VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.. Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.. PH
Trang 2A XA NG M Ắ
THÁC NÚI LƯ (V ng L s n ọ ư ơ
Trang 4VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên .
Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía
Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.
Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước
Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.
PHIÊN ÂM
XA NGẮM THÁC NÚI LƯ
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
( Tương Như dịch)DỊCH
THƠ
DỊCH NGHĨA
Trang 5I GIỚI THIỆU
1 Tác giả:
- Lí Bạch (701 – 762), nhà
thơ nổi tiếng của Trung
Quốc đời Đường
- Mệnh danh là “tiên thơ”
2 Thể thơ:
Thất ngôn tứ tuyệt
(Vọng Lư sơn bộc bố)
Trang 7Mặt trời chiếu núi Hương Lô,
sinh làn khói tía,
Dịch thơ:
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
(Vọng Lư sơn bộc bố)
- Câu 1: Ngọn núi Hương Lô
dưới những tia nắng mặt trời
vừa rực rỡ vừa kì ảo.
TỬ YÊN (khói tía)
NHẬT
HƯƠNG LÔ
Trang 8I GIỚI THIỆU
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
1 Vị trí ngắm thác
2 Cảnh sắc của thiên nhiên
- Câu 1: Ngọn núi Hương
Lô dưới những tia nắng
mặt trời vừa rực rỡ vừa kì
Dịch thơ
Xa trông dòng thác trước sông này.
- Câu 2: Thác nước như
dãi lụa treo lơ lửng
(Vọng Lư sơn bộc bố)
Trang 9- Câu 2: Thác nước như dãi
lụa treo lơ lửng.
- Câu 3: Tốc độ dòng thác
chảy nhanh như bay đổ
thẳng xuống.
(Vọng Lư sơn bộc bố)
- Câu 1: Ngọn núi Hương Lô
dưới những tia nắng mặt trời
vừa rực rỡ vừa kì ảo.
Trang 10Dịch nghĩa
Ngỡ là sông Ngân Hà rơi tự chín tầng mây.
- Câu 4: Thác nước mang vẻ đẹp lung
linh, huyền ảo.
(Vọng Lư sơn bộc bố)
- Câu 1: Ngọn núi Hương Lô dưới
những tia nắng mặt trời vừa rực rỡ
vừa kì ảo.
Trang 12Mùa thu, rất đông đảo khách du lịch trên thế giới
thưởng ngoạn tượng Phật cao nhất thế giới Leshan (Lư Sơn - Tứ Xuyên, Trung Quốc) Ngôi tượng Phật này được chạm đẽo vào một mảng núi ở tỉnh
Tứ Xuyên, là Di sản văn hóa thế giới từ năm 1996
Trang 16I GIỚI THIỆU
1 Tác giả:
Trương Kế sống khoảng
giữa thế kỉ VIII, đỗ tiến sĩ
và làm quan trong triều.
2 Thể thơ:
Tô Châu – Trung Quốc
(Phong Kiều dạ bạc)
Trang 17PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trang 18I GIỚI THIỆU
1 Tác giả:
Trương Kế sống
khoảng giữa thế kỉ VIII,
người Tương Châu,
tỉnh Hồ Bắc
2 Thể thơ:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Phong Kiều dạ bạc)
Trang 19I GIỚI THIỆU
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
“Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ”.
tiếng động
Tĩnh lặng
1/ Hai câu đầu:
- Thời gian: nửa đêm
(Phong Kiều dạ bạc)
- Hình ảnh :
Trăng tà, quạ kêu, sương,
lửa chài, lùm cây, thuyền,
tiếng chuông chùa Hàn
Sơn.
Không gian vắng lặng.
Trang 202/ Hai câu cuối:
1/ Hai câu đầu:
Tác giả dùng cái động
để nói cái tĩnh Không
gian vắng lặng.
I GIỚI THIỆU
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
- Nổi bật lên tiếng chuông chùa
Đem lại sự thanh thản cho
người lữ khách.
“Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn”.
2/ Hai câu cuối:
(Phong Kiều dạ bạc)
1/ Hai câu đầu:
- Thời gian: nửa đêm
- Hình ảnh:
Trăng, tiếng quạ kêu, sương,
đèn chài, lùm cây, thuyền,
tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
Không gian vắng lặng.
Trang 21I GIỚI THIỆU
Sự cảm nhận một cách sinh động qua những điều mắt thấy, tai nghe của một khách xa quê đang thao thức không ngủ được trong một đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều
Trang 22- Học thuộc 2 bài thơ, nắm được đôi nét về tác giả.