1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bồi dưỡng HS giỏi Toán 5

17 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề nêu trên, tôi nghĩ rằng phải đầu tư nhiều hơn cho việc bồi dưỡng cho các em về biện pháp học tập môn Toán, giúp các em có đủ khả năng hiểu được vấn đề một cách chắc chắn,

Trang 1

BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TỐN 5

Người viết : Đàm Lê Dũng

Giáo viên Trường Tiểu học 2 xã Tam Giang.

A - ĐẶT VẤN ĐỀ

rường Tiểu học 2 Tam Giang là một trường thuộc vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao nên đa số phụ huynh học sinh của trường còn lơ là, thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mình Từ đó chất lượng học tập của học sinh thường ở mức độ yếu, trung bình hoặc khá, để đạt được loại giỏi thật sự là rất hiếm

T

Được Ban giám hiệu nhà trường phân công bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều nhăm liền, tôi nhận thấy các em chỉ đạt được thành tích cao hơn so với các học sinh khác ở lớp học một chút Các em chưa thật sự nắm được vấn đề một cách vững chắc, thiếu sáng tạo, linh hoạt trong một số tình huống nhất định, chỉ biết vận dụng theo lối mòn sẵn có, cho nên sẽ khó đạt được thành tích tốt trong học tập

Từ những vấn đề nêu trên, tôi nghĩ rằng phải đầu tư nhiều hơn cho việc bồi dưỡng cho các em về biện pháp học tập môn Toán, giúp các em có đủ khả năng hiểu được vấn đề một cách chắc chắn, biết phân tích đề bài một cách rõ

ràng chính xác (phân tích), giải quyết vấn đề hợp lí để đi đến việc giải bài toán

(tổng hợp) đạt kết quả như mong muốn.

Để giải quyết những vấn đề nêu trên, tôi xin trình bày một số biện pháp của mình trong công tác bồi dưỡng học giỏi môn Toán 5, như sau :

B - NỘI DUNG, BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

I - EM LÀ AI ?

Với câu hỏi: “Em là ai ?”, tôi muốn tìm hiểu học sinh mình nó có khả

năng học tập cỡ nào, mức độ tiếp thu, tính sáng tạo, linh hoạt nó ra sao ? để từ đó tôi mới tìm ra cách hướng dẫn phù hợp với khả năng của các em

Việc tìm hiểu về các em không chỉ về mặt kiến thức mà phải còn tìm hiểu thêm khả năng tiếp thu của các em ở mức độ nào ? Các em có những thói quen tốt, thói quen chưa tốt nào ? Kể cả cách trình bày bài làm ra sao ?

Trang 2

Bước đầu, tôi cho các em làm những bài tập đơn giản như các em đã được tiếp xúc trong năm học lớp 4 Qua đó, có thể đánh giá được khả năng của các em

Biết được học sinh của mình, tuỳ theo từng em, tôi có cách nhắc nhở riêng với những điểm yếu cần khắc phục

II - QUÁ TRÌNH BỒI DƯỠNG :

1- Xây dựng nề nếp học tập :

Điều trước tiên tôi quan tâm đó là nề nếp học tập trên lớp Không phải chỉ nghiêng về trật tự lớp học mà tôi còn chú ý ở các em cách dùng sách, vở, thước, bút,… nói chung là dụng cụ học tập

Khi nào sử dụng vở để làm bài, khi nào dùng nháp, khi nào phải làm bài một cách độc lập, khi nào thì thảo luận nhóm Điều này, trong khoảng 2 đến 3 tuần đầu các em sẽ quen và hiểu được ý tôi muốn các em lúc nào phải làm gì

Có như thế, các em sẽ biết tập trung nghe giảng lúc nào ; biết khi nào phải làm bài ; khi nào cần phải thảo luận và phát biểu ý kiến đóng góp cùng các bạn hay cùng với thầy để xây dựng bài mới

2 - Nghiên cứu chương trình môn TOÁN ở các khối lớp ( ch ương trình mới ) :

Để hướng dẫn cho các em được tốt thì trước tiên, ta phải biết được các em đã học những gì và những gì chưa học Trong quá trình bồi dưỡng mình mới hướng các em đến những kiến thức có liên quan đến những điều đã học Tránh việc bắt các em phải làm những việc mà các em chưa biết đến bao giờ

Cho nên việc nghiên cứu chương trình ở các lớp dưới giúp giáo viên bồi dưỡng hiểu được các em đã học được những gì, và những gì chưa học Từ đó, có kế hoạch bồi dưỡng một cách hợp lý

3 - Nghiên cứu Sách giáo khoa và nhiều tài liệu khác để soạn riêng tài

liệu bồi dưỡng thích hợp :

Để soạn tài liệu bồi dưỡng cho các em, trước tiên tôi nghiên cứu ở Sách giáo khoa (lớp 4 - lớp 5) về các dạng bài tập và cũng tự suy nghĩ về yêu cầu hệ thống các mảng kiến thức trong từng chương, từng nhóm bài được trình bày qua các dạng bài luyện tập trong sách giáo khoa

Ngoài ra, bản thân còn tham khảo thêm nhiều tài liệu khác, cũng như những đề thi học sinh Giỏi của những năm trước đây Với những tài liệu tham khảo này, tôi phải chọn lọc những bài tập thích hợp với các em Không phải chọn những bài tập quá khó, vì với những bài tập quá khó không giúp ích gì được cho các em, mà trái lại làm cho các em ngán ngại thêm hơn

Tôi soạn tài liệu để bồi dưỡng cho các em, theo phương châm : “Biết đến

Trang 3

đâu học đến đấy Học đến đâu hiểu đến đấy”, không thể bắt ép các em dồn vào

đầu óc mình những điều mà mình không hiểu được gì cả Thà rằng chậm, từng bước tạo cho các em có được những hành trang kiến thức thật sự của mình và biết được trong gói hành trang đó có được những gì, nắm được tác dụng của từng loại hành trang có được Tôi nghĩ như thế nên những kiến thức các em có được sẽ luôn ở bên mình trong suốt cuộc hành trình vươn tới tương lai

4 – Nghiên c ứu tập đề thi học sinh giỏi vịng tỉnh qua các năm học :

Thơng qua các bạn đồng nghiệp, tơi sưu tầm tất cả các đề thi học sinh giỏi

tỉnh Cà Mau từ năm học 1996 – 1997 cho đến nay để nghiên cứu về cấu trúc đề thi, các kiến thức trọng tâm thường cĩ, … lấy đĩ làm cơ sở ơn luyện cho các em Tuy nhiên, trong quá trình bồi dưỡng, tơi chú ý nhiều đến các dạng tốn cơ bản và lược bớt những bài tốn quá khĩ hoặc khơng phù hợp với đối tượng học sinh của mình

5 - Xây dựng cho các em các bước để giải một bài toán :

Trước khi đi vào giải bài tập toán, tôi tập cho các em có được thói quen thực hiện theo từng bước cụ thể để tìm hiểu đề bài thật chính xác rồi giải bài tập một cách có hiệu quả

Tôi yêu cầu các em phải thực hiện qua các bước như sau :

 Đọc kĩ đề bài (2 – 3 lần)

- Tìm xem đề bài cho biết gì ? Chúng có quan hệ với nhau như thế nào ?

- Bài toán hỏi gì ? (Quan trọng)

 Phân tích đề bài để tìm cách giải

- Dựa vào câu hỏi của bài toán, đi tìm những điều cần thiết để tính

- Căn cứ vào những điều đã cho để tìm cách giải

- Dự đoán bài toán thuộc dạng bài toán gì đã học ?

 Tóm tắt đề toán (nếu cần)

Ở bước này, nếu thuộc những dạng toán điển hình (tìm 2 số khi biết : Tổng và Tỉ, Hiệu và Tỉ, Tổng và Hiệu) khi xác định được đầy đủ 2 yếu tố thì bắt buộc các em phải biết tóm tắt đề bài bằng sơ đồ đoạn thẳng Còn thuộc những dạng khác, tùy từng bài, nếu có thấy cần thiết phải tóm tắt thì tóm tắt hoặc những bài hình học, khi cần thiết phải biết vẽ hình cho rõ ràng chính xác để những dữ kiện có liên quan được thể hiện một cách rõ hơn thì phải vẽ hình

Trang 4

Bước này tập cho các em rèn tính cẩn thận khi làm bài Sau khi tìm hiểu đề bài và đã thấy được hướng giải bài tập, các em liền ghi suy nghĩ của mình ra nháp, kể cả việc thực hiện các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) và xem lại thật chính xác trước khi ghi vào bài giải chính thức

 Trình bày bài giải

Việc trình bày bài làm tuy các em đã được các thầy cô chủ nhiệm đã hướng dẫn ở từng năm một trong quá trình học tập nhưng mỗi em có một tính nết riêng Có em kĩ lưỡng, có em cẩu thả, có em thì quá tiết kiệm giấy,… nên mỗi em có thể có một biểu hiện riêng trong cách trình bày bài làm của mình

Qua quá trình bồi dưỡng, tôi thường theo dõi cách trình bày của các em để có hướng nhắc nhở, giúp các em khắc phục được những hạn chế mà thể hiện bài làm một cách rõ ràng, sạch sẽ, đúng quy định

Tuy là môn Toán nhưng tôi vẫn luôn để ý và sửa chữa các em về những lỗi chính tả thường gặp khi trình bày bài giải một bài toán

 Kiểm tra kết quả

Tôi nghĩ, đây là một bước rất cần thiết để các em tự kiểm tra và đánh giá lại kết quả bài làm của mình

Với các em, bước kiểm tra kết quả bài làm, thường thì các em ít quan tâm đến Cho nên việc làm bài sai mà không hay, không biết là chuyện thường gặp

ở các em Qua nhận định này, tôi luôn xây dựng cho các em một thói quen không thể thiếu là biết kiểm tra lại kết quả khi đã giải xong bài tập ; đặc biệt là đối với các phép tính cộng, trừ, nhân, chia ; các bài tốn về tìm thành phần chưa biết của phép tính,… giúp các em xác định được bước đầu kết quả bài giải của mình có đúng hay chưa ? Khi cần thiết, các em biết kiểm tra lại quá trình giải bài của mình, để chỉnh sửa lại cho chính xác, phù hợp với yêu cầu bài toán

6 - Ôn tập các kiến thức cơ bản :

Như tôi đã nói ở phần trên (soạn tài tiệu để dạy), để bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho các em, điều trước tiên tôi cho rằng : Các em phải nắm được những kiến thức cơ bản đã học

Thật ra, có một số em vào học bồi dưỡng mà kiến thức cơ bản, thậm chí tôi cho là sơ đẳng các em còn không nhớ được Ở đây tôi nói là không nhớ, chứ không phải là không biết Ví dụ như : Tìm thành phần chưa biết của phép tính (tìm X), nêu quy tắc tìm số Trung bình cộng của nhiều số, … các em cũng không phát biểu được Có em hiểu được vấn đề nhưng nói chẳng thành câu !!

Cho nên, trong thời gian các em học ở những tuần đầu, tôi cố gắng tái hiện lại cho các em những điều gì đã học được ở lớp 4 Có thể nói giống như dạy lại những bài luyện tập ở lớp 4, cho đến khi các em nhớ lại chính xác vấn đề, tôi lại có một số bài tập nâng dần một cách nhẹ nhàng, đủ sức để các em hiểu được vấn

Trang 5

đề một cách mạch lạc, vững chắc.

Ví dụ : Ôn tập về phép nhân Các em có hiểu phép nhân chính là phép cộng các số hạng bằng nhau không ? Trên cơ sở này, tôi cho các em thực hiện phép so sánh giá trị 3 biểu thức như :

* (6 +6+6+6+6) + (6+6+6) + (6+6)

* 6 × 5 + 6 × 3 + 6 × 2

* 6 × (5 + 3 + 2)

Từ đó, các em sẽ hiểu phép cộng các số hạng bằng nhau chính là phép nhân và hướng các em đến dạng bài tập một số nhân với một tổng (hiệu)

Về đo lường cũng thế, các em chỉ biết cơ bản mối quan hệ giữa các đơn

vị đo một cách máy móc, chưa hiểu được một cách tường tận về bản chất của từng đơn vị đo cụ thể, trường hợp này tôi thường cho các em tham gia thực tế qua những giáo cụ trực quan hay qua những tiết thực hành ở lớp, ở ngoài trời, …

7 - Cung cấp cho các em nhiều dạng bài tập :

Ngoài việc tái hiện cho các em các kiến thức cơ bản đã được học ở lớp 4 và đồng hành cùng các em với chương trình lớp 5 đang học ở lớp Tôi mở rộng thêm nhiều dạng bài tập khác để các em được làm quen

Ngoài những dạng toán điển hình, tôi còn tham khảo, nghiên cứu và suy nghĩ thêm nhiều dạng đề bài khác và từng loại bài tôi nâng dần vừa sức với các

em

Chẳng hạn, về số tự nhiên, tôi hướng dẫn các em rõ thêm về cấu tạo thập

phân của số (phân tích số thành tổng tròn trăm, tròn chục và đơn vị), biết thành lập số bằng những chữ số cho trước (Viết số có 3 chữ số khác nhau với các chữ

số 1 ; 2 ; 3 hay Với 3 chữ số 0 ; 1 ; 2 em hãy viết các số có 3 chữ số khác nhau

…v…v…) Dạng khác, khi ta thêm vào bên phải một số tự nhiên, 1 - 2 chữ số nào đó thì số tự nhiên đó nó sẽ thay đổi như thế nào ? Hay khi thêm vào bên trái số tự nhiên có 2 chữ số một chữ số nào đó thì số tự nhiên đó biến đổi ra sao ? Hoặc dạng bài tìm số tự nhiên cho trước khi biết một số dữ kiện của nĩ …

Ví dụ 1 :

Tích của hai số là 5037 Nếu giảm thừa số thứ hai đi 7 đơn vị thì tích giảm

Với bài tốn này, tơi hướng dẫn học sinh suy luận như sau : Khi giảm thừa số thứ

hai đi 7 đơn vị thì tích của chúng sẽ giảm đi 7 lần thừa số thứ nhất Theo bài ra, tích giảm

đi 483 đơn vị ; do đĩ thừa số thứ nhất sẽ là : 483 : 7 = 69.

Vậy, thừa số thứ hai là : 5037 : 69 = 73.

Đáp số : Hai số cần tìm là 69 và

73.

Ví dụ 2 :

Trang 6

Tích của hai số là 945 Nếu thêm 5 đơn vị vào thừa số thứ hai thì tích mới là

Bài giải Khi thêm vào thừa số thứ hai 5 đơn vị thì tích mới sẽ tăng lên 5 lần thừa số thứ nhất Theo bài ra, tích mới lớn hơn tích cũ là : 1170 - 945 = 225.

Vậy, thừa số thứ nhất sẽ là : 225 : 5 = 45.

Thừa số thứ hai là : 945 : 45 = 21.

Đáp số : Hai số cần tìm là 45 và

21.

Ví dụ 3 :

Tìm số tự nhiên cĩ hai chữ số, biết rằng khi bỏ đi chữ số hàng đơn vị thì số

Bài giải Giả sử số tự nhiên cĩ hai chữ số cần tìm là ab

(a, b là số tự nhiên và 0< a <10 ; 0 ≤ b <10).

Phân tích cấu tạo số ta được :

ab = a x 10 + b

Theo bài ra, khi xĩa bỏ chữ số hàng đơn vị thì số đĩ giảm đi 14 lần, nghĩa là số đĩ

sẽ gấp chữ số hàng chục 14 lần Tức là ta cĩ :

ab = a x 14

Do vậy, ta sẽ cĩ : a x 10 + b = a x 14 (Vì đều bằng ab).

Hay : b = a x 4 (Hai tổng bằng nhau đều bớt đi a × 10 đơn vị) Nhận xét rằng : a chỉ cĩ thể là 1 hoặc 2 ; vì a > 0 và nếu a = 3 thì 3 x 4 = 12 >10

Khơng được.

Ta xét hai trường hợp sau :

- Với a = 1 thì b = 1 x 4 = 4 Số cần tìm là 14 Thử lại : 14 = 1 x 14 Đúng.

- Với a = 2 thì b = 2 x 4 = 8 Số cần tìm là 28 Thử lại : 28 = 2 x 14 Đúng.

Vậy, bài tốn cĩ hai đáp số : Số cần tìm là 14 hoặc 28.

Để nâng dần mức độ từ dễ đến khó, tôi xin điển hình về dạng bài tính nhanh, như sau :

* Đối với biểu thức có nhiều phép cộng, các em chú ý đến tổng các cặp số tròn chục, tròn trăm :

24 + 47 + 76 + 53 = (24 + 76) + (47 + 53) = 100 + 100 = 200

* Biểu thức có cả cộng lẫn trừ, ta hiểu theo ý nghĩa : cộng là thêm vào, trừ là bớt ra, để chúng ta có thể sắp xếp một cách hợp lí

799 + 435 - 299 - 335 = (799 - 299) + (435 - 335) = 500 + 100 = 600

Hoặc :

11 – 12 + 13 – 14 + 15 = 11 + (15 -14) + (13 - 12) = 11 + 1 + 1 = 13

* Biểu thức toàn là phép nhân, chú ý những cặp số có tích tròn chục, tròn trăm, tròn nghìn Cung cấp cho các em những cặp số, như : 2 × 5=10 ; 50× 2=100; 20×5=100 ; 25×4=100 ; 125×8=1000 Ngoài ra, các em cần chú ý thêm nếu chỉ

cần có 01 thừa số bằng 0 thì tích sẽ bằng 0, …

Trang 7

Ví dụ:

125 × 4 × 8 × 25 = (125 × 8) × (25 × 4) = 1000 × 100 = 100 000

hay nâng thêm mức độ khó hơn, yêu cầu các em biết phân tích một thừa số thành 2 thừa số thích hợp, như bài :

25 × 50 × 8 = 25 × 50 × 4 × 2 = (25 × 4) × ( 50 × 2) = 100 × 100 = 10000

* Biểu thức là một phép chia, có số bị chia và số chia phức tạp Các em lưu ý 2 trường hợp sau :

- Nếu số bị chia bằng 0 thì thương sẽ bằng 0

(218 × 2 - 436) : (2345 × 5 × 103) = (436 - 436) : (2345 × 5 × 103) = 0 : (2345 × 5 × 103) = 0

- Nếu số bị chia bằng số chia thì thương bằng 1

(18 × 4 + 6) : (18 × 5 – 12) = (18 × 4 + 6) : (18 × 4 + 18 -12) = (18 × 4 + 6) : (18 × 4 + 6) = 1

* Biểu thức gồm tính nhân và tính cộng Chẳng hạn :

Tính giá trị của biểu thức sau : 58 x 36 + 42 x 48 + 25 x 58 + 13 x 42

Với học sinh khá, giỏi thì bài này phải tính theo cách tính thuận tiện nhất chứ khơng đơn thuần là thứ tự thực hiện phép tính Để làm được như vậy, các em

phải ghi nhớ các tính chất “Một số nhân với một tổng” hay “Một tổng nhân với

một số” ; tính chất giao hốn của phép cộng và phép nhân

Bài giải

Ta thực hiện như sau :

58 x 36 + 42 x 48 + 25 x 58 + 13 x 42

= 58 x 36 + 25 x 58 + 42 x 48 + 13 x 42 (Tính chất giao hốn của phép cộng).

= 58 x 36 + 58 x 25 + 42 x 48 + 42 x 13 (Tính chất giao hốn của phép nhân) = 58 x (36 + 25) + 42 x (48 + 13) (Tính chất nhân một số với một tổng).

= 58 x 61 + 42 x 61 (Thứ tự thực hiện các phép tính).

= (58 + 42) x 61 (Tính chất nhân một tổng với một số).

= 100 x 61 (Thứ tự thực hiện các phép tính).

= 6100.

* Cách tính tổng dãy số cách đều

- Tơi hướng dẫn các em thành lập (nhĩm) lại các số cho ra cùng kết

quả Chẳng hạn như :

1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 = (1 + 9) + (2 + 8) + (3 + 7) + (4 + 6) + 5 = 10 + 10 + 10 + 10 + 5 = 45

Ngoài ra, tôi còn soạn thêm cho các em một số dạng bài tập ít gặp trong chương trình Sách giáo khoa, có nội dung yêu cầu các em biết suy luận một cách logic để giải nhằm phát triển tư duy cho các em trong giải toán Chẳng hạn như :

Tìm 3 số có tích là 3600 Biết tích của số thứ nhất và số thứ hai là 240 và tích của số thứ hai và số thứ ba là 180.

Trang 8

Ở bài này các em biết lấy tích chung chia cho tích của số thứ nhất và số

thứ hai để tìm được số thứ ba (3600 : 240 = 15), dần các em sẽ tìm được các số

còn lại Bài này có nhiều cách để các em thực hiện

Hoặc với bài tốn : “Tìm tất cả những số cĩ hai chữ số, khi chia cho 2 thì dư

25/12/1996).

Tơi gợi ý để các em suy luận rằng : số đĩ khi cộng với 1 thì chia hết cho

đồng thời cả 2, 3 và 5 ; tức là chia hết cho 30 (2 × 3 × 5 = 30) Từ đĩ, các em tìm được các số chia hết cho 30 là 30, 60, 90, 120, … Vì số đĩ cĩ hai chữ số nên khi cộng với 1 cũng cho ra số cĩ hai chữ số (ngoại trừ số 99) ; do đĩ chỉ cĩ các kết quả

30, 60, 90 là thích hợp Cuối cùng, các em chỉ việc lấy mỗi kết quả đĩ trừ cho 1 là được đáp số của bài tốn Vậy bài tốn cĩ 3 đáp số là : 29, 59, 89.

Hoặc:

Trong lọ có 4 viên bi màu xanh và 7 viên bi màu đỏ Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi để có đủ cả hai màu xanh và đỏ ?

Bài này hơi khó, ít gặp không yêu cầu các em phải giải bài trọn vẹn chỉ cho các em trong thảo luận nhóm để nêu ra được kết quả và giải thích bằng văn miệng là phải lấy ít nhất là 8 viên bi Các em có tranh luận để đưa ra đúng kết quả, như thế đã kích thích để phát triển tư duy ở các em …

8 - Xây dựng quy trình giải toán :

Với những bài toán điển hình hay những bài toán giải có lời văn cũng vậy Tôi thường xây dựng cho các em một quy trình giải toán cho từng loại, nếu có thể được Tôi xin điển hình một vài trường hợp như sau :

* Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng”, tôi đưa ra cho

các em quy trình giải dạng bài tập này như sau :

- Xác định tổng và hiệu của chúng.

- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.

Ở dạng bài này tôi không yêu cầu các em sử dụng quy tắc tính như đã học trên lớp (Số bé = (Tổng - Hiệu) : 2), vì nếu dạng bài toán có thể nâng lên

tìm 3 số khi biết Tổng và Hiệu thì các em sẽ gặp khó khăn (Ví dụ : Tìm 3 số lẻ

liên tiếp có tổng là 93.) Nếu gặp những trường hợp tương tự như ví dụ này, các

em biết lấy số nhỏ nhất làm chuẩn, sau đó đi tìm hiệu của 2 số lớn và số bé Khi có được, các em sẽ biết đi tìm 3 lần số bé, như thế bài toán sẽ được giải quyết

Các em có thể giải như sau :

Hai số lẻ liên tiếp nhau chúng hơn kém nhau 2 đơn vị.

Ta có sơ đồ:

Trang 9

Số thứ nhất : Số thứ hai : Số thứ ba : Số thứ ba lớn hơn số thứ nhất là : 2 + 2 = 4

Ba lần số thứ nhất là: 93 - (2 + 4) = 87

Đáp số : 29 ; 31 và 33.

Hoặc với bài tốn :

“Một tủ sách cĩ ba ngăn chứa tất cả 200 quyển sách Ngăn thứ nhất chứa

nhiều hơn ngăn thứ hai 12 quyển Nếu chuyển 4 quyển từ ngăn thứ hai xuống ngăn thứ ba thì ngăn thứ ba sẽ chiếm 2/5 tổng số sách Tìm số sách trong mỗi ngăn lúc

Bài giải

Theo bài ra : Khi chuyển 4 quyển từ ngăn thứ hai xuống ngăn thứ ba thì ngăn thứ

ba sẽ chiếm 2/5 tổng số sách Như vậy, số sách trong ngăn thứ ba sau khi đã chuyển từ ngăn thứ hai xuống là :

200 : 5 × 2 = 80 (quyển).

Số sách lúc đầu cĩ trong ngăn thứ ba là :

80 – 4 = 76 (quyển).

Tổng số sách trong ngăn thứ nhất và ngăn thứ hai lúc đầu là :

200 – 76 = 124 (quyển).

Theo bài ra, ta cĩ sơ đồ sau :

Ngăn thứ nhất : 12 quyển

Ngăn thứ hai : 124 quyển

Theo sơ đồ trên, ta cĩ :

Số sách cĩ lúc đầu trong ngăn thứ nhất là :

(124 + 12) : 2 = 68 (quyển).

Số sách cĩ lúc đầu trong ngăn thứ hai là :

(124 – 12) : 2 = 56 (quyển).

* Thử lại : Tổng số sách ba ngăn lúc đầu : 68 + 56 + 76 = 200 (quyển) (Đúng).

Đáp số : Ngăn thứ nhất : 68 quyển.

Ngăn thứ hai : 56 quyển.

Ngăn thứ ba : 76 quyển.

* Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng”.

- Xác định tổng và tỉ của chúng.

Với những dạng bài toán này, thường thì tổng, tỉ, hiệu ít khi được nêu rõ ở đề bài, cho nên việc xác định được chúng là điều cần thiết để đi vào giải bài toán quen thuộc

- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.

- Tìm tổng số phần bằng nhau.

93 2

2

Trang 10

- Tìm giá trị một phần bằng nhau, (Nếu trường hợp số bé là 1 phần thì bước này chính là tìm số bé)

- Tìm số bé.

- Tìm số lớn.

Ví dụ 1 :

Tìm 2 số tự nhiên có tổng là 132 Biết rằng khi thêm vào bên phải số bé một chữ số 0 thì được số lớn.

Như bài này, đề bài đã cho biết tổng của chúng là 132, yêu cầu các em

biết xác định được tỉ số của chúng Khi ta thêm vào bên phải của số tự nhiên

một chữ số 0 thì ta được số mới gấp 10 lần số cũ Đến đây các em đã xác định

được tỉ số của chúng để giải bài một dạng quen thuộc

* Một số dạng bài toán khác :

Ví dụ 1 :

Tìm một số Biết rằng lấy số đó nhân với 63 rồi trừ đi 11963, được bao nhiêu nhân với 4 rồi cộng với 8756 thì được 11304.

HD:

Ví dụ 2 :

Cháu gái hỏi Bà: “Bà ơi, năm nay, Bà bao nhiêu tuổi ?” Bà trả lời : “1/6 tuổi của bà trừ đi 6 thì sẽ được 6.” Hỏi Bà bao nhiêu tuổi ?

(Bài toán cổ)

HD:

Hướng dẫn cho các em quy trình giải bài tập này là:

- Lập sơ đồ.

- Tính ngược về số cần tìm.

Ví dụ 3 :

An làm một phép chia, sau đĩ An đem số bị chia chia cho hai lần số chia thì được thương là 7,25 Nếu đem số bị chia chia cho hai lần số thương thì được 18

Ở bài tốn này, tơi gợi ý để các em tự suy luận : Khi đem số bị chia chia cho hai

lần số chia thì được thương là 7,25 Vậy nếu khơng chia cho hai lần số chia thì thương sẽ như thế nào ? Cĩ thể, mới đầu học sinh cịn hơi khĩ hiểu, song khi giáo viên gợi mở thì học sinh sẽ trả lời được là thương đĩ sẽ tăng lên 2 lần Từ đĩ, các em sẽ tìm được thương của phép chia ban đầu là : 7,25 x 2 = 14,5.

- 8756 : 4

+ 11963 : 63

+ 6 6

Ngày đăng: 16/02/2015, 05:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w