1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mạng máy tính và giao thức TCP-IP

95 548 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mô hình mạng máy tính Một máy tính trên mạng có thể thuộc một trong ba loại như sau: Máy trạm Client: Không cung cấp tài nguyên mà chỉ sử dụng tài nguyên từ mạng.. Khi thấy một gói

Trang 1

MỞ ĐẦU

Mặc dù rất nhiều giao thức được đưa ra nhằm áp dụng cho internet, nhưng chỉ một bộ giao thức nổi bật được sử dụng rộng rãi nhất cho liên mạng Bộ giao thức đó là bộ giao thức internet TCP/IP (the TCP/IP Internet Protocols); nhiều chuyên gia gọi nó đơn giản là TCP/IP

TCP/IP là bộ giao thức đầu tiên được phát triển để sử dụng cho internet TCP/IP bắt đầu được nghiên cứu vào những năm 1970, xấp xỉ thời gian với mạng cục bộ được phát triển Quân đội Mỹ đã đầu tư rất nhiều công sức vào việc nghiên cứu bộ giao thức TCP/IP và liên mạng thông qua tổ chức ARPA Quân đội Mỹ là một trong những tổ chức đầu tiên mà có rất nhiều mạng khác nhau Do đó họ cũng là những tổ chức đầu tiên nhận ra nhu cầu cần thiết có dịch vụ toàn mạng Vào giữa những năm 1980, tổ chức khoa học quốc gia và một vài cơ quan chính phủ của Mỹ đã tiếp tục nghiên cứu phát triển giao thức TCP/IP và liên mạng diện rộng nhằm thử ngiệm bộ giao thức này

Hiện nay chúng ta đang sống trong một môi trường công nghệ thông tin hết sức phát triển, một môi trường máy tính hoá với nhu cầu kết nối trao đổi dữ liệu giữa các nguồn tài nguyên thông tin bất tận Khái niệm “ bùng nổ Internet” đã từ lâu trở nên quá quen thuộc

Việc nghiên cứu trên internet và giao thức TCP/IP đã đạt được những kết quả đáng kể Liên mạng đã trở thành một ý tưởng quan trọng trong hệ thống mạng hiện đại

Thực tế đã chứng minh bộ giao thức TCP/IP có ý nghĩa cực kì quan trọng

và có ứng dụng lớn trong thời đại ngày nay - thời đại của internet

Đối với đồ án tốt nghiệp được giao: “Mạng máy tính và giao thức TCP/IP”

và trước tình hình tại Việt Nam, em đã hiểu rõ thêm về mạng máy tính Với

sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Tiến Dũng , em đã hoàn thành đúng

Trang 2

với yêu cầu được giao Tuy nhiên do năng lực bản thân và kinh nghiệm thực

tế không nhiều nên đồ án này không khỏi có nhiều thiếu sót Em rất mong có

ý kiến đóng góp của các thầy và các bạn sinh viên để đồ án của em ngày càng hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!Sinh viên thực hiện

Trang 3

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ MẠNG MÁY TÍNH

1.1. Các lợi ích của mạng máy tính

1.1.1 Mạng tạo khả năng dùng chung tài nguyên cho các người dùng:

Vấn đề là làm cho các tài nguyên trên mạng như chương trình, dữ liệu và thiết bị, đặc biệt là các thiết bị đắt tiền, có thể sẵn dùng cho mọi người trên mạng mà không cần quan tâm đến vị trí thực của tài nguyên và người dùng

Về mặt thiết bị, các thiết bị chất lượng cao thường đắt tiền, chúng thường được dùng chung cho nhiều người nhằm giảm chi phí và dễ bảo quản

Về mặt chương trình và dữ liệu, khi được dùng chung, mỗi thay đổi sẽ sẵn dùng cho mọi thành viên trên mạng ngay lập tức Điều này thể hiện rất rõ tại các nơi như ngân hàng, các đại lý bán vé máy bay

1.1.2. Mạng cho phép nâng cao độ tin cậy:

Khi sử dụng mạng, có thể thực hiện một chương trình tại nhiều máy tính khác nhau, nhiều thiết bị có thể dùng chung Điều này tăng độ tin cậy trong công việc vì khi có máy tính hoặc thiết bị bị hỏng, công việc vẫn có thể tiếp tục với các máy tính hoặc thiết bị khác trên mạng trong khi chờ sửa chữa.1.1.3 Mạng giúp cho công việc đạt hiệu suất cao hơn :

Trang 4

Khi chương trình và dữ liệu đã dùng chung trên mạng, có thể bỏ qua một số khâu đối chiếu không cần thiết Việc điều chỉnh chương trình (nếu có) cũng tiết kiệm thời gian hơn do chỉ cần cài đặt lại trên một máy.

Về mặt tổ chức, việc sao chép dữ liệu phòng hờ tiện lợi hơn do có thể giao cho chỉ một người thay vì mọi người phải tự sao chép phần của mình

1.1.4 Tiết kiệm chi phí:

Việc dùng chung các thiết bị ngoại vi cho phép giảm chi phí trang bị tính trên số người dùng Về phần mềm, nhiều nhà sản xuất phần mềm cung cấp cả những ấn bản cho nhiều người dùng, với chi phí thấp hơn tính trên mỗi người dùng

1.1.5. Tăng cường tính bảo mật thông tin:

Dữ liệu được lưu trên các máy phục vụ tập tin (file server) sẽ được bảo vệ tốt hơn so với đặt tại các máy cá nhân nhờ cơ chế bảo mật của các hệ điều hành mạng

1.1.6. Việc phát triển mạng máy tính đã tạo ra nhiều ứng dụng mới:Một số ứng dụng có ảnh hưởng quan trọng đến toàn xã hội: khả năng truy xuất các chương trình và dữ liệu từ xa, khả năng thông tin liên lạc dễ dàng và hiệu quả, tạo môi trường giao tiếp thuận lợi giữa những người dùng khác nhau, khả năng tìm kiếm thông tin nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới,

1.2. Các mô hình mạng máy tính

Một máy tính trên mạng có thể thuộc một trong ba loại như sau:

Máy trạm (Client): Không cung cấp tài nguyên mà chỉ sử dụng tài nguyên từ

mạng

Máy chủ (Server): Cung cấp tài nguyên và các dịch vụ cho các máy trên

Trang 5

mạng

Peer : Sử dụng tài nguyên và đồng thời cũng cung cấp tài nguyên cho mạng.

Dựa vào cách mà các máy tính được nối vào mạng cũng như cách mà chúng tương tác với mạng và với nhau, mạng máy tính được chia làm ba mô hình cơ bản như sau:

1.2.1 Mô hình trạm – chủ (client – server)

Các máy trạm được nối với các máy chủ, nhận quyền truy nhập mạng và tài nguyên mạng từ các máy chủ Đối với Windows NT các máy được tổ chức thành các miền (domain) An ninh trên các domain được quản lý bởi một số máy chủ đặc biệt gọi là domain controller Trên domain có một master domain controller được gọi là PDC (Primary Domain Controller) và một BDC (Backup Domain Controller) để đề phòng trường hợp PDC gặp sự cố

Trang 6

Hình 1.1: Mô hình trạm – chủ (client – server)

1.2.2 Mô hình ngang hàng (peer – to – peer)

Mô hình này không có máy chủ, các máy trên mạng chia sẻ tài nguyên không phụ thuộc vào các máy khác trên mạng Mạng ngang hàng thường được tổ chức thành các nhóm làm việc workgroup Mô hình này không có quá trình đăng nhập tập trung, nếu đã đăng nhập vào mạng bạn có thể sử dụng tất

cả tài nguyên trên mạng Truy cập vào các tài nguyên phụ thuộc vào người đã chia sẻ các tài nguyên đó, do vậy bạn có thể phải biết mật khẩu để có thể truy nhập được tới các tài nguyên được chia sẻ

Hình 1.2: Mô hình Peer-to peer

1.2.3 Mô hình lai (hybrid)

Mô hình này là sự kết hợp giữa Client-Server và Peer-to-Peer Phần lớn các mạng máy tính trên thực tế thuộc mô hình này

Trong các mô hình mạng nói trên, mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm riêng đối với từng chỉ tiêu đánh giá như: tính bảo mật thông tin, sự cài đặt, khả năng mở rộng mạng Sự so sánh giữa các mô hình mạng trên đối với một số chỉ tiêu đánh giá phổ biến được cho trong bảng sau:

Trang 7

Bảng 1.1: Chỉ tiêu đánh giá các mô hình mạng

Độ an toàn và bảo mật kém, phụ thuộc vào mức truy nhập được chia sẻ

Độ an toàn và bảo mật cao gần như Client-Server.Khả năng cài đặt Khó cài đặt Dễ cài đặt Khó cài đặt

bổ sung rất ít

Như Server

Client-Quản trị mạng Phải có quản trị

mạng

Không cần có quản trị mạng

Như Server

Client-Xử lý và lưu trữ tập

Trong mô hình mạng có máy chủ (server) không phải mọi máy chủ đều hoạt động như nhau mà chúng được dành riêng để thực hiện những nhiệm vụ chuyên biệt nhằm hỗ trợ các máy trạm trên mạng, một máy chủ có thể thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ này hoặc cũng có thể có một số máy chủ sẽ thực

Trang 8

hiện một nhiệm vụ riêng biệt nào đó, ví dụ như: Web server, FTP server, File server, Printer server…

1.3 Các loại Topology của mạng máy tính

Thuật ngữ kiến trúc mạng máy tính chỉ sự sắp xếp các trạm cuối được gắn vào mạng Các kiến trúc thường dùng là hình sao (star), bus, vòng (ring)

1.3.1 Mạng dạng hình sao (Star topology)

Hình 1.3: Mạng Star

Mạng dạng hình sao bao gồm một trung tâm và các nút thông tin Các nút thông tin là các trạm đầu cuối, các máy tính và các thiết bị khác của mạng Trung tâm của mạng điều phối mọi hoạt động trong mạng với các chức năng

Trang 9

- Thông báo các trạng thái của mạng…

Các ưu điểm của mạng hình sao:

- Hoạt động theo nguyên lý nói song song nên nếu có thiết bị nào ở một nút thông tin bị hỏng thì mạng vẫn hoạt động bình thường

- Cấu trúc mạng đơn giản và các thuật toán điều khiển ổn định

- Mạng có thể mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng

Tuy nhiên mạng hình sao cũng tồn tại những nhược điểm:

- Khả năng mở rộng mạng hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng của trung tâm Khi trung tâm có sự cố thì toàn mạng ngừng hoạt động

- Mạng yêu cầu nối độc lập riêng rẽ từng thiết bị ở các nút thông tin đến trung tâm Khoảng cách từ máy đến trung tâm rất hạn chế (100m)

Nhìn chung, mạng dạng hình sao cho phép nối các máy tính vào một bộ tập trung (HUB) bằng cáp xoắn, giải pháp này cho phép nối trực tiếp máy tính với HUB không cần thông qua trục BUS, tránh được các yếu tố gây ngưng trễ

mạng Gần đây, cùng với sự phát triển của switching hub, mô hình này ngày

càng trở nên phổ biến và chiếm đa số các mạng mới lắp

1.3.2 Mạng hình tuyến (Bus Topology)

Trang 10

Hình 1.4: Mạng BusTheo cách bố trí hành lang các đường như hình vẽ thì máy chủ cũng như tất

cả các máy tính khác hoặc các nút đều được nối về với nhau trên một trục đường dây cáp chính để truyền tải tín hiệu

Tất cả các nút đều sử dụng chung đường dây cáp chính này Phía hai đầu

dây cáp được bít bởi một htiết bị gọi là terminator Các tín hiệu và gói dữ liệu

khi di chuyển lên hoặc xuống trong dây cáp đều mang theo địa chỉ của nơi đến.Loại hình mạng này dùng dây cáp ít nhất, dễ lắp đặt Tuy vậy cũng có những bất lợi đó là sẽ có sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lưu lượng lớn và khi óc sự hỏng hóc ở đoạn nào đó thì rất khó phát hiện, một sự ngừng trên đường dây để sửa chữa sẽ ngừng toàn bộ hệ thống

1.3.3 Mạng dạng vòng (Ring Topology)

Hình 1.5: Mạng RingMạng dạng này, bố trí theo dạng xoay vòng, đường dây cáp được thiết kế

Trang 11

nút truyền tín hiệu cho nhau mỗi thời điểm chỉ được một nút mà thôi Dữ liệu truyền đi phải có kèm theo địa chỉ cụ thể của mỗi trạm tiếp nhận.

Mạng dạng vòng có thuận lợi là có thể nới rộng ra xa, tổng đường dây cần thiết ít hơn so với hai kiểu trên Nhược điểm là đường dây phải khép kín, nếu

bị ngắt ở một nơi nào đó thì toàn bộ hệ thống cũng bị ngừng

Ngoài 3 dạng cấu hình kể trên còn có một số dạng khác biến tướng từ 3 dạng này như mạng dạng cây, mạng dạng hình sao-vòng, mạng dạng hỗn hợp v.v…

1.3.4 Mạng dạng kết hợp

Hình 1.6: Mạng kết hợp

- Kết hợp hình sao và tuyến (Star/Bus Topology)

Cấu hình mạng dạng này có bộ phận tách tín hiệu (spitter) giữ vai trò thiết bị trung tâm, hệ thống dây cáp mạng có thể chọn hoặc Ring Topology hoặc Linear Bus Topology

Lợi điểm của cấu hình này là mạng có thể gồm nhiều nhóm làm việc ở cách xa nhau, ARCNET là mạng dạng kết hợp Star/Bus Topology Cấu hình

Trang 12

dạng này đưa lại sự uyển chuyển trong việc bố trí đường dây tương thích dễ dàng đối với bất cứ toàn nhà nào.

- Kết hợp hình sao và vòng (Star/Ring Topology)

Cấu hình dạng kết hợp Star/Ring Topology, có một “thẻ bài” liên lạc (Token) được chuyển vòng quanh một cái HUB trung tâm Mỗi trạm làm việc (workstation) được nối với HUB – là cầu nối giữa các trạm làm việc và để tăng khoảng cách cần thiết

1.4 Các thiết bị mạng

1.4.1 Máy chủ (Server)

Hình 1.7: Máy chủMột máy tính hay một thiết bị trên mạng, nó quản lý tài nguyên của mạng

Ví dụ như, một máy dịch vụ tập tin là một máy tính hoặc là một thiết bị chuyên dụng để lưu trữ các tập tin Bất kỳ người sử dụng nào trên mạng cũng

có thể lưu trữ các tập tin trên máy chủ

Trang 13

Một máy dịch vụ in là một máy tính, nó quản lý một hoặc nhiều máy in, và một máy dịch vụ mạng là một máy tính quản lý các luồng thông tin trên mạng Một máy dịch vụ cơ sở dữ liệu là một hệ thống máy tính xử lý truy vấn

cơ sở dữ liệu

Máy chủ thường là những máy chuyên dụng, nghĩa là chúng không thực hiện nhiệm vụ nào khác bên cạnh các nhiệm vụ dịch vụ của chúng Tuy nhiên, trên các hệ điều hành đa xử lý, một máy tính có thể xử lý vài chương trình cùng một lúc Một máy chủ trong trường hợp này có thể yêu các chương trình quản lý tài nguyên hơn là một bộ máy tính trọn vẹn

1.4.2 Trạm làm việc (Workstation)

Hình 1.7: Workstation

Một máy tính dành cho cá nhân sử dụng nhưng có cấu hình mạnh hơn, chạy nhanh hơn, và có nhiều khả năng hơn một máy tính cá nhân thông dụng Máy trạm chủ yếu dành cho nhu cầu sử dụng doanh nghiệp hay chuyên nghiệp (hơn là dùng cho nhu cầu gia đình hay giải trí) Nó được thiết kế và cấu hình cho các ứng dụng kỹ thuật (CAD/CAM), phát triển phần mềm, các kiến trúc

Trang 14

sư, nhà thiết kế đồ họa, hay bất cứ ai có nhu cầu sức mạnh điện toán vừa phải, dung lượng bộ nhớ RAM lớn, và các khả năng đồ họa tương đối cao cấp.

Hai hệ điều hành thường được dùng cho máy trạm là Unix và Windows NT

Workstation vốn được phát triển về kỹ thuật cùng thời và dành cho cùng đối tượng của hệ điều hành Unix Những nhà sản xuất máy trạm thành công nhất phải kể tới Sun Microsystems, Hewlett-Packard, DEC và IBM

Giống như máy tính cá nhân, hầu hết máy trạm là máy tính một người sử dụng Tuy nhiên, đặc thù của máy trạm là được liên kết với nhau thành một mạng cục bộ LAN

1.4.3 Card mạng

Hình 1.8: Card mạng

Card mạng (network card), hay card giao tiếp mạng (Network Interface

Card), là một bản mạch cung cấp khả năng truyền thông mạng cho một máy

tính Nó còn được gọi là bộ thích nghi LAN (LAN adapter), được cắm trong một khe (slot) của bản mạch chính và cung cấp một giao tiếp kết nối đến môi

Trang 15

trường mạng Chủng loại cạc mạng phải phù hợp với môi trường truyền và giao thức được sử dụng trên mạng cục bộ.

Card mạng là thiết bị chịu trách nhiệm:

- Chuyển đổi các tín hiệu máy tính ra các tín hiệu trên phương tiện truyền dẫn và ngược lại

- Gửi/nhận và kiểm soát luồng dữ liệu được truyền

1.4.4 Cáp mạng

Hình 1.9: Dây mạng

1.4.5 Repeater

Trang 16

Hình 1.10: RepeaterRepeater hay còn gọi là bộ lặp, là một thiết bị điện tử có hai cổng: cổng vào (IN) và cổng ra (OUT) Nó có chức năng bù suy hao tín hiệu bằng cách chuyển tiếp tất cả các tín hiệu điện đến từ cổng vào tới cổng ra sau khi đã khuyếch đại Bộ lặp được sử dụng, được tích hợp trong đa số các hệ thống viễn thông Ví dụ: Các LAN liên kết với nhau qua bộ lặp để trở thành một LAN lớn hơn Tuy nhiên, bộ lặp chỉ có khả năng liên kết các LAN có cùng một chuẩn công nghệ.

Trong kỹ thuật viễn thông, bộ lặp làm việc ở tầng thứ nhất của mô hình OSI - tầng vật lý

1.4.6 Hub

Trang 17

Hình 1.11: HubHub được coi là một Repeater có nhiều cổng Một Hub có từ 4 đến 24 cổng

và có thể còn nhiều hơn Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác

Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng

1.4.7 Bridge

Trang 18

Hình 1.12: BridgeBridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer) Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.

Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết

có sự “can thiệp” của Bridge Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan… cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý

1.4.8 Switch

Trang 19

Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính

là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN)

1.4.9. Router

Trang 20

Hình 1.14: Router

Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer) Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau Các máy tính trên mạng phải “nhận thức” được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router

Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm

Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức

là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt

Trang 21

với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.

1.5 Các hệ điều hành mạng thông dụng

Hệ điều hành mạng (Network Operating System hay NOS) cũng tương tự như các hệ điều hành cho các máy trạm, nó cung cấp các chức năng cơ bản phục vụ cho các chương trình ứng dụng Tuy nhiên, khác với các hệ điều hành cho các máy trạm NOS cung cấp các phục vụ về mạng như dùng chung tệp, máy in, quản lý tài khoản người dùng Do các máy trạm dựa vào các dịch

vụ được cung cấp bởi máy chủ, một NOS được thiết kế tốt sẽ cung cấp cơ chế bảo vệ cũng như khả năng đa nhiệm điều này giúp tránh được các lỗi đáng tiếc xảy ra Xét về mặt kỹ thuật thì sự khác nhau giữa máy trạm và máy chủ phụ thuộc vào phần mềm được cài đặt trên đó Một mạng yêu cầu hai loại phần mềm sau:

Phần mềm trạm (Client Softwave): Mục đích của phần mềm loại này là làm cho các phục vụ trở nên khả dụng đối với người sử dụng không kể phục vụ đó

là phục vụ được cung cấp bởi mạng hay được cung cấp bởi chính máy trạm

đó, điều này cho phép các phần mềm ứng dụng có thể được viết độc lập với môi trường và không phụ thuộc vào các yếu tố vật lý Client Softwave nhận các yêu cầu từ người sử dụng, nếu yêu cầu đó được cung cấp bởi các phần mềm hệ thống trên máy trạm đó thì nó sẽ gửi yêu cầu đó cho hệ điều hành trên máy trạm thực hiện, nếu các yêu cầu được cung cấp bởi mạng nó sẽ gửi yêu cầu cho máy chủ để yêu cầu dịch vụ Client Softwave còn được gọi là Requester (vì nó yêu cầu dịch vụ từ máy chủ hoặc máy trạm) hoặc Redirector (vì nó định hướng lại yêu cầu trên mạng)

Trang 22

Phần mềm cho máy chủ (Server Softwave): Máy chủ tồn tại chỉ đơn giản là

để nhằm thoả mãn các yêu cầu của các máy trạm, do máy chủ thực sự lưu trữ phần lớn dữ liệu của toàn mạng nó thường cung cấp các vị trí thuận lợi để thực hiện các nhiệm vụ như:

Quản lý tài khoản người dùng: NOS yêu cầu mỗi người sử dụng khi đăng nhập vào mạng phải có tài khoản đúng (bao gồm tên và mật khẩu truy nhập) Sau khi đã đăng nhập vào mạng người dùng có quyền sử dụng các tài nguyên của mạng tuỳ thuộc vào quyền truy nhập của mình cho đến khi rời khỏi mạng Các tài khoản người dùng được tổ chức thành cơ sở dữ liệu và được quản lý bởi người quản trị mạng (là người có quyền thêm, bớt, sửa đổi các tài khoản người sử dụng )

Bảo vệ an ninh trên mạng: Do máy chủ biết được những người đã đăng nhập vào mạng nó có thể quản lý các tài nguyên mà mỗi người sử dụng được quyền truy nhập Người quản trị mạng có thể gán các quyền truy nhập đối với các tài nguyên khác nhau cho những người sử dụng khác nhau, điều này cho phép người sử dụng lưu trữ các thông tin cá nhân cũng như các thông tin nhạy cảm trên mạng tránh sự nhòm ngó của người khác

Central licensing: Theo luật bản quyền thì mỗi bản đăng ký chỉ được sử dụng cho một người sử dụng, điều này sẽ gây khó khăn cả về mặt tài chính cũng như quá trình cài đặt cho nhiều người trong cùng tổ chức hoặc công ty cùng sử dụng một phần mềm nào đó Tuy nhiên với centralizing licensing phần mềm được cài đặt lên máy chủ cho phép mọi người cùng sử dụng một cách nhất quán

Bảo vệ dữ liệu: Do những dữ liệu quan trọng nhất thường được lưu trữ trên máy chủ nên nó thường được cài đặt cơ chế bảo vệ dữ liệu rất chặt chẽ, bảo vệ

dữ liệu đề cập đến các phương tiện bảo vệ sự toàn vẹn của thông tin được lưu trữ trên máy chủ

Trang 23

Các hệ điều hành mạng được thiết kế để hỗ trợ các tính năng đa nhiệm và

đa xử lý (Multitasking and Multiprocessing): Vì máy chủ thường phải đáp ứng một khối lượng rất lớn các yêu cầu từ các máy trạm nên nó cần có tốc độ rất nhanh và có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc

Multitasking: Là kỹ thuật thực thi nhiều nhiệm vụ cùng lúc chỉ sử dụng một CPU, thực tế thì CPU không thể xử lý nhiều hơn một tiến trình cùng lúc, tuy nhiên CPU được tổ chức phân chia thời để thực hiện nhiều tiến trình, quá trình chuyển đổi giữa các tiến trình rất nhanh tạo cảm giác các tiến trình được

xử lý đồng thời

Multiprocessing: Là kỹ thuật sử dụng nhiều CPU để xử lý một hoặc nhiều tiến trình, NOS sẽ thực hiện việc phân chia nhiệm vụ cho từng CPU cũng như quản lý quá trình thực hiện của từng CPU

Multiuser: Là kỹ thuật có thể cho nhiều người sử dụng cùng truy cập vào một thời điểm

Các hệ điều hành mạng phổ biến hiện nay bao gồm:

Microsoft Windows: Windows NT 3.51, NT 4.0, 2000, XP,2003 và NET.Novell NetWare : NetWare3.12, IntraNetWare 4.11, NetWare 5.0 và 5.1.Linux : Red Hat, Caldera, SuSE, Debian, và Slackware

UNIX : HP-UX, Sun Solaris, BSD, SCO, và AIX

CHƯƠNG II

MÔ HÌNH OSI2.1 Các tầng OSI

Trang 24

Dựa vào các nguyên tắc trên, mô hình OSI được chia làm 7 tầng, mỗi tầng chỉ thực hiện một chức năng là nhận dữ liệu từ tầng bên trên để chuyển giao xuống cho tầng bên dưới và ngược lại Khi đi đến một tầng mới gói tin sẽ được đóng thêm một phần đầu đề khác và được xem như là gói tin của tầng mới, công việc trên sẽ tiếp diễn cho tới khi gói tin được truyền lên đường dây mạng để đến bên nhận

Hình 2.1: Mô hình 7 lớp OSI

Tầng vật lý (Physical) :

Chức năng chính là truyền tải chuỗi bit từ đầu cuối này đến đầu cuối khác Các thuật ngữ liên quan như đặc tính điện, tốc độ, môi trường truyền dẫn, mode truyền tải, chuẩn kết nối…

Trang 25

Tầng liên kết dữ liệu (Data link) :

Chức năng chính là cung cấp khả năng truyền dữ liệu tin cậy qua môi trường truyền dẫn Các thuật ngữ liên quan như đơn vị dữ liệu “khung”, địa chỉ MAC, điều khiển lỗi, điều khiển luồng……

Cung cấp một kết nối và khả năng chọn đường giữa các host trong môi trường liên mạng Các thuật ngữ liên quan bao gồm gói tin, tuyến, bảng định tuyến, giao thức định tuyến, địa chỉ IP…

Tầng giao vận (Transport) :

Cung cấp chức năng tạo, giám sát, giải phóng một kết nối ảo khả dụng từ đầu cuối đến đầu cuối, phân bổ các phân mảnh đến các ứng dụng Các thuật ngữ liên quan như phân mảnh và tái hợp luồng dữ liệu, giám sát lỗi, khôi phục lỗi…

Thực hiện chức năng thiết lập, quản lý, giải phóng phiên thông tin giữa hai host, đồng bộ hóa việc hội thoại của quá trình trình diễn và quản lý việc trao đổi thông tin Các thuật ngữ liên quan như điều khển hội thoại, điểm đồng bộ…

Tầng trình diễn (Presentation) :

Cung cấp khả năng mã hóa thông tin của lớp ứng dụng để sao cho thông tin này hoàn toàn có thể đọc được tại đầu còn lại Các thuật ngữ liên quan như khuôn dạng dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, nén dữ liệu, mã hóa dữ liệu…

Tầng ứng dụng (Application) :

Cung cấp ứng dụng trực tiếp cho người ứng dụng sử dụng dịch vụ mạng Các thuật ngữ liên quan như truyền file, thư điện tử…

Trang 26

2.2 Những vấn đề về OSI

Bản thân OSI không phải là một kiến trúc mạng bởi vì nó không chỉ ra chính xác các dịch vụ và các nghi thức được sử dụng trong mỗi tầng Mô hình này chỉ ra mỗi tầng cần thực hiện nhiệm vụ gì ISO đưa ra tiêu chuẩn cho từng tầng, nhưng các tiêu chuẩn này không phải là một bộ phận của mô hình tham chiếu

Mô hình OSI ra đời sau khi các giao thức TCP/IP đã được sử dụng rộng rãi, nhiều công ty đã đưa ra sản phẩm TCP/IP, vì vậy mô hình OSI được sử dụng trong thực tế như là chuẩn lý thuyết

Trong mô hình OSI một số chức năng như điều chỉnh thông lượng, kiểm tra lỗi xuất hiện lặp lại trong một số tầng Điều này có nguyên nhân do mô hình OSI được chia làm nhiều tầng khác nhau, mỗi tầng ứng với một đối tượng độc lập (có dữ liệu và các phương thức riêng của nó, độc lập với các đối tượng khác)

Mô hình OSI không có các dịch vụ và giao thức không hướng kết nối mặc

dù hầu hết các mạng đều có sử dụng Mô hình quá phức tạp cho việc cài đặt làm cho OSI khó có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tế

CHƯƠNG III GIAO THỨC TCP/IP3.1 Giới thiệu giao thức TCP/IP

Trang 27

Vào cuối những năm 1960 và đầu 1970, Trung tâm nghiên cứu cấp cap (Advanced Research Projects Agency – ARPA) thuộc bộ quốc phòng Mĩ (Department of Defence – DoD) được giao trách nhiệm phát triển mạng ARPNET Mạng ARPANET bao gồm mạng của những tổ chức quân đội, các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu và được dùng để hỗ trợ cho những

dự án nghiên cứu khoa học và quân đội Năm 1984, DoD chia ARPANET ra thành 2 phần: ARPANET sử dụng cho nghiên cứu khoa học và MILNET sử dụng cho quân đội Đầu những năm 1980, một bộ giao thức mới được đưa ra làm giao thức chuẩn cho mạng ARPANET và các mạng của DoD mang tên DARPA Internet protocol suit, thường được gọi là bộ giao thức TCP/IP hay còn gọi tắt là TCP/IP

Năm 1987, tổ chức nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (National Science Foundation – NSF) tài trợ cho việc kết nối 6 trung tâm siêu máy tính trên toàn liên bang lại với nhau thành một mạng với tên gọi NSFNET Về mặt vật lý, mạng này kết nối 13 điểm làm việc bằng đường điện thoại cao tốc được gọi là NSFNET backbone Khoảng 8 đường backbone đã được xây dựng NSFNET được mở rộng với hàng chục mạng địa phương kết nối vào nó và kết nối vào mạng Internet của DARPA Cả NSFNET và các mạng con của nó đều sử dụng bộ giao thức TCP/IP

TCP/IP có một số ưu điểm sau:

Giao thức chuẩn mở sẵn sàng phát triển độc lập với phần cứng và hệ điều hành TCP/IP là giao thức lý tưởng cho việc hợp nhất phần cứng và phần mềm khác nhau, ngay cả khi truyền thông trên Internet Sự độc lập rành mạch với các phần cứng vật lý của mạng cho phép TCP/IP hợp nhất các mạng khác

Trang 28

nhau TCP/IP có thể chạy trên mạng Ethernet, mạng Token ring, mạng quay

số (Dial-up line), mạng X.25, mạng ảo và mọi loại môi trường vật lý truyền thông

Một sơ đồ địa chỉ dùng chung cho phép mỗi thiết bị TCP/IP có duy nhất một địa chỉ trên mạng ngay cả khi đó là mạng toàn cầu Internet

Tiêu chuẩn hóa mức cao của giao thức phù hợp với ích lợi của dịch vụ người dùng Được tích hợp vào hệ điều hành UNIX, hỗ trợ môi hình client-server, mô hình mạng bình đẳng, hỗ trợ kỹ thuật dẫn đường động

DARPA hỗ trợ việc nghiên cứu kết nối nhiều loại mạng khác nhau thành một mạng toàn cầu Internet Ngoài việc sử dụng cho tất cả các máy trên Internet, TCP/IP còn được sử dụng trong mạng nội bộ của một số tổ chức chỉnh phủ hoặc thương mại, những mạng này gọi là Intranet TCP/IP vừa có thể kết nối một số lượng lớn các máy tính (150.000 máy trên nước Mĩ, Châu

Âu, Châu Á) lại có thể chỉ kết nối hai máy tính trong phòng làm việc

3.2 Các lớp giao thức TCP/IP

TCP/IP gồm 4 tầng như sau :

Hình 3.1: Cấu trúc các tầng trong TCP/IP

Trang 29

3.2.1. Tầng ứng dụng :

Là phần giao tiếp với người dùng để cung cấp các dịch vụ trên mạng Lớp ứng dụng cho phép việc truy xuất các dịch vụ hiện diện trên toàn mạng TCP/IP

3.2.1.1 Dịch vụ tên miền (Domain Name Server – DNS)

Mỗi máy tính, thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều giao tiếp với nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol) Để thuận tiện cho việc sử dụng và

dễ nhớ ta dùng tên (domain name) để xác định thiết bị đó Hệ thống tên miền (Domain Name System) được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP Vì vậy, khi muốn liên hệ tới các máy, chúng chỉ cần sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (domain name) như: www.microsoft.com, www.ibm.com , thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ

Ban đầu, khi DNS chưa ra đời, người ta sử dụng một file tên Host.txt, file này sẽ lưu thông tin về tên host và địa chỉ của host của tất cả các máy trong mạng, file này được lưu ở tất cả các máy để chúng có thể truy xuất đến máy khác trong mạng Khi đó, nếu có bất kỳ sự thay đổi về tên host, địa chỉ IP của host thì ta phải cập nhật lại toàn bộ các file Host.txt trên tất cả các máy Do vậy đến năm 1984 Paul Mockpetris thuộc viện USC’s Information Sciences Institute phát triển một hệ thống quản lý tên miền mới lấy tên là Hệ thống tên miền – Domain Name

Hệ thống tên miền này cũng sữ dụng một file tên host.txt, lưu thông tịn của tất cả các máy trong mạng, nhưng chỉ được đặt trên máy làm máy chủ tên miền (DNS) Khi đó, các Client trong mạng muốn truy xuất đến các Client khác, thì nó chỉ việc hỏi DNS

Như vậy, mục đích của DNS là:

- Phân giải địa tên máy thành địa chỉ IP và ngược lại

- Phân giải tên domain

Trang 30

3.2.1.2 Đăng nhập từ xa (Telnet)

TELNET (viết tắt của TELecommunication NETwork cũng có thể là TErminal NETwork hay TELetype NETwork) là một giao thức

mạng (network protocol) được dùng trên các kết nối với Internet hoặc các kết

nối tại mạng máy tính cục bộ LAN Tài liệu của IETF, STD 8, (còn được gọi

là RFC 854 và RFC 855) có nói rằng:

Mục đích của giao thức TELNET là cung cấp một phương tiện truyền thông chung chung, có tính lưỡng truyền, dùng độ rộng 8 bit, định hướng byte.

TELNET thường được dùng để cung cấp những phiên giao dịch đăng nhập, giữa các máy trên mạng Internet, dùng dòng lệnh có tính định hướng người dùng Tên của nó có nguồn gốc từ hai chữ tiếng Anh "telephone network"

(mạng điện thoại), vì chương trình phần mềm được thiết kế, tạo cảm giác như

một thiết bị cuối được gắn vào một máy tính khác

Đối với sự mở rộng của giao thức, chữ "telnet" còn ám chỉ đến một chương trình ứng dụng, phần người dùng của giao thức - hay còn gọi là trình khách (clients) Trong bao nhiêu năm qua, TELNET vốn được cài đặt sẵn trong hầu hết các hệ điều hành Unix, song với sự tiến triển gần đây của

mình, SSH(Secure Shell) trở nên một giao thức có ưu thế hơn trong việc truy

cập từ xa, cho các máy dùng hệ điều hành có nền tảng là Unix SSH cũng được cài đặt sẵn cho hầu hết các loại máy vi tính Trên rất nhiều hệ thống, chương trình ứng dụng "telnet" còn được dùng trong những phiên giao dịch

tương tác TCP ở dạng sơ đẳng (interactive raw-TCP sessions), và còn được

dùng để thông nối với những dịch vụ trên các máy chủ POP3, mà không cần đến những trình khách chuyên dụng Cụm từ tiếng Anh "to telnet" còn được dùng như là một động từ, có nghĩa là "thành lập" hoặc "sử dụng", một kết nối

dùng giao thứcTELNET, như trong câu "To change your password, telnet to

Trang 31

the server and run the password command" - (Để đổi mật khẩu của mình,

telnet vào máy chủ và chạy dòng lệnh password).

3.2.1.3 Thư điện tử (Electronic Mail)

Email là một phương tiện thông tin rất nhanh Một mẫu thông tin (thư từ)

có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính đặc biệt là mạng Internet Nó có thể chuyển mẫu thông tin

từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng lúc

Ngày nay, email chẳng những có thể truyền gửi được chữ, nó còn có thể truyền được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim, và đặc biệt các phần mềm thư điện tử kiểu mới còn có thể hiển thị các email dạng sống động tương thích với kiểu tệp HTML

3.2.1.4 Truyền tệp (File Transfer Protocol – FTP)

FTP (viết tắt của tiếng Anh File Transfer Protocol, "Giao thức truyền tập

tin") thường được dùng để trao đổi tập tin qua mạng lưới truyền thông dùng giao thức TCP/IP (chẳng hạn như Internet - mạng ngoại bộ - hoặc intranet - mạng nội bộ) Hoạt động của FTP cần có hai máy tính, một máy chủ và một máy khách) Máy chủ FTP, dùng chạy phần mềm cung cấp dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe yêu cầu về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng lưới Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người sử dụng dịch vụ, gọi là trình khách, thì khởi đầu một liên kết với máy chủ Một khi hai máy đã liên kết với nhau, máy khách có thể xử lý một số thao tác về tập tin, như tải tập tin lên máy chủ, tải tập tin từ máy chủ xuống máy của mình, đổi tên của tập tin, hoặc xóa tập tin ở máy chủ v.v Vì giao thức FTP là một giao thức chuẩn công khai, cho nên bất cứ một công ty phần mềm nào, hay một lập trình viên nào cũng có thể viết trình chủ FTP hoặc trình khách FTP Hầu như bất cứ

Trang 32

một nền tảng hệ điều hành máy tính nào cũng hỗ trợ giao thức FTP Điều này cho phép tất cả các máy tính kết nối với một mạng lưới có nền TCP/IP, xử lý tập tin trên một máy tính khác trên cùng một mạng lưới với mình, bất kể máy tính ấy dùng hệ điều hành nào (nếu các máy tính ấy đều cho phép sự truy cập của các máy tính khác, dùng giao thức FTP) Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các trình khách và trình chủ FTP, và phần đông các trình ứng dụng này cho phép người dùng được lấy tự do, không mất tiền.

3.2.1.5 Nhóm tin (News groups)

Dịch vụ nhóm tin cho phép người sử dụng có thể tham gia vào các diễn đàn hội thảo trên mạng về một chủ đề nào đó Các chủ đề trên dịch vụ được tổ chức thành các nhóm tin Trong một nhóm tin có thể có các nhóm tin nhỏ hơn Các nhóm tin này được tổ chức theo mô hình phân cấp với một số nhóm tin ở cấp cao nhất

Người sử dụng tham gia dịch vụ có thể đọc tin và gửi tin từ các nhóm tin được lưu trên một server nào đó trên hệ thống dịch vụ Các server này lại được nối với nhau trên mạng và chúng cập nhật các tin từ khắp nơi trên thế giới Nhờ cơ cấu này mà bất kỳ ai ở bất cứ đâu có thể tham gia vào bất cứ diễn đàn tranh luận nào trên mạng

Trên Internet, hệ thống các điểm tham gia vào dịch vụ này được nối thành một hệ thống lưu và chuyển tin gọi là USENET USENET là một hệ thống bảng tin điện tử trên phạm vi toàn thế giới với lưu lượng thông tin hằng ngày trên USENET lên đến 530MB dữ liệu với 130.000 bản tin Tham gia sử dụng dịch vụ này, người sử dụng có thể viết và trả lời các bản tin (posting) lên các nhóm tin trên hệ thống

Trang 33

USENET là mạng lưu trữ và chuyển tiếp tin Các điểm trên USENET nhận

và lưu trữ các bản tin Các điểm trên USENET thực hiện trao đổi tin với các địa điểm lân cận

Các đường nối được thực hiện được thực hiện qua các đường điện thoại (dial-up) hoặc qua Internet Tin được sắp xếp theo các nhóm tin (newsgroups) Nhóm tin chính là tập hợp các bản tin có cùng chung một đề tài tranh luận Tin được tổ chức theo mô hình phân cấp tin từ một người gửi có thể đến tất cả mọi người sử dụng dịch vụ Bản thân mỗi nhóm tin lại có thể chứa các nhóm tin nhỏ hơn

3.2.1.6 Tìm kiếm tệp (Archie)

Archie là một dịch vụ của Internet cho phép tìm kiếm theo chỉ số (Index) các tệp khả dụng trên các server công cộng của mạng Bạn có thể yêu cầu Archie tìm các tệp có chứa các xâu văn bản nào đó hoặc chứa một ký tự nào

đó Archie sẽ trả lời bằng tên các tệp thỏa mãn yêu cầu của bạn và chỉ ra tên của các server chứa tệp đó

3.2.1.7 Tra cứu thông tin theo thực đơn (Gopher)

Dịch vụ này cho pheps tra cứu thông tin theo chủ đề dựa trên hệ thống thực đơn (menu) mà không cần thiết phải biết đến địa chỉ IP tương ứng Gopher hoạt động theo phương thức khách-chủ, nghĩa là phải có 2 chương trình: Gopher client và Gopher server Bạn có thể lựa chọn 1 chương trình client này được cấu hình trước với địa chỉ IP của 1 Gopher server nào đó Tìm kiếm thông tin theo chỉ số (WAIS)

3.2.1.8 Siêu văn bản (WWW)

WWW dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là siêu văn bản (hypertext), trong đó từ được chọn trong văn bản có thể được mở rộng bất kỳ lúc nào để cung cấp các thông tin đầy đủ hơn về từ đó Sự mở rộng ở đây

Trang 34

được hiểu theo nghĩa là chúng có các liên kết link tới các tài liệu khác có thể

là văn bản, âm thanh hoặc hỗn hợp

Nhiệm vụ chính của tầng truyền tải là cung cấp đường thông tin giữa các trình ứng dụng Tầng truyền tải phân chia dòng dữ liệu cần truyền đi thành các đơn vị dữ liệu nhỏ hơn (gói dữ liệu) và chuyển chúng cùng với địa chỉ đích đến tầng thấp hơn để thực hiện quá trình phân phối dữ liệu trong mạng

Xử lý các tiến trình thông tin giữa các mạng khác nhau Tầng Internet sẽ thực hiện các chức năng thiết lập đường đi giữa các mạng cũng như thực hiện việc phân phối các gói dữ liệu trên mạng

Là tầng giao tiếp giữa các cấu trúc luận lý bên trên với các kết nối vật lý bên dưới, tầng giao tiếp mạng có nhiệm vụ tiếp nhận các gói dữ liệu từ lớp Internet

Sự tương quan giữa OSI và họ giao thức TCP/IP :

Bảng 3.1: So sánh mô hình OSI và TCP/IP

Trang 35

3.4 Potocol và cấu trúc các gói tin

3.4.1 Giao thức TCP (Transmission Control Protocol)

3.4.1.1 Giới thiệu

TCP là một giao thức điều khiển có liên kết (connection - oriented), nghĩa

là cần phải thiết lập liên kết (logic) giữa một cặp thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau TCP cung cấp dịch vụ tầng truyền dẫn có độ tin cậy cao, TCP bao gồm điều khiển luồng và phát hiện lỗi Tốc độ gói có thể tăng hay giảm phụ thuộc mức tải của mạng

Khuôn dạng của một TCP segment :

Trang 36

Hình 3.2: Khuôn dạng của một TCP segment

3.4.1.2 Thủ tục kết nối TCP :

Trang 37

Hình 3.3: Thủ tục thiết lập tuyến.

Đầu tiên một host khởi động cầu nối bằng cách gởi một gói chỉ ra số tuần

tự khởi động x của nó, với một bit nào đó trong phần header được đặt ở trạng thái chỉ ra yêu cầu kết nối Bước 2, host khác nhận gói này ghi lại số tuần tự

x, phúc đáp bằng một báo nhận x+1, và bao hàm cả chỉ số tuần tự khởi động y riêng của nó Chỉ số báo nhận x+1 có nghĩa là nó đã nhận tất cả các gói có số tuần tự x đến và đang mong nhận gói có số tuần tự x+1

3.4.2 Giao thức UDP (User Data Protocol) :

UDP là một giao thức phi kết nối (connectionless protocol) đảm bảo truyền thông end-to-end của dữ liệu UDP không có chức năng thiết lập và giải phóng kết nối, không cung cấp cơ chế báo nhận, không sắp xếp tuần tự các đơn vị dữ liệu đến và có thể dẫnđến tình trạng dữ liệu mất hoặc trùng dữ liệu

mà không có thông báo cho người gửi

Khuôn dạng của một UDP datagram :

Hình 3.4: Khuôn dạng của UDP datagram

Trang 38

3.4.3 Giao thức IP

IP là một giao thức liên lạc không kết nối (connectionless), có nghĩa là nó không cần có giai đoạn thiết lập và hủy bỏ kết nối, nó nhận dữ liệu từ tầng cao hơn, sau đó gắn thêm một header rồi chuyển xuống tầng thấp hơn Dịch vụ quan trọng nhất của IP là gửi các gói tin đến đích một cách chính xác

Mào đầu của gói IP :

Hình 3.5: Tiêu đề của IP v.4

3.4.4 Giao thức ARP (Address Resolution Protocol)

Trang 39

Hình 3.6: Giao thức chuyển đổi địa chỉ ARP.

Giao thức ARP được dùng để phân giải các địa chỉ mạng Trước khi gởi một IP datagram, IP cần có địa chỉ phần cứng (còn gọi là địa MAC) của trạm đích ARP được dùng để lấy địa chỉ phần cứng của đích khi đã biết địa chỉ IP đích

3.4.5 Giao thức RARP (Reverse Address Resolution Protocol)

RARP là giao thức phân giải địa chỉ ngược, chuyển đổi địa chỉ MAC thành địa chỉ IP, RARP được sử dụng để xác định địa chỉ IP khi máy khởi động

Trang 40

Hình 3.7: Giao thức RARP

Ngày đăng: 18/03/2015, 17:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình trạm – chủ (client – server) - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.1 Mô hình trạm – chủ (client – server) (Trang 6)
Bảng 1.1: Chỉ tiêu đánh giá các mô hình mạng - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Bảng 1.1 Chỉ tiêu đánh giá các mô hình mạng (Trang 7)
Hình 1.3: Mạng Star - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.3 Mạng Star (Trang 8)
Hình 1.5: Mạng Ring - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.5 Mạng Ring (Trang 10)
Hình 1.4: Mạng Bus - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.4 Mạng Bus (Trang 10)
Hình 1.6: Mạng kết hợp - Kết hợp hình sao và tuyến (Star/Bus Topology) - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.6 Mạng kết hợp - Kết hợp hình sao và tuyến (Star/Bus Topology) (Trang 11)
Hình 1.7: Máy chủ - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.7 Máy chủ (Trang 12)
Hình 1.7: Workstation - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.7 Workstation (Trang 13)
Hình 1.8: Card mạng - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.8 Card mạng (Trang 14)
Hình 1.9: Dây mạng - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.9 Dây mạng (Trang 15)
Hình 1.10: Repeater - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.10 Repeater (Trang 16)
Hình 1.11: Hub - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.11 Hub (Trang 17)
Hình 1.12: Bridge - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.12 Bridge (Trang 18)
Hình 1.13: Switch - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.13 Switch (Trang 19)
Hình 1.14: Router - Mạng máy tính và giao thức TCP-IP
Hình 1.14 Router (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w