1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Cây thuốc nam và các bài thuốc

18 484 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 250,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LƯU Ý TRONG SỬ DỤNG CÂY THUỐC NAM Bất luận trong y học hiện đại hay y học cổ truyền vai trò của dược đều không thể thiếu được, thậm chí, nhiều trường hợp nó nâng cao chất lượng chữa bên

Trang 1

NAM DƯỢC

CÂY THUỐC NAM

&

CÁC BÀI THUỐC

- 2015 -

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 3

LỜI NÓI ĐẦU 4

LƯU Ý TRONG SỬ DỤNG CÂY THUỐC NAM 5

CÂY THUỐC VÀ BÀI THUỐC THÔNG DỤNG 14

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Theo dòng lịch sử dân tộc kể từ giai thoại sư thầy Tuệ Tĩnh điều chế và viết sách về thuốc Nam, đến ngài Hải Thượng Lãn Ông cũng kế thừa truyền thống “lấy thuốc Nam trị bệnh cho người Nam” Các bài thuốc Nam đã lưu truyền và phát triển, ăn sâu bám rễ trong đời sống nhân dân ta

Ngành đông y dược nói chung và các thầy thuốc, thầy lang nói riêng với những bài thuốc dân gian đã lưu giữ được nhiều bài thuốc hay, thuốc quý chế từ những cây cỏ, hoa lá, thú vật chúng ta thấy thường ngày Nói như ai đó “người Việt Nam

ta dẫm lên thuốc mà không hay biết” Những thứ cây quả ta ăn hàng ngày nếu biết cách chế biến cũng trở thành thuốc Cỏ mọc ven bờ ruộng, cỏ bụi rậm kênh mương cũng có thể đem về chế

ra thuốc chữa bệnh… Thế nhưng không phải ai cũng biết được điều đó, và những cây cỏ quý kia vẫn vô tình bị người ta cho là thứ bỏ mà đối sử một cách thô bạo làm mất đi nguồn giống quý nguồn gen giống của những loại cây thuốc

Để góp phần bảo tồn, phát triển sở học của người Nam ta, kiến thức về thuốc Nam dược Không chỉ là để “lấy thuốc Nam trị bệnh cho người Nam”, mà hơn hết là nâng cao ý thức của con người về bảo vệ môi trường sống và quan tâm hơn đến các loài cây muôn thú xung quanh ta, đưa ra các phương án phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên gen quý giá của nước ta

Người thực hiện

Trang 5

LƯU Ý TRONG SỬ DỤNG CÂY

THUỐC NAM

Bất luận trong y học hiện đại hay y học cổ truyền vai trò của dược đều không thể thiếu được, thậm chí, nhiều trường hợp

nó nâng cao chất lượng chữa bênh; đơn thuốc thiếu vị, vị thuốc bào chế không đúng quy cách thì đơn thuốc đó chắc chắn giảm tác dụng, do đó đã dùng nam dược là phải biết về dược từ khi thu hái, bảo quản cho đến khi bào chế… Dưới đây là một số điều cụ thể:

1 Thu hái

Các bộ phận cây thuốc có thời kỳ sinh trưởng nhất định nên thời gian thu hái cũng phải đúng kỳ của nó mới đem lại tỷ

lệ hoạt chất cao nhất Cụ thể về kỳ thu hái như sau

- Gốc, củ, vỏ, rễ: Đầu xuân, cuối thu, mùa đông (lúc cây

khô héo, hoạt chất tập trung tại rễ

- Mầm lá: Mùa xuân, hè

- Hoa: Lúc ngậm nụ hoặc bắt đầu nở, như hoa cúc, hoa

kim ngân

- Quả: Lúc đã chín

- Hạt: Lúc thật chín

Thu hái xong cần bảo quản chu đáo, tránh ẩm ướt, chống sâu mọt Với loại thuốc có tinh dầu, cần đậy kín, cất chỗ râm (âm can)

2 Bào chế

Mục đích của bào chế là làm mất hoặc làm giảm chất độc của thuốc điều hòa lại tính năng, hòa hoãn hoặc tăng công hiệu của thuốc Ví dụ: Bán hạ dùng sống, gây ngứa, nên phải chế với nước gừng; ba đậu có dầu , gây ỉa chảy dữ dội, cần bào chế

Trang 6

làm mất chất dầu, giảm độc tính; hoặc có một số vị thuốc dùng sống, chín thì lại có tác dụng khác nhau, ví dụ: sinh địa dùng sống, tính lạnh, mát, để thanh nhiệt lương huyết; nhưng sinh địa đem nấu chín với rượu thành thục địa, lại mang tính ấm, dùng bổ huyết…

Những bài thuốc trong sách này thường dùng dưới dạng sắc (thuốc thang), số lượng của từng thuốc trong bài ghi theo dược liệu khô, nếu dược liệu tươi thì số lượng gấp đôi; riêng với thuốc xông thì hầu hết dùng dược liệu tươi, vì dược liệu khô đã giảm tinh dầu

Dược liệu dùng trong những bài thuốc thang, nếu không ghi chú tức là dùng dưới dạng khô theo tiêu chuẩn dược liệu đã ban hành, còn nhưng vị thuốc dùng tươi hoặc cần sao tẩm thì ghi chú rõ

a) Phương pháp bào chế

- Dùng lửa (hỏa chế):

Dùng lửa trực tiếp hoặc gián tiếp hong, sấy, cốt làm khô ráo, xém vàng, thành than,… gồm có các phương pháp sau:

+ Sấy: Sấy thuốc trong lò sấy hoặc trên than

+ Nung: làm cho mất nước, tăng tác dụng hấp thu Bỏ

thuốc nung trong nồi chịu lửa hoặc để thuốc trực tiếp trên lửa

đỏ Thường dùng cho các loại thuốc khoáng vật như mẫu lệ

+ Lùi: Có tác dụng thu hút một số hoạt chất có dầu, làm

giảm bớt độc tính của thuốc như cam toại Thuốc bọc giấy trớt hoặc cám ướt, lùi vào tro nóng hoặc than, đến khi giấy cháy, cám thì tro là được

+ Bào: Làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như bào

khương Cho thuốc vào chảo sao đến khi xém vàng xung quanh nứt nẻ

Trang 7

+ Trích: Làm tăng tác dụng của thuốc như trích cam thảo

với mật đề làm tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế Như vậy trích là sao có tẩm mật, đường và các thành phần khác đến khi không dính là được

+ Sao: Sao có nhiều tác dụng khác nhau và có nhiều cách

sao, nó là phương pháp bào chế hay dùng nhất Nói chung, sao

là dùng nồi rang bằng đất hoặc chảo gang đốt nóng và đôi đũa bằng tre để đảo dược liệu

Sao vàng: Để có mùi thơm, cho vị thuốc bớt hàn Khi

sao, lửa phải nhỏ, sao lâu cho mặt ngoài vị thuốc có màu xém vàng

Sao vàng hạ thổ: để lấy lại thăng bằng âm dương cho vị

thuốc Để dược liệu đã được sao vàng xuống mặt đất, trải trên miếng vải hoặc giấy mỏng, đậy lại, để 10 – 15 phút cho nguội

Sao vàng xém cạnh: Cách sao này áp dụng cho những vị

chua, chát hoặc tanh lợm quá Sao cho xém cạnh mặt ngoài, còn màu bên trong ruột vẫn như cũ

Sao đen: Dùng lửa to, chảo thật nóng, sao cho đến khi

bên ngoài dược liệu cháy đen, khi bẻ ra, trong ruột còn vàng

Sao tồn tính: Dùng lửa to, chao thật nóng, đảo đều dược

liệu đến khi khói lên, làm cho dược liệu cháy đen đến 70% mà vẫn chưa thành than, mang ra khỏi lửa, úp vung lại để nguội Nếu thành than, thành tro, tính chất của thuốc bị thay đổi mất hết tác dụng

- Dùng nước (thủy chế):

Dùng nước làm cho vị thuốc sạch, mềm, dễ thái, giảm tính độc Có mấy cách sau:

+ Ngâm: Dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm cho dễ

bóc vỏ như hạnh nhân, đào nhân Nếu vị thuốc cứng, phải

ngâm lâu cho mềm, dễ thái, giảm tính độc

Trang 8

+ Thủy phi: cho thêm nước vào nghiền chung với thuốc

bột để tán nhỏ, mịn và thuốc không bay ra, như hoạt thạch,

thanh đại

Tẩm: Ngâm cho mềm vị thuốc để dễ bào nhỏ Tẩm nhiều

loại: nước muối, nước gừng,… cho ngấm vào dược liệu trong 2 -4 giờ Số lượng nước tầm 50 – 200 ml cho 1 kg dược liệu Sau

khi tẩm, đem sao và sao cho đến vàng khô

Tẩm rượu: Để bớt tính hàn, thêm tính ấm, dẫn thuốc đi

lên các bộ phận cơ thể, tản ra ngoài (thăng đề) Thường dùng rượu trắng 35 – 40 %, tẩm trộn với dược liệu, sau 2 – 3 giờ rồi sao vàng

Tẩm muối: Làm cho thuốc có vị mặn, hướng thuốc đi

vào thận nhiều hơn, để tăng tác dụng của thuốc Dùng nước muối 20% tẩm, rồi sao

Tẩm gừng: Để giảm tính hàn, tăng tác dụng kích thích

tiêu hóa của thuốc, làm ấm tỳ vị và dẫn thuốc vào tỳ, vị, vào phổi Dùng gừng tươi (50 – 100g gừng tươi cho 1kg dược liệu, rửa sạch, giã giập với ít nước, vắt lấy nước, trộn vào dược liệu,

ngâm khoảng 1 giờ, rồi đem sao vàng

Tẩm dấm: Để tăng cường dẫn thuốc vào gan, tăng thêm

tác dụng của thuốc Dùng dấm ăn, tẩm xấp dược liệu khoảng 1 – 2 giờ, rồi sao xém cạnh

Tẩm mật: Để làm giảm tính đắng, tính chát, tăng tính

ấm, bổ và nhuận phổi của một số vị thuốc Thường dùng mật mía, nếu mặt đặc quá phải pha loãng với nước sôi tỷ lệ 1/1, tẩm trộn với dược liệu, để khoảng 4 – 6 giờ, rồi sao vàng cạnh (sao chậm)

Tẩm nước đậu đen hoặc cam thảo: Để làm giảm tính

độc của các vị thuốc có độc, làm thuốc êm dịu, đỡ chát, đỡ kích thích, đỡ phản ứng Dùng 100 g đậu đen hoặc 100 g cam thảo

Trang 9

cho 1 lít nước, đun sôi 1 giờ, gạn lấy nước, đem tẩm với dược liệu, tỷ lệ tầm 10 – 12% so với dược liệu

Tẩm nước gạo: Để bớt tính ráo, nóng hoặc độc của vị

thuốc Dùng nước gạo đặc, mới vo Số lượng nước gạo 5 – 10

% so với dược liệu Dược liệu thái thành phiến tẩm nước gạo, ủ một đêm, đem sấy khô, rồi sao vàng cạnh

Tẩm nước tiểu: Để tăng tính dẫn thuốc vào máu và

giáng hỏa Dùng nước tiểu trẻ em dưới 5 tuổi, không có bệnh tật (không lấy nước đầu và nước cuối), số lượng 5% so với dược liệu, tẩm trong 12 – 48 giờ, rồi đem sao vàng Dược liệu thường tẩm nước tiểu là cỏ gấu (hương phụ), nga truật (củ nghệ xanh)

Tẩm đất sét vàng (hoàng thổ): Để giảm bớt tính nóng,

ráo của vị thuốc, dễ dẫn thuốc vào tỳ của các dược liệu có tính dầu như bạch truật Dùng đất sét vàng phơi khô, tán nhỏ, cứ

100 g đất sét cho vào một lít nước, đun sôi, quấy đều, chắt bỏ nước trên, gạn lấy nước giữa, bỏ cặn, đem tẩm với dược liệu theo tỷ lệ 40 – 50 % so với dược liệu, để 2 – 3 giờ, rồi đem sao vàng

Trong thủy chế, ngâm tẩm có khi còn kết hợp với cả sao như hương phụ chế, bản hạ chế là những vị thường gặp

Với hương phụ chế: Hương phụ (cỏ gấu) sau khi làm sạch rễ, chia làm ba phần: một phần ngâm với dấm; một phần ngâm với nước tiểu trẻ em, mỗi ngày thay nước tiểu một lần, không dùng nước tiểu để lâu, thời gan ngâm là 3 ngày Trận lẫn

ba phần hương phụ nói trên, rửa sạch, giã giập phơi khô, rồi tẩm với rượu, sao thơm (cứ 1 kg hương phụ tẩm 200ml rượu) Với bán hạ chế: Bán hạ Việt Nam (củ chóc), sau khi rửa sạch, ngâm nước 2 – 3 ngày, mỗi ngày thay nước một lần cho đến khi nước trong thì đem chế biến Có hai cách: Tẩm cam thảo và bồ kết, cho 100 g cam thảo và 100 g bồ kết vào 1 kg bán hạ, rồi đổ nước đủ ngập đun đến khi cạn nước, vớt ra phơi

Trang 10

hoặc sấy khô; hoặc tẩm gừng và phèn chua, cho 50 g phèn chua, 300 g gừng tươi giã nhỏ và 1 kg bán hạ, cho nước đủ ngập, ngâm trong nước gừng, lần này cho thêm 150g gừng tươi giã nát với ít nước, vắt lấy nước, rồi cho bán hạ vào ngâm trong

1 đêm, sau đó lấy ra sao vàng

b) Các dạng của đơn thuốc

- Thuốc sắc (thuốc thang):

Là thuốc cho vào nước sắc, bỏ bã, lấy nước uống hoặc dùng ngoài Nó là một dạng thuốc hay dùng, thích ứng với các loại bệnh, nhất là bệnh cấp tính

Thuốc hấp thụ nhanh, dễ phát huy tác dụng, dễ gia giảm phù hợp với từng chứng bệnh của người bện

+ Nên sắc thuốc bằng ấm đắc hoặc xoong tráng men, không nên dùng ấm kim loại tránh biến chất của thuốc Đổ nước lạnh ngập các vị thuốc, khi bước đã sôi, để nhỏ lửa cho sôi âm ỉ, tránh trào hoặc mau cạn nước Khi đun thấy có vị thuốc nổi lên trên mặt nước thì quấy cho chìm xuống không nên mở vung luôn, làm bay hơi thuốc

Có một số vị thuốc khi sắc phải theo thứ tự thời gian khác nhau: loại thuốc khoáng vật như vỏ ốc, mai mực, long cốt,… cần sắc trước để lấy ion kim loại hòa tan: vị thuốc có tinh dầu như bạc hà, hương nhu,… cho vào sắc khi thuốc đã gần đươc, để tránh bay mất tinh dầu; loại thuốc dạng keo như

da lừa (a giao), keo da trâu (hảng minh giao), cao quy bản,… khi được nước thuốc, gạn bỏ bã, mới cho những loại thuốc đó vào đun sôi, nhỏ lửa để hòa tan, nếu đun chúng dưới các vị thuốc khác sẽ dính vào bã, làm giảm lượng cần dùng; loại thuốc quý như lộc nhung, nhân sâm, tam thất,… cũng cần sắc riêng để hòa tan, nếu đun chung với các vị thuốc khác sẽ dính vào bã, làm giảm lượng cần dùng; loại thuốc quý như lộc nhung, nhân sâm, tam thất, cũng cần sắc riêng để tránh dính

Trang 11

mạc họng, có lông gây ho như lá nhót tây,… lúc sắc, cần bọc;

và một số vị thuốc nếu sắc thì sẽ lắng xuống đáy nồi như hạt

mã đề, hạt củ cải,… sẽ gây cháy mất hoạt chất, cho nên phải bọc vải xô để sắc; loại thuốc khi bị quá nóng bị phân tích ra thủy thành độc như chu xa (quặng sunfua thủy ngân bị phân tích ra thủy ngân gây ngộ độc) thì phải uống riêng với nước thuốc sau khi sắc

- Rượu thuốc:

Dùng rượu thuốc làm dung môi triết suất hoạt chất của các vị thuốc để uống hay dùng ngoài

- Thuốc cao:

Cao lỏng uống trong: Sắc thuốc lấy hết hoạt chất, bỏ bã,

cô lại thành cao Dùng nước đường, nước mật đun nhỏ lửa cho tan Hàm lượng trung bình là 1 ml cao lỏng tương ứng với 1 g thuốc Còn dạng cao đặc hơn thì hàm lượng 1 ml cao tương ứng với 2 g – 5 g thuốc Loại cao lỏng dễ uống, nhưng khó bảo quản được lâu

Cao mềm dùng ngoài: Các vị thuốc đem nấu thành cao,

cho tá dược (dầu thực vật, vazơlin,…) trộn lẫn làm thành cao mềm Thường dùng cho các vết thương phần mềm

Cao cứng dùng ngoài: Các vị thuốc đem nấu thành cao,

cho tá dược (nhựa thông, sáp ong,…) trộn lẫn làm thành cao cứng Phết cao cứng trên giấy hoặc vải làm cao dán lên mụn nhọt, khớp xương Khi gặp nhiệt trên cơ thể thuốc sẽ mềm ra Cao cứng đem ngâm rượu, mật ong để uống, ví dụ cao khớp

100 g ngâm với 1 lít rượu trắng, 0,5 lit mật ong

- Thuốc viên:

Viên dẹt: Các loại thuốc đem nấu thành cao, làm thành

cốm, rồi giập viên Thể tích nhỏ, dễ uống Nếu thuốc đắng khó uống, có thể bọc đường Thuốc kích thích niêm mạc dạ dày, có

thể dùng viên bọc keo

Trang 12

Viên tròn (hoàn): Các vị thuốc đem tán nhỏ, rồi dùng nước thuốc, hoặc rượu, dấm, mật, hồ gạo để bào chế thành hoàn Thuốc hoàn hấp thu chậm, tác dụng chậm; nhưng thể tích nhỏ, dễ sử dụng và bảo quản

- Thuốc tán: Các vị thuốc đem sao ròn, tán thành bột Sử

dụng đơn giản, ít biến chất, hấp thu nhanh hơn so với thuốc viên nhưng kém hơn so với thuốc sắc

Thuốc tán dùng uống trong hoặc dùng ngoài Nếu dùng uống thì uống với nước sôi để nguội hoặc sắc khoảng vài chục phút, bỏ cặn, uống nước

c) Đơn vị đo lường

- Liều lượng: ghi theo đơn vị đo thường tiêu chuẩn Việt

Nam (TCVN) như gam (g), kilogam (kg), lít (l),…

- Đơn vị đo lường ngày trước quy ra tiêu chuẩn hiện nay:

1 cân

1 lạng

1 đồng cân (1 tiền)

1 phân

1 ly

1 lai

= 500 g

= 31,25 g

= 3,25 g

= 0,325g

= 0,0325 g

= 0,00325 g

d) Phân biệt chứng hàn và chứng nhiệt

Ngoài việc am hiểu những điều thông thường, nhưng thiết yếu trên đây, việc phân biệt chứng hàn và chứng nhiệt trên người để lựa chọn bài thuốc là rất quan trọng

Trang 13

- Chứng hàn:

Sợ lạnh; thích ấm; miệng nhạt; không khát; sắc mặt xanh trắng; tay, chân lạnh; nước tiểu trong; đại tiện lỏng; chất lưỡi nhạt; rêu lưỡi trắng, trơn, ướt; mặt chậm

- Chứng nhiệt:

Sốt; thích mát; mặt đỏ; mắt đỏ; tay, chân nóng; tiểu tiện

đỏ, ngắn; đại tiện táo; chất lưỡi đỏ; rêu lưỡi vàng khô; mạch nhanh

- Vận dụng chứng hàn, chứng nhiệt vào từng loại bệnh: Cảm lạnh (cảm do phong hàn): Triệu chứng có thêm sợ lạnh, nước đái trong, không khát nước, không có mồ hôi Dùng bài cảm số thể lạnh

Cảm nóng (cảm do phong nhiệt): Triệu chứng có thêm sợ nóng, khát nước, có mồ hôi, môi khô, nước tiểu vàng Dùng bài cảm sốt nóng

Viêm đại tràng: Chứng đại tràng hàn: Đại tiện lỏng như phân vịt, tiểu tiện trong và nhiều, bụng sôi, đau bụng, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng tinh, mạch chậm Chứng đại tràng nhiệt: Đại tiện rắn, hậu môn sưng đau, đại tiện thối khắm, tiểu tiện ít

và đỏ, rêu lưỡi vàng và khô mạch nhanh

Ngày đăng: 25/03/2015, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w