1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài ngiệp vụ đại học mâm non

55 411 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cùng với toán học nói chung thì việc cho trẻ làm quen với kích thước đóng vai trò quan trọng với sự phát triển trí tuệ, phát triển nhân cách của trẻ mầm non và chuẩn bị cho thấy rằng: vi

Trang 1

PHỤ LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU:

I Lý do chọn đề tài

II Mục đích nghiên cứu

III Khách thể và đối tượng nghiên cứu

IV Giả thuyết nghiên cứu

V Mục đích nghiên cứu

VI Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

2 Phương pháp thực tiễn

B PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI.

I Một số khái niệm cơ bản:

1 Khái niệm về biểu tượng và …

2 Khái niệm về kích thước và …

II Cơ sở lý luận

1 Đặc điểm phát triển các quá trình nhận thức…

2 Đặc điểm phát triển biểu tượng về…

III Cơ sở thực tiễn

1.Thực trạng của chương trình hình thành

2.Thực trạng nhận thức của giáo viên

3.Thực trạng nắm kiến thức biểu tượng

Trang 2

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN.

I Khái niệm về phương pháp dạy học – phương pháp dạy học mầm non

II Biện pháp dạy học

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

1 Vài nét về khách thể

2 Mục đích của thực nghiệm

3 Nội dung của thực nghiệm

4 Các thông số biểu hiện mức độ phát triển những biểu tượng kích thước ở trẻ mẫu giáo lớn

Trang 3

Chúng ta đang ở thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI với sự thay đổi cơ bản cơ cấu xã hội để tiếp thu một nền văn minh phát triển cao, đó là nền văn minh trí tuệ, trong đó con người đứng ở vị trí trung tâm Trong nền văn minh ấy trình độ khoa học phát triển cao cùng với sự bùng nổ thông tin, đòi hỏi con người phải có những phẩm chất nhân cách phù hợp, đặc biệt phải tích cực nhận thức để cải tạo thế giới, cải tạo chính mình Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là khâu quan trọng đặt nền mống cho sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ và cho trẻ bước vào học phổ thông

Việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non có một vai trò to lớn Dạy toán cho trẻ không nhằm đào tạo cho trẻ những nhà toán học, mà nhằm phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhậy, trí thông minh, sự phán đoán phân tích, so sánh tổng hợp Giúp trẻ có được những kiến thức

sơ đẳng về tập hợp con số, phép đếm, về kích thước hình dạng, khả năng định hướng không gian Đặc biệt hơn đối với trẻ 5 tuổi việc hình thành biểu tượng kích thước là một trong những nội dung quan trọng bổ xung vào hành trang cho trẻ khi bước vào tuổi học trò và góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ

Môn toán là môn học rất khô khan và cứng nhắc Các tiết học toán đặc biệt là tiết học hình thành các biểu tượng về kích thước thường lặp đi lặp lại nhiều lần các tiết học có nội dung giống nhau Cho nên nếu ta chỉ tập chung vào kiến thức dạy trẻ theo đúng các bước, nếu lặp đi lặp lại khi học trẻ thường rất nhanh chán sẽ không thu hút được sự chú ý của trẻ

Hiệu quả của việc hình thành các biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non, không chỉ phụ thuộc vào việc xây dựng hệ thống các biểu tượng toán học cần hình thành cho trẻ mà còn phụ thuộc vào phương pháp, biện pháp

tổ chức các hoạt động mà trọng tâm là các “tiết học toán” cho trẻ ở trường mầm non Làm thế nào để cho trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên không bị gò ép phù hợp với sự nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này là: “Học mà chơi, chơi mà học” Chính vì thế nên tôi mạnh

Trang 4

dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp hình thành biểu tượng kích

thước cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.

Để hoàn thành bài tập nghiên cứu này tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên, các thầy cô tham gia giảng dạy cho lớp MN 5C hệ ĐHTX của Long An Cùng các cô giáo, Ban giám hiệu và các bé trường Mẫu giáo Hoa Sen TX Kiến Tường Qua trang viết mở đầu tôi xin gửi đến các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy cho lớp MN 5C , đặc biệt là cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên lời cảm

ơn chân thành nhất Kính chúc cô cùng tất cả các thầy cô luôn mạnh khỏe

và thành công hơn nữa trên con đường sự nghiệp của mình

Kiến Tường, ngày 20 tháng 11 năm 2013

Người viếtDƯƠNG THỊ ANH HOA

Lớp MN 5C hệ ĐHTX - Long An

Trang 5

Những biểu tượng toán học sơ đẳng được hình thành ở trẻ em là kết quả của việc trẻ nắm những kiến thức qua các hoạt động khác nhau trong cuộc sống hàng ngày và là kết quả của việc dạy học có định hướng trên hệ thống các tiết học toán với trẻ Chính những kiến thức, kỹ năng toán học sơ đẳng mà trẻ nắm được là phương tiện để phát triển tư duy toán học cho trẻ

và góp phần thực hiện giáo dục toàn diện nhân cách trẻ

Trong quá trình dạy học cho trẻ ở trường mầm non chúng ta phát triển ở trẻ khả năng nhận biết thế giới xung quanh, khả năng phân tách các dấu hiệu, nhận biết các tính chất, các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, phát triển ở trẻ hứng thú quan sát, hình thành các thao tác trí tuệ, các biện pháp của hoạt động tư duy, qua đó tạo ra những điều kiện bên trong để dẫn dắt trẻ tới những hình thức mới của trí nhớ, của

tư duy và tưởng tượng

Trong quá trình hình thành các biểu tượng kích thước cho trẻ, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động

có mục đích học tập của trẻ Việc tổ chức dạy trẻ đúng lúc và phù hợp với đặc điểm, lứa tuổi cho trẻ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ cho trẻ mầm non Thông qua quá trình dạy học như vậy, trẻ sẽ nắm được những kiến thức sơ đẳng về về kích thước: dài hơn, ngắn hơn, cao hơn, thấp hơn… Các “tiết học toán” với trẻ còn có vai trò đặc biệt trong

sự phát triển hứng thú và những kỹ năng nhận biết cho trẻ Sự hứng thú của trẻ chính là thái độ tích cực với thế giới xung quanh của những hiện tượng

Có cố gắng vượt qua giới hạn của những điều đã biết Nó còn thể hiện ở sự

Trang 6

luôn cố gắng mở rộng sự hiểu biết và ứng dụng nó một cách sáng tạo vào những mục đích mang tính lý luận và thực hành Sự hứng thú của trẻ thể hiện ở sự thích thú tích cực nhận thức, thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ của nhà sư phạm trước tiên là tạo sự hứng thú cho trẻ để phát huy một cách cao nhất tính tích cực nhận thức cho trẻ.

Hình thành biểu tượng toán học cho trẻ và chuẩn bị cho trẻ học toán

ở trường phổ thông Có thể nói, xung quanh trẻ tồn tại một thế giới đồ vật muôn màu muôn vẻ với sự đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước,… kích thước là một trong những dấu hiệu đặc trưng của vật thể dựa vào kích thước của vật thể đó Mọi vật đo được theo 3 chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao

Cho trẻ làm quen với kích thước, vật thể có tác dụng phát triển ổn định của tri giác và kích thước vật thể của trẻ nhỏ Sự nhận biết kích thước được thực hiện với sự tham gia của tư duy và ngôn ngữ Tức là sự tri giác kích thước phụ thuộc vào kinh nghiệm thao tác thực tiễn với các vật thể và

sự phát triển của tri giác, sự tham gia của lời nói vào quá trình tư duy như:

so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát… vào trong quá trình tri giác

Chính vì vậy, hình thành biểu tượng về kích thước có ý nghĩa về nhiều mặt như phát triển tính ổn định, sự tri giác kích thước, hình thành kỹ xảo phân biệt kích thước như một tính chất của vật thể phát triển tư duy, ngôn ngữ, hình thành nhu cầu nhận biết… tạo cơ sở cho việc nắm vững kích thước như một khái niệm toán học sau này Đồng thời hình thành ở trẻ kiến thức đầy đủ về hiện thực xung quanh trẻ, giúp trẻ làm chủ cuộc sống của mình, là hành trang đầu tiên để trẻ bước vào kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại

2.Về mặt thực tiễn:

Toán học là môn học được áp dụng rộng rãi trong thực tế cuộc sống,

nó chính là chìa khóa vạn năng cho sự phát triển nhiều ngành khoa học cùng với toán học nói chung thì việc cho trẻ làm quen với kích thước đóng vai trò quan trọng với sự phát triển trí tuệ, phát triển nhân cách của trẻ mầm non và chuẩn bị cho thấy rằng: việc tổ chức hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ ở các trường mẫu giáo chưa thật đạt yêu cầu, giáo viên chưa biết sử dụng các phương pháp, biện pháp để dạy trẻ Trong quá trình dạy, giáo viên chỉ chú trọng tới việc trang bị các biện pháp của hoạt động

Trang 7

trí tuệ Việc dạy trẻ chỉ dừng lại ở sự bắt chước, nhiều giáo viên còn truyền đạt sai kiến thức cơ bản.

Do mâu thuẫn giữa yêu cầu của ngành học để nâng cao biểu tượng của kích thước cho trẻ Một bên là thực trạng sử dụng các biện pháp của giáo viên mầm non Để giải quyết vấn đề này tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:

“ Một số biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo

bé 5-6 tuổi” nhằm tìm những biện pháp dạy học phù hợp để nâng cao hiệu quả của quá trình này

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nhằm xây dựng một số biện pháp và cách sử dụng chúng vào quá

trình dạy học cho trẻ để nâng cao hiệu quả của quá trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo bé

III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

1./ Khách thể nghiên cứu:

Quá trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo

lớn 5-6 tuổi

2./ Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp dạy học nhằm hình thành biểu tượng kích thước

cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

IV./ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Mức độ nhận thức về biểu tượng kích thước còn thấp, chưa phong

phú nhưng mức độ này được nâng cao lên nếu ta xây dựng được một số biện pháp như: biện pháp sử dụng một số bài tập, hệ thống trò chơi học tập phù hợp với đặc điểm lứa tuổi trong quá trình hình thành biểu tượng về kích thước và phối hợp sử dụng chúng một cách hợp lí thì mức độ hình thành biệu tượng kích thước của trẻ mẫu giáo lớn sẽ đầy đủ và phong phú hơn

V./ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1 Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn của một số biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo

2 Nghiên cứu thực trạng của một số biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm một số biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo lớn đã xây dựng

Trang 8

VI./ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Đọc sách báo, tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Xây dựng lý luận cơ sở cho đề tài

- Định hướng cho đề tài nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

2.1 Phương pháp quan sát sư phạm:

Quan sát các hoạt động dạy kích thước cho trẻ tại trường mẫu giáo nhằm tìm hiểu thực trạng của việc dạy trẻ kích thước vật thể hiện nay

2.2 Phương pháp điều tra bằng An- két:

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng An-két với một số giáo viên trường và ngoài trường nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về vấn đề dạy trẻ mẫu giáo lớn với “Phương pháp hình thành biểu tượng về kích thước vật thể với hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn và yêu cầu giáo viên trả lời”

2.3 Trao đổi với giáo viên và trẻ.

2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

Chúng tôi khai thác và tổng kết một số kinh nghiệm của giáo viên liên quan đến đề tài

2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Nhằm kiểm nghiệm những phương pháp chúng tôi đã đưa là đúng Thực nghiệm được tiến hành với 40 trẻ

+ 20 trẻ làm thực nghiệm

+ 20 trẻ làm đối chứng

2.6 Phương pháp thống kê toán học:

3 Để thu nhập, đánh giá và so sánh giữa những nhóm trẻ làm thực nghiệm với nhóm trẻ làm đối chứng.

4 Để xử lí những thông tin thu thập được.

B PHẦN NỘI DUNG

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI.

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

1 Khái niệm về biểu tượng và biểu tượng về kích thước:

a/ Khái niệm về biểu tượng:

Biểu tượng là hình ảnh về khách thể đã được tri giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đấy được tái hiện và nhớ lại Như vậy, biểu tượng cũng có cảm giác và tri giác là hình ảnh “Chủ quan của thế giới khách quan” Nhưng khác với cảm giác, tri giác biểu tượng phản ánh khách thể một cách gián tiếp, là hình ảnh của hình ảnh Ngoài ra, bằng biểu tượng con người từ những biểu tượng cũ có thể sáng tạo ra những biểu tượng mới

Là sản phẩm của những tri giác cảm tính trước đó, biểu tượng có vai trò là khâu trung gian giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng Như vậy theo quan điểm triết học của Mác-Lênin thì cảm giác, tri giác và biểu tượng là hình thức khác nhau của giai đoạn này Song chỉ bằng trực quan sinh động, con người không thể nhận thức được bằng mối quan hệ bản chất

và các quy luật chi phối sự vận động phát triển của khách thể Để nắm bắt được bản chất và quy luật khách thể nhận thức phải chuyển sang giai đoạn cao hơn Đó là tư duy trừu tượng

Tóm lại: “Từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang nhận

thức cao hơn đó là biểu tượng”

b./ Biểu tượng về kích thước:

Biểu tượng về kích thước là hình ảnh kích thước của vật thể đã được tri giác ghi lại trong bộ óc của con người và do một tác động nào đấy tái hiện và nhớ lại

Biểu tượng về kích thước vật thể được hình thành trên cơ sở tác động tương hỗ của cùng một số giác quan, nhưng ở trẻ nhỏ thị giác và giác quan vận động đóng vai trò chính trong việc hình thành biểu tượng về kích thước ở trẻ mầm non

2 Khái niệm về kích thước và những tính chất cơ bản của kích thước sự đo lường.

a./ Khái niệm về kích thước.

Kích thước là một khái niệm cơ bản của toán học xuất hiện từ thời cổ đại và hoàn thiện trong quá trình rất dài Tìm hiểu về khái niệm kích thước chúng tôi cần có một số các khái niệm sau:

Trang 10

Kích thước là một trong những dấu hiệu đặc trưng của vật thể có thể

đo theo 3 chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao Tùy theo kích thước của vật mà người ta nói vật cao hay thấp, rộng hay hẹp, dài hay ngắn

b./ Những tính chất cơ bản của kích thước.

Tuy nhiên không phải kích thước nào cũng có thể so sánh trực tiếp được mà chúng ta thường so sánh kích thước của vật đó với những biểu tượng chung về kích thước của vật đã quen biết

/ Tính thay đổi.

Các thông số kích thước của vật thể như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, có thể tăng lên, giảm đi, có thể thay đổi được nhưng sự thay đổi này không dẫn đến sự thay đổi nội dung, tính chất của khách thể

Ví dụ: Ta có thể làm chiều cao của cái bàn thấp đi bằng cách cưa

ngắn 4 chân, nhưng nó vẫn là cái bàn

Hoặc chiều dài của một sợi dây có thể thay đổi nếu ta cắt ngắn đi hay nối dài ra, nhưng sợi dây vẫn là sợi dây

/ Tính tương đối:

Tính tương đối của kích thước nghĩa là cùng một vật thể nó có thể to hay nhỏ, dài hay ngắn, rộng hay hẹp Điều đó phụ thuộc vào các kích thước của vật thể mà nó so sánh với

Ví dụ: Một cái cốc khi nó đặt cạnh một cái cốc to thì nó là cái cốc bé

hơn, nhưng khi đặt cạnh một cái cốc bé hơn thì nó là cái cốc to hơn

Việc nắm chắc tính tương đối của kích thước có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mầm non Có được biểu tượng chính xác

Tóm lại: Tất cả những tính chất cơ bản của kích thước nói lên được

trẻ mầm non tự nhận biết được một cách cụ thể nhất qua các thao tác với vật thể đa dạng trong quá trình phân tích, so sánh, đối chiếu, chiều dài, chiều rộng, chiều cao của vật

Nhờ đó trẻ nhận ra kích thước đặc trưng của vật và có biểu tượng chính xác về kích thước

/ Sự đo lường :

Trang 11

Sự đo lường xuất hiện trong thực tế hoạt động của con người giống như xác định số lượng của tập hợp ban đầu của con người, so sánh với đối tượng có kích thước cùng dạng dẫn đến các biểu tượng dài hơn, ngắn hơn,

to hơn, nhỏ hơn, nhưng sự so sánh này chưa phải là sự đo lường trong các giai đoạn tiếp theo sự so sánh kích thước dần được hoàn thiện, xuất hiện tiêu chuẩn để đo Các tiêu chuẩn để đo đó gọi là đơn vị đo lường

Cùng với sự hiểu biết về số, chữ số và tính chất của chúng biết độ lớn của từng loại kích thước, tiêu chuẩn để viết rõ Tiêu chuẩn đó gọi là đơn vị đo lường

Mục đích của sự đo lường là biết kích thước vật Đó là kết quả của phép đo, kết quả được biểu thị bằng chữ số

Nhiệm vụ của đo lường cũng giống như nhiệm vụ của xác định số lượng của tập hợp các vật, là nguồn gốc nảy sinh chữ số Tuy nhiên khi đó chỉ sử dụng các số tự nhiên thì chưa đủ đo

Đo lường là hoạt động gồm có quá trình đo và kết quả đo Kết quả đo được xác định tùy thuộc vào đơn vị đo phù hợp Đồng thời khi thông báo kết quả đo phải ghi rõ tên, đơn vị đo

Ví dụ : Đo chiều dài băng giấy xanh.

- Nếu chọn đơn vị đo là que thì kết quả đo là 5

- Nếu chọn đơn vị đo là băng bìa đỏ thì kết quả đo là 6

Vì vậy thông báo kết quả đo chiều dài của băng giấy xanh sử dụng chiều dài của băng giấy xanh bằng 5 lần chiều dài que tính và bằng 6 lần chiều dài băng bìa đỏ

Hiện nay trẻ mẫu giáo có thể nắm được một vài dạng đo bằng các dụng cụ đo khác nhau, các dụng cụ này phụ thuộc vào đặc điểm của vật đó

Dạng 1: Trẻ sử dụng đơn vị đo là thước kẻ, que tính băng giấy, bước

chân… để đo chiều rộng, chiều dài, chiều cao của vật

Dạng 2: Trẻ đo các vật rắn bằng đơn vị đo như cốc, thìa, bát để đo số

lượng gạo, đỗ, đường, cát… trong túi, trong gói, trong hộp…

Dạng 3: Đo dung tích các vật thể lỏng để biết có bao nhiêu ca, cốc

nước trong bình, trong chậu…

Thông thường các lớp mẫu giáo trên tiết học các giáo viên dạy trẻ đo theo nhiều cách khác nhau thì trẻ được làm quen qua nhiều hoạt động khác (trong hoạt động góc, hoạt động ngoài trời)

3 Đặc điểm phát triển biểu tượng kích thước ở trường Mầm Non a./ Đặc điểm phát triển các quá trình nhận thức của trẻ mẫu giáo.

Trang 12

Đặc điểm nhận thức nổi bật của trẻ mẫu giáo chính là sự xuất hiện kiểu tư duy trực quan, sơ đồ và những yếu tố kiểu tư duy logic nhằm đáp ứng nhu cầu cần nhận thức đang phát triển mạnh mẽ.

Tư duy trực quan - sơ đồ là tư duy hình tượng được thực hiện với những hành động định hướng bên trong và các hình ảnh được sơ đồ hóa, là những hình ảnh phản ánh liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và các thuộc tính Những hình ảnh sơ đồ hóa có tính chất cụ thể trực quan và đã có sự khái quát về những sự vật chứ không phải từ sự vật riêng lẻ Thể hiện: Trẻ

dễ dàng, nhanh chóng các kiểu sơ đồ sử dụng có hiệu quả những sơ đồ đó

để tìm hiểu sự vật, bước đầu có khả năng sơ đồ hóa…

Sự hình thành tư duy trực quan - sơ đồ có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động nhận thức của trẻ Nó là cơ sở để trẻ lĩnh hội những tri thức khái quát

Tuy nhiên, đối với tư duy trực quan sơ đồ trẻ vẫn vấp phải những khó khăn khi gặp những bài toán đòi hỏi phải tách biệt những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ không thể hình dung trực quan dưới dạng hình tượng, muốn giải những bài toán này, trẻ cần chuyển từ những phán đoán, suy luận đến cơ sở các hình tượng, những phán đoán bằng kí hiệu, tức là chuyển sang tư duy logic hình tượng tư duy ngôn ngữ

Đối với trẻ mẫu giáo sự hình thành tư duy logic được thể hiện trong việc lĩnh hội các khái niệm

Các kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy rằng trẻ em mẫu giáo có thể lĩnh hội được một số khái niệm đơn giản trong điều kiện dạy dỗ phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi mẫu giáo, nhiều công trình nghiên cứu của P.J.Galeperin, D.B.EIKomin, V.V.Ddaarru Đốp, L.A.Venger… đã chứng minh rằng: Nếu đưa những phương tiện đặc biệt vào nội dung dạy học như

là các chuẩn về hình dạng, màu sắc, các thước đo, các mô hình, các sơ đồ khác nhau thì sẽ dẫn đến sự biến đổi có tính nguyên tắc của những giai đoạn phát triển trí tuệ mà người ta đã coi là những giai đoạn tuyệt đối và bất biến như trong kết luận của nhà tâm lý học J.Piaget (trẻ không thể hiểu được các phép tính thực sự về số học)

Những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng cho thấy điều này: Khi cho trẻ tự đong nước đổ vào hai bình có kích thước và hình dạng giống nhau, sau đó đổ nước từ một trong hai bình đó vào một bình khác hẹp và cao hơn Trong trường hợp này, tuy trẻ không thấy mức nước ở bình thứ 3 cao hơn nhưng trẻ vẫn nhận xét là nước ở trong bình mới vẫn bằng nước ở trong bình cũ Chứng tỏ nếu được học

Trang 13

theo phương pháp đặc biệt 5-6 tuổi có thể thực hiện những thao tác tư duy logic đơn giản.

Trẻ mẫu giáo ở giai đoạn này đang diễn ra một quá trình chuyển tiếp

từ chỗ trẻ chỉ biết những mẫu về sự việc cụ thể là kết quả sự khái quát hóa những kinh nghiệm cảm tính của bản thân sang sử dụng những chuẩn xác phổ biến chẳng hạn:

Chuẩn về hình dạng các hình học (hình tròn, hình vuông, hình tam giác, …) Về màu sắc là 7 màu quang phổ, trẻ em bắt đầu biết so sánh với thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xung quanh với các chuẩn đó

Theo P.J.Galeperin có thể hình thành một khái niệm khoa học cho trẻ theo các bước sau:

1 Thực hiện hành động vật chất với các đối tượng cần tìm hiểu

2 Thực hiện hành động với mô hình hay sơ đồ của đối tượng

3 Nói to lên về trình tự hay nội dung các hành động đã tiến hành.Qua các bước này, chúng ta có thể hình thành các khái niệm toán học ban đầu cho trẻ mẫu giáo

Tuy nhiên ý nghĩa của khái niệm mà trẻ mẫu giáo lĩnh hội được chưa đạt tới ý nghĩa của từng khái niệm đó mà người lớn do bị chi phối bởi tính hình tượng

Chính vì vậy, không nhất thiết phải thúc đẩy trẻ em chuyển sang tư duy logic, mà phải phát triển đồng thời hai hình thức tư duy Tư duy trực quan hình tượng mới mà tư duy logic Vì tư duy hình tượng rất cần cho mọi hoạt động sáng tạo Nó là thành phần của trực giác, nếu thiếu nó thì sẽ không thể đạt được một phát minh khoa học nào Còn nếu tư duy logic trừu tượng thì chỉ cần sử dụng ở mức cần thiết để giới thiệu và nói với trẻ một

số khái niệm mâu thuẫn khoa học đơn giản, cần thiết để giới thiệu và nói với trẻ một số khái niệm mâu thuẫn khoa học đơn giản, cần thiết cho việc làm quen với thế giới xung quanh

Tóm lại: Sự xuất hiện hình thức tư duy, trực quan- sơ đồ và những

yếu tố của tư duy logic là điều kiện hết sức thuận lợi để các nhà giáo dục xây dựng chương trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non theo hướng dạy học phát triển nhằm hình thành những biểu tượng toán học và bước đầu hình thành ở trẻ những khái niệm toán học cơ bản, tạo điều kiện cho trẻ sau này học tốt môn toán ở trường phổ thông

b./ Đặc điểm phát triển biểu tượng về kích thước của trẻ mầm non:

Trang 14

 Ngay từ nhỏ ở trẻ đã diễn ra sự tích lũy những kinh nghiệm tri giác và xác định kích thước các vật thể Những kinh nghiệm này dần dần được tích lũy trong quá trình trẻ thao tác với đồ vật, đồ chơi có kích thước khác nhau.

 Khi lên một tuổi sự tri giác của trẻ dần dần trở nên ổn định, trẻ càng lớn thì tính ổn định của sự tri giác kích thước càng trở nên bền vững

 Lên hai tuổi, tuy chưa nắm được ngôn ngữ tích cực nhưng trẻ đã

có những phản ứng trước kích thước khác nhau của các vật và cả mối liên

hệ kích thước giữa chúng Dấu hiệu kích thước thường được trẻ lĩnh hội gắn liền với vật cụ thể, quen thuộc với trẻ và đối với trẻ đó là dấu hiệu mang tính tuyệt đối Ví dụ: Trẻ luôn cho rằng chiếc ô tô của mình là to còn

ô tô của bạn là nhỏ mà không cần tới sự so sánh độ lớn giữa chúng

 Trẻ 3-4 tuổi rất khó khăn để nắm được tính tương đối của khái niệm kích thước Ví dụ: đặt trước mặt trẻ 3-4 tuổi vật giống nhau nhưng có

độ lớn tăng dần, trẻ thường thực hiện rất đúng nhiệm vụ chỉ vật to nhất và vật nhỏ nhất Tuy nhiên khi cô cất vật to nhất đi rồi lại yêu cầu trẻ chỉ vật

to nhất trong những số vật còn lại, thì trẻ trả lời “cô cất vật to nhất rồi” Hơn nữa trẻ thường không biết lựa chọn các vật có kích thước tương ứng với nhau

Ví dụ: Trẻ cố xỏ chân mình vào một chiếc tất chân của búp bê, hoặc

đội mũ của mẹ, xỏ dép của chị

 Sự tri giác kích thước ở trẻ ba tuổi còn thiếu tính phân định, trẻ thường chỉ định hướng tới độ lớn chung của vật mà không có sự phân tách từng chiều đo kích thước của vật Vì vậy khi yêu cầu trẻ mang ghế cao nhất cho cô trẻ thường mang ghế to nhất Tuy nhiên trẻ ba tuổi lại phân biệt đúng người lớn và trẻ em từ xa và thường thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, như: mang quả bóng to hay mang cái gậy dài

 Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã có những từ phản ánh sự phân biệt các chiều đo kích thước khác nhau Điều này chứng tỏ ở trẻ đã hình thành những biểu tượng kích thước và sự tri giác kích thước của trẻ nhỏ ngày càng ổn định

 Ở lứa tuổi này, trẻ có khả năng phân biệt kích thước của hai vật

có độ chênh lệch lớn

 Lên bốn tuổi, trẻ em đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài, chiều cao, chiều rộng của chúng một cách đúng hơn nếu sự khác biệt giữa các chiều đo đó là rõ rệt

Ví dụ: Trẻ dễ dàng xác định chiều cao của các vật khi chiều đo đó dài

hơn các chiều đo khác, nhưng trẻ khó nhận cao của các vật thấp Trẻ em thường phân biệt đúng các chiều đo cụ thể của vật khi trực tiếp so sánh sự khác biệt về chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của hai hay ba vật Phần lớn trẻ mắc lỗi khi so sánh chiều rộng của các vật, nhầm lẫn giữa chiều rộng và chiều dài

Trang 15

 Khi xác định từng chiều đo của vật, trẻ thường dùng đầu ngón tay sờ dọc theo chiều dài, chiều rộng của vật Các thao tác khảo sát này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ tri giác kích thước

và phân tích các chiều đo của vật một cách chính xác hơn

 Trong sự tri giác kích thước và diễn đạt các dấu hiệu khác nhau của kích thước vật thể, lời nói đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên sự tri giác thiếu phân định các chiều đo kích thước của vật ở trẻ nhỏ lại ảnh hưởng lớn tới sự diễn đạt kích thước bằng lời

Trẻ 3-4 tuổi thường sử dụng các từ to – nhỏ, to hơn – nhỏ hơn Phần lớn trẻ 4 tuổi không hiểu ý nghĩa của từ kích thước, nên khi hỏi trẻ về kích thước của vật nhiều trẻ trả lời màu sắc, số lượng của chúng Vì vậy khi cho trẻ làm quen với các chiều đo kích thước khác nhau, giáo viên cần chú ý sử dụng lời nói cách chính xác, mạch lạc như: “Hãy tìm cái nơ có chiều dài như thế này”, “Giơ băng giấy rộng như băng giấy của cô”, tránh tình trạng giao nhiệm vụ cách chung chung Việc sử dụng một cách tùy tiện lời nói của giáo viên là tiền đề cho trẻ nhỏ học cách diễn đạt thiếu chính xác

* Nhận xét:

Dạy cho trẻ 4-5 tuổi biết so sánh phân biệt của 2-3 vật theo chiều (dài – rộng – cao – bề dày) với độ chênh lệch nhỏ Dạy trẻ biết sử dụng đúng các từ chỉ mối quan hệ kích thước của 3 vật, theo chiều tăng giảm dần về kích thước

Phát triển khả năng so sánh ước lượng bằng mắt về kích thước của vật này so với vật khác

 Trẻ 5-6 tuổi:

Trang 16

 Trẻ có khả năng phân biệt 3 chiều kích thước (dài, rộng, cao) của vật.

 Trẻ có khả năng dùng thước đo để đánh giá kích thước của vật, hiểu được mối quan hệ phụ thuộc giữa “độ lớn” của thước đo với số

đo kích thước của vật: “độ lớn” của thước đo càng nhỏ thì số đo kích thước của vật càng lớn

* Nhận xét: Cần dạy cho trẻ phân biệt 3 chiều kích thước của vật

(dài – rộng – cao) Dạy trẻ 5-6 tuổi các thao tác đo lường đơn giản, cho trẻ nhận thấy mối quan hệ phụ thuộc giữa thước đo với số đo kích thước vật

Tóm lại: Trẻ mẫu giáo bé rất khó khăn khi phân biệt ba chiều đo

của vật, nhiều trẻ lĩnh hội từ cao, rộng đồng nghĩa với từ to Trẻ mẫu giáo nhỡ đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài hoặc chiều rộng nếu sự chênh lệch giữa hai chiều đo đó là lớn Nhờ tác động dạy học, trẻ mẫu giáo lớn thực hiện đúng nhiệm vụ phân tích đúng chiều dài, chiều rộng, chiều cao của vật

II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG

VỀ KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN (5-6 TUỔI).

a./ Vài nét về thực trạng dạy học nhằm hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mầm non:

Để tìm hiểu thực trạng dạy học nhằm hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ ở trường mầm non Tôi đã tiến hành khảo sát trên 30 giáo viên thuộc trường Mẫu giáo Hoa Sen TX Kiến Tường bằng phiếu điều tra kết hợp trò chuyện, quan sát hoạt động hằng ngày của trẻ mẫu giáo lớn và dưới đây là một vài nét về thực trạng dạy học nhẳm hình thành biểu tượng

về kích thước cho trẻ mẫu giáo lớn

./ Thực trạng của chương tình hình thành biểu tượng về kích thước của trẻ mẫu giáo:

Theo quy định của chương trình thì nội dung chương trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo Chỉ có 4 tiết dạy phép đo lường đơn giản, trong tiết học giáo viên rất chú ý tới việc truyền đạt kiến thức về

kỹ năng đo lường cho trẻ Vì vậy khá nhiều trẻ có kỹ năng đo lường tương đối tốt Tuy nhiên tiết học diễn ra khô cứng, hầu như cả tiết học trong trạng thái tĩnh Những đồ chơi học tập và bài tập đưa vào tiết học chưa có sự mới

lạ, sinh động và có ít sáng tạo Phần lớn giáo viên đều sử dụng hệ thống trò chơi Trong quá trình hình thành biểu tượng kích thước của trẻ những biện pháp này giáo viên chưa khai thác triệt để

Trang 17

Ngoài tiết học chính về kích thước ra, giáo viên vẫn còn ít lồng ghép nội dung kích thước vào trong hoạt động đó và nếu có thì vẫn còn mang tính chất phong trào.

./ Về thực trạng nhận thức của giáo viên.

Tất cả các ý kiến đều cho rằng việc hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mầm non có một vị trí quan trọng, không chỉ với việc hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng mà đối với cả cuộc sống của trẻ mầm non

Tuy nhiên, giáo viên khẳng định vai trò quan trọng của việc hình thành những biểu tượng về kích thước cho trẻ nhưng hầu hết sự nhận thức này còn sơ sài, đơn giản mới chỉ dừng lại ở hình thức mà chưa đi sâu vào

để tìm hiểu Vậy thì để trẻ có được biểu tượng về kích thước đầy đủ, chính xác và phong phú thì giáo viên phải cung cấp cho trẻ những kiến thức và

kỹ năng gì về kích thước

Chính vì vậy mà trong quá trình cho trẻ làm quen với kích thước, giáo viên mầm non chưa quan tâm toàn diện đến cả hai nội dung cần cung cấp và hình thành cho trẻ một cách đồng đều đó là những kiến thức về kích thước và những kỹ năng cần thiết có khi phải làm quen với kích thước Có

lẽ vì vậy nên giáo viên thường chỉ thiên về cung cấp kiến thức hoặc kỹ năng cho trẻ Qua tổng kết trên phiếu điều tra tôi nhận thấy có 59% ý kiến cho rằng cần cung cấp kỹ năng cho trẻ, 20% cần cung cấp kiến thức, 21% cung cấp cả kiến thức và kỹ năng cho trẻ Vì vậy mà biểu tượng về kích thước của trẻ rất khó có được sự đầy đủ và chính xác

Bên cạnh đó, giáo viên mầm non cũng ít đầu tư thời gian và trí tuệ cho nội dung hình thành biểu tượng mà phần lớn chỉ chú trọng đến nội dung về số lượng vì vậy sự nhận thức của giáo viên về nội dung này còn vướng phải một số hạn chế trên

Ngoài ra, qua tìm hiểu tôi nhận thấy trên thị trường mầm non còn chưa phát huy được ý nghĩa giáo dục và dạy học của nó, một phần là do không đầy đủ về đồ dùng học sinh còn quá ít, nhiều ý kiến của giáo viên đưa ra là cần bổ sung thêm đồ dùng dạy học Việc sử dụng đồ dùng dạy học ở một số trường còn lãng phí, chưa khai thác triệt để tác dụng dạy học của đồ dùng được cung cấp và cả những đồ dùng do chính giáo viên mất nhiều thời gian để làm ra Bên cạnh đó, giáo viên chưa tận dụng hết những điều kiện, vật chất xung quanh trẻ để làm ra đồ dùng cho cô và trẻ Nên việc học những nội dung kích thước mới chỉ dừng lại ở trên tiết học mà chưa thực sự lan tỏa vào các hoạt động khác trong cuộc sống Một trong

Trang 18

những lí do khác gây nên sự thiếu thốn đồ dùng học tập đó là: Số lượng trong lớp luôn ở trong tình trạng quá tải Vì vậy giáo viên nhiều khi cũng cảm thấy rất ngại việc chuẩn bị đồ dùng cho trẻ Sự quá tải nó còn ảnh hưởng cá biệt hóa trong quá trình dạy học, giáo viên rất khó khăn đến việc quan tâm tới tất cả các trẻ, vì vậy kết quả học tập của trẻ cũng bị ảnh hưởng

./Thực trạng nắm kiến thức biểu tượng về kích thước của trẻ:

Qua thống kê thăm dò trên giáo viên mầm non và thông qua hệ thống kiểm tra về mức độ nắm biểu tượng về kích thước của trẻ mẫu giáo, tôi đã thu được những kết quả sau:

Tổng số trẻ được kiểm tra: 40 trẻ

- Mức độ trung bình: 20 trẻ =50%

- Mức độ yếu: 2 trẻ =5%

- Mức độ khá: 10 trẻ =25%

- Mức độ giỏi: 8 trẻ =20%

Nhưng kết quả trên chỉ là kết quả điều tra ban đầu của một lớp mẫu giáo lớn chắc chắn còn nhiều sơ xuất Thông qua kết quả này chúng ta thấy rằng biểu tượng về kích thước còn rất nghèo nàn (trên 50% ở mức trung bình) đồng thời chúng ta nhận thấy công việc hình thành biểu tượng về kích thước là luôn cần thiết đối với trẻ mầm non

b./ Nguyên nhân thực trạng:

Hiệu quả của việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ còn thấp

do nhiều nguyên nhân:

- Nội dung hình thành biểu tượng còn chưa được mở rộng, còn rất nhiều nội dung khác chưa được khai thác

- Hệ thống bài tập và hệ thống trò chơi phục vụ cho chương trình này còn hạn chế về mặt số lượng

- Điều kiện vật chất phục vụ cho việc dạy học còn thiếu thốn Đặc biệt là những đồ dùng mở rộng phục vụ cho việc luyện tập, chơi trò chơi

- Số trẻ trong lớp luôn ở tình trạng quá tải

- Giáo viên còn lúng túng, chưa khai thác hết hiệu quả giáo dục

và dạy học của biện pháp dạy học trong nhóm phương pháp thực hành Đặc biệt là hai biện pháp “sử dụng bài luyện tập và sử dụng bài tập trò chơi học tập” để hình thành củng cố những kiến thức, kỹ năng về kích thước cho trẻ

- Giáo viên chưa tận dụng hết những cơ hội để tranh thủ củng

cố, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi

Trang 19

c./ Một số ý kiến đề xuất:

- Để góp phần làm cho biểu tượng về kích thước cho trẻ mẫu giáo qua việc tổ chức các tiết học theo chúng tôi cần thực hiện rõ các biện pháp sau:

+ Chương trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ mầm non mà cụ thể ở trẻ mẫu giáo lớn cần được mở rộng như: Dạy trẻ so sánh đồng thời cả 3 thông số kích thước, dạy trẻ lập dãy các vật theo chiều tăng dần, giảm dần, phát triển ở trẻ khả năng ước lượng kích thước bằng mắt, với phép đo lường cần dạy trẻ đo ở nhiều dạng khác nhau để nội dung giảng dạy được phong phú

+ Cung cấp và bổ sung thêm những trò chơi, những bài tập phục

vụ cho những nội dung trên, những bài tập và những trò chơi có thể do những nhà giáo dục thiết kế hoặc do chính giáo viên thiết kế

+ Cần tận dụng thời gian trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ

để tranh thủ truyền đạt nội dung kích thước tới trẻ như tới giờ đón, trả trẻ, trong hoạt động vui chơi, trong các tiết học khác, trong hoạt động chiều một cách thường xuyên

+ Cần chuyển hóa về số lượng trẻ trong mỗi lớp, hạn chế mức thấp nhất

+ Để việc học mới của trẻ và việc luyện tập được tiến hành có hiệu quả là một điều kiện không thể thiếu đó là cần chuẩn bị đầy đủ, phong phú đồ chơi, đồ chơi học tập… đảm bảo đủ cho cả giáo viên và cho trẻ trong quá trình làm quen với toán, nói chung và hình thành biểu tượng về kích thước nói riêng

+ Giáo viên cần linh hoạt trong việc tự tạo đồ chơi học tập, biết tận dụng một cách tối đa những đồ vật xung quanh để làm đồ dùng học tập cho trẻ

+ Thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm dạy học giữa các giáo viên, giữa các lớp, các trường để trao đổi kinh nghiệm, tìm ra những cách thức, con đường tốt nhất vào quá trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ, giúp trẻ tiếp cận nội dung kích thước nhẹ nhàng, sinh động

- Mở rộng tuyên truyền về tầm quan trọng, về ý nghĩa dạy học và giáo dục, rộng lớn của chương trình hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ tới giáo viên, tới gia đình và toàn xã hội để tạo nên sự đồng bộ trong giáo dục và dạy học khi hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ Đồng thời phải làm cho trẻ hiểu được ý nghĩa của việc nắm vững kiến thức biểu tượng về kích thước cho trẻ say mê, yêu thích mong muốn được tiếp xúc với những kiến thức và kỹ năng về kích thước

Tôi tin tưởng rằng với xu hướng đổi mới hiện nay nội dung hình thành biểu tượng về kích thước sẽ được lưu tâm tới và mở rộng, phát triển hơn

Trang 20

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI.

1./ KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC – PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC MẨM NON.

“ Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có

kế hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Trên cơ

sở đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo” (Trang 19 – Giáo dục mầm non- Đào Thanh Âm – NXB ĐHQG 1997)

Để quá trình dạy học mầm non đạt hiệu quả thì việc xem xét các yếu

tố cấu thành nên nó đóng vai trò vô cùng quan trọng Một trong những yếu

tố đó là phương pháp và biện pháp dạy học mầm non

Phương pháp dạy học: Kết quả nghiên cứu sư phạm và tâm lí cho thấy để giải quyết tốt các nhiệm vụ theo mục đích đã đặt ra thì con người cần tổ chức sắp xếp công việc thật khoa học theo cơ sở vận dụng các phương pháp phù hợp Một cách khái quát nhất thì phương pháp dạy học là con đường, là cách thức mà giáo viên đã sử dụng để thực hiện nhiệm vụ dạy học đạt hiệu quả cao nhất

Phương pháp dạy học mầm non: “Là cách làm việc của giáo viên và của trẻ em được giáo viên hướng dẫn nhằm tiếp thu những tri thức, kỹ năng và thói quen mới, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực” ( Trang 20 – Giáo dục mầm non III – NXB ĐHQG 19)

Phương pháp dạy học không phải chỉ ở chỗ giáo viên đem lại cho trẻ tri thức mới bằng cách nào mà là hoạt động nhận thức của trẻ như thế nào,

nó không những chỉ hoạt động nhận thức mà còn bao gồm những hành động thực tiễn, mà trong quá trình ấy, trẻ khám phá những thuộc tính mới

bị che dấu của đối tượng nghiên cứu Việc nắm tri thức là sản phẩm hoạt động của trẻ và bằng cách đó làm cho trẻ tự nắm được tri thức mới

Phương pháp dạy học là công cụ để tổ chức hoạt động cho trẻ tạo ra những hứng thú nhận thức cho trẻ và được quy định bởi mục đích và nội dung giáo dục ở trường mẫu giáo

Các phương pháp dạy học phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi, dựa vào tính chất trình độ phát triển tư duy của trẻ Bởi vậy khi xây dựng phương pháp cần xuất phát từ tính chất hoạt động của giáo viên

2./ CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẦM NON

Đối với trẻ mầm non làm quen với toán là một nội dung tương đối khó, nhưng lại có một sức hấp dẫn lớn Dưới sự hướng dẫn tổ chức của cô

và sự tích cực của trẻ, đứa trẻ đã tích lũy cho mình những kiến thức toán học sơ đẳng nhất để bước vào trường phổ thông

Trang 21

Với người giáo viên, để truyền đạt cho trẻ bất cứ nội dung toán học nào người giáo viên cũng phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.

Phương pháp dạy học là những kiến thức toán học sơ đẳng trong trường mầm non là cách thức làm việc của giáo viên mầm non đối với trẻ nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng, năng lực nhận biết, năng lực học tập, hình thành cho trẻ thái độ

Tuy nhiên để cho quá trình dạy học trở nên hấp dẫn Giáo viên cần vận dụng linh hoạt các nguyên tắc xây dựng các biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ đó là:

- Nguyên tắc dạy học và phát triển

- Nguyên tắc học đi đôi với hành

- Nguyên tắc sử dụng trực quan

- Nguyên tắc tính hệ thống và tính trừu tượng

- Nguyên tắc dạy học vừa sức tiếp thu của trẻ

- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học

- Nguyên tắc đảm bảo tính ý thức và phát huy tính tích cực của trẻ

- Các biện pháp dạy học phải được thực hiện mục tiêu hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ

- Phù hợp với đặc điểm phát triển kích thước của trẻ

- Phát huy tính tích cực chủ động của trẻ trong quá trình học và đảm bảo nguyên tắc cá biệt hơn

Vì vậy, nó nâng cao hiệu quả dạy học và làm cho hoạt động học tập trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn Đặc biệt trong quá trình trẻ làm quen với toán

Trong thực tiễn giáo dục hiện nay đang phổ biến rất nhiều những biện pháp dạy học khác nhau, nhưng trong quá trình tìm những biện pháp tốt nhất hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ Tôi nhận thấy nổi bật lên hai biện pháp trong phương pháp thực hành đó là:

- Biện pháp sử dụng hệ thống bài tập

- Biện pháp sử dụng bài luyện tập

3./ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG KÍCH THƯỚC CHO TRẺ MẪU GIÁO.

a./ Biện pháp sử dụng bài luyện tập

K.O.Usinxki đã từng chỉ ra rằng: Luyện tập là một ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của hoạt động trí óc Luyện tập là trường học của tư duy

Luyện tập không chỉ góp phần vào việc giúp trẻ nắm vững và củng

cố các biểu tượng, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo (những kỹ năng đếm, kỹ năng so sánh, kỹ năng lập dãy…) một cách đầy đủ và biết cách áp dụng

Trang 22

chúng vào những điều kiện khác nhau mà còn hoàn thiện quá trình tâm lí, một thành phần của hoạt động trí tuệ, hoạt động phân tích tập hợp và hoạt động tưởng tượng, đồng thời qua đó phương pháp hoạt động thực tiễn, năng lực nhận thức của trẻ cũng được phát triển

Luyện tập có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức dạy học, cũng có khi được sử dụng như một thủ thuật, một biện pháp trên tiết học và trong trò chơi học tập Trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu luyện tập với tư cách là một biện pháp dạy học

Khi tổ chức cho trẻ thực hiện các bài luyện tập khác nhau, giáo viên phải cố gắng sao cho tất cả trẻ lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời kết quả thực hiện các bài tập thể hiện bên ngoài thông qua lời nói, hành động của trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên kiểm tra được mình Vì vậy việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo là một quá trình lâu dài Cơ

sở của quá trình này là sự thống nhất về mối quan hệ đến nhau giữa kiến thức với các thao tác hợp lí, với việc nắm vững từ ngữ, tiếng nói Việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo đòi hỏi có sự luyện tập theo một hệ thống nhất định Trên cơ sở đó, phân chia các kỹ năng, kỹ xảo thành các thao tác đơn giản, xác định các phương pháp sử dụng chính xác Đảm bảo tính liên tục và phức tạp dần

Biết tập hợp các thao tác riêng lẻ thành các loại hoạt động toàn diện

đó là kỹ năng hoặc kỹ xảo Để giúp trẻ nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo giáo viên cần sử dụng nhiều thể loại bài tập đòi hỏi ở trẻ mức độ tích cực, độc lập khác nhau Những bài tập đó được quy định chung vào hai dạng bài tập Đó là bài tập tái tạo và bài tập sáng tạo

o Với bài tập tái tạo:

Là bài tập có tính sao chép, giáo viên đặt ra nhiệm vụ và chỉ ra biện pháp giải quyết nhiệm vụ đó một cách trực tiếp dựa trên những điều kiện đã biết hoặc các thao tác mẫu của giáo viên, trẻ có thể giải bài tập một cách không mấy khó khăn và trình tự thao tác lúc giải bài tập giống như các trẻ đã biết Trong những lần giải sau, nội dung của bài tập có sự thay đổi về điều kiện, nhưng sự thay đổi này không làm xáo trộn trình tự giải bài tập hoặc sự chỉ dạy trực tiếp của giáo viên bằng lời nói, hoạt động được thay bằng lời nói, hoạt động được thay bằng lời gợi mở, bằng sự tích cực vận động ở trẻ trong việc làm phương án giải quyết

o Với bài tập sáng tạo:

Mức độ yêu cầu của dạng bài tập này cao hơn Sự hướng dẫn của giáo viên lúc này là đặt ra những nhiệm vụ, đồng thời tạo ra những điều kiện thực hiện nó mà không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về những hành động mà trẻ tiến hành Đây là mức độ cao nhất

Khi giải dạng bài tập này nếu chỉ dựa trên thao tác mẫu mà những điều kiện đã biết thì trẻ không giải được mà trẻ phải có kỹ năng vận dụng

Trang 23

vào những điều đã biết và trong những tình huống hoàn cảnh Trẻ phải hoàn toàn chủ động trong quá trình tìm kiếm trình tự giải bài tập đó.

Việc tăng dần mức độ khó của bài luyện tập có một ý nghĩa rất lớn lao tạo ra điều kiện tăng trưởng ở trẻ những suy nghĩ sáng tạo và hành động một cách hợp lí, tạo điều kiện cho việc áp dụng các kiến thức một cách dễ dàng và chủ động

Trong quá trình tổ chức cho trẻ luyện tập, đồ dùng học tập đa dạng là điều không thể thiếu Vì sự lĩnh hội kiến thức và các hành động diễn ra ở trẻ dưới bình diện mở rộng (các thao tác với các vật hay hình vẽ của chúng)

Để việc tổ chức luyện tập được tiến hành có hiệu quả, người giáo viên cần đặt ra nhiệm vụ học tập cụ thể cho từng bài luyện tập, việc hướng dẫn trẻ phải rõ ràng từng bước, việc đánh giá kết quả thực hiện bài tập phải tính đến đặc điểm lứa tuổi trẻ và đặc điểm nhận thức riêng của trẻ Ngoài

ra cần có hình thức tổ chức khác nhau như luyện tập trên tiết, trong cuộc sống hàng ngày, luyện tập theo tổ hoặc theo nhóm lớp

Sử dụng biện pháp này trong quá trình hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo lớn, giúp trẻ có đủ điều kiện về kiến thức, kỹ năng của nội dung toán học kích thước để bước vào lớp 1

b./ Biện pháp sử dụng trò chơi học tập:

Đặc trưng của quá trình dạy học cho trẻ mầm non là sự kết hợp giữa các yếu tố học tập và vui chơi

A.P.U Sô Va đã nói: “… Qua trò chơi học tập, chúng ta không thấy

bóng dáng của giáo dục sư phạm ở đây, nhưng chúng ta lại mang tính chất

sư phạm rất cao…”

Trẻ chơi trò chơi học tập có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ và dạy học cho trẻ Trò chơi học tập không chỉ đơn giản là sự giải trí N.K.Krupxhaia đã viết:

“ Đối với trẻ mẫu giáo, trò chơi đối với trẻ là sự học tập, sự lao động và nó là hình thức giáo dục nghiêm túc” Bởi trò chơi học tập đòi hỏi

sự hoạt động trí tuệ rất phức tạp, vì vậy mà nó tạo ra điều kiện thực hiện nhiệm vụ giáo dục trẻ Ngoài ra trò chơi học tập còn góp phần thúc đẩy tất

cả các mặt nhân cách của trẻ, nó giáo dục tính tập thể, phát hiện tính độc lập, khả năng luyện tập, ý chí năng lực đánh giá và tự đánh giá, tạo nên những cảm xúc chân thành ở trẻ mầm non

Theo V.N.A Vanhexova, trò chơi học tập được chia thành một số nhóm như sau:

1 Trò chơi giao nhiệm vụ

2 Trò chơi dấu ấn và tìm

3 Trò chơi với những câu đố hoặc những giải đáp

4 Trò chơi phân vai theo chủ đề

Trang 24

5 Trò chơi thi đua

6 Trò chơi tưởng tượng

Trò chơi học tập luôn có cấu trúc rõ ràng, bền vững, nó bao gồm: Ý

đồ chơi, thao tác chơi, luật chơi và nội dung nhận thức Trong việc giáo dục và dạy học cho trẻ, trò chơi học tập có những vị trí khác nhau Trò chơi học tập đã sử dụng như là một biện pháp dạy học cho trẻ, cũng có khi nó thực hiện chức năng như bài luyện tập hoặc như một hoạt động vui chơi độc lập của trẻ, hoặc như một hình thức dạy học khi toàn bộ tiết học lồng vào trong trò chơi

Với vị trí là một biện pháp chơi, trong quá trình dạy học cho trẻ, trò chơi học tập nhiệm vụ phục vụ cho nội dung của tiết học này hay tiết học khác và nó là một bộ phận cơ bản của tiết học

Sử dụng biện pháp chơi của tiết học, giúp trẻ củng cố nội dung những kiến thức mà trẻ học được, đồng thời làm tăng tính tích cực của quá trình tư duy này hay quá trình tư duy khác “Trò chơi học thư giãn” nó làm cho hoạt động học tập diễn ra nhẹ nhàng, sinh động

Biện pháp chơi còn giúp trẻ luyện tập để áp dụng những kiến thức,

kỹ năng đã thu được trên tiết học và trong trò chơi học tập tạo ra những tình huống khác nhau

Tuy nhiên, muốn trò chơi học tập có một ý nghĩa to lớn trong giáo dục trí tuệ và dạy học, khi sử dụng phải luôn nghiên cứu, để tạo ra những trò chơi mới, góp phần thực hiện những yêu cầu mới

Việc hướng dẫn trò chơi học tập đòi hỏi phải có nghệ thuật sư phạm cao Giải quyết các nhiệm vụ thông qua trò chơi và trong trò chơi cô giáo phải giữ được trò chơi như một hoạt động thích thú, gần gũi trẻ, tạo sự hứng thú, vui vẻ trong khi chơi

Để làm được việc này, đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn được trò chơi hình thành một cách chính xác về dự án của trò chơi, quy định nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi và kết quả chơi Đặc biệt quan tâm tới việc thành lập “trung tâm vật chất” của trò chơi

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này Tôi chọn biện pháp sử dụng trò chơi nhằm mục đích ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng của trẻ

về nội dung kích thước, đồng thời làm tăng hứng thú cho trẻ khi tiếp xúc với nội dung toán học về kích thước

o Hệ thống trò chơi bao gồm các trò chơi:

- Ai nhanh nhất

- Tìm vật chuẩn cho trước

- Ai bật xa nhất

- Bé thử làm kiến trúc sư

o Các trò chơi tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Nói cách chơi và tuyên bố luật chơi, cô chơi mẫu

Trang 25

Bước 2: Trẻ chơi theo sự tổ chức, hướng dẫn của cô Trò chơi học tập được tổ chức hướng dẫn sẽ đem lại cho trẻ những hiểu biết về kích thước một cách nhẹ nhàng Nó góp phần vào sự phát triển của trí tuệ và các mặt nhân cách toàn diện của trẻ

+ Thể hiện sự không hứng thú, chán nản

c./ Tiến hành kiểm tra trẻ trước khi làm thực nghiệm:

Để đảm bảo tính khách quan trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành thực nghiệm kiểm tra mức độ hình thành biểu tượng về kích thước ở trẻ cứ 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng kết quả thực nghiệm kiểm tra sẽ là cơ sở để so sánh khi tiến hành thực nghiệm hình thành

+ Nhóm thực hiện: 20 cháu

+ Nhóm đối chứng: 20 cháu

Trong quá trình làm thực nghiệm kiểm tra, giáo viên giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, tuy nhiên để cho trẻ độc lập giải quyết các bài tập được giao theo sự hiểu biết và khả năng của mình Trong quá trình giải quyết các bài tập, giáo viên không gợi ý hướng dẫn, không nhận xét, không tạo không khí căng thẳng mà chỉ dùng những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để hỏi trẻ và quan sát ghi chép kết quả giải bài tập của trẻ,

./ Hệ thống bài tập thực nghiệm kiểm tra:

Thực nghiệm kiểm tra trên 50 cháu làm 2 nhóm Chúng tôi cùng tiến hành cho trẻ 2 nhóm cùng giải hệ thống các bài tập sau:

“nhỏ” hoặc “to hơn”, “nhỏ hơn”

b) Giáo viên sử dụng băng giấy có kích thước 5x20cm Yêu cầu trẻ phân biệt, nhận biết chiều dài, rộng của băng giấy Trẻ phải nói được từ

“chiều dài, chiều rộng” Khi nói trẻ phải đưa tay khảo sát được chiều dài, chiều rộng của băng giấy

c) Có 2 kích thước có chiều dài khác nhau, trẻ trả lời câu hỏi “Cái thước nào cao hơn cái thước nào ” và yêu cầu chỉ chiều cao của cái thước

Trang 26

b) Yêu cầu trẻ hãy so sánh chiều dài ( chiều rộng) của băng giấy xanh và băng giấy đỏ, diễn giải bằng lời nói quan hệ kích thước của 2 băng giấy.

c) Giáo viên sử dụng cây hoa và nấm ( so sánh chiều cao và diễn đạt bằng lời)

- Hỏi trẻ tại sao biết, làm như thế nào để biết được

d) Giáo viên sử dụng 2 băng giấy có chiều dài và chiếu rộng khác nhau, 2 băng giấy có chiều dài, chiều rộng bằng nhau, chiều dài không bằng nhau Sau đó cô đổi trộn hết lên, yêu cầu trẻ lần lượt tìm theo các cặp tên

- Hỏi trẻ làm thế nào tìm được

e) Giáo viên sử dụng 2 khối hộp, khối hộp xanh có chiều dài, chiều rộng và chiều cao khác nhau (lớn hẳn hơn) khối hộp đỏ

Yêu cầu so sánh chiều dài, chiều rộng, chiều cao của 2 khối hộp Trả lời các câu hỏi làm thế nào để biết khối hộp xanh có chiều dài và chiều rộng lớn hơn khối hộp đỏ

Trẻ trả lời được câu hỏi băng giấy nào dài (ngắn nhất), dài (ngắn) hơn băng giấy nào?

a./ Giáo viên sử dụng 5 băng giấy có chiều rộng tăng dần, độ chênh lệch là 2cm

Xanh

ĐỏTímVàng

Trắng

Trang 27

Với chiều rộng tăng dần, trẻ bắt đầu với băng giấy hẹp nhất và kết thúc với băng giấy tạo thành một đường thẳng.

Trả lời được câu hỏi băng giấy nào rộng (hẹp) và rộng hẹp với những băng giấy nào?

b./ Giáo viên sử dụng 5 chiếc hộp có chiều cao giảm dần, độ chênh lệch là 4 cm

Với chiều cao tăng dần, trẻ bắt đầu với hộp giấy thấp nhất và kết thúc với hộp cao nhất Sao cho kích thước tăng dần và chiều cao và ngược lại

Bài tập 4:

- Nhiệm vụ:

Xanh

Đỏ Tím

Ngày đăng: 15/02/2015, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm - Hà Nhật Thăng Lịch sử giáo dục thế giới - NXB giáo dục Hà Nội – 1977 Giáo dục mầm non I, tập III trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Đào Thanh Âm, Hà Nhật Thăng
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội
Năm: 1977
3. Ngô Công Hoàn Tâm lý học trẻ em tập II - NXB Giáo dục Hà Nội 1995 Cách tiếp cận mới về xã hội hoá trẻ em - Đại học sư phạm Hà Nội - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em tập II
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
6. Nguyễn Duy Thuận - Trịnh Minh Loan - Toán và phương pháp cho trẻ làm quen với những biểu tượng sơ đẳng về toán - NXB Giáo dục 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán và phương pháp cho trẻ làm quen với những biểu tượng sơ đẳng về toán
Tác giả: Nguyễn Duy Thuận, Trịnh Minh Loan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Hòa- Giáo trình giáo dục học Mầm Non Nhà xuất bản SPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học Mầm Non
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản SPHN
2. Đỗ Thị Minh Liên – Lí luận và phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ MN. Nhà xuất bản ĐHSP Khác
2. Nguyễn Thị Ngọc Thúc Giáo dục mẫu giáo tập II Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội 1990 Khác
4. Trần Thị Trọng - Phạm Thị Sửu Chương trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện (5-6) NXB giáo dục 1996 Khác
7. Phạm Viết Vượng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - NXB Giáo dục 1998 Khác
8. Đào Như Trang Luyện tập toán qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi - NXB Hà Nội 9 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w