2 Trong việc quản lý, điều hành nội bộ, doanh nghiệp được quyền tự quyết nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh, bao gồm các quyền: Tự chủ quyết định các công việc kinh
Trang 1ÔN TẬP LUẬT KINH TẾ CAO HỌC
1 Phân tích khái niệm thương nhân theo quan niệm pháp luật thương mại hiện hành So sánh khái niệm thương nhân với khái niệm chủ thể kinh doanh và doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005.
6 Phân tích và chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các loại công ty So
sánh các loại công ty về các khía cạnh: vốn và bộ máy quản trị công
ty Đánh giá về hiện trạng chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty
TNHH hoặc CTCP theo quy định của LDN.
7 Khảo sát về quan hệ nội bộ trong công ty: nguyên tắc tỷ lệ vốn – tỷ lệ quyền lực, sự bảo vệ của PL đối với cổ đông/thành viên công ty.
8 Phân tích định nghĩa, đặc tính của một số đối tượng sở hữu trí tuệ:
Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa Vấn đề chuyển
giao công nghệ và việc bảo hộ, khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Câu 8
9 Các phương thức giải quyết tranh chấp: tòa án và trọng tài So sánh những điểm khác biệt Vai trò hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại.
Câu 9 Chúc các bạn thành công.
TS LÊ VĂN HƯNG
Trang 2Câu 1:
Khái niệm Thương nhân
theo khoản 1, Điều 6 Luật
nhân có nghĩa vụ đăng kí
kinh doanh theo quy định
của pháp luật Trường hợp
chưa đăng kí kinh doanh,
thương nhânvẫn phải chịu
trách nhiệm về mọi hoạt
động của mình theo quy
định của luật này và những
quy định của các luật khác”
Khái niệm Chủ thể kinh doanh:
Chủ thể kinh doanh là cá nhân, tổ chức kinh tế được pháp luật thừa nhận trên thực tế có hoạt
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh
Giống nhau: khái niệm Chủ thể kinh doanh bao hàm khái niệm Thương nhân và
khái niệm Doanh nghiệp, do đó có sự giống nhau:
+ Đều mang tính hợp pháp, được pháp luật thừa nhận
+ Về mục đích hoạt động: thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, như trong khoản 2, điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2005 có nêu : “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mụcđích sinh lợi”
+ Trong hoạt động, đều tự chủ trong kinh doanh, sử dụng lao động, tự chịu trách nhiệm
+ Đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật
Khác nhau: khái niệm Chủ thể kinh doanh bao hàm khái niệm Thương nhân và
khái niệm Doanh nghiệp Nhưng không phải tất cả Chủ thể kinh doanh đều là Thương nhân và Doanh nghiệp Cá nhân là Chủ thể kinh doanh, có thể là Thương nhân nếu có đăng kí kinh doanh, nhưng cá nhân không thể gọi là Doanh nghiệp bởi Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
+ Về cơ cấu tổ chức, đặc điểm:
Thương nhân gồm cá nhân,
tổ chức kinh tế Ví dụ:
Cá nhân: Nhà đầu tư chứng
Chủ thể kinh doanh
gồm cá nhân, tổ chức kinh tế
Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế, có tên riêng, có trụ sở giao
Trang 3khoán, …
Tổ chức kinh tế: Các Công
ty môi giới chứng khoán, …
dịch ổn định Ví dụ các Công ty TNHH MTV, Công ty Cổ Phần…
+ Về việc đăng ký kinh doanh
Theo khoản 1, Điều 6 Luật
thương mại 2005: Đăng kí
kinh doanh là điều kiện để
chủ thể kinh doanh trở thành
thương nhân.
Chủ thể kinh doanh có thể đăng ký hoặc không đăng ký kinh doanh Ví
dụ một số các hộ buôn bán nhỏ lẻ được pháp luật thừa nhận trên thực
tế có hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi nhưng có thể không đăng kí kinh doanh Theo khoản 1, Điều 6 Luật thương mại 2005: Những chủ thể kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên nhưng
ko đăng kí kinh doanh thì
ko được công nhận là thương nhân Nếu ko đăng kí kinh doanh các chủ thể kinh doanh vẫn hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên vẫn phải gánh vác những nghĩa vụ của một thương nhân, trong khi các chủ thể này ko đủ điều kiện của thương nhân
Theo khoản 1, Điều 9 của luật Doanh Nghiệp:Đăng kí kinh doanh là điều kiện để chủ thể kinh doanh trở thành Doanh nghiệp, để Doanh nghiệp xác lập
tư cách pháp lý với nhà nước Sau khi đăng ký, Doanh nghiệp phải hoạtđộng kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Trang 4Câu 2:
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2005
Chủ quyền của doanh nghiệp được xác định từ nhiều chế định khác nhau của pháp luậtkinh doanh, song cơ bản vẫn là các quy định về quyền, nghĩa vụ tại Điều 8 và Điều 9LDN 2005
1 Quyền của doanh nghiệp
LDN 2005 ghi nhận các quyền của doanh nghiệp tại Điều 8 với những nội dung sau:(1) Doanh nghiệp được tự chủ trong họat động kinh doanh và phát triển thị trường bằng
các quyền cơ bản: Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
(2) Trong việc quản lý, điều hành nội bộ, doanh nghiệp được quyền tự quyết nhằm nâng
cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh, bao gồm các quyền: Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ; Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp; Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.
(3) Các doanh nghiệp được quyền họat động trong môi trường kinh doanh lành mạnh,
bình đẳng và ổn định Theo đó, doanh nghiệp có quyền: Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định; Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp
Với tư cách là đơn vị kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp không tồn tại đơn lẻ, địa
vị pháp lý của doanh nghiệp luôn được xác định trong mối quan hệ với các chủ thể kháctrong sinh hoạt thị trường và đời sống xã hội Pháp luật phải giải quyết hài hòa, hợp lý vềlợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường để không ai có thể vì lợi ích của mình xâmhại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Dưới góc độ lý thuyết, các nghĩa vụđược coi là trách nhiệm và giới hạn quyền của doanh nghiệp trong những quan hệ giữa họvới nhà nước, với người lao động, các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng Cụ thể là:
(1) Với hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế, các doanh nghiệp có nghĩa vụ hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các
Trang 5nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.
Tự do kinh doanh không có nghĩa là tự do vô tổ chức, mà luôn được đặt trong trật tự củathị trường để bảo đảm sự phát triển có định hướng của thị trường với vai trò quản lý của
nhà nước Những nghĩa vụ kể trên có hai ý nghĩa cơ bản: thứ nhất, doanh nghiệp bảo đảm
thực hiện đúng cam kết với nhà nước khi đăng ký kinh doanh Lý thuyết về tự do kinhdoanh đã cho doanh nghiệp quyền chủ động lựa chọn ngành nghề và tự kê khai nội dungđăng ký kinh doanh Với nhà nước, thủ tục đăng ký kinh doanh cung cấp các thông tincần thiết về thị trường làm cơ sở cho hoạt động quản lý và xây dựng các chính sách pháttriển thị trường hiệu quả Đối với doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh xác lập tưcách cho doanh nghiệp, đồng thời, nội dung kê khai khi đăng ký còn là những cam kếtcủa doanh nghiệp trước nhà nước Vì lẽ ấy, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện đúng
những gì đã cam kết; thứ hai, doanh nghiệp bảo đảm trách nhiệm vật chất đối với hoạt
động quản lý của nhà nước và cộng đồng
(2) Tôn trọng lợi ích của xã hội, các doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ: Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; thực hiện chế
độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm; Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch
vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố Trong quan hệ với người lao động, các
nghĩa vụ của doanh nghiệp không còn là việc nội bộ của họ mà là trách nhiệm có tínhcộng đồng Mặt khác, các chuẩn mực về lao động như vấn đề vấn đề bảo hiểm y tế, bảohiểm xã hội và các quy chuẩn chất lượng hàng hóa … luôn phản ánh các chính sách xãhội của quốc gia mà bất cứ nhà nước nào cũng theo đuổi, góp phần khắc phục các khuyếttật của thị trường
(3) Trách nhiệm minh bạch hóa thông tin Sự thay đổi trong nhận thức và pháp luật về vaitrò quản lý nhà nước theo hướng mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp đòi hỏi thịtrường phải có được cơ chế giám sát xã hội, nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ đe dọa đến trật
tự và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trên thị trường Một cơ chế giám sát xã hộihiệu quả phải bảo đảm sự minh bạch và trung thực về thông tin cho mọi thành viên thamgia thị trường bao gồm doanh nghiệp, nhà đầu tư và người tiêu dùng… Vì thế, LDN 2005
quy định các nghĩa vụ cho doanh nghiệp bao gồm: Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán; Thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê; định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo mẫu quy định; khi phát hiện các thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.
3 Ý nghĩa và một số đánh giá
Điểm qua các quyền của doanh nghiệp được pháp luật quy định nhằm đưa ra một vàiđánh giá sau:
Trang 6Một là, LDN 2005 có đối tượng áp dụng bao gồm các loại doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế Vì thế, sự ghi nhận các quyền, nghĩa vụ nói trên của doanh nghiệp trongpháp luật sẽ áp dụng thống nhất đối với tất cả các chủ thể kinh doanh gọi là doanhnghiệp, cho dù thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào để tạo ra một trật tự chung trong cạnhtranh trên thị trường Mặt khác, trên tinh thần giảm tối đa khả năng can thiệp từ phía côngquyền vào hoạt động kinh doanh và quản trị nội bộ của doanh nghiệp, pháp luật có xuhướng mở rộng chủ quyền của doanh nghiệp và xây dựng cơ chế bảo hộ cho chủ quyền
đó Do đó, nội hàm của các quyền được pháp luật mô tả rộng hơn với những ghi nhậnthêm các quyền mới cho doanh nhân
Hai là, bằng việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp, pháp luật đã xác lập
mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước mà chúng ta quen gọi là quan hệ về quốctịch Trong giới hạn về đối tượng áp dụng, luật doanh nghiệp xây dựng cơ chế đăng kýkinh doanh để xác lập quốc tịch cho doanh nghiệp Mặc dù không còn tình trạng chia cắtpháp luật về doanh nghiệp theo hình thức sở hữu, song điều đó không có nghĩa là luậtdoanh nghiệp áp dụng cho cả các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động trên thị trườngViệt Nam Những chế định trong luật doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với những doanhnghiệp được thành lập theo luật doanh nghiệp, tức là những doanh nghiệp có mang quốctịch Việt Nam thuộc những thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau, kể cả sởhữu có yếu tố vốn nước ngoài Các doanh nghiệp có quốc tịch nước ngoài khi có các hoạtđộng kinh doanh mà không thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ chịu sự điều chỉnhcủa các quy định liên quan đến hoạt động của họ như pháp luật thương mại …
Ba là, về kỹ thuật lập pháp, các quyền cơ bản mà pháp luật đã liệt kê có nội hàm rất rộng
và khái quát ở góc độ tích cực, cách tiếp cận này là hợp lý bởi nguyên tắc tự do kinhdoanh không cho phép tồn tại khung khổ mang tính chỉ huy theo kiểu của thời kỳ kếhoạch hóa tập trung, mà đòi hỏi phải có sự giải phóng và tôn trọng các giá trị sáng tạo
của doanh nhân Thế cho nên, nếu pháp luật có những quy định mang tính chỉ bảo cụ thể
các quyền của doanh nghiệp, thì những quy định đó sẽ trở thành công cụ để công quyềnđiều khiển hành vi của doanh nhân Chế định về quyền trong pháp luật doanh nghiệp chỉđơn giản là sự ghi nhận, tuyên bố của nhà nước về chủ quyền của doanh nghiệp Tuynhiên, vẫn còn đâu đó những rủi ro cho số phận của pháp luật bởi sự tuỳ tiện trong cáchhiểu về nội dung từng quyền của doanh nghiệp, cả từ phía các cơ quan nhà nước lẫndoanh nhân Vì thế, nếu có bất kỳ sự xung đột nào trong nhận thức về nội hàm của cácquyền, nghĩa vụ nói trên đều phải trông chờ vào sự hướng dẫn từ các văn bản pháp luậtkhác
Bốn là, sự ghi nhận về quyền doanh nghiệp trong pháp luật còn là cam kết của nhà nước
trước doanh nhân về việc bảo đảm cơ hội kinh doanh và khả năng phát triển trong mộtmôi trường lành mạnh, ổn định Các quy định của pháp luật về những quyền kể trên sẽchỉ trở thành hiện thực và có ý nghĩa đối với doanh nghiệp khi được công quyền bảo đảmthực hiện bằng các cơ chế cần thiết và phù hợp Nếu không, chúng sẽ chỉ là những tuyênngôn không có giá trị thực tế Có thể nói rằng, việc xây dựng những cơ chế bảo đảmquyền của doanh nghiệp tại Việt Nam còn bề bộn nhiều vấn đề cần giải quyết cả trongnhận thức quản lý lẫn cơ chế thực hiện trên thực tế Những tàn dư của cơ chế kinh tế kếhoạch hóa vẫn ẩn khuất đâu đó trong bộ máy quản lý nhà nước làm cho nền hành chính
Trang 7chưa thực sự mang bản chất phục vụ, vẫn còn dấu hiệu của cơ chế xin cho Sự nhũngnhiễu của các cán bộ quản lý đối với doanh nghiệp vẫn diễn ra, cho dù doanh nghiệp đãđược pháp luật thừa nhận quyền “từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực khôngđược pháp luật quy định; khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo” Mặt khác, với vai trò định hướng cho sự phát triển của thị trường, nhà nước còn
thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế như chính sách thuế, chính sách hỗ trợ, ưuđãi đầu tư… để bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện quyền của mình hiệu quả nhất
Năm là, cho dù các quyền được quy định khái quát, chung chung và thiếu tính cụ thể,
song lại có ý nghĩa rất lớn đến việc hình thành năng lực kinh doanh và xác định chứcnăng cho doanh nghiệp Khảo sát nội dung Điều 8 LDN 2005, có thể thấy rằng, nhà nước
và pháp luật đã cam kết tôn trọng chủ quyền, sự độc lập và khả năng tự chủ của doanhnghiệp, từ quyền sở hữu, quyền tự chủ kinh doanh đến các quyền liên quan đến quản lý,lao động … Nếu suy diễn theo tư duy này, pháp luật về doanh nghiệp luôn có ý thứcđứng về phía doanh nghiệp để bảo vệ quyền lợi một cách tuyệt đối cho họ, cho dù là công
cụ để nhà nước quản lý đời sống kinh tế Ngoài ra, các quyền của doanh nghiệp khôngchỉ bao gồm những quyền được liệt kê tại Điều 8 LDN 2005, ngược lại, với tư duy mở,
hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh trên nguyên tắc pháp luật không cấm thì được thực hiện.
Trang 8Câu 3-1
Tổng quan về Luật cạnh tranh
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nềnkinh tế Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành mạnh và bìnhđẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường Trong nỗlực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ngày 03/12/2004, Quốc hội khóa
XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệulực thi hành kể từ ngày 1/7/2005
Với 6 chương, 123 Điều, Luật cạnh tranh được ban hành nhằm:
- Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn đến việc gâyhạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế
- Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các hành vi cạnhtranh không lành mạnh
- Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng
Để đạt được mục tiêu này, Luật Cạnh tranh phân các hành vi chịu sự điều chỉnh thành hainhóm hành vi là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đốivới nhóm hạn chế cạnh tranh, Luật điều chỉnh 3 dạng hành vi gồm thoả thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trungkinh tế Đối với nhóm cạnh tranh không lành mạnh, Luật điều chỉnh 10 hành vi, gồm chỉdẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm phadoanh nghiệp khác…và các hành vi khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 củaLuật do Chính phủ quy định
Về đối tượng điều chỉnh, Luật cạnh tranh áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, gồm tổchức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp), kể cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độcquyền nhà nước; và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và hiệp hội ngànhnghề hoạt động ở Việt Nam Ngoài ra, tại Điều 6, Luật Cạnh tranh cũng quy định cáchành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh
Theo định nghĩa tại khoản 4, Điều 3, Luật cạnh tranh: Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các
Trang 9chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hạiđến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngườitiêu dùng.
Theo cách tiếp cận này, Điều 39 (Hành vi cạnh tranh không lành mạnh), Luật Cạnh tranh đã liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm:
1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2 Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3 Ép buộc trong kinh doanh;
4 Gièm pha doanh nghiệp khác;
5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8 Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9 Bán hàng đa cấp bất chính;
10 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều
3 của Luật này do Chính phủ quy định
Hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo khoản 3, Điều 3 của Luật cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của
doanh nghiệp làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Các hành vithuộc nhóm hạn chế cạnh tranh bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị tríthống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế kinh tế
1 Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Trang 10cơ cấu lại doanh nghiệp, buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua, buộc chia, tách doanhnghiệp đã tiến hành hợp nhất, sáp nhập
Thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp? Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 130 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm:
1 Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinhdoanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ
2 Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chấtlượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấphàng hoá, dịch vụ
3 Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế cóquy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu
đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng làngười đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được
sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng
4 Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gâynhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa
lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụnghoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lýtương ứng
Trang 11b) Cơ cấu nội dung của pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh có những nội dung chính là:
- Pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh
- Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh;
2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh
a) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Cơ chế kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn nguy cơ các doanh nghiệp lạm dụng quyền tự
do hợp đồng để xác lập những thỏa thuận hạn chế khả năng tham gia thị trường củacác đối thủ cạnh tranh tiềm năng, tìm cách loại bỏ một số đối thủ nào đó trên thươngtrường, hạn chế hay thủ tiêu sự cạnh tranh giữa những đối thủ cạnh tranh Theo LuậtCạnh tranh, các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:
- Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịchvụ;
Trang 12- Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hànghoá, dịch vụ;
- Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
- Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hànghoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quantrực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trườnghoặc phát triển kinh doanh;
- Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên củathoả thuận;
- Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấphàng hoá, cung ứng dịch vụ
Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều bị cấm một cách tuyệtđối Việc cấm tuyệt đối (không có miễn trừ, không có ngoại lệ) chỉ áp dụng đối vớinhững loại thỏa thuận về ngăn cản, kìm hãm, không cho đối thủ tiềm năng tham giathương trường, không được phát triển, mở rộng kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ cácdoanh nghiệp nằm ngoài thỏa thuận (tẩy chay) hoặc thông đồng để một hoặc các bênthắng thầu trong cung cấp hàng hóa, cung cấp dịch vụ Những loại thỏa thuận hạn chếcạnh tranh còn lại chỉ bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trênthị trường liên quan từ 30% trở lên[3] Những thỏa thuận liên quan đến thị phần liênquan dưới 30% là hợp pháp
b) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Khi một doanh nghiệp tồn tại trên thị trường liên quan với một thị phần và phạm viảnh hưởng lớn nhất định sẽ dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp này lạm dụng thế mạnhcủa mình để thực hiện các hành vi cạnh tranh gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh,khách hàng và có tác động tiêu cực đến thị trường Theo Luật Cạnh tranh, doanhnghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trênthị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành độngnhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
Trang 13- Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
- Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Khi được coi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp sẽ bị cấmlạm dụng vị trí này để hạn chế cạnh tranh Theo Điều 13 Luật Cạnh tranh, nhữnghành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (bao gồm doanhnghiệp độc lập và nhóm doanh nghiệp) là:
- Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnhtranh;
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tốithiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự pháttriển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bìnhđẳng trong cạnh tranh;
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếpđến đối tượng của hợp đồng;
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
c) Lạm dụng vị trí độc quyền
Mức độ cao nhất của thống lĩnh thị trường là vị trí độc quyền Theo Luật Cạnh tranh,doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnhtranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liênquan[4] Khi doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì ngoài các hành vi bị cấm như đốivới trường hợp doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp (có vị trí độc quyền)còn bị cấm thực hiện các hành vi sau:
- Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;
- Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết
mà không có lý do chính đáng
d) Tập trung kinh tế
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 16), tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp, baogồm:
Trang 14- Sáp nhập doanh nghiệp;
- Hợp nhất doanh nghiệp;
- Mua lại doanh nghiệp;
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp;
- Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Tập trung kinh tế là hiện tượng tất yếu trong kinh tế thị trường Tuy nhiên, tập trungkinh tế tiềm ẩn khả năng hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và độcquyền Việc hợp nhất hay sáp nhập giữa các doanh nghiệp là con đường nhanh nhất
để tạo khả năng độc quyền của một doanh nghiệp mới Vì vậy, pháp luật cạnh tranhluôn có nhiệm vụ kiểm soát tập trung kinh tế
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, không phải mọi trường hợp tập trung kinh tế đều
bị pháp luật ngăn cản Tùy thuộc vào mức độ tập trung kinh tế và khả năng phá vỡ sựcân bằng của cơ cấu thị trường mà sự giám sát này có thể được thực hiện ở nhiều mức
độ khác nhau Tập trung kinh tế được chia thành nhiều nhóm với cách thức và mức
độ kiểm soát có sự khác nhau, cụ thể là:
- Các trường hợp tập trung kinh tế được tự do thực hiện;
- Các trường hợp tập trung kinh tế được thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xem xét chấp nhận;
- Cho hưởng miễn trừ đối với một số trường hợp tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm;
- Các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm tuyệt đối (không có ngoại lệ)[5]
3 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
3.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trongquá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh,gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng[6]
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dấu hiệu cơ bản sau:
- Là hành vi của doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh;
- Nhằm vào đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được;
- Trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh hoặc trái với pháp luật (cũng là trái đạođức);
Trang 15- Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh hoặc cho người tiêudùng.
Pháp luật quy định nội dung của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể Mọihành vi cạnh tranh không lành mạnh đều bị cấm tuyệt đối, không có sự miễn trừ.Chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh là một quyền pháp lý của người kinhdoanh
3.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
a) Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Là hành vi sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại,khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tốkhác theo quy định của pháp luật để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hànghóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
b) Xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo Luật Cạnh tranh (Khoản 3 Điều 10) bí mật kinh doanh là thông tin có đầy đủcác điều kiện: (i) Không phải là hiểu biết thông thường; (ii) Có khả năng áp dụngtrong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợithế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; (iii) Được chủ
sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không
dễ dàng tiếp cận được
Doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh sau đây:
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biệnpháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sởhữu bí mật kinh doanh;
- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụbảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ
sở hữu bí mật kinh doanh đó;
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người nàylàm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưuhành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà
Trang 16nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phépliên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
c) Ép buộc trong kinh doanh
Các hành vi ép buộc, đe doạ khách hàng và đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh
để bắt họ không được giao dịch hoặc ngừng giao dịch với đối thủ cạnh tranh được coi
là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luật nghiêm cấm Luật Cạnh tranh(Điều 42) quy định: "Cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh củadoanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịchhoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó"
d) Gièm pha doanh nghiệp khác
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 43), các doanh nghiệp bị cấm gièm pha doanh nghiệpkhác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnhhưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpđó
đ) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 44), các doanh nghiệp bị cấm gây rối hoạt động kinhdoanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở,làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
e) Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Với bản chất là một hoạt động xúc tiến thương mại (là quá trình thông tin nhằm địnhhướng hành vi mua, bán hàng hóa và sử dụng dịch vụ của khách hàng), quảng cáo làphương pháp quan trọng giúp doanh nghiệp cạnh tranh, giành thị phần cho mình trênthị trường hàng hoá, dịch vụ Nhằm đạt được mục tiêu xúc tiến thương mại ở mức độtối ưu, doanh nghiệp dễ có thể thực hiện quảng cáo không trung thực về giá trị và chấtlượng thật của hàng hóa, sản phẩm với tính chất cạnh tranh không lành mạnh TheoLuật Cạnh tranh (Điều 45), các doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động quảngcáo sau đây:
- So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại củadoanh nghiệp khác;
- Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;
Trang 17- Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nộidung sau đây:
+ Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất,thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơigia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;
+ Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;
+ Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác
- Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm
g) Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 46), các doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt độngkhuyến mại sau đây:
- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;
- Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dốikhách hàng;
- Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyếnmại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;
- Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoácùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùnghàng hóa của mình;
- Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm
h) Phân biệt đối xử của hiệp hội
Hiệp hội ngành nghề bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, gọichung là hiệp hội, được thành lập trên cơ sở sự tự nguyện của các doanh nghiệp thànhviên có chung lợi ích, là nơi cung cấp các thông tin đã được xử lý về các lĩnh vực trênthị trường trong nước và quốc tế, nơi học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các doanhnghiệp Với vai trò của mình, thông qua những hành động nhất định, hiệp hội có thểtạo ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Theo Luật Cạnhtranh (Điều 47), hiệp hội ngành nghề bị cấm thực hiện các hành vi sau đây:
- Từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từchối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnhtranh;
Trang 18- Hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tớimục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên.
- Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi íchkinh tế khác từ kết quả tiếp thị, bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đacấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệpbán hàng đa cấp chấp thuận
Bán hàng đa cấp chỉ bị cấm trong trường hợp được thực hiện một cách không lànhmạnh Theo Luật Cạnh tranh (Điều 48), doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành visau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bánhàng đa cấp:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá banđầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho ngườitham gia để bán lại;
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từviệc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp,thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia
4 Tố tụng cạnh tranh
4.1 Khái niệm tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tụcgiải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật
Trang 19Tố tụng cạnh tranh tiến hành theo thủ tục hành chính có những điểm khác với thủ tục
tư pháp tại Tòa án và hiện hành được quy định trong Nghị định số 116/2005/NĐ-CPngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.Việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnhtranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Nghịđịnh 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 quy định về xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực cạnh tranh)
Tố tụng cạnh tranh bao gồm những nội dung cơ bản sau[7]:
4.2 Các chủ thể tham gia tố tụng cạnh tranh
- Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hộiđồng cạnh tranh
- Người tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Thành viên hội đồng cạnh tranh, thủtrưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên điều trần
- Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm: Bên khiếu nại, bên bị điều tra, Luật sư;người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan
4.3 Trình tự tố tụng cạnh tranh
a) Điều tra sơ bộ
Mỗi vụ việc cạnh tranh đều được bắt đầu bằng thủ tục điều tra sơ bộ Điều tra sơ bộđược thực hiện theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh và đượctiến hành bởi các điều tra viên Thời hạn điều tra sơ bộ là 30 ngày kể từ ngày cóQuyết định điều tra sơ bộ Căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị của điều traviên, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra một trong các quyết định sau đây:
- Đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm quyđịnh của Luật Cạnh tranh;
- Điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm quyđịnh của Luật cạnh tranh
b) Điều tra chính thức
- Trong trường hợp vụ việc cạnh tranh được điều tra chính thức thì sẽ được giải quyếttheo hai hướng khác nhau, tùy thuộc vào loại hành vi vi phạm Luật cạnh tranh: (i)
Trang 20Đối với vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh thì trong thời hạn điều tra
là 90 ngày kể từ ngày có quyết định (trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quanquản lý cạnh tranh có thể gia hạn nhưng không quá 60 ngày), điều tra viên phải xácđịnh (có hay không) căn cứ cho rằng bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vicạnh tranh không lành mạnh Sau khi kết thúc điều tra, Thủ trưởng Cơ quan quản lýcạnh tranh sẽ ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vicạnh tranh không lành mạnh; (ii) Đối với vụ việc liên quan đến hạn chế cạnh tranh mà
có nguy cơ gây ảnh hưởng đến phát triển chung của cấu trúc thị trường thì Thủ trưởng
Cơ quan quản lý cạnh tranh phải chuyển báo cáo điều tra đến Hội đồng cạnh tranh đểgiải quyết Vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranhphải được xem xét, xử lý thông qua phiên điều trần
- Trường hợp qua điều tra phát hiện vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu tội phạm, điều traviên phải kiến nghị với Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét chuyển hồ sơđến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
- Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thấy có căn cứkhông được khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phảitrả lại hồ sơ cho cơ quan quản lý cạnh tranh để tiếp tục điều tra theo thủ tục quy địnhtại Luật Cạnh tranh
- Các quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của Thủ trưởng cơ quanquản lý cạnh tranh đều có thể bị xem xét lại thông qua thủ tục khiếu nại hành chính.Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định của Hộiđồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bộ trưởng Bộ Thương mại có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại đối với quyết định của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh
- Thời hạn điều tra chính thức: Đối với vụ việc cạn tranh không lành mạnh thời hạn là
90 ngày kể từ ngày có quyết định, trường hợp cần thiết, thời hạn có thể được thủtrưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn nhưng không quá 60 ngày
- Đối với vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, thời hạn điều tra chính thức thời hạn
là 180 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra, trường hợp cần thiết, thời hạn này cóthể được thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn nhưng không quá hai lần, mỗilần không quá 60 ngày
Trang 21- Việc gia hạn thời hạn điều tra, phải được điều tra viên thông báo đến tất cả các bên
có liên quan trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày làm việc trước ngày hết hạn điều tra.
[1] Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Cạnh tranh; Nghị định của chính phủ Số 110/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8năm 2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp; Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày30/9/2005 về xử lý vi phạm hành chớnh trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh; Nghị định số 05/2006/NĐ-CPngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaCục quản lý cạnh tranh
[2] Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004
[3] Các bên tham gia loại thỏa thuận này có thể làm thủ tục để được hưởng miễn trừ
có thời hạn
[4] Điều 12 Luật Cạnh tranh 2004
[5] Xem các điều 18, 19, 20 Luật Cạnh tranh
[6] Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004
[7] Xem Chương V (từ Điều 56 đến Điều 116) Luật Cạnh tranh 2004
THẾ NÀO LÀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Theo điều Điều 24 NĐ Số: 54/2000/NĐ-CP (CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 54/2000/NĐ-CP
NGÀY 03 THÁNG 10 NĂM 2000 VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆPĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH, CHỈ DẪN ĐỊA LÝ, TÊN THƯƠNG MẠI VÀBẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN
TỚI SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP)
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp, bao gồm:
1 Sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về chủ thể kinhdoanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ, nhằm mục đích:a) Lợi dụng uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinhdoanh của mình;
Trang 22b) Làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuấtkinh doanh của mình;
c) Gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặcđiểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho ngườitiêu dùng trong quá trình nhận biết, chọn lựa hàng hoá, dịch vụ hoặc hoạt động kinhdoanh
2 Chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được người đó chophép
NHÀ KINH DOANH VÀ VIỆC TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNHTRANH:
- Thương nhân – cá nhân( thể nhân):
+ Tự nhiên nhân + Năng lực pháp luật: Thời điểm phát sinh và chấm dứt; nội dung năng lựcpháp luật( họ tên- nơi cư trú- tình trạng nhân thân);
+ Năng lực hành vi: tuổi và năng lực nhận thức
* Người chưa có năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi, ngườihạn chế năng lực hành vi
- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi kinh doanh – các trường hợp loại trừ:người vô năng, người bị cấm quyền, người bất khả kiêm nhiệm
- Thương nhân – pháp nhân (chủ thể nhân tạo):
+ Khái niệm về pháp nhân – khế ước lập hội
+ Pháp nhân theo BLDS Việt Nam - là một tổ chức:
- Được thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằngtài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Các loại pháp nhân: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang; tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị – xã hội; tổ chức kinh tế; tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp;quỹ xã hội, quỹ từ thiện,
THƯƠNG NHÂN – PHÁP NHÂN:
+ Phải có nhiều người tham gia;
Trang 23+ Người tham gia phải góp vốn ( phần vốn góp – sự tách bạch giữa tài sản của thành viên và tài sản của pháp nhân – việc chuyển sở hữu tài sản góp vốn cho pháp nhân);
+ Mục đích kinh doanh
* Vai trò của khế ước lập hội – Bản Điều Lệ
* Việc hình thành và chấm dứt tư cách pháp nhân
NĂNG LỰC PHÁP LUẬT CỦA PHÁP NHÂN:
+ Tên gọi ( các quy định về tên doanh nghiệp trong Luật DN);
+ Trụ sở giao dịch ( chi nhánh và văn phòng đại diện);
+ Quốc tịch của pháp nhân ( khác với thể nhân, pháp nhân không có quyền huyếtthống chỉ có quyền nơi sinh, do vậy thường quốc tịch của pháp nhân được xácđịnh theo nơi đăng ký hoạt động; tuy nhiên cũng có những quan điểm khác );
“Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanhnghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh”LDN 2005-Đ.4k.20
+ Sản nghiệp của pháp nhân( tính độc lập về tài sản);
+ Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân ( những khác biệt so với thể nhân);
+ Cơ chế ra quyết định của pháp nhân và vấn đề người đại diện của pháp nhân.TÀI SẢN CỦA PHÁP NHÂN:
Tiền đồng VN, ngoại tệ chuyển đổi, vàng,…
Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên- nhiên vật liệu,…
Tài sản chung: do thành viên cùng nhau tạo lập nên, được tặng cho chung, tàisản được các thành viên thỏa thuận là tài sản chung
Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ Nếu tài sảnchung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viênphải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình
TỔ HỢP TÁC –CHỦ THỂ ĐẶC THÙ( đ 111 BLDS 2005):
Là tổ chức của từ ba cá nhân trở lên, hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác cóchứng thực của UBND cấp xã; các thành viên cùng góp tài sản, công sức để thựchiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm
Tài sản của tổ hợp tác: do tổ viên đóng góp, cùng tạo lập, được tặng, chochung,
Tổ hợp tác chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của tổ Nếu tài sảnchung của tổ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì các tổ viên phải
Trang 24chịu trách nhiệm liên đới theo phần tương ứng với phần vốn góp bằng tài sảnriêng của mình.
Nghị định 88/2006/NĐ-CP(29/08/2006): Hộ kinh doanh do một cá nhân là côngdân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình lm chủ, chỉ được đăng
ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có condấu v chịu trch nhiệm bằng tồn bộ ti sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
2 Việc tuân thủ các quy định của luật cạnh tranh:
Theo luật cạnh tranh 2005:
+ Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cảntrở cạnh tranh trên thị trờng, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trờng, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
- Thoả thuận hạn chế cạnh tranh,
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trờng, lạm dụng vị trí độc quyền,
- Tập trung kinh tế
+ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông th ờng về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nớc, quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngời tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39):
1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2 Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3 Ep buộc trong kinh doanh;
4 Gièm pha doanh nghiệp khác;
5 Gây rối hoạt động kinh doanh của DN khác;
6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8 Phân biệt đối xử của hiệp hội;
Có thể bị một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Thu hồi GCN/DKKD, tớc quyền sử dụng GP, CC hành nghề;
b) Tịch thu tang vật, phơng tiện đợc sử dụng để vi phạm PL về CT
Có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau( d.117 k.3):
a) Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường;
b) Chia, tách DN đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần DN đã mua; c) Cải chính công khai;
Trang 25d) Loại bỏ những điều khoản vi phạm PL ra khỏi hợp đồng hoặc giao dichKD;
đ) Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động hạn chế cạnh tranhcủa hành vi vi phạm
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợiích của Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồithờng thiệt hại theo quy định của pháp luật
+ Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật
về cạnh tranh (Điều 118)
1 Đối với hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trờng, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, cơquan có thẩm quyền xử phạt có thể phạt tiền tối đa đến 10% tổng doanh thu của tổchức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính trớc năm thực hiện hành vi vi phạm
2 Đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh và các hành
vi khác vi phạm quy định của Luật này không thuộc trờng hợp quy định tại khoản
1 Điều này, cơ quan có thẩm quyền xử phạt tiến hành phạt tiền theo quy định củapháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc theo quy định của pháp luật có liênquan
3 Chính phủ quy định cụ thể mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định củaLuật này
Trang 26Câu 4: Hiện nay, việc vi phạm quyền sở hữu công nghiệp bị xử lý như thế nào? Phân tích cả khía cạnh biện pháp hành chính, dân sự và hình sự.
Gợi ý:
Để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật quy định 3 biện pháp để xử lý cáchành vi xâm phạm quyền Tuỳ theo tính chất và mức độ xâm phạm, hành vi xâmphạm có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự và theo quyđịnh sau đây:
- Biện pháp dân sự: Được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của
chủ thể quyền sở hữu công nghiệp hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành
vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháphành chính hoặc biện pháp hình sự Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự,thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định củapháp luật về tố tụng dân sự
- Biện pháp hành chính: Được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ, theo yêu cầucủa chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâmphạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; hoặc do cơ quan có thẩmquyền chủ động phát hiện Hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành
vi xâm phạm và các biện pháp khắc phục hậu quả tuân theo quy định của Nghịđịnh 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu côngnghiệp
- Biện pháp hình sự: Được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp
hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Thẩmquyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp hình sự tuân theo quy định của phápluật về tố tụng hình sự
Ngoài 3 biện pháp nêu trên, trong trường hợp cần thiết các cơ quan có thẩm quyền
có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá nhậpkhẩu, xuất khẩu liên quan đến sở hữu công nghiệp, biện pháp ngăn chặn và đảmbảo xử phạt hành chính
Pháp luật về Sở hữu công nghiệp Việt nam qui định bất kỳ hành vi sử dụng, chiếmđoạt các đối tượng Sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ, vì mục đích thương mại
mà không được phép của chủ Sở hữu, là hành vi xâm phạm quyền Sở hữu côngnghiệp
Chế tài, các biện pháp thực thi và giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu côngnghiệp tại Việt nam
Trang 271 Mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính làcảnh cáo hoặc phạt tiền:
a) Phạt cảnh cáo được áp dụng đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy địnhtại Điều 13 (Pháp lệnh Xử lý Điều 13 Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưathành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết địnhbằng văn bản.)vi phạm hành chính và quy định tại điều khoản tương ứng của Nghịđịnh này cho phép áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm đó;b) Phạt tiền được áp dụng theo khung tiền phạt quy định đối với mỗi hành vi viphạm hành chính quy định tại điều khoản tương ứng của Nghị định này, mức phạttối đa là 500.000.000 đồng
2 Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn cóthể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, bao gồm hàng hóa giả mạonhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủyếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; tem,nhãn, bao bì, vật phẩm khác mang yếu tố vi phạm; phương tiện kinh doanh, gồm
cả phương tiện dịch vụ, phương tiện quảng cáo có chứa yếu tố vi phạm; văn bằngbảo hộ, giấy chứng nhận hoặc tài liệu khác bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc giả mạo;b) Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không thời hạn chứng chỉ hành nghề dịch
vụ đại diện sở hữu công nghiệp; thẻ giám định viên; giấy chứng nhận tổ chức đủđiều kiện hành nghề giám định;
c) Đình chỉ có thời hạn hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm
3 Ngoài các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tổ chức, cá nhân
vi phạm còn có thể bị buộc áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quảsau đây:
a) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, phương tiện kinh doanh; buộc loại
bỏ thông tin, chỉ dẫn về hàng hóa, dịch vụ vi phạm trên phương tiện kinh doanh,
kể cả phương tiện quảng cáo, mạng điện tử hoặc thay đổi, thu hồi tên miền, têndoanh nghiệp chứa yếu tố vi phạm;
b) Buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đốivới hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý, hàng hóa xâm phạm quyền sởhữu công nghiệp; nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu đểsản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý, hàng hóa
Trang 28xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khảnăng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệuhoặc chỉ dẫn địa lý, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụngchủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lýsau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa;
d) Buộc tiêu hủy yếu tố vi phạm, hàng hóa, tang vật, phương tiện vi phạm khôngloại bỏ được yếu tố vi phạm hoặc hàng hóa vi phạm gây hại cho sức khỏe conngười, vật nuôi, cây trồng và môi trường; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm khác mangyếu tố vi phạm;
đ) Buộc sửa đổi, bổ sung chỉ dẫn về sở hữu công nghiệp;
e) Buộc cải chính công khai đối với các hành vi chỉ dẫn sai về quyền sở hữu côngnghiệp;
g) Buộc thu hồi tang vật, phương tiện vi phạm bị tẩu tán;
h) Thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất hợp pháp do thực hiện hành
vi vi phạm hành chính mà có
4 Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ quy định tại các điều 8, 9 Pháp lệnh Xử lý viphạm hành chính và các tình tiết giảm nhẹ sau đây:
a) Vi phạm lần đầu với quy mô nhỏ;
b) Vi phạm do không biết và không có căn cứ để biết về tình trạng bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp có liên quan
5 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp theoquy định tại Điều 10 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (Điều 10 Thời hiệu xử
lý vi phạm hành chính
1 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày vi phạm hànhchính được thực hiện; đối với vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tài chính,chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ,nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc
vi phạm hành chính là hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu
là hai năm; nếu quá các thời hạn nói trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụngcác biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản
3 Điều 12 của Pháp lệnh này
Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt viphạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này
2 Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theothủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ
vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt hànhchính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xửphạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể
từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ
vi phạm
Trang 293 Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổchức lại thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã viphạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quyđịnh tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đượctính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấmdứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4 Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác được quy định tại các điều
23, 24, 25 và 26 của Pháp lệnh này.)
2 Các chế tài dân sự
Khi thụ lý hồ sơ, dựa vào yêu cầu của nguyên đơn và những đánh giá ban đầu, Toà
án có thể thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời như yêu cầu chấm dứt hoạtđộng sản xuất , kê biên, niêm phong, ngừng thông quan v v
Nguyên đơn có thể yêu cầu Bên có hành vi xâm phạm bồi thường thiệt hại do hành
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây ra, cải chính, xin lỗi công khai trêncác phương tiện thông tin đại chúng v v
3 Các chế tài hình sự.
Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tưpháp vừa ký thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cáchành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Tội danh “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” được qui định cho hành vi giảmạo hàng hóa nếu lợi nhuận thu được trên 10 triệu đồng Cụ thể là, các hành vixâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, nếu việc xâm phạm đã thu được lợi nhuận
từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại về vật chất chochủ sở hữu nhãn hiệu từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc hànghóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng thì bị coi là
"gây hậu quả nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự (Điều
171 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
1 Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặcchỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạttiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữđến hai năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trămtriệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệuđồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từmột năm đến năm năm.)
Trang 30Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự là có yêu cầu của tác giả hoặc quyền liênquan, có yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý Cập nhật: 02/08/2010
Việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp cho thấy các biện pháp hành chính là tỏ ra có hiệu quả hơn cả vì các chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra không cao, thời gian nhanh chóng từ 3 tuần đến 01 tháng để kết thúc sự việc
Trang 31Câu 5: Quy trình tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh Bình luận về tính hiệu quả của tố tụng cạnh tranh ở nước ta hiện nay.
ĐIỀU TRA, XỬ LÝ VỤ VIỆC CẠNH TRANH
Các nguyên tắc chung trong tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh Tố tụng cạnh tranh có sựkết hợp giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính
Nguyên tắc tố tụng cạnh tranh là những phương châm, những định hướng chi phối tất cảhoặc một số hoạt động tố tụng cạnh tranh được các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận Luật Cạnh tranh là một đạo luật đầu tiên do Quốc hội ban hành đã bao gồm cả các quyphạm về nội dung và quy phạm về hình thức Là một đạo luật trong hệ thống pháp luật xãhội chủ nghĩa, phần quy phạm về hình thức trong Luật Cạnh tranh chịu sự chi phối củacác nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật như mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật, v.v
1.1 Những nguyên tắc cụ thể của tố tụng cạnh tranh
Luật Cạnh tranh cũng quy định những nguyên tắc cụ thể trong tố tụng cạnh tranh
sau đây:
a Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng cạnh tranh
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất, được thể hiệntrong tất cả các giai đoạn của tố tụng cạnh tranh Đây cũng đồng thời là nguyên tắcpháp
lý cơ bản nhất trong hoạt động của cơ qan Nhà nước và công dân được ghi nhận ở Điều
12 của Hiến pháp 1992
Trong tố tụng cạnh tranh, nguyên tắc này đảm bảo cho việc điều tra, xử lý các hành vi viphạm pháp luật cạnh tranh một cách hiệu quả Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩađược biểu hiện cụ thể trong tố tụng cạnh tranh như sau:
- Cơ quan Quản lý cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh và những người tham gia tố tụngcạnh tranh khác phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của Chương V Luật Cạnhtranh về Điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh
- Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính, các biện pháp nghiệp vụ trong điềutra và các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải theođúng quy định của pháp luật
- Tất cả các quyết định của Cơ quan Quản lý cạnh tranh, của Hội đồng Cạnh tranh vàToà án đều phải căn cứ vào quy định của pháp luật cạnh tranh
b Nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan và bảođảm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp200
Khoản 3 Điều 56 Luật Cạnh tranh quy định: “Trong quá trình tiến hành tố tụng cạnhtranh, điều tra viên, Thủ trưởng Cơ quan Quản lý cạnh tranh, thành viên Hội đồng Cạnhtranh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải giữ bí mật kinh doanh của doanhnghiệp, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan”
Trong tố tụng cạnh tranh, nguyên tắc này đảm bảo rằng việc áp dụng các biện phápnhằm đạt được mục tiêu quản lý của Nhà nước không được xâm phạm đến quyền và lợiích hợp pháp của doanh nghiệp Cụ thể, nguyên tắc này được thể hiện như sau:
- Tách chức năng điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh cho hai cơ quan khác nhau, theo đó Cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các vụ việc cạnh tranh còn Hộiđồng Cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý và giải quyết khiếu nại Việc phân tách hai
Trang 32nhiệm vụ nêu trên cho hai cơ quan sẽ góp phần đảm bảo việc điều tra và xử lý vụ việccạnh tranh được khách quan, trung thực.
- Một trong những nghĩa vụ quan trọng của điều tra viên khi tiến hành tố tụng cạnh Khoản 1, khoản 2 Điều 56 Luật Cạnh tranh
Khoản 3 Điều 56 Luật Cạnh tranh.218
tranh là giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp
- Tất cả các giai đoạn trong tố tụng cạnh tranh đều có thời hạn rõ ràng
- Trong quá trình tiến hành tố tụng cạnh tranh, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân liên quan phải có trách nhiệm bồi thường
c Nguyên tắc bảo đảm quyền được luật sư bảo vệ
Quyền được luật sư bảo vệ được quy định nhằm bảo đảm cho những người có hành vi
vi phạm pháp luật được bày tỏ thái độ trước những lời buộc tội, đưa ra chứng cứ cầnthiết, lưu ý các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ chobên bị khiếu nại, bị kiện, bị truy tố theo quy định của pháp luật
Thực hiện quyền bào chữa của người có hành vi vi phạm pháp luật là điều kiện cần thiếtgiúp các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ việc đúng người, đúng pháp luật Tuy nhiên
từ trước tới nay, quyền được luật sư bảo vệ thường chỉ được chú trọng trong tố tụng trướctoà án Lần đầu tiên, tố tụng cạnh tranh với tư cách là một loại hình tố tụng hành chính -kinh tế đã thừa nhận nguyên tắc bảo đảm quyền được luật sư bảo vệ
Thể hiện điều này Khoản 1 Điều 66 quy định Bên bị điều tra có quyền uỷ quyền choluật sư tham gia tố tụng cạnh tranh Tiếp đó, Khoản 2 Điều 67 quy định khi tham gia tốtụng cạnh tranh, luật sư có trách nhiệm giúp bên mà mình đại diện về mặt pháp luật đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
d Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng
Có thể nói đây là một trong những nguyên tắc rất cơ bản của bất cứ quy trình tố
ụng nào và tố tụng cạnh tranh không phải là ngoại lệ Luật Cạnh tranh đã giành ra 2 điều
để quy định về thủ tục từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giámđịnh, người phiên dịch và thẩm quyền quyết định việc thay đổi này (Điều 72, 73) vàgiành ra 2 điều để quy định về thủ tục từ chối tiến hành tố tụng cạnh tranh hoặc đề nghịthay đổi thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thư ký phiên điều trần và thẩmquyền quyết định việc thay đổi này (Điều 84, 85) Ngoài ra, Điều 83 Luật Cạnh tranhcũng quy định rõ ràng những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thành viên Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh, điều tra viên, thư ký phiên điều trần, người giám định,
người phiên dịch như sau:
- Là người thân thích với bên khiếu nại hoặc bên bị điều tra;
- Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc cạnh tranh;
- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ không vô tư khi làm nhiệm vụ
Nguyên tắc này một mặt đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong tố tụng,
một mặt đảm bảo những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng sẽ là nhữngngười vô tư nhất để quá trình tố tụng được diễn ra trung thực, khách quan
đ Nguyên tắc thành viên Hội đồng xử lý độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Qua tổng kết nguyên lý hoạt động của các cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh của cácnước trên thế giới, có thể rút ra mấy nguyên tắc sau đây:
- Phải được trao đầy đủ quyền hạn,
- Hoạt động phải đảm bảo tính tin cậy cao,
Trang 33- Phải đảm bảo việc hoạt động và ra quyết định một cách độc lập,
- Phải đảm bảo tính minh bạch trong thực thi nhiệm vụ
Để đảm bảo cho Hội đồng cạnh tranh hoạt động và quyết định một cách độc lập,
khoản 1 Điều 80 đã quy định “Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việccạnh tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”
Nguyên tắc này được hiểu là các thành viên của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranhkhông thể cho bất cứ ai vì bất cứ lý do gì chi phối mà xử lý không đúng pháp luật Khi xử
lý vụ việc cạnh tranh, thành viên Hội đồng xử lý không được chỉ dựa vào quyết định, kếtluận của Cơ quan Quản lý cạnh tranh mà phải tự mình nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụviệc, kết hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên điều trần để có kết luận riêngcủa mình đối với từng vấn đề e Nguyên tắc Hội đồng xử lý tập thể204
Để đảm bảo cho việc xử lý được thận trọng, khách quan chống độc đoán, Khoản 2 Điều
80 Luật Cạnh tranh quy định “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh thông qua bằng cách biểu quyết theo đa số, trường hợp số phiếu ngangnhau thì quyết định theo phía có ý kiến của Chủ toạ phiên điều trần” Việc xử lý vụ việccạnh tranh tại Hội đồng sẽ được tiến hành cụ thể như sau:
Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh thành lập Hội đồng xử lý gồm ít nhất 5 thành viên, trong
đó có một thành viên làm Chủ tọa phiên điều trần, để giải quyết một vụ việc cụ thể Hội đồng xử lý sẽ tiến hành nghiên cứu hồ sơ, mở phiên điều trần và sau khi nghenhững người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận, Hội đồng xử lý sẽtiến hành thảo luận, bỏ phiếu kiến và quyết định theo đa số
g Nguyên tắc xử lý công khai
Khoản 1 Điều 104 Luật Cạnh tranh đã ghi nhận nguyên tắc này như sau: “Phiên điềutrần được tổ chức công khai Trường hợp nội dung điều trần có liên quan đến bí mật quốcgia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức kín”
Nguyên tắc xử lý công khai các vụ việc cạnh tranh góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân giám sáthoạt động của Hội đồng Cạnh tranh Mặt khác nguyên tắc này có tác dụng nâng cao tinhthần trách nhiệm của thành viên Hội đồng xử lý trước cộng đồng doanh nghiệp
h Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong tố tụng cạnh tranh Đây là một nguyên tắc rất đặc thù của tố tụng cạnh tranh Thông thường tố tụng
trước cơ quan tư pháp phải qua hai cấp xét xử Tố tụng cạnh tranh được thực hiện trước
cơ quan hành chính chỉ thực hiện một cấp điều trần và xử lý Tuy nhiên, vì quyết địnhcủa Hội đồng Cạnh tranh vẫn là quyết định của cơ quan hành chính nên vẫn thuộc phạmđiều chỉnh của Luật khiếu nại tố cáo, tức là các bên liên quan có quyền khiếu nại lên cơquan hành chính cấp trên trực tiếp Trong thời hạn luật định, Bộ trưởng Bộ Thương mại(là cấp trên trực tiếp của Cơ quan Quản lý cạnh tranh) hoặc Hội đồng Cạnh tranh (là cấptrên trực tiếp của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) sẽ chịu trách nhiệm giải quyết khiếunại của các bên liên quan Trường hợp các bên vẫn không nhất trí với quyết định giảiquyết khiếu nại, Luật Cạnh tranh quy định các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ ánhành chính ra Toà án nhân dân cấp tỉnh
2 Quy trình, thời hạn điều tra
Điều tra vụ việc cạnh tranh là một giai đoạn trong tố tụng cạnh tranh, theo đó, cơ quanquản lý cạnh tranh áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để xác định hành vi vi
Trang 34phạm pháp luật cạnh tranh và đối tượng thực hiện hành vi làm cơ sở cho việc xử lý củaHội đồng Cạnh tranh.
Điều tra vụ việc cạnh tranh được chia làm hai giai đoạn: điều tra sơ bộ và điều tra chínhthức
2.1 Điều tra sơ bộ
Điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành trong thời hạn 30 ngày theo quyết địnhcủa Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh trong những trường hợp sau đây:
- Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý;
- Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnhtranh
Thời hạn điều tra sơ bộ không phân biệt đó là vụ việc hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranhkhông lành mạnh Thời hạn này bao gồm cả việc phân công điều tra viên, hoàn thànhđiều tra sơ bộ và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý kết quả điều tra Nội dung của điều tra sơ bộ là phát hiện dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnhtranh làm cơ sở cho việc điều tra chính thức Trường hợp không phát hiện được dấu hiệu
vi phạm quy định của pháp luật canh tranh thì Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh raquyết định đình chỉ điều tra
2.2 Điều tra chính thức
Điều tra chính thức là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn điều tra sơ bộ sau khi điều traviên đã phát hiện ra dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh
Nội dung của điều tra chính thức bao gồm:
Điều 86 Luật Cạnh tranh
Điều 89 Luật Cạnh tranh.221
- Đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, nội dung điều tra bao gồm:
+ Xác minh thị trường liên quan;
+ Xác minh thị phần trên thị trường liên quan của bên bị điều tra;
2.3 Điều tra bổ sung
Điều tra bổ sung là giai đoạn sau khi kết thúc điều tra chính thức, Cơ quan quản lý cạnhtranh chuyển toàn bộ báo cáo và hồ sơ vụ việc đến Hội đồng cạnh tranh Tuy nhiên Hộiđồng xử lý thấy rằng hồ sơ chưa đủ cơ sở pháp lý để xử lý và yêu cầu Cơ quan Quản lýCạnh tranh phải điều tra bổ sung Trong trường hợp này, Cơ quan Quản lý cạnh tranh sẽ
có thêm 60 ngày để điều tra bổ sung
Trường hợp trong quá trình điều tra vụ việc cạnh tranh, điều tra viên phát hiện có dấuhiệu tội phạm thì phải kiến nghị ngay với Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển
hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Dấu hiệu tội phạm theo pháp luật Việt Nam bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính cólỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt Như vậy, trong quá trình điềutra một vụ việc cạnh tranh, nếu điều tra viên thấy vụ việc có đầy đủ cả bốn dấu hiệu trên
Trang 35đây thì cần làm các thủ tục cần thiết để chuyển hồ sơ đến các cơ quan như cơ quan điềutra của Bộ Công an, cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát.v.v để khởi tố vụ
án hình sự
Tuy nhiên, nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ trong trường hợp trên đây thấy không đủ căn cứ
để khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải trả lại hồ sơcho Cơ quan Quản lý Cạnh tranh để tiếp tục điều tra Trong trường hợp này, thời hạn điềutra chính thức được tính lại kể từ ngày nhận lại hồ sơ
3 Phiên điều trần
Mục 5 Chương V Luật Cạnh tranh đã giành 7 điều để quy định về phiên điều trần - mộtchế định đột phá trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Lần đầu tiên, pháp luật đã giaocho cơ quan hành chính Nhà nước thẩm quyền xử lý một vụ việc vi phạm pháp luật thôngqua phiên điều trần, trong đó các bên liên quan sẽ có cơ hội được trình bày quan điểm vàtrao đổi trực tiếp với các bên tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng khác
Điều 90 Luật Cạnh tranh
(210)
Điều 96 Luật Cạnh tranh
Về phạm vi các vụ việc cạnh tranh được xử lý qua phiên điều trần, Điều 98 đã quy địnhtất cả các vụ việc vi phạm pháp luật cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranhđều phải được xử lý thông qua phiên điều trần Nói một cách khác, các vụ việc vi phạmLuật Cạnh tranh liên quan đến các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị tríthống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh tế đều phải được xử
lý thông qua phiên điều trần
Ngay sau khi Hội đồng Cạnh tranh thụ lý hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng
sẽ thành lập Hội đồng xử lý vụ việc để trực tiếp giải quyết hồ sơ này Hội đồng xử lý này
sẽ có thời gian 30 ngày để nghiên cứu hồ sơ
Trường hợp nhận thấy các chứng cứ thu thập được chưa đủ để xác định hành vi vi phạmquy định của Luật Cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc sẽ trả hồ sơ để điều tra bổ sung Trường hợp xảy ra một trong ba sự kiện pháp lý sau đây, Hội đồng xử lý sẽ đình chỉ giảiquyết vụ việc cạnh tranh:
Thứ nhất, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị đình chỉ giải quyết vụ việccạnh tranh trong trường hợp không đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm quy địnhcủa Luật Cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xét thấy đề nghị đó là xácđáng;
Thứ hai, bên bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả gây
ra và bên khiếu nại tự nguyện rút đơn khiếu nại;
Thứ ba, bên bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả gây
ra và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị đình chỉ giải quyết vụ việc cạnhtranh
Trường hợp thấy có đủ cơ sở để mở phiên điều trần, Hội đồng xử lý phải ra quyết định
mở phiên điều trần
Phiên điều trần được tổ chức công khai Trường hợp nội dung điều trần có liên quan đến
bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức kín Sau khi nghenhững người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận, Hội đồng xử lý vụviệc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số
Như trên đã đề cập, lần đầu tiên, pháp luật đã giao cho cơ quan hành chính Nhà nước xử
lý một vụ việc vi phạm pháp luật thông qua phiên điều trần Theo hệ thống pháp luật hiện
Trang 36hành về xử lý vi phạm đến trước thời điểm có Luật Cạnh tranh, các hành vi vi phạm phápluật của Nhà nước chưa đến mức xử lý hình sự sẽ bị lập biên bản và xử phạt theo trình tự,thủ tục quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Trong trường hợp này, người viphạm không có nhiều cơ hội được trình bày quan điểm và trao đổi trực tiếp với cơ quanNhà nước có thẩm quyền Quyết định xử phạt trong nhiều trường hợp là quyết định hoàntoàn dựa trên phân tích một chiều vụ việc mà không có sự trao đi đổi lại.
Trong lĩnh vực cạnh tranh, Luật Cạnh tranh quy định trước khi ra quyết định xử lý vụviệc gây hạn chế cạnh tranh, Hội đồng xử lý phải tổ chức phiên điều trần với sự tham giacủa thành viên Hội đồng xử lý, thư ký phiên điều trần; điều tra viên đã điều tra vụ việccạnh tranh; bên bị điều tra; bên khiếu nại; luật sư và những người khác được ghi trongquyết định mở phiên điều trần Cơ chế này đã đảm bảo cho người vi phạm trong
lĩnh vực hạn chế cạnh tranh có cơ hội trao đổi lại các vấn đề có liên quan đến vụ việc hạn chế cạnh tranh, tránh việc áp đặt ý chí đơn phương của cơ quan Nhà nước trên cơ
sở áp dụng chưa thấu đáo pháp luật cạnh tranh
4.Giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Vì Quyết định của Cơ quan Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh làquyết định của cơ quan hành chính nên nếu các bên liên quan không nhất trí với một phầnhoặc toàn bộ nội dung của Quyết định thì có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấptrên trực tiếp Điều 107 Luật Cạnh tranh quy định:
“1 Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việccạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Hộiđồng Cạnh tranh
2 Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việccạnh tranh của Thủ trưởng Cơ quan Quản lý cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên
Bộ trưởng Bộ Thương mại.”
Hai quy định trên đảm bảo rằng những phần của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bịkhiếu nại thì chưa được đưa ra thi hành và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ khiếu nại, Hội đồng Cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộ Thương mại có trách nhiệmgiải quyết khiếu nại theo thẩm quyền; trường hợp đặc biệt phức tạp, thời hạn giải quyếtkhiếu nại có thể được gia hạn, nhưng không quá ba mươi ngày
Khi một quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, bao gồm cả Quyết định của Cơ quan quản
lý cạnh tranh và của Hội đồng Cạnh tranh, bị khiếu nại thì những nội dung bị khiếu nạichưa được đưa ra thi hành
Thời hạn để Bộ trưởng Bộ Thương mại và Hội đồng Cạnh tranh giải quyết khiếu nại tốithiểu là 30 ngày và tối đa là 60 ngày Như trên đã đề cập, Hội đồng xử lý là Hội đồng vụviệc, có ít nhất 5 thành viên trong tổng số 11 đến 15 thành viên của Hội đồng Cạnh tranh.Hội đồng xử lý là nơi quyết định trực tiếp với từng vụ việc Khi Quyết định của Hội đồng
xử lý bị khiếu nại thì toàn thể Hội đồng cạnh tranh có trách nhiệm xem xét, giải
quyết khiếu nại đó
Trường hợp vẫn không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với mộtphần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại ra Tòa án nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền
Ở đây, theo kinh nghiệm của các nước thì không phải Tòa án nào cũng có thể xem xétlại Quyết định của Cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh Cụ thể, ở Nhật phải là Toà án Điều 111 Luật Cạnh tranh
Trang 37Điều 115 Luật Cạnh tranh.
phúc thẩm Tokyo, ở Pháp phải là Toà phúc thẩm Paris, Luật Cạnh tranh Việt Nam quyđịnh việc xem lại Quyết định của Hội đồng Cạnh tranh là thẩm quyền của Toà án cấptỉnh Vấn đề này rất cần Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể để có thể hạn chếphạm vi các Tòa án cấp tỉnh có thể có thẩm quyền này Vấn đề hạn chế cạnh tranh là mộtvấn đề đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn sâu nên nếu tất cả các toà án cấp tỉnh đều cóquyền xem lại quyết định của Hội đồng Cạnh tranh thì rất dễ xảy ra tình trạng lẩn tránhpháp luật, ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành các quyết định của Hội đồng Cạnh tranh
5.Xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Các quy phạm về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh, đặc biệt là đối với các hành
vi vi phạm về hạn chế cạnh tranh cũng là một trong những điểm đột phá nữa của LuậtCạnh tranh
Từ trước tới nay, các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực đều được xử lý theocác khung phạt tiền đã được định trước Cách tiếp cận này có ưu điểm là dễ dàng áp dụngtrên thực tế Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng có nhược điểm lớn là khung phạt tiềnthường nhanh chóng lạc hậu theo thời gian nên trong nhiều trường hợp mức phạt tiềnkhông còn tác dụng răn đe đối tượng có hành vi vi phạm
Lần đầu tiên, Quốc hội đã cho phép áp dụng biện pháp phạt tiền theo tỉ lệ phần trăm trêndoanh thu của doanh nghiệp vi phạm trong Luật Cạnh tranh Cụ thể, Khoản 1 Điều 118Luật Cạnh tranh quy định “đối với hành vi vi phạm quy định về thoả thuận hạn chế cạnhtranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh
tế, cơ quan có thẩm quyền xử phạt có thể phạt tiền tối đa đến 10% tổng
doanh thu của tổ chức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi
vi phạm.”
Cách tiếp cận này đảm bảo rằng biện pháp xử lý của Nhà nước sẽ không bị lạc lậu theothời gian, công bằng trong việc áp dụng Quan trọng hơn, việc Quốc hội quy định mứctrần phạt tiền là 10% sẽ đảm bảo tính răn đe cao đối với các hành vi vi phạm pháp luậtcạnh tranh, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật nói chung
Ngoài các hình thức phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, Luật Cạnh tranh còn quyđịnh các hình thức phạt bổ sung và khắc phục hậu quả sau đây:
- Các hình thức xử phạt bổ sung:
+ Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, chứngchỉ hành nghề;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh
- Các biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường;
Điều 117 Luật Cạnh tranh
+ Chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đãmua;
+ Cải chính công khai;
+ Loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinhdoanh;
+ Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi viphạm
Riêng đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh và các hành vikhác vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền xử phạt tiến hành
Trang 38phạt tiền theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc theo quy địnhcủa pháp luật có liên quan.
Là một đạo luật mang dáng dấp của Luật công, Luật Cạnh tranh sẽ không thể đi vàocuộc sống nếu không có đồng bộ các cơ quan thực thi và cưỡng chế thực thi Chính vìvậy, Luật Cạnh tranh đã dành một điều (Điều 121) để quy định về việc thi hành quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh Cụ thể, sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật, nếu bên phải thi hành không tự nguyện thihành, không khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Mục 7 Chương V Luật Cạnh tranh thìbên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền làm đơn yêu cầu cơ quanquản lý Nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranhthuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó Các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền có thể kể ra ở đây chính là Cơ quan Quản lý cạnh tranh, Cơ
quan đăng ký doanh nghiệp, Cơ quan đăng ký hợp đồng.v.v
Trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thihành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành tổchức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Thủ tục khiếu nại
Khi cho rằng lợi ích của mình bị ảnh hưởng bởi hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh,doanh nghiệp có thể khiếu nại lên Cục Quản lý cạnh tranh trong thời hạn hai năm kể từngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện Hồ sơ khiếunại cần bao gồm:
Đơn khiếu nại: gồm nội dung quy định tại Điều 45, Nghị định 116/2005/NĐ-CP
Chứng cứ chứng minh đơn khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp
Các thông tin khác mà bên khiếu nại xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ việc cạnhtranh
Thủ tục tố tụng cạnh tranh trong vụ việc hạn chế cạnh tranh được tiến hành bởi Cục Quản
lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh Trong đó, bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập có nghĩa vụ phải đưa ra chứng cứ để chứng minh chokhiếu nại, trừ những trường hợp do Cục quản lý cạnh tranh phát hiện và tiến hành xử lý Quy trình xử lý vụ việc được chia làm ba giai đoạn chính là điều tra, xử lý và đưa ra phánquyết Chi tiết và thời hạn của từng giai đoạn được quy định tại Điều 46, 47 Nghị định116/2005/NĐ-CP và Điều 90 Luật Cạnh tranh Quy trình này được giản lược theo sơ đồsau đây:
Quy trình Tố tụng Cạnh tranh trong trường hợp cạnh tranh không lành mạnh
Trang 39Hồ sơ khiếu nại Cục QLCT phát hiện dấu hiện vi phạm
Cục Quản lý cạnh tranh
Điều tra sơ bộ
Khiếu kiện tòa án
Phán quyết của tóa án
Điều tra bổ sung
Đình chỉ việc giải quyết vụ việc
cạnh tranh
Yêu cầu xử lý lại
Quy trình Tố tụng Cạnh tranh trong trường hợp vụ việc hạn chế cạnh tranh
Trang 40* Bình luận về tính hiệu quả của tố tụng cạnh tranh ở nước ta hiện nay.
1 Tình hình thực hiện các quy định tố tụng cạnh tranh
- Từ khi Luật Cạnh tranh được ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004, công tác thực thicác quy định của Luật này được tiến hành mạnh mẽ với việc thành lập các cơ quantiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm Hội đồng cạnh tranh và Cục Quản lý cạnhtranh Luật Cạnh tranh đã trao cho các cơ quan này hai nhiệm vụ lớn: kiểm soát cáchành vi hạn chế cạnh tranh và kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Trong hai nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật, việc kiểm soát các hành
vi hạn chế cạnh tranh là nhiệm vụ có tính chất phức tạp nhất, đa ngành nghề, yêu cầunăng lực rất lớn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện song song cácđiều tra, phân tích kinh tế - kỹ thuật để xử lý phù hợp với các quy định của pháp luật Sau 5 năm thực thi các quy định của Luật Cạnh tranh, đã có hơn 40 vụ việc liênquan đến vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh bị điều tra, xử lý Trong sốcác vụ việc này, có 20 doanh nghiệp liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí độcquyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã bị điều tra, xửphạt