1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CẨM NANG PHÁP LUẬT DÀNH CHO THANH NIÊN

99 369 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 883,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật trong thanh niên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Bộ Tư pháp xuất bản cuốn sách Cẩm nang pháp luật dành cho thanh niên. Cuốn sách do Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp biên soạn, được trình bày dưới dạng hỏi đáp, thông qua những tình huống cụ thể, sinh động nhằm giải thích pháp luật, giúp thanh niên dễ dàng nắm bắt và vận dụng pháp luật trong cuộc sống

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CẨM NANG PHÁP LUẬT DÀNH CHO THANH NIÊN

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Hà Nội, 2005

Trang 2

CHỦ BIÊN

NGUYỄN TẤT VIỄN

BIÊN SOẠN

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNGNGUYỄN PHƯƠNG THẢOPHẠM KIM DUNG

UÔNG NGỌC THUẨNNGUYỄN MINH THĂNGQUÁCH DƯƠNG

VŨ VÂN ĐÌNH

NGÔ QUỲNH HOA

PHAN HỒNG NGUYÊNPHẠM THỊ LAN ANH

TÔ THỊ THU HÀ

TRẦN MINH TRỌNGPHẠM THỊ HOÀ

Trang 3

CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN

Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ta luôn quan tâm đến thanh niên, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên được phát triển toàn diện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX của Đảng đã nêu rõ: "Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo

phát triển toàn diện về chính trị, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc"; trong đó, công tác giáo dục ý thức pháp luật cho thanh niên là một mặt quan trọng

Để góp phần nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật trong thanh niên, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Bộ Tư pháp xuất bản cuốn sách Cẩm

nang pháp luật dành cho thanh niên Cuốn sách do Vụ phổ biến, giáo dục pháp

luật - Bộ Tư pháp biên soạn, được trình bày dưới dạng hỏi - đáp, thông qua những tình huống cụ thể, sinh động nhằm giải thích pháp luật, giúp thanh niên dễ dàng nắm bắt và vận dụng pháp luật trong cuộc sống

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 4 năm 2006

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 4

I PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Câu hỏi 1: Tôi bị kẻ xấu ghép hình ảnh của tôi với người khác rồi đưa

lên mạng nhằm phá hoại hạnh phúc của gia đình tôi Hành vi của người này

có vi phạm pháp luật không, xin hỏi pháp luật quy định cá nhân có những quyền nhân thân nào? Việc bảo vệ quyền nhân thân được quy định như thế nào?

Ngoài quyền của cá nhân đối với hình ảnh, pháp luật còn quy định cá nhân

có các quyền nhân thân sau đây:

- Quyền đối với họ, tên;

- Quyền thay đổi họ, tên;

- Quyền xác định dân tộc;

- Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể;

- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín;

- Quyền đối với bí mật đời tư;

- Quyền kết hôn;

Trang 5

- Quyền bình đẳng của vợ chồng;

- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình;

- Quyền ly hôn;

- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con;

- Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi;

- Quyền đối với quốc tịch;

- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở;

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;

- Quyền tự do đi lại, cư trú;

- Quyền lao động;

- Quyền tự do kinh doanh;

- Quyền tự do sáng tạo

Khi quyền nhân thân của một cá nhân bị xâm phạm, thì người đó có quyền:

- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

- Tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Câu hỏi 2: Pháp luật quy định quyền sở hữu được xác lập và chấm dứt

trong những trường hợp nào? Trường hợp môt người nhặt được một vật do người khác bỏ quên mà tôi không biết địa chỉ của người đó thì vật đó có đương nhiên thuộc quyền sở hữu của người nhặt được hay không?

Trả lời:

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

Trang 6

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

Theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 1995 thì quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

- Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Thu hoa lợi, lợi tức;

- Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

- Được thừa kế tài sản;

- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơ0i, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật này;

- Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Dân sự thì quyền sở hữu chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

- Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác;

- Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình;

- Tài sản bị tiêu huỷ;

- Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu;

- Tài sản bị trưng mua;

- Tài sản bị tịch thu;

- Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước

di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu trong các điều

Trang 7

theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật này, cụ thể: Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp người chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân, không có căn cứ pháp luật, thì

dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó

- Các căn cứ khác do pháp luật quy định

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Dân sự năm 1995, đối với tài sản nhặt được do người khác bỏ quên mà không biết địa chỉ của người đó thì tài sản đó không đương nhiên thuộc sở hữu của người nhặt được, người này phải phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc Công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại

Sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được mà không xác định được ai là chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, thì vật đó thuộc

sở hữu của người nhặt được; nếu vật có giá trị lớn, thì sau khi trừ chi phí bảo quản người nhặt được được hưởng 50% giá trị của vật và phần còn lại thuộc Nhà nước

Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hóa mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, không xác định được ai là chủ sở hữu hoặc không có người đến nhận, thì vật đó thuộc Nhà nước; người nhặt được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật

Câu hỏi 3: Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền đăng ký kết hôn? Khi

đăng ký kết hôn cần phải có những giấy tờ gì?

Trang 8

đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận.

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn

Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài

Để được đăng ký kết hôn, các bên nam, nữ cần tiến hành các bước sau:

- Đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi một trong hai bên cư trú lấy

tờ khai xin đăng ký kết hôn theo mẫu chung;

- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Giấy khai sinh của mỗi bên;

+ Sổ hộ khẩu gia đình của bên nam hoặc bên nữ nơi đăng ký kết hôn Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn thực hiện việc đăng ký kết hôn

Trong trường hợp cả hai bên nam nữ là công dân Việt Nam đang học tập, lao động, công tác có thời hạn ở nước ngoài, đã cắt hộ khẩu khỏi nơi thường trú, nay về nước xin đăng ký kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cha mẹ bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú, thực hiện việc đăng ký kết hôn

- Trong trường hợp không đủ các giấy tờ trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế

- Trong trường hợp nghi ngờ một bên hoặc cả hai bên nam nữ mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu, thì phải có giấy khám sức khoẻ của cơ quan y tế cấp huyện

- Tờ khai đăng ký kết hôn phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, người lao động, lực lượng vũ trang nhân dân) hoặc của

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú (đối với nhân dân) của mỗi bên về tình trạng

Trang 9

Trong trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên đã có vợ có chồng nhưng đã ly hôn hay người kia đã chết thì phải nộp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án về việc cho ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử.

- Trong trường hợp một trong hai người không thể đến nộp hồ sơ xin đăng

ký kết hôn mà có lý do chính đáng, thì có thể gửi cho Uỷ ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú

- Vợ chồng đã ly hôn, muốn kết hôn lại với nhau, thì cũng phải tiến hành các bước như người kết hôn lần đầu

Câu hỏi 4: Cơ quan nào có thẩm quyền đăng ký khai sinh và thủ tục đăng

ký khai sinh được quy định như thế nào?

Trả lời:

Pháp luật quy định thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

- Thẩm quyền đăng ký khai sinh:

+ Việc đăng ký khai sinh được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú, hoặc nơi trẻ em sinh ra

+ Trong trường hợp người mẹ thường trú ở một nơi, nhưng lại đăng ký khai sinh cho con ở một nơi khác, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký phải gửi thông báo kèm theo một bản sao Giấy khai sinh cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký phải lập một quyển Sổ đăng ký khai sinh riêng cho những trường hợp này, không đưa vào số liệu thống kê số trẻ em sinh của địa phương

+ Trong trường hợp người mẹ không có hộ khẩu thường trú, đã cắt chuyển

hộ khẩu tại nơi thường trú cũ, nhưng chưa đủ thủ tục, điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi thực tế đang cư trú, thì việc đăng ký cho trẻ em được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn

- Thời hạn đăng ký khai sinh: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày sinh trẻ

em, cha, mẹ, hoặc người thân thích, người có trách nhiệm phải khai sinh cho trẻ em; đối với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên không quá

60 ngày

Trang 10

- Thủ tục đăng ký khai sinh:

+ Người đi khai sinh nộp Giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra cấp và xuất trình các giấy tờ sau đây:

● Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ em (nếu có);

● Sổ hộ khẩu gia đình hoặc Giấy đăng ký tạm trú của người mẹ;

● Chứng minh nhân dân của người đến đăng ký khai sinh

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế

Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở Y tế, thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng văn bản xác nhận của người làm chứng hoặc của người chỉ huy, người điều khiển phương tiện giao thông, nếu sinh con trên các phương tiện giao thông

+ Người làm chứng phải có đầy đủ những điều kiện sau đây:

● Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực và hành vi dân sự đầy đủ;

● Biết rõ sự việc liên quan đến việc làm chứng;

● Không có quyền, lợi ích liên quan đến việc làm chứng

Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung mà họ

đã làm chứng Những giấy tờ có được do hành vi làm chứng sai sự thật sẽ bị thu hồi

Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp ngay một bản chính Giấy khai sinh cho trẻ em, cán bộ hộ tịch tư pháp ghi vào Sổ đăng ký khai sinh Bản sao và số lượng bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh

+ Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, phần khai về cha, mẹ khi chưa xác định được thì trong Giấy khai sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh để trống Nếu có người nhận làm cha, mẹ của trẻ em, thì căn cứ vào Quyết định công nhận việc cha, mẹ nhận con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà ghi tên của người được công nhận là cha, mẹ vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh của người con

Trang 11

Câu hỏi 5: Thủ tục đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ,

tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc?

Trả lời:

Pháp luật quy định cụ thể những vấn đề này như sau:

a) Thẩm quyền đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc:

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh của người

có đơn yêu cầu có thẩm quyền cho thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh (sau đây gọi chung là thay đổi, cải chính hộ tịch); xác định lại dân tộc đã được đăng ký trong bản chính Giấy khai sinh

Trong trường hợp đương sự không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú

có thời hạn, cũng có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc của người đó

b) Thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc:

Người xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc phải nộp đơn và xuất trình các giấy tờ sau đây:

- Bản chính Giấy khai sinh;

- Sổ hộ khẩu gia đình của người có đơn yêu cầu;

- Chứng minh nhân dân;

Ngoài ra, còn cần có các giấy tờ cần thiết khác chứng minh đủ điều kiện theo quy định tại Điều 29 của Bộ Luật Dân sự (đối với trường hợp xin thay đổi họ, tên),

và Điều 30 của Bộ Luật Dân sự (đối với trường hợp xin xác định lại dân tộc) Cụ thể như sau:

* Quyền thay đổi họ, tên

Trang 12

- Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

+ Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

+ Theo yêu cầu của cha, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha, mẹ đẻ đã đặt;

+ Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;+ Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

+ Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc từ nhỏ mà tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định

- Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó

+ Việc thay đổi họ, tên không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ

* Quyền xác định dân tộc

- Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha, mẹ Trong trường hợp cha và mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau, thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của người cha hoặc dân tộc của người mẹ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha, mẹ

- Người đã thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp sau đây:

+ Xác định lại theo dân tộc của người cha hoặc người mẹ, nếu cha, mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau;

+ Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác

Trang 13

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế.

Đơn xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc phải nói rõ lý do và các nội dung xin thay đổi, cải chính, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có đơn yêu cầu cư trú Trong trường hợp xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã không phải nơi đã đăng ký khai sinh, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh trước đây

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, đối với người dưới 18 tuổi được thực hiện theo đơn yêu cầu của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp Đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu xét thấy việc xin thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc không trái với các quy định của pháp luật, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc Căn cứ vào Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp ghi rõ nội dung thay đổi vào Sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và bản chính Giấy khai sinh của đương

sự Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi một bản sao Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc cho cơ quan Công an cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh để ghi chú nội dung thay đổi vào Sổ đăng ký khai sinh của đương sự Bản sao và số lượng bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự

c) Từ chối đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc:

Trong trường hợp không có đủ cơ sở để đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh từ chối đăng ký và giải thích

Trang 14

Câu hỏi 6: Giao dịch dân sự là gì? Giao dịch dân sự gồm những hình

thức nào? Để giao dịch dân sự có có hiệu lực cần những điều kiện nào?

Trả lời:

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành

vi cụ thể

Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng Nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng

ký hoặc phải xin phép, thì phải tuân theo các quy định đó

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự (có khả năng bằng hành vi của mình sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ dân sự);

- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội (pháp luật cho phép hoặc không ngăn cấm; xã hội chấp nhận);

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện (tự nguyện thể hiện ý chí, hoàn toàn không bị ép buộc );

- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật (Ví dụ giao dịch mua bán nhà ở phải lập hợp đồng bằng văn bản, phải được công chứng hoặc chứng thực)

Câu hỏi 7: Nghĩa vụ dân sự là gì? Căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ

dân sự?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 285 Bộ Luật dân sự năm 1995 thì: Nghĩa vụ dân sự

là việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có

Trang 15

nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)

Trong giao dịch dân sự, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Ví dụ trong giao dịch mua bán, nghĩa vụ của bên bán là giao vật và có quyền nhận tiền từ bên mua Ngược lại, bên mua có quyền nhận vật và có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán với các điều kiện theo thoả thuận

Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ:

- Hợp đồng dân sự;

- Hành vi dân sự đơn phương;

- Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

- Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;

- Thực hiện công việc không có uỷ quyền;

- Những căn cứ khác do pháp luật quy định

Nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

- Nghĩa vụ được hoàn thành (bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ);

- Theo thoả thuận của các bên;

- Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;

- Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác;

- Nghĩa vụ được bù trừ;

- Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một;

- Thời hiệu khởi kiện (khoảng thời gian trong đó việc khởi kiện có giá trị)

đã hết;

- Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt (không tồn tại pháp nhân đó nữa) mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

Trang 16

- Bên có quyền là cá nhân đã chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;

- Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác;

- Nghĩa vụ cũng chấm dứt trong các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định

- Trong trường hợp phá sản, thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt theo quy định

của pháp luật về phá sản

Câu hỏi 8: Anh K bán một căn nhà cấp 4 diện tích 35 m2 trên diện tích 60

m5 đất thổ cư( đã được cấp sổ đỏ) Bên mua yêu cầu làm hợp đồng dân sự có công chứng hẳn hoi Anh K nói không biết hợp đồng dân sự là gì cả nên cho rằng chẳng cần hợp đồng gì hết cho lôi thôi, cứ thỏa thuận việc giao tiền, giao nhà là xong

Vậy hợp đồng dân sự là gì? gồm những hình thức nào? Nội dung chủ yếu của hợp đồng dân sự là gì? Anh K nói vậy có đúng không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 394 Bộ Luật Dân sự năm 1995 thì hợp đồng dân sự

là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự (là một loại giao dịch dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hoặc nhiều bên)

Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng

hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được

Trang 17

Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những điều khoản mà thiếu những điều

khoản đó, thì hợp đồng không thể giao kết được

Nội dung chủ yếu của hợp đồng do pháp luật quy định; nếu pháp luật không quy định, thì theo thoả thuận của các bên

Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

- Số lượng, chất lượng;

- Giá, phương thức thanh toán;

- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

- Quyền, nghĩa vụ của các bên;

Câu hỏi 9: Cày xong thửa ruộng, anh Q vào nhà bạn chơi, định uống

chén nước xong ra ngay Thế nhưng vui chuyện cùng bạn nên anh quên buộc trâu, để trâu ăn mất gần 100 m 2 ngô đang kỳ trổ bông của bà Đ Bà Đ bắt anh Q phải đền toàn bộ thiệt hại cho bà (ước tính khoảng 350.000 đồng) Anh chỉ chịu đền một nửa vì cho rằng anh không cố ý Chẳng qua là anh quên buộc trâu thôi Trong trường hợp này, anh Q có phải đền bù toàn bộ thiệt hại cho bà Đ không?

Trả lời:

Mặc dù không cố ý nhưng để trâu ăn ngô, gây thiệt hại cho bà Đ là lỗi của anh Q Gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường Do vậy, việc bà Đ yêu

Trang 18

cầu anh Q phải bồi thường thiệt hại cho bà là đúng Anh Q có trách nhiệm phải bồi thường.

Những trường hợp như thế này gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

(là bồi thường thiệt hại gây nên không phải do vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà là do vi phạm pháp luật)

Điều 609 Bộ Luật dân sự quy định : “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý

xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường”

Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại Điều 610 Bộ Luật Dân sự năm 1995, như sau:

- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

Căn cứ các quy định trên đây thì về nguyên tắc, anh Quang phải bồi thường

toàn bộ thiệt hại cho bà Đ Tuy nhiên toàn bộ là bao nhiêu thì cần xem xét cụ thể

Cũng cần xem xét thêm khả năng kinh tế của gia đình anh Q và việc giữ gìn mối quan hệ tình cảm xóm giềng giữa họ để xử lý vấn đề một cách hợp tình, hợp lý, đúng pháp luật

Câu hỏi 10:

Hai con trai ông B là N (13 tuổi) và T (12 tuổi) chơi đuổi bắt Chẳng may chúng xô đổ xe máy anh V (dựng cạnh đường), làm vỡ yếm, vỡ gương xe máy Anh V phải thay yếm và gương hết 426.000 đồng Tuy xót của nhưng nghĩ tình hàng xóm, láng giềng nên anh V chỉ yêu cầu ông B bồi thường cho gần một nửa

Trang 19

chịu, cha làm cha chịu và kiên quyết không chịu bồi thường cho anh V Trong trường hợp này, ông B có phải bồi thường không?

Trả lời:

Điều 611 (Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân) Bộ Luật Dân sự năm 1995 quy định việc bồi thường thiệt hại (ngoài hợp đồng) của cá nhân, như sau:

- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại, thì phải tự bồi thường

- Khi người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,

mẹ, thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ

để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng, thì lấy tài sản

đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 625 của Bộ luật này

Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại, thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường, thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình

- Khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại

mà có cá nhân, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường

Đối chiếu với quy định trên thì ông B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh V là đúng Anh V không chỉ có quyền yêu cầu bồi thường một nửa mà có quyền yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại: tiền thay thế phụ tùng xe (426.000 đồng), thậm chí cả tiền công đi thay, thiệt hại khác (nếu có) do đi thay phụ tùng xe gây nên… Tuy nhiên, việc anh V chỉ yêu cầu bồi thường gần một nửa thiệt hại để giữ tình nghĩa hàng xóm láng giềng là việc làm rất đẹp, đáng được khuyến khích, biểu dương Ông B cần nhận rõ điều đó và thực hiện trách nhiệm của mình

Trang 20

II LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu hỏi 11: Năm nay tôi 18 tuổi, tôi yêu anh H cùng thôn và cùng làm ở

Đội sản xuất Tháng trước, anh H đã tổ chức sinh nhật 19 tuổi Chúng tôi định

tổ chức kết hôn sau khi anh H đã qua tuổi 19 và trước khi lên đường nhập ngũ nhưng mọi người nói anh H chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định Vậy Luật hôn nhân và gia đình quy định điều kiện kết hôn như thế nào? Chúng tôi có đủ điều kiện về tuổi kết hôn không?

Trả lời:

Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

- Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép và cản trở;

- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này như

+ Người đang có vợ hoặc có chồng;

+ Người mất năng lực hành vi dân sự;

+ Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

+ Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ,

mẹ kế với con riêng của chồng;

- Giữa những người cùng giới tính (như giữa nam với nam, giữa nữ với nữ) Trường hợp của chị và anh H vẫn có thể kết hôn được nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên, riêng về tuổi kết hôn, anh H sau khi tổ chức xong sinh nhật tuổi 19,

kể từ sau ngày sinh nhật anh H coi như bước vào tuổi hai mươi, đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày

Trang 21

Nam đang ở tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Câu hỏi 12: Việc tổ chức lễ cưới công khai ở gia đình, có đông đủ họ

hàng, bạn bè đến dự và chứng kiến nhưng không đăng ký kết hôn ở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì có giá trị pháp lý không ?

Trả lời:

Việc kết hôn phải do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi cư trú của

một trong hai bên kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn thì hai bên nam nữ kết

hôn mới được thừa nhận là vợ chồng trước pháp luật và có những quyền lợi của người vợ, người chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Việc tổ chức lễ cưới ở gia đình, dù công khai, có nhiều người biết, cũng chỉ là nghi thức kết hôn theo tục lệ

Việc tổ chức lễ cưới theo tục lệ chỉ là việc riêng của người kết hôn, không có

ý nghĩa pháp lý để nói rằng hai bên nam nữ kết hôn đã là vợ chồng trước pháp luật Ngược lại, nếu việc kết hôn đã được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận và ghi vào sổ kết hôn, cấp giấy chứng nhận kết hôn thì dù rằng chưa tổ chức hay không tổ chức lễ cưới theo tục lệ địa phương, phong tục dân tộc hay nghi lễ tôn giáo, hai bên vẫn được thừa nhận là vợ chồng trước pháp luật và có những quyền lợi của người vợ, người chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Ví dụ: một trong hai người đi nước ngoài (học tập, công tác, lao động xuất khẩu…) có tài sản đem về nước thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chứ không phải là tài sản riêng của người ra nước ngoài Nếu một bên chết trước thì tài sản chung đó được chia đôi; ngoài ra, người vợ hoặc chồng còn sống được quyền thừa kế tài sản của người chồng hoặc người vợ đã chết để lại

Câu hỏi 13: Anh B có vợ và 2 con ở quê, anh công tác ở thành phố yêu

một cô gái mới ra trường làm cùng cơ quan, hai người sống với nhau như vợ chồng, mặc dù mọi người trong cơ quan đã nhắc nhở nhưng anh B nói anh không bỏ vợ con, quan hệ giữa anh và cô gái kia chỉ quan hệ bạn bè thân thích, còn cô gái kia thì yêu anh B thật sự, cô hy vọng anh B sẽ vì cô mà ly hôn với vợ

ở quê…Vậy, trường hợp của anh B và cô gái kia có vi phạm chế độ một vợ, một chồng không? Pháp luật quy định xử lý tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như thế nào?

Trang 22

Trả lời:

Quan hệ của anh B và cô gái kia là quan hệ trái pháp luật, vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại khoản 2, Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ Trong trường hợp đã nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục chung sống như vợ chồng với người khác thì bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình: Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

- Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng

- Ngoài ra, bị buộc chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật đó

Trong trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình mà vẫn tái phạm thì sẽ phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 147

Bộ luật hình sự năm 1999 :

- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

- Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một

vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Trang 23

Câu hỏi 14: Tảo hôn là gì? Tảo hôn và tổ chức tảo hôn bị pháp luật xử lý

như thế nào?

Trả lời:

Tảo hôn là việc kết hôn trái pháp luật vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị Toà án nhân dân huỷ Hành vi tảo hôn hoặc tổ chức tảo hôn đã bị nhắc nhở nhưng vẫn tiếp tục vi phạm thì tuỳ mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây :

- Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó;

- Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn

Hành vi tổ chức tảo hôn hoặc tảo hôn đã bị xử phạt hành chính mà vẫn tái phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 148 Bộ luật hình sự năm 1999: Người nào có một trong những hành vi sau đây đã bị xử phạt hành chính

về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

- Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn;

- Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật cho những người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó

Câu hỏi 15: Hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng,

con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 87/NĐ- CP ngày 21-11-2001 của

Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì hành vi ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, người có công nuôi dưỡng mình, các thành viên khác trong gia đình nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tiền

từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng

Trang 24

Trong trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý theo quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999: Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

a) Nghiêm cấm việc trồng cây có chứa chất ma tuý:

Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây côca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý

b) Nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, tiền chất , thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần:

- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong

các danh mục do Chính phủ ban hành

Trang 25

- Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,

sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ quy định (Ephedrin, Pseudoephedrin, Acetic anhydrit )

- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác nếu

sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được

quy định trong danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất như là chất gây nghiện, chất hướng thần

c) Nghiêm cấm việc sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma tuý:

- Sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi tự mình hoặc nhờ người khác đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể mình dưới bất kỳ hình thức nào nhằm đáp ứng nhu cầu về ma tuý Việc sử dụng trái phép chất ma tuý có thể thực hiện bằng các hình thức như: hút, hít, nuốt, uống, tiêm, chích…

- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi tập hợp một số người có nhu cầu sử dụng ma tuý, chuẩn bị địa điểm, các dụng cụ, phương tiện (bàn đèn, bơm, kim tiêm…) và chất ma tuý để tiến hành đưa chất ma tuý vào cơ thể của

những người khác một cách trái phép Tuy nhiên, việc sử dụng các loại thuốc có

chất gây nghiện để chữa bệnh theo chỉ định của bác sỹ là được phép.

- Xúi giục là hành vi thúc đẩy, khuyến khích, động viên người khác sử dụng trái phép chất ma tuý

- Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác buộc họ sử dụng trái phép chất ma tuý trái với ý muốn của họ

- Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê, dụ dỗ hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma tuý của người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý

- Chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma tuý là một loạt hành vi như cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc bao che, dung túng cho việc sử dụng trái

phép chất ma tuý

Trang 26

d Nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng

cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma tuý:

Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma tuý có thể là: sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán bàn đèn, tẩu dùng để hút thuốc phiện hoặc các dụng cụ khác có thể được

sử dụng vào nhiều mục đích khác nhưng lại dùng các phương tiện đó để sản xuất các chất ma tuý như bình cầu, ống nghiệm, bơm tiêm

e Nghiêm cấm hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội về ma tuý mà có:

Hành vi hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội về ma tuý mà có là hành vi dùng tiền, tài sản có được do buôn bán ma tuý để thành lập công ty, đầu tư vào các

dự án, cho người khác (vợ, chồng, con cái, cha, mẹ) đứng tên để mua bất động sản…

g Nghiêm cấm việc chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma tuý

h Nghiêm cấm việc trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống ma tuý.

i Nghiêm cấm việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý.

k Các hành vi trái phép khác về ma tuý.

Câu hỏi 17: Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức trong đấu tranh

phòng, chống tệ nạn ma tuý được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Phòng, chống ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức

và của toàn xã hội

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết kịp thời những thông tin, tố giác về tệ nạn ma tuý

Trang 27

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia triệt phá cây có chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức.

Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý được quy định cụ thể như sau:

- Đối với cá nhân và gia đình:

+ Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý;

+ Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh;

+ Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác;

+ Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện

- Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

+ Tổ chức và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức pháp luật về phòng, chống ma tuý; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh;

+ Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia

Trang 28

- Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác:

+ Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma tuý; giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, học viên; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn học sinh, sinh viên, học viên tham gia

+ Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm phối hợp với cơ quan,

tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận thức rõ về tác hại của ma tuý; chủ trương, chính sách, pháp luật, biện pháp của nhà nước về phòng, chống ma tuý

- Trách nhiệm của người nghiện ma tuý và gia đình có người nghiện ma tuý:

+ Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này

Người nghiện ma tuý có trách nhiệm tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền cơ sở nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện; tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma tuý

Trang 29

+ Gia đình có người nghiện ma tuý có trách nhiệm báo cho chính quyền cơ

sở về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và tình trạng nghiện của người đó; giúp người nghiện ma tuý cai nghiện tại gia đình theo sự hướng dẫn, giám sát của cán bộ y tế và chính quyền cơ sở; theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội; hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện

và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật

Câu hỏi 18: Những đối tượng nghiện ma tuý nào bị đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc?Trình tự, thủ tục và thời gian cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, những người nghiện ma tuý sau bị đưa vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc:

- Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định

- Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên tự nguyện xin đi cai nghiện tại

cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ

- Người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi tự nguyện hoặc được gia đình làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ

Khi đưa một người nghiện đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc cần tiến hành những trình tự và thủ tục sau:

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi người nghiện cư trú hoặc nơi người nghiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với người không có nơi cư trú nhất định, lập hồ sơ trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) Công

Trang 30

an cấp xã chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ này.

Hồ sơ xét đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm:

- Sơ yếu lý lịch của người nghiện;

- Các biện pháp cai nghiện đã được áp dụng;

- Những tài liệu khác có liên quan đến nhân thân của người nghiện (nếu có);

- Nhận xét của công an cấp xã, ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể, tổ chức xã hội mà người đó là thành viên

Sau khi nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Hội đồng tư vấn để giúp việc xét duyệt hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Thành phần Hội đồng tư vấn gồm: Trưởng phòng Lao động – Thương binh

và Xã hội (thường trực hội đồng), Trường phòng Tư pháp, Trưởng phòng Y tế và Trưởng công an cấp huyện

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn

và triệu tập họp Hội đồng tư vấn Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ tập thể, xem xét và biểu quyết từng trường hợp cụ thể, kết luận theo đa số Nếu người nghiện là người chưa thành niên, Hội đồng tư vấn mời đại diện cơ quan bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng cấp tham gia phiên họp

Trong thời hạn 04 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng

tư vấn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét và quyết định việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Quyết định được gửi cho cá nhân và gia đình người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ và cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, cơ quan công an cấp huyện có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Trang 31

Người nghiện ma tuý bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền về việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Thời hạn cai nghiện ma tuý tại cơ sở:

Cai nghiện bắt buộc từ một năm đến hai năm Thời hạn được tính từ thời điểm cơ sở cai nghiện bắt buộc làm thủ tục tiếp nhận

Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định bị đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc bị coi là bị xử lý vi phạm hành chính

Câu hỏi 19: Chúng tôi rất đau lòng khi vừa phát hiện ra con trai mình đã

nghiện ma tuý Xin hỏi con trai chúng tôi có được phép cai nghiện tại gia đình

và cộng đồng không? Muốn được cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng thì người nghiện và gia đình có người nghiện cần tiến hành những thủ tục gì?

Trả lời:

Cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng là việc thực hiện các hoạt động

y tế, tâm lý, xã hội nhằm giúp người nghiện phục hồi nhân cách, sức khoẻ, sống không lệ thuộc vào ma tuý; các hoạt động này được thực hiện tại gia đình và xã phường, thị trấn, nơi người nghiện cư trú

Nếu con trai bạn không thuộc diện bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đang bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục; không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội

sử dụng trái phép các chất ma tuý thì được phép cai nghiện tại gia đình và cộng đồng

Người nghiện ma tuý và gia đình cần tiến hành những thủ tục sau để được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng:

+ Người nghiện ma tuý phải tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của bản thân và đăng ký hình thức cai nghiện;

Trang 32

+ Trong trường hợp người nghiện ma tuý không tự khai báo, gia đình hay người giám hộ có trách nhiệm khai báo với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về người nghiện ma tuý và tình trạng nghiện của người đó trong gia đình mình;

+ Trong trường hợp người nghiện ma tuý khai báo với các cơ quan, tổ chức nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức đó lập danh sách và thông báo đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú

- Hồ sơ ban đầu của người cai nghiện tại gia đình và cộng đồng bao gồm:+ Bản tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của bản thân hoặc biên bản, tài liệu về việc gia đình hay người giám hộ khai báo với Uỷ ban nhân dân cấp xã về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và tình trạng của người nghiện;

+ Bản cam kết cai nghiện tại gia đình và cộng đồng

Sau khi Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người nghiện ma tuý cư trú nhận được

hồ sơ Căn cứ vào hồ sơ, hoàn cảnh gia đình của người nghiện ma tuý và tình hình thực tế ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét ra quyết định cho người nghiện ma tuý được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, phân công trách nhiệm cho Tổ công tác cai nghiện phối hợp với Tổ trưởng dân phố hoặc Trưởng thôn, bản, làng giúp đỡ người được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng

- Pháp luật quy định trong quá trình thực hiện cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, người nghiện và gia đình họ có trách nhiệm:

Đối với người nghiện:

+ Tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của mình;

+ Cam kết thực hiện cai nghiện tại gia đình và cộng đồng;

+ Thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước và các quy định về chuyên môn, kế hoạch cai nghiện;

+ Liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với cán bộ được Tổ công tác phân công giúp đỡ;

+ Đóng góp các khoản chi phí cai nghiện theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trang 33

+ Kịp thời khai báo với Uỷ ban nhân cấp xã về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và tình trạng nghiện của người đó;

+ Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập hồ sơ và xây dựng kế hoạch cai nghiện;

+ Chăm sóc, quản lý, theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội;

+ Xây dựng gia đình hoà thuận, các thành viên trong gia đình thương yêu, quý trọng nhau, giúp người nghiện ma tuý xoá bỏ mặc cảm, quyết tâm cai nghiện, hoà nhập cộng đồng;

+ Đóng góp chi phí cai nghiện cho người chưa thành niên theo quy định của

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Đối với gia đình của người nghiện ma tuý:

+ Kịp thời khai báo với Uỷ ban nhân dân cấp xã về người nghiện ma tuý

trong gia đình mình và tình trạng nghiện của người đó;

+ Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập hồ sơ và xây dựng kế hoạch cai nghiện;

+ Chăm sóc, quản lý, theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội;

+ Xây dựng gia đình hoà thuận, các thành viên trong gia đình thương yêu, quý trọng nhau, giúp người nghiện ma tuý xoá bỏ mặc cảm, quyết tâm cai nghiện, hoà nhập cộng đồng;

+ Đóng góp chi phí cai nghiện cho người chưa thành niên theo quy định của

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Thời gian cai nghiện tại gia đình và cộng đồng ít nhất là 06 tháng

- Về việc cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý:

Trong thời hạn 15 ngày trước khi kết thúc thời hạn cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác cai nghiện chủ trì phối hợp với Tổ trưởng tổ dân cư

Trang 34

và gia đình (hay người giám hộ) của người đã cai nghiện tổ chức họp tổ dân cư để xem xét, đánh giá kết quả cai nghiện ma tuý của người được cai nghiện và đề nghị cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý cho người có đủ điều kiện Nội dung cuộc họp phải được lập thành biên bản Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng cho người đã cai nghiện

có đủ các tiêu chuẩn sau:

+ Không còn chất ma tuý trong cơ thể;

+ Thực hiện đầy đủ các cam kết cai nghiện;

+ Chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành vi, có lối sống lành mạnh và được 2/3 số người trong Tổ dân cư dự họp đồng ý cấp giấy chứng nhận

Sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận đã cai nghiện

ma tuý tại gia đình và cộng đồng cho người đã cai nghiện, Tổ công tác cai nghiện phối hợp với Tổ dân cư, gia đình người đã cai nghiện, cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức cuộc họp công bố việc hoàn thành quy trình cai nghiện, trao giấy chứng nhận đã cai nghiện, bàn giao người nghiện cho gia đình và Tổ dân cư tiếp tục quản lý, giám sát và giúp đỡ tại gia đình và cộng đồng

Trường hợp người cai nghiện chưa đủ các tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác cai nghiện báo cáo và đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng trong thời hạn 3 tháng Việc quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng không quá hai lần Nếu vẫn không đủ tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Nếu sau một năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng mà người được cấp giấy chứng nhận đó không tái nghiện thì

họ được coi như chưa bị áp dụng hình thức cai nghiện này

Câu hỏi 20: Chế độ khen thưởng đối với người có thành tích trong phòng,

chống ma tuý được quy định như thế nào?

Trả lời:

Trang 35

Tệ nạn ma tuý là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội.

Vì vậy, phòng, chống ma tuý là trách nhiệm của mọi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội Nhà nước có chính sách khuyến khích, bảo vệ cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý; tổ chức đấu tranh chống các tội phạm về ma tuý và sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, pháp luật, văn hoá, xã hội, nghiệp vụ để tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật; việc xử lý phải kiên quyết, công khai và thông báo cho cơ quan, tổ chức, chính quyền cơ sở nơi người vi phạm làm việc hoặc cư trú

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong đấu tranh phòng, chống ma túy thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật

Câu hỏi 21: Thế nào là hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép

hoặc chiếm đoạt chất ma tuý? Hành vi đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời:

- Tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp

chất ma tuý ở bất cứ nơi nào như trong nhà, ngoài vườn, chôn xuống đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe… mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma tuý

- Vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất

ma tuý từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào Việc vận chuyển trái phép đó có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả… trên các tuyến đường khác nhau

- Mua bán trái phép chất ma tuý là các hành vi trao đổi chất ma tuý dưới các

hình thức như: Bán trái phép chất ma tuý cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc của chất ma tuý do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma tuý cho

Trang 36

người khác để hưởng hoa hồng hoặc các lợi nhuận khác; mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; vận chuyển ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; dùng chất ma tuý để trao đổi thanh toán trái phép ( không phụ thuộc vào nguồn gốc của chất ma tuý do đâu mà có); dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán lấy chất ma tuý để bán lại trái phép cho người khác.

- Chiếm đoạt chất ma tuý là hành vi lấy chất ma tuý về cho mình bằng vũ lực

hoặc bằng các thủ đoạn khác

Tất cả các hành vi nói trên cấu thành nên tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều

194 của Bộ luật hình sự năm 1999 Cụ thể như sau:

a) Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

+ Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

+ Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

+ Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 500 gam đến dưới một kilôgam;

+ Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

+ Lá, hoa, quả, cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

+ Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

Trang 37

+ Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;+ Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

+ Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

+ Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm đánh dấu (+) nêu trên (tương ứng với điểm g đến điểm n khoản 2 Điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999);

+ Tái phạm nguy hiểm

c) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

+ Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

+ Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

+ Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

+ Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

+ Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;+ Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ 100 gam đến dưới 300; + Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

+ Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm có đánh dấu (+) thuộc mục c trên đây (tương ứng với các điểm từ a đến g khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)

d) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

Trang 38

+ Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 05 kilôgam trở lên;

+ Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ 100 gam trở lên;

+ Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 75 kilôgam trở lên;

+ Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 600 kilôgam trở lên;

+ Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 150 kilôgam trở lên;

+ Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ 300 gam trở lên;

+ Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ 750 mililít trở lên;

+ Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm đánh dấu (+) tại mục d nêu trên (tương ứng các điểm a đến điểm g khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình

sự năm 1999)

đ) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm

Câu hỏi 22: B là thanh niên chưa có vợ đã từng phạm tội tổ chức sử

dụng trái phép ma tuý và bị xử phạt tù 03 năm Sau khi ra tù được một thời gian

B lại quay lại con đường cũ, tổ chức hút, hít tại nhà và bị công an bắt giữ cùng những người hút, hít Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì hành vi của B sẽ

bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Tại điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

a) Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

- Phạm tội nhiều lần;

Trang 39

- Đối với nhiều người;

- Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

- Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

- Đối với người đang cai nghiện;

- Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

- Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

- Tái phạm nguy hiểm

c) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm

đến 20 năm:

- Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

- Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật 31% đến 60%;

- Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

- Đối với trẻ em dưới 13 tuổi

d) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

- Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

- Gây chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác

đ) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm

Câu hỏi 23: Công an quận P bắt quả tang một đám thanh niên đang tiêm

chích ma tuý tại quán karaoke của ông H Qua điều tra cho thấy ông H đã nhiều lần cho đám thanh niên này thuê phòng hát karaoke để làm địa điểm sử dụng

ma tuý Hỏi ông H phạm tội gì và phải chịu hình phạt như thế nào?

Trả lời:

Trang 40

Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

- Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Đối với trẻ em;

+ Đối với nhiều người;

+ Tái phạm nguy hiểm

- Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng,

tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Như vậy, ông H đã phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật Hình sự năm 1999 Ông H đã phạm tội nhiều lần và đối với nhiều người nên ông H sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Câu hỏi 24: B là nữ sinh vừa trượt tốt nghiệp phổ thông trung học, đã

nhiều lần sử dụng ma tuý đã bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, nhưng chứng nào tật ấy, sau khi ra khỏi cơ sở B vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý B sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Hành vi của B sẽ bị xử lý theo Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định

về tội sử dụng trái phép chất ma tuý như sau:

- Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ

03 tháng đến 02 năm

Ngày đăng: 24/03/2015, 11:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức nào? Để giao dịch dân sự có có hiệu lực cần những điều kiện - CẨM NANG PHÁP LUẬT  DÀNH CHO THANH NIÊN
Hình th ức nào? Để giao dịch dân sự có có hiệu lực cần những điều kiện (Trang 90)
Hình phạt như thế nào? - CẨM NANG PHÁP LUẬT  DÀNH CHO THANH NIÊN
Hình ph ạt như thế nào? (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w