết phải là một cá nhân Ngay buổi ban sơ của nền cộng hòa, nhà tư tưởng vĩ đại bậc nhất nước Mỹ Alexander Hamilton (1755 - 1804) đã nồng nhiệt cổ vũ và bảo vệ chủ trương này bằng lập luận phân tích sắc bén:

"Đơn nhất là yếu tố cần thiết để có quyền - điều đó đã quá rõ ràng Tính cương quyết, linh động, bí mật, mau chóng chỉ có thể đạt tới tột độ khi quyền lực tập trung vào một người chứ không phải khi quyền lực ấy phân tán

ở một số người Nếu hai hoặc nhiều người liên kết cùng nhau để thực hiện một công cuộc chung, thì luôn luôn sẽ có những bất đồng ý kiến Trong trường hợp là một chức vụ mà họ đều có cấp bậc và quyền hành ngang nhau,

e rằng họ sẽ ganh đua, cạnh tranh, thậm chí đố kỵ nhau Dù sao đi nữa, cũng

dễ có sự chia rẽ gay gắt giữa những người đó, và khi có sự chia rẽ, giá trị của

họ sẽ bị tổn thương, quyền hành của họ sẽ bị suy yếu, chương trình hoạt động

sẽ bị sao nhãng Nếu tình trạng đó xảy ra trong một hội đồng tối cao của ngành hành pháp một nước, thì sẽ gây ảnh hưởng tai hại cho các quyết định quan trọng nhất của chính phủ, đặc biệt là những trường hợp khẩn cấp của

7 John Adams (1735-1826) là Phó Tổng thống Mỹ đầu tiên (1789-1797) và là Tổng thống

Mỹ thứ hai (1797-1801) Mặc dù Thomas Jefferson là người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, nhưng Adams là người đóng góp rất nhiều ý tưởng chính và ông cũng là người dẫn đầu trong cuộc đấu tranh để Tuyên ngôn Độc lập được chấp nhận tại Đại hội Lục địa.

8

Tổng thống Mỹ (1825-1829) John Quincy Adams (1767-1848) được coi là nhà hoạch định chiến lược ngoại giao và nhà thương lượng lỗi lạc nhất trong kỷ nguyên trước Nội chiến 1861-1865.

Trang 37

quốc gia Nguy hơn nữa là tình trạng ấy có thể chia rẽ xã hội thành nhiều bè phái chống đối nhau bằng bạo động, mỗi bè phái ủng hộ một cá nhân trong hội đồng lãnh đạo ngành hành pháp" [89, p.153]

Và tới cuối thế kỷ XIX, khi cuộc tranh luận về cơ cấu tổng thống cá nhân hay tập thể lại trở nên sôi nổi, chính cựu Tổng thống B Harrison năm

1897 cũng công khai bày tỏ quan điểm bằng hình ảnh so sánh sinh động và niềm tin sắt đá:

"Hai hay ba Tổng thống có quyền lực như nhau chắc chắn đều có thể đem lại thảm họa cũng giống như ba vị tướng có cùng chức vụ, cấp bậc trong một đội quân Tôi không hề nghi ngờ gì về việc trách nhiệm của cá nhân đối với nhân dân đã thực sự đem lại cho các Tổng thống của chúng ta từ trước đến nay lương tâm và sức mạnh để hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình" [11, tr.552]

Những người chủ trương cơ cấu tổng thống cá nhân đã nêu bật tính tất yếu khách quan và giá trị ưu việt của mô hình này Theo họ, vai trò vừa lãnh đạo tối cao, vừa đại diện thống nhất cho cả Nhà nước, xã hội lẫn dân tộc Mỹ chỉ được thể hiện hữu hiệu và thực sự có ý nghĩa nếu do một cá nhân đảm nhận Chế độ nguyên thủ quốc gia tập thể rất hiếm gặp trong lịch sử thế giới -

nó chỉ xuất hiện vào những thời kỳ đặc biệt, nhằm những mục đích đặc biệt, ở những hoàn cảnh đặc biệt, mà nước Mỹ thì lại không phải là môi trường như vậy Mặt khác, cơ cấu cá nhân sẽ khiến tổng thống giải quyết công việc dễ dàng, hiệu quả, nhanh gọn hơn rất nhiều và nâng cao trọng trách của vị nguyên thủ quốc gia - hai yếu tố ngày càng trở nên bức thiết đối với một xã hội năng động, rộng lớn, hiện đại Nó cũng tránh được tình trạng phân tán và suy giảm sức mạnh quyền lực, đấu đá tranh giành ảnh hưởng, hoạt động trì trệ của mô hình tổng thống tập thể Hơn nữa, nền tảng dân chủ, cơ chế phân quyền và ràng buộc pháp lý ở Mỹ hoàn toàn đủ giữ cho chế độ tổng thống cá nhân không thể biến thành độc tài hay quân chủ như nhiều người lo ngại

Xen giữa những trào lưu ủng hộ cơ cấu tổng thống cá nhân và tập thể, còn xuất hiện các trào lưu trung gian (chủ trương mô hình tổng thống lưỡng tính) với ba khuynh hướng cơ bản Một là, tùy theo điều kiện mọi mặt mà cho

Trang 38

thiết lập tổng thống cá nhân hoặc tập thể trong từng giai đoạn lịch sử - giải pháp này chú trọng tính hợp thời, nhưng nếu đem áp dụng trên thực tế thì sẽ không đảm bảo được tính ổn định, liên tục và dễ gây rối loạn tiến trình phát triển chế độ tổng thống Mỹ Hai là, tổng thống gồm một hội đồng và một cá nhân cùng nhau chia sẻ địa vị, quyền lực nguyên thủ quốc gia - giải pháp này

đề cao tính toàn diện, dân chủ, khách quan, nhưng nếu trở thành hiện thực thì nước Mỹ sẽ có một thiết chế tối cao khá cồng kềnh, tản mạn, đồng thời rất khó xác định được hợp lý tỷ lệ phân chia quyền lực nguyên thủ quốc gia cũng như tính chất, mức độ quan hệ giữa cá nhân ấy với hội đồng Ba là, mỗi khu vực liên bang bầu lên một nhân vật đại diện, những người đó hợp thành hội đồng tổng thống và luân phiên mỗi người giữ chức nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ ngắn (giống như ở Thụy Sĩ hiện nay)

Dù sao, tất cả các quan điểm trên đã không làm méo mó thực tiễn chế

độ tổng thống Mỹ tồn tại suốt hơn hai thế kỷ qua với cơ cấu cá nhân Đây

cũng chính là minh chứng sống động nhất khẳng định sự thắng thế tuyệt đối của trào lưu ủng hộ mô hình tổng thống một người Và ngày nay, mọi chủ trương cơ cấu tập thể hoặc lưỡng tính cho chế độ tổng thống Mỹ đều được coi

là những ý tưởng viển vông hơn là những ý tưởng khôn ngoan

1.3.2 Về hình thức chế độ

Một thời gian dài, cả trong sách báo lẫn trên thực tế, cụm từ "chế độ

tổng thống cộng hòa" được nhiều người sử dụng phổ biến để chỉ hình thức

chế độ tổng thống Mỹ Theo họ, thuật ngữ ngắn gọn này gói ghém được hai yếu tố quan trọng nhất, bao trùm toàn bộ và quyết định bản chất chế độ

nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ: tổng thống (tư cách đứng đầu, quyền lực tối cao, vai trò đại diện mọi mặt) và cộng hòa (phương thức thiết lập, cơ chế hoạt

động, môi trường tồn tại công khai, theo pháp luật, bình đẳng, dân chủ)

Quan điểm này thực ra chỉ đáp ứng được những nhu cầu dễ dãi Còn

nếu nhìn nhận kỹ lưỡng, sẽ thấy thuật ngữ chế độ tổng thống cộng hòa thích

hợp với hình thức chế độ nhà nước (chính thể) Mỹ hơn là với hình thức chế

Trang 39

độ tổng thống Mỹ, bởi vì nó khá chung chung, khái quát và không thể hiện được nhiều góc cạnh đặc trưng của mô hình nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ

Căn cứ vào địa vị độc nhất và thực tế quyền lực, không ít người lại cho

rằng nên gọi chế độ tổng thống Mỹ là "chế độ tổng thống tập quyền" Theo họ,

trước hết tổng thống là nhân vật đứng đầu, đại diện tối cao duy nhất cho Nhà nước và xã hội Mỹ, là trung tâm điều chỉnh và quy tụ mọi xu hướng quyền lực Mặt khác, cơ chế đối trọng giữa ba cơ quan lập - hành - tư pháp trung ương mà Hiến pháp ghi nhận đã mất hẳn giá trị thực tế do ưu thế luôn nghiêng hoàn toàn về phía hành pháp Vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa nắm giữ trọn vẹn quyền hành pháp, Tổng thống thâu tóm hầu hết sức mạnh quyền lực của Nhà nước Mỹ và biến mô hình tổng thống thành thiết chế quyền lực tối cao tập trung

Quan điểm coi hình thức chế độ tổng thống Mỹ là "chế độ tổng thống

đại nghị biến dạng" thì lại xuất phát từ việc xem xét mối quan hệ giữa Tổng

thống với Quốc hội Người ta thấy rằng, nếu áp dụng nguyên xi sự phân quyền cứng nhắc mà Hiến pháp ấn định, thì chắc chắn cả Quốc hội lẫn Tổng thống đều không thể hoạt động được Trên thực tế, Tổng thống và Quốc hội

đã phải thường xuyên liên kết, thương lượng, thỏa hiệp, nhường nhịn lẫn nhau Sự hợp tác chặt chẽ đó tuy "không chính thức" nhưng rất quan trọng, giúp cho hai bên duy trì được giá trị, vai trò, quyền lực của mình, đồng thời kéo theo sự tham gia hoạt động tích cực của tất cả các thiết chế khác trong hệ thống chính trị (đặc biệt là đảng phái) Toàn bộ cơ chế quan hệ ấy cũng na ná như ở những nước theo chính thể cộng hoà đại nghị và Tổng thống Mỹ chỉ khác cơ bản so với tổng thống các nước này ở chỗ có thực quyền hơn mà thôi

Quan điểm coi chế độ tổng thống Mỹ là "chế độ tổng thống hỗn hợp" hình như được nhiều người ủng hộ hơn cả Ý nghĩa từ hỗn hợp vừa rất rộng

lại vừa tập trung, gắn bó, đủ để cùng lúc bao hàm những sắc thái đa tính, đối lập của chế độ tổng thống Mỹ: phương thức bầu cử vừa trực tiếp vừa gián tiếp; địa vị vừa đứng đầu nhà nước vừa đứng đầu ngành hành pháp; quyền lực vừa thống nhất vừa phân chia; quyền hành chi phối mọi lĩnh vực và ngày càng

Trang 40

được toàn diện hoá; hoạt động liên quan đến mọi mặt hoạt động cơ bản nhất của xã hội; nhiều lúc có biểu hiện của chế độ tổng thống đại nghị và thậm chí đôi lúc có biểu hiện của chế độ tổng thống độc tài, quân chủ Tuy nhiên, bản

thân từ "hỗn hợp" cũng còn quá trừu tượng khi dùng để chỉ một thiết chế cụ

thể như mô hình tổng thống Mỹ

Nghiên cứu sự phân chia chức vụ tổng thống thành hai phạm vi quyền lực: chính sách đối ngoại và chính sách đối nội, từ cuối những năm 1960,

Aaron Wildavsky xây dựng lý thuyết: "chế độ tổng thống hai chức vị" (two

presidencies) Ông khẳng định rằng sự lãnh đạo của Tổng thống trong chính

sách đối ngoại nói chung sẽ được công chúng hỗ trợ nhiều hơn trong chính sách đối nội Để kiểm chứng giả thuyết này, Wildavsky đã nghiên cứu hành vi của Quốc hội trước những đề nghị của Tổng thống từ năm 1948 đến 1964 Trong giai đoạn đó, Quốc hội đã thông qua 58,5% những dự luật về chính sách đối ngoại; 73,3% dự luật chính sách quốc phòng; và 70,8% dự luật về quan hệ đối ngoại chung, về Bộ Ngoại giao, viện trợ nước ngoài và các hiệp ước Cũng trong thời kỳ ấy, Quốc hội chỉ thông qua 40,2% những đề nghị về chính sách đối nội của Tổng thống Do vậy, luận thuyết về chế độ tổng thống hai chức vị đã được khẳng định Công trình Wildavsky đã sản sinh ra một loạt các bài báo nghiên cứu, mà không bài nào làm giảm giá trị của luận thuyết nguyên thủy được đưa ra về "chế độ tổng thống hai chức vị"

Cũng trên nền tảng phân biệt, đánh giá quyền lực tổng thống dựa trên lĩnh vực đối ngoại và đối nội, xuất hiện quan điểm coi chế độ tổng thống Mỹ

là "chế độ tổng thống phân quyền" (bifurcated presidency) Theo đó, chế độ

tổng thống Mỹ sẵn sàng chia sẻ quyền hạn với các ngành nhánh quyền lực nhà nước khác trong những vấn đề chính sách đối nội, nhưng hoàn toàn không phải chia sẻ quyền hạn trong vấn đề đối ngoại Tuy nhiên, quan điểm này bị nhiều người phản đối vì cho rằng Hiến pháp không cho Tổng thống Mỹ quyền lựa chọn lĩnh vực quyền hạn phải được chia sẻ - tất cả quyền đều phải được chia sẻ

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển: Giản yếu, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển: Giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
2. Dương Quốc Anh (2003), G. W. Bush người dẫn dắt nước Mỹ, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G. W. Bush người dẫn dắt nước Mỹ
Tác giả: Dương Quốc Anh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
3. Khương Thiếu Ba & Chu Hữu Chí (chủ biên) (2004), Almanach 5000 năm nền văn minh thế giới, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach 5000 năm nền văn minh thế giới
Tác giả: Khương Thiếu Ba & Chu Hữu Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
4. Nguyễn Cảnh Bình (2006), Alexander Hamilton (1757 - 1804), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alexander Hamilton (1757 - 1804)
Tác giả: Nguyễn Cảnh Bình
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
5. Nguyễn Văn Bông (1967), Luật Hiến pháp và Chính trị học, Nxb Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hiến pháp và Chính trị học
Tác giả: Nguyễn Văn Bông
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1967
6. Cornelison P. & Yanak T. (2005), Những sự kiện lớn trong lịch sử Hoa Kỳ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lớn trong lịch sử Hoa Kỳ
Tác giả: Cornelison P. & Yanak T
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
7. Coyle D. C. (1967), Cách tổ chức và sự điều hành nền chính trị Hoa Kỳ, Việt Nam Khảo dịch xã, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tổ chức và sự điều hành nền chính trị Hoa Kỳ
Tác giả: Coyle D. C
Năm: 1967
8. Curse T. (2008), Lời nguyền tổng thống Mỹ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nguyền tổng thống Mỹ
Tác giả: Curse T
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
9. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2001, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2001
10. Davidson R. H. & Oleszek W. J. (2002), Quốc hội và các thành viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội và các thành viên
Tác giả: Davidson R. H. & Oleszek W. J
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
11. Degregorio W. A. (2006), Bốn mươi ba đời tổng thống Hoa Kỳ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi ba đời tổng thống Hoa Kỳ
Tác giả: Degregorio W. A
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2006
12. Đỗ Lộc Diệp (chủ biên) (1999), Hoa Kỳ - Tiến trình văn hoá chính trị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kỳ - Tiến trình văn hoá chính trị
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
13. Đỗ Lộc Diệp & Nguyễn Thiết Sơn (tổng biên tập) (1995-2008), Tạp chí Châu Mỹ Ngày Nay, Viện Nghiên cứu châu Mỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Mỹ Ngày Nay
14. Vũ Văn Dzi & Phạm Hồng Vân (2008), Những chân trời Mỹ - vòng quanh 50 tiểu bang Hoa Kỳ: Mắt thấy tai nghe, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chân trời Mỹ - vòng quanh 50 tiểu bang Hoa Kỳ: Mắt thấy tai nghe
Tác giả: Vũ Văn Dzi & Phạm Hồng Vân
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
15. Doren C. V. (1966), Cuộc chuẩn bị vĩ đại, Việt Nam Khảo dịch xã, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chuẩn bị vĩ đại
Tác giả: Doren C. V
Năm: 1966
16. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2001), Giáo trình luật hiến pháp của các nước tư bản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hiến pháp của các nước tư bản
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2006), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
18. Nguyễn Đăng Dung (2004), Hình thức của các nhà nước đương đại, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức của các nhà nước đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
19. Nguyễn Đăng Dung (2001), Luật hiến pháp đối chiếu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hiến pháp đối chiếu
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
20. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w