Câu 1: Anh(Chị) hãy trình bày khái quát LSVN từ thời đại Văn Lang, Âu Lạc đến thời kỳ nhà Đường(TQ) thống trị nước ta. I. Nước Văn lang Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. 1.Hùng Dương 2.Hùng Hiền 3.Hùng Lân 4.Hùng Việp 5.Hùng Hy (trước) 6.Hùng Huy 7.Hùng Chiêu 8.Hùng Vỹ 9.Hùng Định 10.Hùng Hy (sau)(Chữ Hy trong Hùng Vương thứ 5 và thứ 10 có ý nghĩa và cách viết khác nhau) 11.Hùng Trinh 12.Hùng Võ 13.Hùng Việt 14.Hùng Anh 15.Hùng Triều 16.Hùng Tạo 17.Hùng Nghị 18.Hùng Duệ 1 Triều đại An Dương Vương âu lạc An Dương Vương, tên thật là Thục Phán, là vị vua lập nên nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu Lạc là nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng Cổ Loa An Dương Vương An Dương Vương Mỵ Châu Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên thống nhất: An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm. Cùng tồn tại ở vùng Bắc Bộ vào thời kỳ Hồng Bàng, có các bộ tộc Âu Việt sống xen kẽ với người Lạc Việt. Hai bộ lạc này từ lâu đã có quan hệ gần gũi. Vào cuối thế kỉ thứ III TCN, vua Hùng thứ 18 không chăm lo đời sống của nhân dân. Trong khi đó, quân Tần đã nhắm đến đất nước ta, đợi thời cơ này, Tần Thủy Hoàng cho quân xuống đánh xuống để mở rộng bờ cõi. Để chống giặc Tần, nhân dân Âu Việt Lạc Việt đã bầu Thục Phán làm chỉ huy. Sau khi kháng chiến thắng lợi, năm 207 TCN Thục Phán buộc Hùng Vương nhường ngôi. Hai vùng đất của người Tây Âu và Lạc Việt sinh sống được hợp nhất thành nước Âu Lạc. Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh Hà Nội). 2. Cương vực và địa giới hành chính Thuở sơ khai, địa giới hành chính chưa thật rõ ràng Địa giới hành chính thời đại Văn Lang – Âu Lạc cơ bản có thể hình dung như sau + Phía Bắc bao gồm Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây của TQ bây giờ + Phía Tây: Giáp dãy Trường Sơn + Phía Nam: Đến qua đèo Ngang + Phía Đông là biển Đông 3. Tổ chức hành chính: Vua, con trai: Quan lang, con gái: Mỵ nương; Lạc hầu: quan văn; Lạc tướng: quan võ; địa phương: Bộ: 15 bộ lạc, đứng đầu là bồ chính; Cấp cơ sở: già làng, già bản Nước chia thành 15 bộ ( bộ lạc): 1.Văn Lang, tương ứng với Vĩnh Yên, Việt Trì 2.Châu Diên… Ba Vì 3.Phúc Lộc Sơn Tây 4. Tân Hưng Hưng Hóa, Tuyên Quang 5. Vũ Định Thái Nguyên, Cao Bằng 6.Vũ Ninh Bắc Ninh 7.Lục Hải Lạng Sơn 8. Dương Tuyền – Hải Dương 9. Dương Tuyền – Hưng Yên 10. Giao Chỉ Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình 11. Cửu Chân – Thanh Hóa 12. Hoài Hoan Nghệ An 13. Cửu Đức – Hà Tĩnh 14. Việt Thường Quảng Bình 15. Bình Văn có thể là vùng Hòa Bình, Sơn La Tổ chức hành chính thời Hùng Vương An Dương Vương 3.1. Tổ chức quân đội và chống ngoại xâm Người đứng đầu đơn vị hành chính đều phụ trách quân sự Tổ chức quân sự là toàn dân: Hiệu lệnh báo động: trống đồng Vũ khí: lao, dao, rừu, cung, nỏ Chiến binh có giáp phục Hùng Vương thứ VI Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương ( Sóc Sơn Hà Nội) đánh giặc Ân, ngày Hội Gióng 84 Sơn Tinh, Thủy Tinh Thời vua Hùng 18, chống thiên tai Thời đại An Dương Vương đánh bại quân Tần năm 218 TrCN, đánh bại Doanh Chính và tướng Đồ Thư, giết Đồ Thư đuổi giặc Tần 3.2. Chính sách kinh tế, ngoại giao
Trang 2Đại cương Lịch sử Quốc Hiệu:
Văn Lang : Thời Hùng Vương 2879 – 258 TrCN
Âu Lạc : Thời An dương Vương 257 – 207 TrCN
Thời Bắc thuộc 1000 năm trở thành quận, huyện của phương Bắc: Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Năm 544, Lý Bí đánh đuổi quân Lương, lập nước Vạn Xuân, đến năm 602
Năm 968, Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt
Năm 1054, Lý Thánh Tông : Đại Việt
1400, Hồ Quý Lý : Đại Ngu
1428, Lê Lợi : Đại Việt
1802, Gia Long : Việt Nam
1838, Minh Mạng : Đại Nam
Thời Pháp Thuộc : An Nam, thuộc Đông Dương
1976 : CHXHCNVN
Trang 3Phần I:
Nhà nước Việt Nam từ thời đại dựng nước của các vua Hùng đến thế kỷ X
Chương I THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG AN DƯƠNG VƯƠNG
I Nước Văn lang - Âu Lạc
1 Cơ sở hình thành nhà nước
1.1 Truyền thuyết Đất Việt
- Văn hóa Sơn Vi
Văn hóa Sơn Vi, Vĩnh Phúc; Phú Thọ thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ, có niên đại cách đây 11-18 nghìn năm, phân bố rất rộng trong các hang động và thềm sông cổ từ Lào Cai đến Nghệ An Những nhóm cư dân nguyên thủy này sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt -
ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng
Cách ngày nay khoảng 11.000 năm đến 2.000 trước Công Nguyên các
cư dân Việt cổ đã tụ cư đông đúc tại khu vực Trung du Bắc Bộ Việt Nam phát triển sinh sôi bằng săn bắn hái lượm trên một vùng bán sơn địa dồi dào sản vật và trồng lúa nước và phôi thai nhà nước đầu tiên
Văn hóa sông Hồng
Đế Minh lập Đế Nghi(con trưởng) nối dòng trị phương Bắc Phong cho
Lộc Tục là Kinh Dương Vương, trị phương Nam Đặt tên nước là Xích Quỉ
Kinh Dương Vương lấy con gái Chúa Động Đình là Thần Long, sinh ra Sùng Lãm Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long Quân.
- "Lĩnh Nam chích quái" thời Trần viết: "Âu Cơ kết hôn với Lạc Long Quân, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai Sau, Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ:
Trang 450 người con theo mẹ lên núi
Người con cả đi theo mẹ được tôn làm vua, đó là Hùng Vương."
Các Vua Hùng
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm
Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An
Dương Vương) thôn tính
1.2 Triều đại An Dương Vương
An Dương Vương, tên thật là Thục Phán, là vị vua lập nên nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này Âu Lạc là nhà nước thứ
hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng
Cổ Loa- An Dương Vương
An Dương Vương- Mỵ Châu
Trang 5Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên thống nhất: An
Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm
- Cùng tồn tại ở vùng Bắc Bộ vào thời kỳ Hồng Bàng, có các bộ tộc Âu Việt sống xen kẽ với người Lạc Việt Hai bộ lạc này từ lâu đã có quan hệ gần gũi Vào cuối thế kỉ thứ III TCN, vua Hùng thứ 18 không chăm lo đời sống của nhân dân Trong khi đó, quân Tần đã nhắm đến đất nước ta, đợi thời cơ này, Tần Thủy Hoàng cho quân xuống đánh xuống để mở rộng bờ cõi
Để chống giặc Tần, nhân dân Âu Việt - Lạc Việt đã bầu Thục Phán làm chỉ huy Sau khi kháng chiến thắng lợi, năm 207 TCN Thục Phán buộc Hùng Vương nhường ngôi
Hai vùng đất của người Tây Âu và Lạc Việt sinh sống được hợp nhất thành nước Âu Lạc
Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh - Hà Nội)
Địa bàn sinh sống của các bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt
2 Cương vực và địa giới hành chính
- Thuở sơ khai, địa giới hành chính chưa thật rõ ràng
- Địa giới hành chính thời đại Văn Lang – Âu Lạc cơ bản có thể hình dung như sau:
+ Phía Bắc bao gồm Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây của TQ bây giờ+ Phía Tây: Giáp dãy Trường Sơn
+ Phía Nam: Đến qua đèo Ngang
+ Phía Đông là biển Đông
3 Tổ chức hành chính:
Vua, con trai: Quan lang, con gái: Mỵ nương; Lạc hầu: quan văn; Lạc
tướng: quan võ;
Địa phương: Bộ: 15 bộ lạc, đứng đầu là bồ chính;
Cấp cơ sở: già làng, già bản
- Nước chia thành 15 bộ ( bộ lạc):
Trang 61.Văn Lang, tương ứng với Vĩnh Yên, Việt Trì
2.Châu Diên… Ba Vì
3.Phúc Lộc- Sơn Tây
4 Tân Hưng- Hưng Hóa, Tuyên Quang
5 Vũ Định- Thái Nguyên, Cao Bằng
6.Vũ Ninh- Bắc Ninh
7.Lục Hải- Lạng Sơn
8 Dương Tuyền – Hải Dương
9 Dương Tuyền – Hưng Yên
10 Giao Chỉ- Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình
11 Cửu Chân – Thanh Hóa
12 Hoài Hoan- Nghệ An
13 Cửu Đức – Hà Tĩnh
14 Việt Thường- Quảng Bình
15 Bình Văn- có thể là vùng Hòa Bình, Sơn La
Tổ chức hành chính thời Hùng Vương - An Dương Vương
3.1 Tổ chức quân đội và chống ngoại xâm
- Người đứng đầu đơn vị hành chính đều phụ trách quân sự
- Tổ chức quân sự là toàn dân:
- Hiệu lệnh báo động: trống đồng
- Vũ khí: lao, dao, rừu, cung, nỏ
- Chiến binh có giáp phục
- Hùng Vương thứ VI Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương ( Sóc Sơn-
Hà Nội) đánh giặc Ân, ngày Hội Gióng 8-4
- Sơn Tinh, Thủy Tinh Thời vua Hùng 18, chống thiên tai
- Thời đại An Dương Vương đánh bại quân Tần năm 218 TrCN, đánh bại Doanh Chính và tướng Đồ Thư, giết Đồ Thư đuổi giặc Tần
3.2 Chính sách kinh tế, ngoại giao
- Chính sách kinh tế thời Hùng Vương
+ Nền kinh tế đa dạng và phong phú
+ Kỹ thuật luyện kim đã phát triển, công cụ bằng đồng thau đã dần thay thế công cụ bằng đá
+ Nông nghiệp là kinh tế cơ bản
- Chính sách ngoại giao
+ Giao lưu kinh tế gữa các bộ lạc hình thành
Trang 7+ Năm -1109, nhà Chu đã tiếp kiến cống vật của người Việt Chu Công Đoán đã chế tạo ra xe để đưa sứ người Việt về nước…QH ngoại giao phát triển nhằm bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự
+ Người Việt đã có quan hệ ngoại giao với Ma laysia, In đô nê xi a…
Chương II
LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CHỐNG XÂM LƯỢC VÀ
ĐỒNG HÓA CỦA PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC
1 Triệu Đà lập nước Nam Việt 207 TrCN đến 111TrCN
a Bối cảnh lịch sử
- Năm 207 TrCN, Triệu Đà sáp nhập vùng đất Âu Lạc vào quận Nam Hải Đến 206, đất Nam Hải, Quế Lâm và Tượng( của nhà Tần) lập thành nước Nam Việt
- Triệu Đà lên ngôi vua hiệu là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung ( Quảng Đông)
- Nhà Hán gồm Tây Hán- Hán Cao tổ; 206 TrCN và thời Hậu Hán ( Đông Hán) + 25 đến năm 220
- Từ năm 220 đến 280 là thời Tam quốc ở Trung Quốc
- Nước Việt thuộc Đông Ngô
- Từ năm 280 đến 420 nhà Tấn thống nhất TQ, nước Việt thuộc Tấn
b Về sự thống trị của nhà Hán- Ngô – Tấn:
- Nô dịch nhân dân ta
- Cướp bóc của cải
- Đưa dân xuống nhằm Hán hóa dân Việt
- Nhà Hán dùng chính sách thâm độc Dĩ di công di nghĩa là dùng người
Việt để trấn áp người Việt
Trang 83 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng ( Từ năm 40 đến năm 43)
a Bối Cảnh lịch sử
Cuộc khởi nghĩa diễn ra do thái thú Tô Định giết Thi sách, chồng của Trưng Trắc Trưng Trắc, Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa và đã giành thắng lợi ở 65 thành trì, giải phóng đất nước Hai bà lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh- HN ngày nay
Hai Bà Trưng
-Ngày 30 tháng 2 năm Tân Sửu (41), nhà Hán cho Mã Viện làm Phục
Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí đem quân sang đánh Hai Bà Trưng
Năm 43, Hai Bà thua trận và tự tử tại sông Hát Người dân đã dựng đền thờ Trưng Nữ Vương ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc (nay ở Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây), và ở Mê Linh- Phiên Ngung- Hà Nội
Đền thờ Hai bà Trưng ở Mê Linh
Cuối thời Hán ở Trung Quốc là thời Tam Quốc
Ngụy – Tào Tháo
Thục- Lưu Bị
Ngô – Tôn Quyền
Ngô Tôn Quyền, thống trị nước ta Thời Ngô nổi bật là cuộc khởi nghĩa
của bà Triệu: Triệu Thị Trinh và anh là Triệu quốc Đạt
4.Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248) chống giặc Ngô
Tương truyền: Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ, là người vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người
Bà Triệu chống lại Ngô, thời Ngô Quyền( Tam quốc)
Cuộc khởi nghĩa do 2 anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh lãnh đạo, lúc đầu giành thắng lợi nhiều nơi
Nhưng thế Ngô quá mạnh, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt
Trang 9Sau khi nhà Ngô (264) bị nhà Tấn Tấn bị Tống thôn tính ( 420), nhà Tống (471) bị nhà Tề(485), nhà Tề bị nhà Lương (553) thôn tính, nước ta thuộc các triều đại PKTQ thống trị
5 Nhà nước Vạn Xuân thời tiền Lý: 542-602
Lý Bí – Vạn Xuân
Năm 545, quân Lương tấn công, Lý Bí thua trận, giao quyền cho Triệu Quang Phục
Năm 548, Lý Nam Đế bị bệnh rồi mất, Triệu Quang Phục lên ngôi tự xưng là Triệu Việt Vương; Việt vương xây dựng căn cứ ở Đầm Dạ Trạch ( Hưng Yên) ; năm 552 chiếm thành Long Biên giành chính quyền tự chủ Thời gian này ở Trung Quốc: nhà Tùy tiêu diệt nhà Lương
- Triệu Việt Vương (549-571) và thời Hậu Lý Nam Đế (571-602): Năm
555, Lý Thiên Bảo( anh họ của Lý Bôn) dẫn quân chạy vào Thanh Hóa Ông
đã trao quyền cho Lý Phật Tử ( Phật Tử là anh họ của Thiên Bảo) Lý Phật
Tử đã cho con trai lấy con gái Triệu Việt Vương( 558) Sau bất ngờ đánh diệt Triệu( 571) để lên ngôi, xưng là Hậu Lý Nam Đế Đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc – Việt Trì)
Năm 602, nhà Tùy đánh sang, Lý Phật Tử đầu hàng Nhà Tùy
Triệu Quang Phục
6 Nước ta thời Tùy – Đường
6.1 Nhà Tùy ( 589-617)
- Nhà Tùy đặt lại chế độ quận, huyện: Giao Châu có 5 quận và 32 huyện
Do không đủ sức kiểm soát nên các quận ở nước Nam trở thành các vùng cát cứ của quan lại TQ
- Đến 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy Nhà Đường tồn tại khoảng 300 năm
Trang 10Đời Ngũ Quý 907- 939, do nhà Đường suy yếu, các phiên, trấn cát cứ xưng Vương, đó là: Hậu Hán ( Nam Hán), Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Đường, Hậu Chu.
Các nước đánh nhau, gây loạn lạc
Cho đến 979, Tống Thái Tông mới dẹp yên Ngũ Quý, thống nhất Trung Quốc
7 Khởi nghĩa Lý Tự Tiên- Đinh Kiến
Năm 687, một hào trưởng là Lý Tự Tiên bí mật tổ chức khởi nghĩa Khởi nghĩa bị lộ, Tiên bị giết Một hào trưởng khác là Đinh Kiến cùng mưu với Lý Tự Tiên tiếp tục khởi nghĩa và đã giết được tướng nhà Đường, thu được Tống Bình
Nhà Đường đem quân sang, đánh bại Đinh Kiến 687
8 Khởi nghĩa của Mai Hắc Đế và Phùng Hưng, Dương Thanh chống nhà Đường
- Mai Thúc Loan, quê Hà Tĩnh, Khởi nghĩa tại Nam Đàn Nghệ An
713-722 Năm 714 ông đánh giành Tống Bình rồi lên ngôi: Mai Hắc Đế Quân Đường tấn công Cuộc khởi nghĩa thất bại 722
- Phùng Hưng, khởi nghĩa ở Sơn Tây – Ba Vì 766, giành thắng lợi
791-802, sau đó nhà Đường tấn công Lúc đó Phùng An, con của Phùng Hưng nối ngôi đã đầu hàng quân Đường năm 802
- Dương Thanh ( 819 – 820)
Là hào trưởng của đất Hoan châu ( Nghệ An)
Năm 819, đã phát động khởi nghĩa giết được Lý Tượng Cổ, lập được hệ thống chính quyền
Năm 820, Dương Thanh thất bại trước sự tấn công của nhà Đường
Trang 11Đạo Giáo (Trương Đạo Lăng)
- Về kinh tế: Vơ vét sản vật, bắt cống nộp và đặt ra nhiều thứ thuế nặng nề
- Về chính trị: Biến VN thành quận huyện của Trung Quốc
Cử quan lại từ TQ sang nắm quyền thống trị, có khi đưa người xuống nắm đến cấp huyện và chính sách “dĩ di công di”
Thâm hiểm nhất đó là chính sách đồng hóa, sát phu, hiếp phụ
Phần II VIỆT NAM THỜI KỲ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUỐC GIA PHONG KIẾN
Chương III LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ÐẾN THẾ KỶ XV
I LỊCH SỬ VIỆT NAM giai đoạn thành lập và củng cố chính quyền tự chủ (thế kỷ thứ x)
1 Họ Khúc thực hiện những cải cách hành chính đầu tiên
- Nýớc ta thuộc nhà Ðường
- Nãm Giáp Thân (864), Vua Ðường phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ
và đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quận Tiết tuấn
Nãm 907, nhà Ðường mất ngôi, , nhà hậu Lương, hậu Ðường, hậu Tấn, hậu Hán, hậu Chu tranh nhau ( Ngũ quý) Năm 905, Khúc Thừa Dụ là Haò Trưởngng Hồng Châu (Ninh Giang-Hải Dương) đã tổ chức lực luợng tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội), quân Ðường thua to chạy về nước Ông tự xưng là Tiết độ sứ
Về hình thức, Khúc Thừa Dụ giữ nguyên bộ máy hành chính của chính quyền đô hộ, song thực chất bên trong, đó là một chính quyền độc lập của nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc, quan lại người Trung Quốc bị bãi bỏ, các chức vụ đều thay thế bằng người Việt
Ngày 23 tháng 7 nãm 907 (Đinh Mão) Khúc Hạo con trai Khúc Thừa Dụ lên thay
Trang 12Năm 923, nhà Nam Hán sai tướng là Lý Khắc Chắnh Đánh nước ta bắt Khúc Thừa Mỹ Nam Hán cử Lý Tiến làm Thứ sử nýớc ta.
2 Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ hành chắnh nước ta và triều Ngô
Nãm 931, Dương Đình Nghệ, là một tướng của Khúc Hạo ở đất Ái Châu (Thanh Hóa), mộ quân đánh đuổi Lý Khắc Chắnh và Lý Tiến, chiếm lại
thành Đại La Ông tự xưng là Tiết độ sứ, làm chủ đất nước trong 6 năm.
- Năm 936, Kiều Công Tiễn, một hào trưởng ở Phong Châu đã sát hại
Dương Đình Nghệ, chiếm quyền Tiết Độ Sứ, sau đó Công Tiễn cầu cứu quân Nam Hán Lưu Cung cho con là Lưu Hoàng Tháo sang xâm lược nước
ta
Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ đang trị nhậm ở Ái Châu, đem quân giết Công Tiễn, sau đó bố trắ mật binh trên Bạch Đằng, đánh bại
và giết Hoàng Tháo, năm 938
- TIỀN NGÔ VƯƠNG (939-965)
Nãm kỷ- Hợi (939) Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (thuộc
huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên) Ngô Vương làm vua được 6 năm, đến năm Giáp Thìn (944) thì mất, thọ 47 tuổi Ông gửi con là Ngô Xương Ngập cho em vợ là Dương Tam Kha chăm lo
Dương Tam Kha cướp ngôi của Ngô Xương Ngập
Ngô Xương Ngập cùng em là Ngô Xương Văn chạy về Nam Sách Kha đuổi bắt được Văn, đem về cho làm chỉ huy quân cấm vệ
Nãm 950, Sơn Tây loạn Tam Kha cho Ngô Xương Văn, Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đi đánh Họ quay binh về đánh bắt đượcc và phế truất Kha
Xương Vãn xưng là Nam Trấn Vương, đón anh là Xương Ngập về
làm Thiên Sách Vương ( 2 vua)
Nãm 954, Thiên Sách Vương ngô Xương Ngập mất Loạn nổi khắp nõi.
Nam Trấn Vương Tử trận khi đi dẹp loạn ở Thái Bình Con là Ngô Xương Xắ lên ngôi Đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân
Trang 133 Trần Lãm, xưng là Trần Minh-công giữ Bố-hải-khẩu (Kỳ-Bố, tỉnh Bình)
Thái-4 Kiều công Hãn, xưng là Kiểu Tam-chế giữ Phong-châu (huyện Hạc)
Bạch-5 Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái- Bình giữ Tam-Đái (phủ Vĩnh Tường)
6 Ngô nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm-công giữ Đường-lâm (Phúc-Thọ, Tây)
Sơn-7 Lý Khuê, xưng là Lý Lang-công giữ Siêu- Lại (Thuận-thành)
8 Nguyễn Thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịnh-công giữ Tiên-Du (Bắc-Ninh)
9 Lữ Đường, xưng là Lữ Tá-công giữ Tế-Giang (Văn-Giang, Bắc-Ninh)
10 Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu-Công giữ Tây-Phù-Liệt (Thanh-Trì, Hà-Đông)
11 Kiểu Thuận, xưng là Kiểu Lịnh-Công giữ Hồi-Hồ (Cẩm-Khê, Sơn-Tây)
12 Phạm bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng-Châu (Hưng-Yên)
Những Sứ quân đánh lẫn nhau, làm cho dân gian khổ sở Đinh Bộ Lĩnh ở
Hoa Lư đem quân đi đánh, dẹp xong loạn sứ quân, đem giang sơn lại làm một mối,và lập nên cơ nghiệp nhà Đinh
4 Nhà Đinh thống nhất đất nước, xây dựng triều đình.
Nãm Mậu thìn (968), Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi
Hoàng Đế, lấy hiệu là Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).
Nãm (939) Ngô Quyền Xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa
NHÀ ĐINH (968-980)
1 Đinh Tiên Hoàng
2 Đinh Phế Đế
Trang 14Kinh Ðô Hoa Lư- Ninh Bình
Về xây dựng triều chính
Ðinh Tiên Hoàng Ðế xây dựng cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm, phong cho Nguyễn Bặc là Ðinh Quốc Công, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, phong con trai là Ðinh Liễn làm Nam Việt Vương, con thứ là Ðinh Toàn làm Vệ Vương Ngô Chân Lưu được hiệu là Khuông Việt Thái Sư
- Về Pháp Luật: vua Tiên Hoàng dùng pháp luật nghiêm ngặt để trừng trị.
Vua dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn ðặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ
dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn thịt" Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm
Tôn giáo Thời Ðinh
Ðạo Phật được coi là Quốc giáo Sư tăng có phẩm tước, một số sư được mời vào làm quan gọi là Tăng quan Ðứng đầu tăng quan là Ðại sư
Suy vong: Nãm Kỷ-Mão (979) vua Tiên-hoàng và Nam Việt Vương
Liễn bị tên Ðỗ Thích giết chết Một hôm Ðỗ Thích thấy Tiên-hoàng say rượu nằm trong cung, bèn lẻn vào giết Tiên-hoàng và Nam Việt Vương Liễn
Tiên Hoàng làm vua 12 năm, thọ 56 tuổi
Trang 155 NHÀ TIỀN LÊ (980-1009)
1 Lê Ðại Hành
– Phá quân nhà Tống
– Ðánh Chiêm Thành
– Sửa sang trong nước
2 Lê Trung Tông
3 Lê Long Ðĩnh
6.1.ÐẠI CỒ VIỆT thời
tiền Lê (980-1009)
Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Ðế lấy hiệu là Ðại Hành Hoàng đế, lấy
niên hiệu là Thiên Phúc Dương Vân Nga trở thành Hoàng hậu, được phong là Ðại Thắng Minh hoàng hậu.
Sau đại thắng quân Tống xâm lược, nãm Tân Tỵ (981) Lê Hoàn nhanh chóng tiến hành xây dựng và củng cố đất nước.
Năm Ất-Tỵ (1005) là nãm Ứng-thiên thứ 12, vua Ðại-Hành mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 nãm
6.2 LÊ TRUNG TÔNG (1005)
Vua Ðại Hành đã định người con thứ ba là Long Việt làm thái tử, nhưng khi vua mất, các hoàng-tử tranh ngôi, đánh nhau trong bảy tháng Khi
Long Việt vừa mới lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Ðĩnh giết,
hưởng dương 23 tuổi Sử gọi là Lê Trung-Tông
6.3 LÊ LONG ÐĨNH (1005-1009)
Long Ðĩnh giết anh, cướp ngôi, lấy hiệu là Ðại Thắng Minh Quang;
Phong cho Lý Công Uẩn chức Tứ Xương quân chỉ huy sứ Năm Kỷ Dậu
(1009) Long Ðĩnh mất, ở ngôi được 4 năm, hưởng dương 24 tuổi
Long Ðĩnh mất, Hoàng tử Sạ con vua Long Ðĩnh còn nhỏ, đình thần tôn
Lý Công Uẩn lên làm vua, khai sáng nên cơ nghiệp nhà Lý Như vậy: Nhà
Tiền Lê làm vua được 3 đời, cả thảy được 29 năm
II ÐẠI CỒ VIỆT – ÐẠI VIỆT THỜI LÝ 216 NÃM
1 KHÁI QUÁT VỀ NHÀ LÝ
Lý Công Uẩn(1010-1028)
Niên hiệu : Thuận Thiên
1 Thái tổ khởi nghiệp
Trang 162 Dời đô về thành Thăng Long
3 Lấy kinh Tam Tạng
Lý Thường Kiệt và hoàng Thái hậu Ỷ Lan,
Nam quốc sơn hà, tương truyền của Lý Thường kiệt, cho người đọc trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát bên bờ sông Như nguyệt được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt
Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
1.3 Về văn hóa:
Chú trọng việc học, 1070 cho lập Quốc tử giám, phát triển Nho học
Nãm 1075, mở khoa thi đầu tiên lựa chọn nhân tài cho chế độ, Lê Vãn Thịnh ( Bắc Ninh) là Trạng Nguyên đầu tiên của khóa thi 1075 thi Toán và
Trang 17luật, khóa 1086, Mạc Hiển Tích(Hải Dương)…Tổng cộng có 4 Trạng
nguyên thời Lý
Thời Lý là thời đại độc lập và thịnh vượng của Ðại Việt
1.4 Về kinh tế
- Thời Lý đã thực hiện chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp
- Quy ðịnh các loại thuế
- Khuyến khích phát triển thủ công nghiệp
- Quy ưịnh các loại ruộng: ruộng công, ruộng tư và cho phép bán ruộng ðất
- Tổ chức làm thủy lợi để phát triển sản xuất, chính sách bảo vệ trâu, bò
2 Vương triều Nhà Lý
216 năm, truyền ngôi được 9 ðời
I Lý Thái Tổ: 1010-1028 (18 năm)
II Lý Thái Tông: 1028-1054 (26 năm)
III Lý Thánh Tông: 1054-1072 (18 năm)
IV Lý Nhân Tông: 1072-1127 (55 năm)
V Lý Thần Tông: 1128-1138 (11 năm)
VI Lý Anh Tông: 1138-1175 (37 năm)
VII Lý cao Tông: 1176-1210 (35 năm)
VIII Lý Huệ Tông: 1211-1225 (15 năm)
IX Lý Chiêu Hoàng: 1225
Đọc thêm Hoàng tử Lý Long Tường tới Cao Ly
Theo sử liệu, để tận diệt nhà Lý sau khi giành ngôi về nhà Trần, 1232, nhân Tôn thất nhà Lý làm lễ tế các vua Lý ở Hoa Lâm, nay là Mai Lâm, Ðông Anh, Trần Thủ Ðộ đã cho người đào hầm làm sập, chôn sống gia tộc
Lý Hoa Lâm nay còn có địa danh Bãi sập
Hoàng tử Lý Long Tường biết mưu Thủ Ðộ, 1226 đã vượt biển về Cao Ly
Lý Long Tường( sinh năm 1174) là con thứ 7, em vua Cao Tông và là chú của vua Lý Huệ Tông, Ông chú của Lý Chiêu Hoàng
1224, Trần Thủ Ðộ ép vua Huệ Tông nhường ngôi cho con là Chiêu Hoàng, sau đó Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh
Họ Lý mất vương quyền và bị buộc đổi thành họ Nguyễn
Trang 18Theo Thụ hàng môn kỷ tắch bi tại Hàn Quốc, Long Tường đến Hàn Quốc năm 1226
Vua Cao Ly thấy Long Tường hiền đức phong cho ông làm Hoa sơn quân, tiểu vy tử Ông đã giúp vua Cao Ly đánh thắng quân Nguyên, nên được vua ban cho dựng bia tại Hoa sơn Ờ tên Hoa Sơn trùng với tên nơi Trần Thủ Độ giết nhà Lý ở Việt Nam Con cháu nhà Lý 20 hộ nay có 200 hộ với 600 người và đều được ông cha giáo dục về đất Việt Thời chiến tranh 1954-
1975, con cháu họ Lý về tìm đất tổ ở miền Nam VN, nhưng nghe tin quê ở Bắc, nên năm 1994, Lý Xương Căn cháu đời thứ 31 của họ Lý mới về dâng hương ở Đền Đô, Đình Bảng
Đã 800 năm
Họ Lý về lại đất tổ
Vẫn giữ bản sắc quê hương
Nay luôn đóng góp về xây dựng quê hương
III Nhà nước Đại Việt thời nhà Trần
1 KHÁI QUÁT VỀ NHÀ TRẦN
Nhà Trần là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua
Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Trần Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly Ờ tổng cộng là 175 năm, với 12 đời Vua, quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô là Thăng Long
Cuối triều Lý, năm 1209, khi trong triều biến loạn, Lý Cao Tông chạy lên Quy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp( Thái Bình) đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh
đô Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ
Là người cơ mưu, Thái sư Trần Thủ Độ đã bắt Lý Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi đi tu ở chùa Chân Giáo
Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 8 tuổi Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng
Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều chắnh đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chắnh Trần Thừa
Trang 19Thời đại nhà Trần có nhiều biến động lịch sử lớn lao, trong 30 năm đánh tan
3 lần giặc Nguyên xâm lược nước ta.
Quốc công tiết chế Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300)
2 Luật pháp
Trần Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh
Năm Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230:
Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ
của triều trước, soạn thành Quốc triều
thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi,
Đời nhà Trần, văn học được mở mang
Nho học rất được toàn thịnh
Những học giả nổi tiếng thời Trần
Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An là những bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực Các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân
Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị
như Hịch tướng sĩ.
5 Tôn giáo
Về Phật giáo vào thời kỳ đầu nhà Trần Phật giáo rất thịnh Các nhà vua
đều sùng đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi
Trang 20ĐVSKTT chép lại Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào
có đình trạm đều phải đắp tượng phật để thờ.
Trường phái Trúc lâm Yên Tử
Vua Thái Tông, Nhân Tông là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi
6 3 lần Chiến thắng Mông-Nguyên
- Lần 1 tháng 1-1258, Trần Thái Tông, Thái tử Hoảng, Trần Thủ Độ…
- Lần 2 1285, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải…
- Lần 3, 1288, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo…Các tướng Nguyên: Thoát Hoan, Ngột Lương Hợp Thai, Ô Mã Nhi, Toa Đô…
Nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần: Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam Đó là chưa kể tới
7 Chế độ Thái thượng hoàng
- Ngay từ Trần Thái Tông, nhà Trần đã có cơ chế nhà vua nhường ngôi cho con, rồi đứng ra một bên làm Thái Thượng Hoàng
- Thái Thượng Hoàng là hình thức Vua cha đứng sau, vừa tập sự cho vua con thế tập, kế nghiệp
NHÀ TRẦN (1225-1400)
Với 12 đời Vua, quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô là Thăng Long
I Trần Thái Tông (1225-1258)
II Trần Thánh Tông (1258-1278)
III Trần Nhân Tông (1279-1293)
IV Trần Anh Tông (1293-1314)