1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005

147 885 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình và dự án nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và các giải pháp ngăn chặn, giáo dục lại thanh thiếu niên phạm pháp của các Viện nghiên cứu, Tổng cục cảnh sát, Công an các t

Trang 1

(Đã chỉnh sửa sau nghiệm thu)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

CN Lê Thị Minh Ngọc

TP HCM - NĂM 2007

Trang 2

(Đã chỉnh sửa sau nghiệm thu)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

CN Lê Thị Minh Ngọc

Danh sách công tác viên:

1 CN Bùi Hòang Danh – Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

2 CN Phan Bá - Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

3 TS Trần Thị Hương – Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí MInh

4 CN Nguyễn Thị Thu Huyền - Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí MInh

5 TS Hồ Văn Liên - Khoa Tâm lý Giáo dục, ĐHSP TP Hồ Chí MInh

6 CN Lê Phan Minh Nguyệt - Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

7 CN Trần Thị Thanh Minh - Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

Trang 3

Lời cảm ơn

Thực hiện đề tài này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ qúy báu của các tập thể và cá nhân:

- Sở Khoa học - Công nghệ TP Hồ Chí Minh

- Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh, Tòa án 24 Quận, Huyện TP Hồ Chí Minh

- Công an TP Hồ Chí Minh, Công an các Quận, Huyện Thành phố Hồ Chí Minh

- Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh

- Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em TP Hồ Chí Minh

- Giáo viên, cán bộ công nhân viên, học viên Trung tâm giáo dục dạy nghề Thiếu niên 2, 3 TP Hồ Chí Minh

- Các vị lãnh đạo, Cán bộ các cơ quan chức năng liên quan đến công tác phòng chống người chưa thành niên phạm pháp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Hội đồng xét duyệt và thẩm định đề tài

- Các nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu tham gia thực hiện đề tài

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ, quan tâm, ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện đề tài này

Trân trọng cám ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NCTNPT 9

MỞ ĐẦU 14

1 Lý do chọn đề tài 14

2 Mục đích nghiên cứu 15

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 15

4 Giả thuyết khoa học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 15

6 Phạm vi nghiên cứu 16

7 Nội dung nghiên cứu chi tiết 16

8 Sản phẩm đề tài 16

9 Phương pháp nghiên cứu 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NCTN PHẠM TỘI 20

1.1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NCTNPT 20

1.1.1 Vai trò con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước 20

1.1.2 Giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách 22

1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề NCTN phạm tội 23

1.2 LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 27

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 27

1.2.2 Những đặc điểm tâm sinh lý của NCTN phạm tội 34

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phạm tội của NCTN 41

Chương 2: THỰC TRẠNG PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI TP HỒ CHÍ MINH 2001 – 2005 48

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH TP HỒ CHÍ MINH 48

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 49

2.1.3 Vài nét về mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế- xã hội với tình hình NCTN vi phạm pháp luật ở TP Hồ Chí Minh 50

2.2 THỰC TRẠNG PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI TP HỒ CHÍ MINH 2001 – 2005 53

2.2.1 Thực trạng phạm tội của NCTN bị xử lý theo pháp luật hình sự 53

2.2.2.Thực trạng VPPL của NCTN bị xử lý theo pháp luật hành chính 77

2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 86

2.3.1 Những nguyên nhân từ gia đình 88

2.3.2 Những nguyên nhân từ nhà trường 95

2.3.3 Những nguyên nhân từ xã hội 100

2.3.4 Những nguyên nhân từ bản thân người chưa thanh niên phạm tội 105

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIÁO DỤC LẠI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TP HỒ CHÍ MINH 112

3.1 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT, HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TP HỒ CHÍ MINH 112

3.1.1 Việc thực hiện các chính sách pháp luật 112

3.1.2 Việc thực hiện một số giải pháp phòng chống NCTNPP 116

3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIÁO DỤC LẠI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TP HỒ CHÍ MINH 120 3.2.1 Các giải pháp kinh tế - xã hội 120

3.2.2 Các giải pháp về pháp luật 123

3.2.3 Các giải pháp về văn hoá, giáo dục 130

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141

1 KẾT LUẬN 141

2 KIẾN NGHỊ 143

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

Trang 6

6 NCTN: Người chưa thành niên

7 NCTNPT: Người chưa thành niên phạm tội

8 NCTNPP : Người chưa thành niên phạm pháp

Trang 7

Bảng 2.4 Thống kê số liệu bị cáo và NCTN phạm tội từ 2001 – 2005 57

Bảng 2.5 Tổng hợp các loại tội danh NCTN vi phạm từ 2001 – 2005 58

Bảng 2.6 Tổng hợp các tội danh NCTNPT bị xét xử trong 5 năm 60

Bảng 2.7 Tình hình NCTN vi phạm một số tội danh điển hình 2001 – 2005 62

Bảng 2.8 Thống kê số vụ và số đối tượng NCTNPP từ 2001 – 2005 63

Bảng 2.17 Các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN PP 2001 – 2005 81

Bảng 2.18 Số lần NCTN vi phạm pháp luật trong giai đoạn 2001 – 2005 83

Bảng 2.19 Đặc điểm đối tượng khảo sát 86

Bảng 2.20 Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía gia đình 88

Bảng 2.21 Đánh giá của HV về nguyên nhân từ phía gia đình 88

Bảng 2.22 Người mà trẻ sống trước khi vào trường 91

Bảng 2.23 Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía nhà trường 95

Bảng 2.24 Những lỗi thường mắc phải của NCTN khi còn học ở PT 99

Bảng 2.25 Đánh giá của CB về nguyên nhân từ phía xã hội 101

Bảng 2.26 Đánh giá của HV về nguyên nhân từ phía xã hội 101

Bảng 2.27 Đánh giá của cán bộ về nguyên nhân từ phía bản thân NCTNPP 106

Bảng 2.28 Đánh giá của học viên về nguyên nhân từ phía bản thân dẫn tới 106

Trang 8

hành vi phạm pháp

Bảng 2.29 Nhận thức của HV về mức độ nguy hiểm của hành vi PP 107

Bảng 2.30 Sở thích của HV trước khi vào trường 109

Bảng 2.31 Tổng hợp mức độ các nguyên nhân dẫn tới tình trạng NCTNPT 110

Bảng 3.1 Hiệu quả công tác phòng chống NCTNPP của cơ quan chức năng 116

Bảng 3.2 Đánh giá hiệu quả các họat động phòng chống NCTNPP 118

Bảng 3.3 Nguyên nhân hạn chế hiệu quả công tác phòng chống NCTN PP 120

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tình hình NCTNPP giai đoạn 2001 – 2005 56

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu NCTNPT theo giới tính trong 5 năm (2001 - 2005) 68

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu NCTNPT theo độ tuổi trong 5 năm (2001 - 2005) 70

Biếu đồ 2.4 Cơ cấu NCTNPT theo trình độ học vấn trong 5 năm (2001 -

Sơ đồ 3.1 Tổ chức họat động của mô hình phòng ngừa, giáo dục lại

NCTNPP trên địa bàn dân cư

140

Trang 9

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGÒAI NƯỚC

Tình trạng phạm tội là một dạng đặc biệt của các hiện tượng sai trái trong xã hội,

có tính nguy hiểm cho xã hội cao nhất Nó không chỉ đơn thuần là hiện tượng xã hội

mà còn là hiện tượng pháp luật hình sự Vì vậy các vấn đề về tình trạng phạm tội được coi là đối tượng nghiên cứu cùa ngành tội phạm học ở nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Hiện tượng người chưa thành niên phạm tội là một thực tế tồn tại trong tất cả các quốc gia Nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu vấn đề người chưa thành niên phạm tội và giáo dục lại đối tượng này Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhà giáo dục vĩ đại Nga A.X.Macarencô đã có những cống hiến rất lớn về vấn đề giáo dục trẻ em hư, phạm pháp trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Trong quá trình công tác với những trẻ em phạm pháp vị thành niên, những trẻ em vô gia cư, vô thừa nhận…, tác giả đã xây dựng hệ thống lý luận giáo dục và cải tạo trẻ em phạm pháp với những quan điểm nhân đạo và tiến bộ Những tác phẩm nổi tiếng của ông như "Bài ca sư phạm",

"Giáo dục trong lao động" thể hiện thái độ lạc quan cách mạng, lòng nhân đạo, niềm tin tưởng đối với con người với nguyên tắc "vàng" - "tôn trọng và yêu cầu cao đối với trẻ", thể hiện quan điểm giáo dục trong lao động, giáo dục trong tập thể Lý luận đó

đã được đúc kết từ thành công của Macarencô trong việc cải tạo, giáo dục hàng nghìn trẻ em hư hỏng, lưu manh, phạm pháp , biến chúng từ những "cặn bã" của xã hội trở thành những công dân tích cực của xã hội

Tác giả A.I.Côchêtốp trong công trình nghiên cứu: “Những vấn đề lý luận đức dục” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giáo dục lại Theo ông, công tác gíao dục lại bao gồm việc giáo dục những trẻ em vô kỷ luật, tăng cường chăm sóc những trẻ

em lêu lỏng và việc cải tạo những trẻ em phạm pháp Ông đã chỉ ra những nguyên nhân của trẻ có biểu hiện tính chất khó dạy, đó là nguyên nhân xã hội, nguyên nhân tâm lý, nguyên nhân giáo dục và nhấn mạnh nguyên nhân giáo dục: “thông thường nguyên nhân của sự khó dạy là những sai lầm sư phạm trong việc giáo dục, là sự lạc

Trang 10

hậu, sự vụng về về mặt giáo dục” Từ đó tác giả đi sâu phân tích khái niệm, nội dung

và những yêu cầu của hệ thống các phương pháp giáo dục lại [3]

Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả ở nhiều nước đề cập đến vấn đề người chưa thành niên phạm tội Một số công trình tiêu biểu như sau:

- Trong cuốn sách: “Tư pháp vị thành niên: chính sách, thực tiễn và pháp luật”, tác giả H.Ted Rubin đã nghiên cứu về vấn đề tư pháp vị thành niên ở Mỹ Tác giả đã

đề cập đến các vấn đề chính như: tội phạm nghiêm trọng và tái phạm đối với trẻ vị thành niên, vai trò của cơ quan cảnh sát đối với đối tượng này, quá trình giáo dưỡng và phi xét xử, cơ quan công tố trong tư pháp vị thành niên, tổ chức toà án vị thành niên,

cơ cấu lại hệ thống tư pháp vị thành niên [25]

- Trong cuốn: “Phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh niên”, tác giả N.M.Vetrop (Nga) đã nêu những tiền đề bảo đảm cho công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh niên có hiệu quả, phương pháp phòng ngừa, công tác phòng ngừa vi phạm pháp luận trong thanh niên… [27]

- Tác giả A.I Dongova đã nghiên cứu về những khía cạnh tâm lý – xã hội về tình trạng phạm tội của người chưa thành niên ở Liên xô (cũ) [9]

- Zhang Wenbang, Chen Banglin, Zhou Zuyong đã nghiên cứu thực trạng tình hình tội phạm của thanh thiếu niên Trung Quốc trong những năm 90 và đưa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa tệ nạn này [30]

- Trong cuốn: “Phạm nhân vị thành niên: luật, chính sách và thực hành”, các tác giả đã đề cập đến vấn đề phạm nhân và cảnh sát, chuyển đổi từ quá trình phạm tội, toà

án vị thành niên, quá trình kết án ở Anh [21]

- I.A.Dvojmennyj, V.A.Lelekov đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của gia đình đến tình trạng phạm tội của lứa tuổi vị thành niên ở Nga [10]

- Tác giả Rita Reddy đã nghiên cứu về chiến lược và kinh nghiệm phòng ngừa trẻ

em lang thang, phạm pháp trong khu vực Đông Nam Á Tác giả tập trung đề cập về vấn đề luật pháp, giới thiệu các kinh nghiệm can thiệp của công đồng một số nước khu vực Đông Nam Á như: Thái Lan, Philipin, Malaysia [24]

Trang 11

- Trong bài viết: “Những nguyên nhân xã hội của tội phạm vị thành niên ở Hồng Kông” tác giả đã trình bày nghiên cứu của mình về những nguyên nhân xã hội dẫn đến tính trạng phạm tội của vị thành niên [20]

Như vậy, ở rất nhiều nước trên thế giới vấn đề người chưa thành niên phạm tội đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu kể trên, chúng tôi thấy các hướng nghiên cứu tập trung vào các vần đề sau:

- Nghiên cứu tình hình phạm tội nói chung và phạm tội vị thành niên nói riêng

- Nghiên cứu nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phạm tội

- Nghiên cứu các chính sách pháp luật, hệ thống thi hành pháp luật xử lý vị thành niên phạm tội

- Nghiên cứu hệ thống các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tình hình phạm tội của

vị thành niên

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Ở Việt Nam, từ sau khi nước ta dành được độc lập (1945), Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “phải giáo dục lại nhân dân chúng ta…” Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục lại trẻ em hư, người chưa thành niên phạm pháp trong toàn bộ công tác giáo dục trẻ Từ đó các Bộ, Ngành chức năng luôn chú trọng vấn đề này Một số công trình và dự án nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và các giải pháp ngăn chặn, giáo dục lại thanh thiếu niên phạm pháp của các Viện nghiên cứu, Tổng cục cảnh sát, Công an các tỉnh, thành thực hiện Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề trẻ

em lang thang cơ nhỡ, trẻ em hư và phạm pháp… ở các địa phương Có thể điểm qua một số công trình sau:

- Năm 1991 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý thực hiện đề tài: Tình hình, nguyên nhân và các giải pháp đấu tranh phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội”

Đề tài đã nghiên cứu tình hình người chưa thành niên phạm tội trong thời gian từ 1987 – 1990, nêu lên những nguyên nhân cơ bản, trực tiếp làm phát sinh, phát triển tình hình người chưa thành niện phạm tội ở các tầm vĩ mô, vi mô và dự báo xu hướng trong những năm tới

- Năm 1991 Viện khoa học hình sự cũng nghiên cứu đề tài: “Tình hình thanh thiếu niên phạm pháp ở Việt Nam và xu hướng đến năm 2000” Đề tài tập trung phân tích, đánh giá và phác thảo bức tranh khái quát về thực trạng phạm tội của thanh thiếu

Trang 12

niên Việt Nam trong 10 năm (1978 – 1988); Dự báo xu hướng phát triển của tội phạm thanh thiếu niên đến năm 2000; Nêu ra và phân tích các yếu tố tác động đến tình hình

và xu hướng phạm tội trong thanh thiếu niên, từ đó kiến nghị hệ thống các biện pháp phòng chống tội phạm trong thanh niên

- Năm 1994 Tổng cục cảnh sát nhân dân thực hiện đề tài: “Tội phạm ở Việt Nam: thực trạng, nguyên nhân, giải pháp” Trên cơ sở đánh giá khái quát thực trạng tội phạm

và nguyên nhân dẫn đến tội phạm, đề tài cũng dự báo tình hình tội phạm đến năm 2000

và đưa ra phương hướng phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong giai đoạn mới

- Năm 1996 Viện nghiên cứu thanh niên trong "Tổng luận về tình hình vi phạm pháp luật trong lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay" đã đưa ra một bức tranh khái quát

về tình hình thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên và đề xuất những biện pháp phòng ngừa hiện tượng này

- Năm 2000 Tổng cục cảnh sát tiếp tục “Nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa trẻ

em làm trái pháp luật” nhằm đề ra các giải pháp đồng bộ, có tính khả thi giảm tình trạng trẻ em làm trái pháp luật, góp phần thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thời kỳ 2000 – 2010

- Năm 1985 Phân viện KHGD tại TP Hồ Chí Minh đã thực hiện "Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp tại TP Hồ Chí Minh" [19] Các tác giả đã khái quát về thực trạng trẻ phạm pháp và trẻ chưa ngoan ở thành phố từ năm

1977 – 1985, nêu lên những nguyên nhân của thực trạng và các biện pháp ngăn chặn

và giáo dục lại trẻ chưa ngoan, phạm pháp

Một số công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này được thể hiện trong các tác phẩm, bài báo khoa học:

- “Cơ sở lí luận và thực tiễn của quá trình giáo dục lại học sinh hư, học sinh phạm pháp” [12]

- “Bước đầu tìm hiểu quá trình biến đổi tâm lý của trẻ bình thường đến vị thành niên phạm pháp” [22]

- “Tìm hiểu nguyên nhân trẻ em phạm pháp và việc nghiên cứu nhân cách” [15]

- “Vấn đề gia đình và trẻ em phạm pháp” [16]

- “Một số vấn đề tâm lý học về thiếu niên phạm pháp” [23]

Trang 13

Nhìn chung, các công trình, đề tài nghiên cứu đều chú trọng đến tình hình vi phạm pháp luật của một bộ phận thanh thiếu niên, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên, nguyên nhân của tình trạng này và những biện pháp ngăn chặn, giáo dục lại Các nhà nghiên cứu đã đóng góp cho khoa học giáo dục một hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc về quá trình giáo dục lại trẻ em hư, phạm pháp Từ đó cũng cho thấy vấn đề trẻ

em phạm pháp đang ngày càng trở nên nóng bỏng và phức tạp ở tất cả các địa phương trong toàn quốc, trong đó có TP Hồ Chí Minh, đòi hỏi sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP HCM có những diễn biến phức tạp, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu thực trạng NCTNPT với những diễn biến phức tạp đó Vì vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của thực trạng người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP HCM trong giai đọan 5 năm (từ 2001

- 2005) Từ đó góp phần xây dựng hệ thống giải pháp để ngăn chặn, giáo dục lại đối tượng này

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - LêNin đặt vấn đề con người là trung tâm của mọi hệ thống chính trị - xã hội Con người là vốn qúy nhất, là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị, con người làm nên lịch sử Trong tiến trình tồn tại và phát triển, con người chịu sự tác động của tồn tại khách quan, đồng thời với tư cách là một chủ thể hoạt động có ý thức, con người lại tác động trở lại, làm biến đổi và cải tạo tồn tại khách quan Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin về con người, trong giai đoạn phát triển hiện nay, chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược phát triển giáo dục nói riêng của nước ta đặt ra mục đích phát triển toàn diện nhân cách con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Trong quá trình thực hiện mục đích giáo dục đối với thế hệ trẻ, một bộ phận thanh thiếu niên yếu kém về nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nên có sự phát triển lệch lạc về nhân cách, đi ngược lại với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội qui định Vì vậy, vấn đề giáo dục lại nhân cách trong toàn bộ quá trình giáo dục là một

vấn đề cấp bách hiện nay

1.2 Tuổi vị thành niên là một giai đọan phát triển đặc biệt và mạnh mẽ trong cuộc đời mỗi con người Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn và được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ về vật chất, tinh thần, tình cảm và khả năng hòa nhập cộng đồng Ở Việt Nam, vị thành niên chiếm khoảng 23% dân số (Số liệu điều tra năm 1999) Đây là một lực lượng lao động đầy tiềm năng góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước sau này, nhưng đây cũng là lực lượng chưa

có sự ổn định về phát triển nhân cách nên dễ dàng tiêm nhiễm những thói hư tật xấu của xã hội Vì vậy, quan tâm quản lý, giáo dục đối với lứa tuổi vị thành niên, làm cho lứa tuổi này phát triển đúng đắn về nhân cách không chỉ là vấn đề có ý nghĩa giáo dục

mà còn mang ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội sâu sắc "Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai" là khẩu hiệu hành động tình nguyện vì trẻ em của Liên Hợp Quốc, theo đó,

bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội

1.3 Trong quá trình phát triển của đất nước, mặt trái của nền kinh tế thị trường và tác hại của các tệ nạn xã hội đã làm phát sinh tình trạng một bộ phận người chưa thành

Trang 15

niên vi phạm pháp luật, làm đau đớn và nhức nhối cho gia đình và xã hội Thực tế hiện nay, tình hình người chưa thành niên phạm tội (NCTNPT) ngày càng có xu hướng gia tăng và đa dạng về mức độ, tính chất vi phạm Cùng với sự gia tăng số vụ phạm pháp chung trong xã hội, tình hình NCTN vi phạm pháp luật đang có nguy cơ phải "báo động" đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể và có những giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại, xử lý thích hợp, không chỉ nhằm đấu tranh với các loại tội phạm đảm bảo trật

tự an toàn cho cộng đồng mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là một trong những trung tâm phát triển kinh

tế - văn hóa - xã hội lớn nhất trong cả nước Trên con đường đổi mới và phát triển, TP HCM cũng đang đối mặt với vấn đề NCTNPT đang ngày càng diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, bức xúc cho đời sống gia đình và xã hội Xuất phát từ những cơ sở về

lý luận và thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu tình hình người

chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2005"

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá đúng tình hình người chưa thành niên phạm tội, xác định những nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2001 -

2005 Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với NCTNPT

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP HCM giai

đoạn 2001 - 2005

4 Giả thuyết khoa học

Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn TP HCM trong 5 năm gần đây có chiều hướng gia tăng Tính chất, mức độ phạm tội diễn biến ngày càng phức tạp và do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu đánh giá đúng tình hình NCTNPT và xác định được các nguyên nhân phạm tội của NCTN thì sẽ có cơ sở khoa học cho việc xây dựng

một hệ thống giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với đối tượng này

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề người chưa thành niên phạm tội

Trang 16

5.2 Nghiên cứu thực trạng NCTNPT tại TP HCM giai đoạn 2001 - 2005

5.3 Đề xuất giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với NCTNPT

6 Phạm vi nghiên cứu

* Về đối tượng khảo sát: Người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi

* Về thời gian: Nghiên cứu tình hình phạm tội của NCTN tại TP HCM trong giai

7 Nội dung nghiên cứu chi tiết

7.1 Cơ sở lý luận của vấn đề người chưa thành niên phạm tội

7.1.1 Những cơ sở lý luận định hướng nghiên cứu vấn đề phạm tội của người chưa thành niên

7.1.1.1 Vai trò con người trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

7.1.1.2 Giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách

7.1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt nam về vấn đề phạm tội của người chưa thành niên

7.1.2 Lý luận về người chưa thành niên

7.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

7.1.2.2 Những đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên phạm tội

7.1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phạm tội của người chưa thành niên

7.2 Thực trạng tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại TP Hồ Chí Minh 2001 – 2005

7.2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình TP Hồ Chí Minh

7.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

7.2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội

7.2.1.3 Mối quan hệ giữa bối cảnh kinh tế – xã hội với tình hình phạm tội người chưa thành niên tại TP Hồ Chí Minh

Trang 17

7.2.2 Thực trạng phạm tội của người chưa thành niên tại TP Hồ Chí Minh 2001 –

7.3.1 Nguyên nhân từ phía xã hội

7.3.2 Nguyên nhân từ phía nhà trường

7.3.3 Nguyên nhân từ phía gia đình

7.3.4 Nguyên nhân từ đặc điểm tâm sinh lý cá nhân

7.4 Đề xuất giải pháp phòng ngừa, giáo dục lại đối với người chưa thành niên phạm tội tại TP Hồ Chí Minh

7.4.1 Đánh giá khái quát việc thực hiện chính sách pháp luật, hệ thống giải pháp phòng chống người chưa thành niên phạm tội tại TP Hồ Chí Minh

7.4.2 Đề xuất giải pháp

7.4.2.1 Các giải pháp có tính chất kinh tế – xã hội

7.4.2.2 Các giải pháp có tính chất pháp luật

7.4.2.3 Các giải pháp văn hóa, giáo dục

8 Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm của đề tài

Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt đề tài đáp ứng các nội dung đã đặt ra trong đề cương chi tiết

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hê thống hoá và khái quát hóa những vấn đề lý luận trong các tài liệu, làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

9.2 Các phương pháp thống kê

Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê nhằm đưa ra đặc điểm số liệu về thực trạng và động thái của tình hình người chưa thành niên phạm tội, xác định các mối liên

Trang 18

hệ phụ thuộc giữa các số liệu thống kê của thực trạng và động thái của tình hình NCTNPT với quá trình đấu tranh, phòng chống NCTNPT Các nghiên cứu thống kê được tiến hành qua 3 giai đoạn: thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích Chúng tôi thu thập số liệu, nguồn thông tin từ Toà án TP HCM, Toà án các Quận, Huyện, Công an

TP HCM và Công an các Quận, Huyện theo các mẫu phiếu được xây dựng phục vụ cho các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể

9.3 Phương pháp điều tra

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra nhằm thu thập thông tin về tình hình phạm tội, nguyên nhân phạm tội của NCTN trên địa bàn TP HCM, bằng cách:

- Xây dựng hai mẫu phiếu hỏi dành cho hai đối tượng khảo sát: một mẫu phiếu hỏi dành cho cán bộ các cơ quan chức năng chuyên trách công tác phòng chống NCTN

vi phạm pháp luật; một mẫu phiếu hỏi dành cho NCTN vi phạm pháp luật đã bị xử lý hình sự và hành chính

9.4 Phương pháp trao đổi, phỏng vấn

Trao đổi, phỏng vấn, tọa đàm với các cấp lãnh đạo, cán bộ chuyên trách công tác phòng chống NCTNPT

9.5 Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động đấu tranh, phòng chống NCTNPT trong thực tiễn ở địa phương, cộng đồng dân cư nhằm thu thập thêm thông tin hỗ trợ việc đánh giá thực trạng và nguyên nhân vi phạm pháp luật của NCTN

9.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

PP này nhằm thu thập ý kiến các chuyên gia về các vấn đề liên quan đến các nội dung nghiên cứu thông qua trao đổi, tọa đàm, hội thảo

9.7 Phương pháp xử lý thông tin

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và đánh giá các kết quả nghiên cứu các số liệu thống kê được xử lý bằng kỹ thuật máy tính và chương trình SPSS

Trang 19

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH

NIÊN PHẠM TỘI 1.1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VẤN

ĐỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1.1 Vai trò con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Từ lâu lịch sử thế giới đã chứng minh vai trò to lớn của con người: con người là vốn quý nhất, là chủ thể sáng tạo mọi giá trị, con người làm nên lịch sử Tư tưởng coi con người giữ vị trí trung tâm của xã hội là một thành tựu của sự phát triển văn minh, văn hóa của loài người, đặc biệt nổi lên trong những thời kỳ văn minh xán lạn nhất của loài người: văn minh Phục hưng, cách mạng tư sản, cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện nay Trong thời đại ngày nay, với những thành tựu thần kỳ của cách mạng khoa học – công nghệ, nhân tố người tiếp tục được khẳng định là nhân tố rất quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đọan phát triển, giữ vị trí trung tâm quyết định đối với toàn bộ hệ thống các nhân

tố khác tạo nên sự phát triển chung Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Ở Việt Nam, tư tưởng lớn của Đảng ta luôn luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ III (1960), lần thứ IV (1977), lần thứ V (1982)… Đại hội VI của ĐCSVN (1986) đưa ra đường lối đổi mới của đất nước đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân tố con người, phát huy yếu tố người Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) nhấn mạnh “sự phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm” “phát huy nhân tố con người động lực trực tiếp của mọi sự phát triển” và hơn thế nữa”phát huy nhân tố con người vì con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” [14] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội lần thứ VII thông qua đã khẳng định: “Nguồn lực lớn nhất, qúy báu nhất của chúng ta là tiềm lực con người Việt Nam, trong đó có tiềm lực trí tuệ” [14, tr.265] Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) khẳng định nước ta đã chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

Trang 21

nước công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vất chất

và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh….Từ nay đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH, vấn

đề cơ bản nhất là vấn đề con người như là nguồn lực mang tính chất quyết định nhất bên cạnh các nguồn lực khác

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, vai trò trung tâm của yếu tố con người càng được khẳng định Căn cứ vào những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, vào hiện trạng nhân cách của con người Việt Nam nói chung, vào kinh nghiệm, truyền thống của dân tộc cũng như kinh nghiệm của các nước khác, các nhà nghiên cứu đã phác họa mô hình nhân cách con người Việt nam Đó là con người “thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và

kỷ luật, có sức khỏe…” Nhìn chung sự nghiệp CNH - HĐH đòi hỏi con người phải

có tri thức và kỹ năng hài hòa với đạo đức, thái độ, trong đó tri thức, kỹ năng phải đóng vai trò là xuất phát điểm sáng tạo, là nguồn gốc của sức mạnh sáng tạo và là hạt nhân của tiến bộ con người Việc xây dựng và phát triển con người với những chuẩn mực nêu trên chỉ đạt kết quả tốt nếu chú trọng đến quá trình giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách con người trong qúa trình con người hoạt động, giao lưu trong các mối quan hệ xã hội Đặc biệt phải quan tâm đến việc giáo dục con người ngay từ khi con người là những công dân tí hon, như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trẻ em trong như tấm gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu” [18, tr.192]

Như vậy, đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội và phát triển toàn diện nhân cách con người là tư tưởng xuất phát điểm của các công trình nghiên cứu con người “Muốn tiến hành CNH – HĐH thắng lợi phái phát

Trang 22

triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”

1.1.2 Giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách

Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là một qúa trình toàn vẹn hình thành và phát triển nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động

và các mối quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người Đó là quá trình tổ chức hoạt động của toàn xã hội một cách tích cực, chủ động nhằm mục đích phát huy tối đa tiềm năng và sức mạnh thể chất, tinh thần của cá nhân bao gồm trí lực, tâm lực, thể lực Trong quá trình giáo dục, không phải bao giờ cũng đào tạo được những nhân cách theo định hướng của các chuẩn mực xã hội đã qui định, mà có những biểu hiện tiêu cực, những hành vi "lệch chuẩn" của nhân cách Vì vậy xuất hiện đối tượng của giáo dục lại

và có quá trình giáo dục lại nhân cách Bản chất của giáo dục xã hội chủ nghĩa là nhân đạo, mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, không được phân biệt đối xử vì bất

kỳ lý do gì, điều đó có nghĩa là trong giáo dục không được có "phế phẩm", cho nên giáo dục lại là một bộ phận trong quá trình giáo dục nhân cách nói chung

Giáo dục lại là hoạt động giáo dục nhằm thay đổi quan điểm, ý thức tư tưởng, nhận thức, thái độ, hành vi sai lệch với những chuẩn mực của xã hội của đối tượng giáo dục để họ trở thành con người tốt, có nhân cách được xã hội chấp nhận Trong một xã hội luôn biến động và phát triển, bao giờ cũng có một bộ phận nhỏ các thành viên phát triển theo chiều hướng tiêu cực, trái với qui luật của các khuôn mẫu, các chuẩn mực về văn hóa xã hội và họ đều là đối tượng của quá trình giáo dục lại Dù muốn hay không, đối với đối tượng này, xã hội đều rất quan tâm điều chỉnh họ với quan điểm nhân đạo, vì an ninh và lợi ích xã hội Tuỳ theo quan niệm về mức độ sai lệch mà cách đánh giá, xếp loại các đối tượng giáo dục lại, cách sử dụng phương tiện, cấp độ, biện pháp, hình thức giáo dục ở từng mức khác nhau giữa các quốc gia, các cơ quan chuyên ngành, các tổ chức xã hội Trong ph ạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến đối tượng của quá trình giáo dục lại là lứa tuổi vị thành niên

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục, vị thành niên là lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, cũng là lứa tuổi dễ dàng có sự phát triển lệch lạc về nhân cách Trong quá trình phát triển và trưởng thành, vị thành niên có thể có những

Trang 23

biểu hiện ý nghĩ và hành động vi phạm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật nhưng nhà trường, gia đình, xã hội không được xem là đối tượng của trừng phạt Nhà giáo dục phải đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh, điều kiện, nguyên nhân dẫn tới kết quả đó để tìm cách phòng ngừa, ngăn chặn, giáo dục lại đối tượng này Điều cốt lõi trong công tác giáo dục lại là lòng nhân ái của nhà giáo dục, niềm tin vững chắc vào phẩm giá tốt đẹp còn tiềm ẩn trong mỗi đối tượng giáo dục lại Giáo dục lại là rất cần thiết khi nhà giáo dục phải giải quyết những tình huống xung đột trong cuộc sống của vị thành niên, khi bản thân VTN phải di chuyển hứng thú và nguyện vọng, khi lựa chọn con đường phát triển chúng phải thay đổi mục đích và lí tưởng sống của bản thân mình Yêu cầu của giáo dục lại đối với đối tượng là đòi hỏi chúng phái từ bỏ những thái độ, niềm tin, hành vi, thói quen sai trái, lạc hậu, cản trở sự phát triển lành mạnh của chúng Với ý nghĩa và tác dụng đó, giáo dục lại có vị trí quan trọng không thể thiếu trong công tác giáo dục, giúp cho qúa trình hình thành, phát triển nhân cách của trẻ được thuận lợi

1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề người chưa thành niên phạm tội

Mỗi thời đại, mỗi giai cấp có cách xem xét và giải quyết về vấn đề người phạm tội khác nhau Trong cách mạng XHCN, vấn đề người phạm tội được xem xét và giải quyết trên một quan điểm hoàn toàn khác Xuất phát từ quan điểm khoa học về bản chất con người của Các Mác: "Bản chất con người không phải là cái gì chung chung, trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" , quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin đặt vấn đề con người và giáo dục lại con người trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Cần phải giáo dục lại quần chúng và chỉ có vận động và tuyên truyền mới có thể giáo dục lại họ được, trước hết cần phải gắn liền quần chúng với sự nghiệp xây dựng đời sống kinh tế chung" [19] Ở nước ta, ngay sau Cách mạng tháng 8/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra vấn đề giáo dục lại con người: "chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính" [19] Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về con người là sự kế thừa và phát triển lí luận Mác – Lênin về con người nói chung, coi con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, và muốn loại trừ sự tha hóa của con người thì phải cải

Trang 24

tạo các quan hệ nảy sinh sự tha hóa đó Chiều sâu nhân bản trong triết lý về con người của Hồ Chí Minh biểu hiện rõ trong luận đề: "Người đời không phải thánh thần, không

ai tránh khỏi khuyết điểm Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình" Theo Người, người ta mới sinh ra vốn đều tốt cả, nhưng về sau do ảnh hưởng của môi trường xã hội, giáo dục, mà dần dần mỗi người một khác: "Hiền dữ đâu phải

là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên"; đồng thời, "mỗi con người đều có thiện

và ác ở trong lòng ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi Đối với những người có thói hư tật xấu,

ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời" Xuất phát từ lòng nhân ái bao la, Hồ Chí minh có cái nhìn con người trong mối quan hệ đa dạng, nhiều chiều Theo đó, mỗi con người, mỗi cộng đồng đều có mặt tốt, mặt xấu, mặt đựơc và mặt chưa được như năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn trân trọng phần tốt, phần thiện, dù nhỏ nhất của con người quy tụ lại thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc, đồng thời Người tin tưởng mãnh liệt vào khả năng hướng thiện của con người tự cải biến mình để cải biến xã hội Quan điểm giáo dục của Hồ Chí Minh là phát triển cái tốt, cái thiện để khắc phục, đẩy lùi cái xấu, cái ác trong bản thân con người Niềm tin vào khả năng hướng thiện và hoàn lương đối với con người chỉ có trên cơ sở thấu hiểu tính nhân bản của con người để tin cậy và ra sức giúp đỡ, giáo dục con người trở nên tốt đẹp với tất cả tấm lòng nhân ái, bao dung

Kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục lại con người của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giáo dục, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện quan điểm xem xét và giải quyết vấn đề trẻ phạm pháp trong toàn bộ vấn đề giáo dục thế hệ trẻ nói chung Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em là truyền thống quý báu lâu đời của dân tộc ta, đồng thời cũng là nhiệm vụ lớn lao của toàn Đảng, toàn dân Vì vậy, vấn đề trẻ em được luật pháp Việt Nam ghi nhận trong nhiều văn bản Luật và dưới luật Tháng 2-1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em Trong số nhóm quyền bảo vệ trẻ em, Công ước đề cập đến nhu cầu phải bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử trong việc áp dụng luật pháp với người chưa thành niên, đồng thời yêu cấu các quốc gia thành viên thực hiện tất cả những biện pháp thích hợp để

Trang 25

phòng chống sự bóc lột và xâm hại trẻ em, bảo vệ các nạn nhân là trẻ em và tạo điều kiện cho các em phục hồi và tái hòa nhập [7] Từ khi Công ước quốc tế về Quyền trẻ

em có hiệu lực, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạch định chính sách, chủ trương, làm hài hòa giữa pháp luật của quốc gia với các quy định của Công ước Việt Nam đã có những hoạt động thành công trên lĩnh vực

tư pháp với người chưa thành niên, lao động trẻ em và lạm dụng tình dục trẻ em Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã khẳng định: Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Đây là một chế định pháp lý rất quan trọng về quyền trẻ em Các bộ luật khác như Luật quốc tịch Việt Nam, luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật phổ cập giáo dục tiểu học đều có những chương, điều qui định liên quan trực tiếp đến người chưa thành niên, nhất là thực hiện các quyền của trẻ em và quyền được bảo vệ của trẻ em Nhìn chung, những chế định của luật pháp quốc gia đều thống nhất thực thi theo tinh thần Cống ước quốc

tế về Quyền trẻ em

Đặc biệt Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 ngày 15/6/2004 thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2005 đã qui định các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt [31] Bốn nguyên tắc cơ bản đã được thể hiện rõ trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em là: Không phân biệt đối xử với trẻ em; Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em, thực hiện quyền, bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức; Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của mọi công dân, gia đình, nhà nước và toàn xã hội; Trẻ em nghèo, trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đều được giúp đỡ để hòa nhập gia đình, cộng đồng Trong chương IV về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, điều

58 qui định :

1 Trẻ em vi phạm pháp luật được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp

đỡ để sửa chữa sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống

xã hội và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội Việc tổ chức giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào trường giáo dưỡng

Trang 26

2 Việc xử lý trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trẻ em vi phạm pháp luật phải theo quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên

3 Trẻ em vi phạm pháp luật đã bị xử lý bằng biện pháp hành chính, hình sự cách

ly khỏi cộng đồng trong một thời gian nhất định, khi trở về gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện, giúp đỡ tiếp tục học văn hoá, học nghề và hỗ trợ tìm việc làm

4 Trường hợp trẻ em đã chấp hành xong thời hạn giáo dục hoặc hình phạt mà không có nơi nương tựa thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đưa vào cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo điều kiện để được học nghề và có việc làm

Thực hiện cam kết ngay sau khi ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Chính phủ Việt Nam cũng đã xây dựng các Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn

1991 – 2000, giai đoạn 2001 – 2005 với nhiều mục tiêu cụ thể và đã thu được những kết quả trong việc bảo vệ và thực hiện các quyền trẻ em Tại Hội nghị tham vấn khu vực Đông Á và Thái Bình Dương về trẻ em và HIV/AIDS tổ chức tại Hà Nội từ ngày 22-24/3/2006, bà Anupama Rao Singh, Giám đốc khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF ) khẳng định Việt Nam là một điển hình trong khu vực về tăng cường và bảo vệ quyền trẻ em thông qua chính sách

và chương trình của chính phủ Bà Singh nói: "Việt Nam đã có những cam kết rõ ràng

về bảo vệ trẻ em trong chính sách quốc gia cũng như của các nhà lãnh đạo Họ nhận thức rõ trẻ em là tương lai của đất nước, nên đã sẵn sàng đầu tư các nguồn lực và đề ra những chương trình đúng đắn để bảo vệ quyền trẻ em.” [34] Dự thảo Chiến lược bảo

vệ trẻ em và người chưa thành niên giai đoạn 2006 – 2010 đề ra mục tiêu tổng quát là :

“Mọi trẻ em và người chưa thành niên 16 – 18 tuổi được bảo vệ để phòng ngừa và tránh khỏi bị lạm dụng, xâm hại và bóc lột, có cơ hội phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện Trẻ em và người chưa thành niên 16 – 18 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt được giúp đỡ kịp thời, giải quyết khó khăn, có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản để phát triển và hoà nhập” Bản Dự thảo Chiến lược đặt ra ba mục tiêu cụ thể đến năm 2015 là “Tạo môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện, phòng ngừa lạm dụng, xâm hại và bóc lột để mọi trẻ em và người chưa thành niên 16 – 18 tuổi được sống và phát triển; mọi trẻ em

Trang 27

và người chưa thành niên có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại và bóc lột được giúp đỡ và tiếp cận các dịch vụ bảo vệ kịp thời, có hiệu quả; trẻ em và người chưa thành niên có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt được giúp đỡ, phục hồi, tái hoà nhập thông qua các dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng” Hàng loạt giải pháp đồng bộ được đề cập đến như xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, chính sách nhằm thực hiện các quyền được bảo vệ của trẻ em; hoàn thiện hệ thống tổ chức bảo vệ trẻ em; đẩy mạnh truyền thông, giáo dục, vận động, nâng cao nhận thức và kỹ năng về bảo vệ trẻ em; củng cố

và phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em; nâng cao chất lượng thông tin và dữ liệu

về trẻ em và người chưa thành niên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh hợp tác quốc tế; đầu tư kinh phí, nguồn lực; tổ chức đội ngũ cán bộ làm việc với trẻ

em, chuyên sâu về công tác bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên…[31]

Nhũng cơ sở lý luận trên như ngọn nến soi đường cho việc nghiên cứu vấn đề trẻ

em nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng

1.2 LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Người chưa thành niên

* Trẻ em

Trẻ em là lớp người ở trong độ tuổi từ sơ sinh đến lúc trưởng thành, ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về nhân cách để đạt tới độ hoàn chỉnh của người lớn Tuỳ theo những đặc điểm tâm sinh lý của các độ tuổi khác nhau, trẻ em được phân chia thành các lứa tuổi : sơ sinh, hài nhi, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên Trẻ em chưa có khả năng tự lập, sống phụ thuộc vào gia đình, dễ bị tổn thương về tâm sinh lý,

do đó được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật, có quyền được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ

Theo Điều 1 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 "trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn" [8] Định nghĩa về trẻ em theo Công ước quốc tế thể hiện ở 3 nội dung:

- Trẻ em là người từ 0 – 18 tuổi

- Là người chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực

Trang 28

- Cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt

Theo Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (Quốc

hội thông qua ngày 15/6/2004) trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Tuy vậy,

Điều 20 Bộ luật dân sự qui định tuổi thành niên của công dân Việt Nam là từ 18 tuổi trở lên ; Hiến pháp 1992 qui định tuổi bầu cử của mọi công dân Việt Nam là từ 18 tuổi trở lên ; Luật Hôn nhân và gia đình cũng qui định độ tuổi kết hôn của nữ là từ 18 tuổi, nam từ 20 tuổi trở lên Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi [2] Như vậy theo luật pháp quốc tế và Việt Nam

thì người chưa thành niên (NCTN) là những người dưới 18 tuổi, bao gồm cả trẻ em và những công dân từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa có năng lực và trách nhiệm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ như người thành niên

* Vị thành niên

Vấn đề về khái niệm vị thành niên vẫn chưa được thống nhất Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên, còn thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối cộng đồng chung châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 – 24 tuổi Hội KHHGĐ Việt Nam xác định vị thành niên – thanh niên là từ 10 – 24 tuổi Vị thành niên là từ 10 – 19 tuổi, chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ 10 – 14 tuổi; giai đoạn sau từ 15 – 19 tuổi [32] Chúng tôi quan niệm tuổi vị thành niên là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ trong đời của mỗi con người Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn và được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần, tình cảm và khả năng hòa

nhập cộng đồng Tuổi vị thành niên được hiểu là giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi và nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến tuổi trưởng thành

1.2.1.2 Người chưa thành niên phạm tội

Từ khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên và vị thành niên ở trên, có thể hiểu khái niệm người chưa thành niên đồng nhất với khái niệm trẻ em và vị thành niên Tuy nhiên thuật ngữ trẻ em dùng để chỉ những người chưa thành niên dưới 16 tuổi và chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý khi sử dụng để chỉ mối quan hệ pháp luật do Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em điều chỉnh, còn thuật ngữ người chưa thành niên dùng

để chỉ những người chưa đến tuổi trưởng thành về mặt tâm lý – xã hội để thực hiện

Trang 29

một số quyền và nghĩa vụ nhất định theo pháp luật Trong lĩnh vực pháp lý việc tách riêng hai thuật ngữ trẻ em và người chưa thành niên nhằm mục đích phục vụ cho việc thực hiện luật pháp với từng lứa tuổi khác nhau

"Người chưa thành niên phạm tội" là thuật ngữ được sử dụng trong luật hình

sự, tố tụng hình sự và tội phạm học Mặc dù Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2003 đã có những chương riêng “quy định đối với người chưa thành niên phạm tội” (Chương X BLHS) và “Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội” (Chương XXXII BLTTHS), nhưng cho đến nay chưa có một khái niệm pháp lý thống nhất về người chưa thành niên phạm tội Đa số các quan điểm xuất phát

từ quy định của Điều 68 BLHS để nhận thức rằng người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam “chỉ bao gồm những người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi" Nhưng cũng có quan điểm khác cho rằng nếu căn cứ vào quy định của điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 về tình tiết tăng nặng “xúi giục người chưa thành niên phạm tội" thì người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi mà không có giới hạn tối thiểu Khi một người đã thành niên xúi dục người chưa thành niên (tức là người dưới 18 tuổi,

kể cả người dưới 14 tuổi) phạm tội, thì người chưa thành niên bị xúi dục đó càng nhỏ tuổi thì trách nhiệm của người xúi dục hoặc sử dụng người chưa thành niên phạm tội càng lớn, càng nguy hiểm hơn

Tuy nhiên, ở đây chúng ta đang xem xét khái niệm người chưa thành niên phạm tội, chứ không phải khái niệm về người chưa thành niên nói chung Người chưa thành niên phạm tội phải thoả mãn hai điều kiện:

1/ Người đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm

2/ Người đó đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và ở trong độ tuổi được quy định tại Điều 68 BLHS

Điều 12 BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

"1 Người đủ từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Điều 68 BLHS về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội quy định:

“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm

Trang 30

hình sự ” [2] Như vậy, người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật nước ta là người có độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi Tuy nhiên, ở đây cần chú ý một số điểm

sau:

- Thứ nhất, đây là khái niệm pháp lý hình sự về “người chưa thành niên phạm

tội”, chứ không phải là khái niệm “người chưa thành niên” nói chung theo pháp luật hình sự Khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” bao hàm cả giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa về độ tuổi Có như vậy mới thể hiện đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội Còn khái niệm “người chưa thành niên” khác thì chỉ giới hạn ở về độ tuổi tối đa - đó là những người “chưa đủ

18 tuổi”

- Thứ hai, mặc dù pháp luật quy định “người chưa thành niên phạm tội” là

tương đối thống nhất, nhưng từ góc độ thực tiễn thì cách xác định “người chưa thành niên phạm tội” đối với từng trường hợp cụ thể trong các lĩnh vực lại khác nhau Hiện nay, theo thực tiễn tư pháp hình sự, thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự được tính đến thời điểm phạm tội; còn tuổi của người tham gia tố tụng (trong đó có người phạm tội) được tính đến thời điểm hoạt động tố tụng được thực hiện Như vậy, xảy ra tình trạng trong một vụ án hình sự, một bị can, bị cáo được coi là người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự để áp dụng luật vật chất đối với họ; nhưng người đó không được coi là người chưa thành niên phạm tội để áp dụng các biện pháp tố tụng đặc biệt theo quy định của BLTTHS Thực tiễn trên đã dẫn đến những bất cập cần được nghiên cứu giải quyết một cách hợp lý Ví dụ: người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng khi xét xử người đó đã đủ 18 tuổi thì Toà án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo Điều 70 BLHS (vốn là cơ sở giáo dục giành cho NCTN) được không; hoặc trường hợp ngay trong một hoạt động tố tụng kéo dài nhiều ngày mà trong thời gian đó người chưa thành niên phạm tội đủ 18 tuổi thì xử lý ra sao? có áp dụng thủ tục tố tụng đặc biệt nữa hay không v.v

- Thứ ba, trong lĩnh vực tội phạm học là ngành gần gũi và liên quan chặt chẽ

với lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất về khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Theo chúng tôi, tội phạm học nghiên cứu về thực trạng tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và nhân thân người phạm tội Trong đó

Trang 31

nghiên cứu các yếu tố làm phát sinh hoặc thúc đẩy hành vi phạm tội, các đặc điểm nhân thân người phạm tội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng gắn rất nhiều đến đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, đến môi trường sống Tất cả những yếu tố đó liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm Vì vậy, sẽ là hợp lý hơn từ góc độ tội phạm học nếu thực hiện việc tính tuổi người chưa thành niên phạm tội đến thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội Với nhận thức như vậy, khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự và tội phạm học là tương đồng nhau

- Thứ tư, nghiên cứu tình hình tội phạm người chưa thành niên cũng cần xuất

phát từ quy định của BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự Quy định của Điều 12 BLHS cho thấy nếu như người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, thống kê hình sự không thể bao hàm hết các hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm, nếu hành vi đó do người dưới 16 tuổi thực hiện Việc đánh giá về mặt tội phạm học không thể không cân nhắc yếu tố này Khi nghiên cứu tình hình tội phạm người chưa thành niên, đặc biệt là người chưa thành niên dưới 16 tuổi cần kết hợp với nghiên cứu các tệ nạn xã hội liên quan đến người chưa thành niên, nghiên cứu các vi phạm pháp luật khác, nhất là vi phạm hành chính do người chưa thành niên thực hiện thì mới đảm bảo tính chính xác, khách quan và toàn diện v.v

1.2.1.3 Tội phạm, tình hình tội phạm

Đối với các ngành khoa học pháp lý như hình sự, tố tụng hình sự, điều tra hình

sự, khái niệm "tội phạm" là khái niệm cơ bản, cơ sở Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 nêu

rõ tội phạm là "hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật hình sự, do

người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa" [2, tr 19] Xét về bản chất, nội dung chính trị -

xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm là hiện tượng xã hội có tính giai cấp và tính lịch

sử được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Về mặt

Trang 32

cấu trúc, tội phạm đều hợp thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy Những yếu tố đó là mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể Bất cứ hành vi phạm tội nào, không phụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể xâm hại hoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định [13]

Trong khoa học tội phạm, "tình hình tội phạm" là khái niệm cơ bản, cơ sở đầu

tiên "Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định" [28, tr 61] Từ quan điểm thống kê, tình hình tội phạm là tổng số các tội

phạm được thực hiện trong xã hội - đặc điểm về lượng của hiện tượng đó Mặt khác tình hình tội phạm còn biểu hiện ở đặc điểm về chất của hiện tượng Giữa các dấu

hiệu, đặc điểm của tình hình tội phạm có sự thống nhất biện chứng lượng - chất của hiện tượng Đó là mối liên hệ lẫn nhau giữa các dấu hiệu: qui mô rộng lớn của tình hình tội phạm, tính thay đổi về mặt lịch sử, tính giai cấp, tính tiêu cực, nội dung xã hội

và bản chất của nó Như vậy, tình hình tội phạm không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên các tội phạm thực hiện trong xã hội, mà là một tổng thể thống nhất biện chứng các tội phạm cụ thể cấu thành nên hiện tượng đó và của các dấu hiệu, đặc tính của hiện tượng Những thông số về lượng của tình hình tội phạm là thực trạng (mức độ) và động thái (diễn biến) của nó Những chỉ số về chất của tình hình tội phạm là cơ cấu và tính chất của nó [28]

1.2.1.4 Phân loại tội phạm và những người phạm tội

Tội phạm tuy có chung dấu hiệu nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau Những hành vi phạm tội cụ thể có

sự khác nhau về nguyên nhân và điều kiện phát sinh, về tính chất của các quan hệ xã hội, mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe doạ gây ra và

ở nhiều tình tiết khách quan, chủ quan khác Chính vì vậy mà việc phân loại tội phạm

là cơ sở để cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng Luật hình sự Việt Nam phân

Trang 33

tội phạm ra thành 4 nhóm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Theo điều 8 Bộ luật hình sự 1999: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là

đế 3 năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng

là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhật của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù.; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 cũng đã phân ra 14 nhóm tội phạm với 267 tội phạm cụ thể [2] Sự phân biệt các nhóm tội phạm thể hiện nguyên tắc phân hóa, nguyên tắc công bằng trong đường lối đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm khác nhau, giúp các nhà hoạt động thực tiễn cá thể hóa hình phạt khi áp dụng Luật hình sự

Phân loại những người phạm tội là sự phân chia những người phạm tội theo những nhóm xuất phát từ tiêu chuẩn nhất định [28] Việc phân loại những người phạm tội có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân hóa các biện pháp phòng ngừa và tác động, bảo đảm sự phù hợp tối ưu của các biện pháp phòng ngừa với khách thể và đối tượng Cách phân loại những người phạm tội đơn giản nhất là theo các loại tội phạm đã thực hiện, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện như đã nói ở trên

Theo quan điểm của Tội phạm học, có nhiều căn cứ phân loại những người phạm tội Căn cứ vào các đặc điểm nhân chủng học - xã hội, có thể phân loại những người phạm tội thuộc các lứa tuổi khác nhau, thuộc nam hay nữ giới Căn cứ vào tính chất

và nội dung của tính động cơ của hành vi phạm tội, có thể phân những người phạm tội

có thái độ coi thường - tiêu cực đối với cá nhân con người và các giá trị của nó, có khuynh hướng vụ lợi cá nhân, có thái độ coi thường - ích kỷ đối với các chế định, trách nhiệm công dân, gia đình Căn cứ vào chiều sâu và tính vững chắc của tính động cơ phạm tội và các định hướng giá trị có liên quan với tính động cơ, có thể phân ra những người lần đầu phạm tội do ngẫu nhiên, những người phạm tội tình huống, những người

Trang 34

phạm tội không kiên định, vững vàng, những người phạm tội ngoan cố, những người phạm tội đặc biệt nguy hiểm [28]

1.2.2 Những đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên phạm tội

1.2.2.1 Khái quát về đặc điểm tâm sinh lý của NCTN

Người chưa thành niên hay vị thành niên trong độ tuổi từ 10 – 19 tuổi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về cả thể chất và tinh thần Đây là thời kỳ diễn ra những biến đổi đột ngột, rõ rệt về cấu tạo cơ thể, về các chức năng sinh lý và những biến đổi sâu sắc về tâm lý – nhân cách

a Những đặc điểm phát triển về sinh lý

Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển sinh lý lứa tuổi vị thành niên là hiện tượng dậy thì Dưới góc độ sinh lý học, tuổi dậy thì là thời kỳ trưởng thành sinh dục, nghĩa là

có khả năng có con, đánh dấu bằng "hành kinh lần đầu" ở em gái và "xuất tinh lần đầu" ở em trai Trong tuổi này, con người phải trải qua những biến đổi lớn về cấu trúc

cơ thể, về các chức năng cũng như các hành vi Đó là một bước ngoặt cơ bản trong đời sống của mỗi con người Dậy thì là thời kỳ chuyển biến từ trẻ thơ sang tuổi trưởng thành, là thời kỳ quá độ khi không còn là một trẻ con nhưng vẫn chưa là một người lớn, là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng Giới hạn của tuổi này cũng như ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của cá nhân

có thể thay đổi tuỳ theo giới, đặc điểm cá nhân và môi trường sống (khí hậu, địa lý, xã hội - kinh tế) Tuổi dậy thì ở nam và nữ có sự khác nhau, nhìn chung nữ dậy thì sớm hơn nam khoảng 2 tuổi Các em gái có thể bắt đầu bước vào giai đoạn này từ 9 - 12 tuổi và kết thúc vào 17 - 18 tuổi Các em trai bắt đầu giai đoạn này chậm hơn, khoảng

10 - 14 tuổi và kết thúc vào 19 - 20 tuổi Thời kỳ dậy thì kéo dài trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm và được chia thành 2 giai đoạn nhỏ là:

- Giai đoạn trước dậy thì : ở nữ là 11 - 13 tuổi; ở nam là 13 - 15 tuổi

- Giai đoạn dậy thì chính thức : ở nữ là 13 - 15 tuổi, ở nam là 15 - 17 tuổi

Những biến đổi của tuổi dậy thì xuất hiện do ảnh hưởng của tuyến nội tiết, mà tuyến quan trọng nhất là tuyến yên nằm ở dưới đáy não Hoóc môn của nó tiết ra được đưa vào trong máu và tới các bộ phận khác của cơ thể Ớ đó, nó kích thích sự tăng trưởng và phát triển Thường là một trong hai năm đầu của thời kỳ dậy thì, não thuỳ tiết ra một hoá chất - một loại hoóc môn Hoóc môn này kiểm soát sự phát triển của

Trang 35

tuyến sinh dục: buồng trứng của nữ và tinh hoàn của nam Buồng trứng và tinh hoàn tiết ra những hoóc môn khác làm phát triển những đặc tính thể chất của người nam hoặc người nữ trưởng thành Ở lứa tuổi dậy thì, cả em trai và em gái đều có đặc điểm chung là lớn nhanh và có những biến đổi khá lớn về sinh lý Đặc biệt ở giai đoạn "nhổ giò" các em trai có thể cao thêm từ 8 - 15cm mỗi năm, kéo dài khoảng 2 năm và sau đó chàng thanh niên sẽ đạt tầm vóc vĩnh viễn Cũng ở trong giai đoạn này, các em gái vụt tăng lên 6 - 10 cm và lấy đà để đạt "tầm cỡ dứt khoát' vào khoảng 22 - 25 tuổi Hoạt động nội tiết, sinh dục chiếm ưu thế, chức năng sinh dục trưởng thành Song, ở tuổi dậy thì, những khác biệt giữa nam và nữ được thể hiện ngày càng rõ nét, đặc biệt là về sinh lý [

Tuổi dậy thì là tuổi "khó bảo", "có lớn mà chưa có khôn" còn có thể gọi là tuổi

"nổi loạn" Nguyên nhân chủ yếu là do chất adrenalin trong cơ thể tăng lên làm tim đập nhanh, tăng huyết áp dễ dẫn đến các hành vi bột phát thiếu suy nghĩ chín chắn Điều đáng quan tâm ở lứa tuổi dậy thì là về thể chất trẻ em phát triển rất mạnh nhưng kinh nghiệm sống và xử thế lại rất non nớt Với một thể xác cao to, tràn đầy sức sống nhưng các em lại không hiểu đầy đủ về chính mình và không có kinh nghiệm phòng tránh những tác động xấu của môi trường sống Khi bước vào tuổi vị thành niên, trẻ

em bước vào ngưỡng cửa của người lớn, nhưng thực chất chưa phải là người lớn, cho nên trong các em chứa đựng nhiều mâu thuẫn Vì vậy, ở lứa tuổi này sự quan tâm giáo dục của người lớn là hết sức quan trọng [34]

b Những biến đổi về tâm lý - nhân cách

Cùng với những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì, đời sống tâm lý của vị thành niên có những thay đổi sâu sắc Những thay đổi chủ yếu nhất của lứa tuổi này là tính tự lập, nhu cầu giao tiếp, sống có bạn bè, thái độ cư xử với bạn khác giới, hiểu được tầm quan trọng của giá trị sống, những cảm xúc thay đổi, xuất hiện cảm xúc tình

dục

Tính tự lập là biểu hiện động cơ mạnh mẽ của thiếu niên muốn bỏ đi những gì

là trẻ con và vươn tới những điều của người lớn, ý thức về mình bắt đầu hình thành, trẻ bắt đầu tìm cách để khẳng định mình như là một cá nhân độc lập, tự điều khiển mình Tuy nhiên trẻ chưa có kinh nghiệm sống và chưa tự điều khiển hành vi bằng lý trí như người đã trưởng thành Đây chính là vấn đề làm phát sinh nhiều mâu thuẫn trong chính

Trang 36

bản thân trẻ và với người khác, từ đó nảy sinh những chống đối Sự thực là vị thành niên phải điều chỉnh bản tính trẻ con của mình cho phù hợp với tuổi mới lớn Sự thay đổi này không phải là dễ dàng và thường được ghi nhận trong những xung đột Bởi vì cha mẹ cho rằng VTN vẫn còn là trẻ con nên ở độ tuổi này trẻ hay cãi lại cha mẹ Ở tuổi này nhu cầu muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng và sự kiểm soát của gia đình là hiện tượng tự nhiên của quá trình trưởng thành để chuẩn bị làm người lớn Khi ý thức tự lập

và ý muốn được đối xử như với người lớn phát triển, VTN thường có tâm lý "phóng đại" các khả năng của mình và thường tự đánh giá cao bản thân, cao hơn thực hiện Điều này được thể hiện ở sự ngang bướng, tỏ ra "anh hùng" "bất cần" trước những việc làm hàng ngày cũng như những thất bại đã trải nghiệm Chính vì vậy, đây là một trong nhũng khó khăn điển hình của lứa tuổi này và nhiều nhà tâm lý học đã dùng những thuật ngữ như "tuổi khủng hoảng", "tuổi bất trị", "tuổi không thể giáo dục" để chỉ nó

Sự thực thì những khó khăn, những xung đột này có thể giải quyết được Thực tế cho thấy sự phát triển ý thức tự lập, nguyện vọng làm người lớn phụ thuộc rất nhiều vào sự

bổ sung, uốn nắn của giáo dục nói chung và các bậc phụ huynh nói riêng Bản thân VTN cũng phải cố gắng lắng nghe lời khuyên của người lớn, tìm ra những mong muốn thiện chí, hợp lý của mọi người để tự điều chỉnh hành vi và có những ứng xử phù hợp

Nhu cầu giao tiếp: Khi thiếu niên bắt đầu thể hiện tính tự lập, không lệ thuộc vào

cha mẹ cũng là lúc các em tìm đến bạn bè để tìm kiếm một sự đồng tình, đồng cảm Đối với các em lúc này, việc chiếm được thiện cảm của bạn bè là vấn đề quan tâm hàng đầu Nhu cầu muốn được người khác nhìn nhận, đánh giá là đặc biệt thiết yếu Thế giới thiếu niên là thế giới của riêng các em với những lối sống đặc biệt, từ cách ăn mặc, nói năng đến lối cư xử Nhu cầu cần có bạn tâm tình và thông cảm là một nhu cầu đặc trưng, nổi bật ở lứa tuổi này Vị trí bình đẳng trong quan hệ bạn bè đặc biệt hấp dẫn các em Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ bạn bè phù hợp với nội dung đạo đức của cảm giác về mức trưởng thành của bản thân thiếu niên Điều đó tạo điều kiện phát triển những quan hệ cùng tuổi theo chiều sâu Quan hệ với bạn bè ở lứa tuổi này tương đối phức tạp, đa dạng và có nội dung Sự giao tiếp với bạn bè vượt ra ngoài giới hạn của việc học tập và bao quát những hứng thú mới, những việc làm, những quan hệ mới tạo thành một lĩnh vực độc lập và rất quan trọng đối với đời sống của thiếu niên Yêu cầu trong quan hệ bạn bè có những nội dung và sắc thái mới Thiếu niên đánh giá

Trang 37

cao những phẩm chất như: Sự nhanh trí, tính can đảm, khả năng làm chủ bản thân và một trong những ưu điểm được thiếu niên xếp hàng đầu là những phẩm chất của tình bạn Điều đó có nghĩa là: Muốn được thừa nhận, tôn trọng hay nổi tiếng, không bao giờ được "phản bội" lại bạn của mình

Những cảm xúc của tuổi dậy thì được biểu hiện khác với giai đoạn trước đó Sự

thay đổi về cơ quan sinh dục làm nảy sinh những vấn đề lớn ở cả các em trai và các em gái Các em trai ý thức được sự phát triển của cơ quan sinh dục nam, những sự cương dương vật, mộng tinh, khiến các em khó chịu, lúng túng Các em gái phát triển vú

và có kinh nguyệt, những điều này cũng làm họ bận tâm, lo lắng sợ rằng mình có một

sự phát triển bất bình thường, lo lắng về sức khoẻ, bệnh tật, về vẻ đẹp bên ngoài Trong hành vi của các em trai, thấy có biểu hiện của sự dễ cảm xúc mạnh đối với những vấn đề liên quan đến các em gái, làm dáng để lôi kéo sự chú ý của các bạn gái nhưng khi có một mình giữa các bạn gái cùng tuổi thì lại tỏ ra lúng túng Trong cư xử với bạn gái cùng tuổi thường có khuynh hướng bắt chước người lớn Các em gái làm dáng kín đáo hơn, thường lôi kéo sự chú ý của các bạn trai bằng vẻ ngoài cố tình "phớt lờ" hoặc cố tình khôi hài và chế nhạo Lúc dậy thì là lúc nữ tính bắt đầu bộc lộ Trong một thời gian dài, các em sống trong bầu không khí yêu đương nhưng không phải theo chiều hướng bị hấp dẫn bởi một đại diện cụ thể nào của giới khác Các em gái có nhu cầu cho tình yêu chính mình, các em thích yêu và tình cảm này cũng thấy được ở phụ

nữ trưởng thành Ở lứa tuổi này, sự phát triển tâm lý tình cảm không theo kịp đà phát triển của thể chất Các em trai và gái bất chợt thấy mình có một dáng hình mới và phải đối đầu với một loạt những căng thẳng và xúc cảm tình dục

Như đã nói, tuổi thiếu niên là lứa tuổi của dậy thì và phát dục Tuổi dậy thì đã kích thích ở thiếu niên mối quan tâm tới người khác giới, làm nảy sinh những rung cảm, xúc cảm giới tính mới lạ Quan hệ với bạn khác giới ở lứa tuổi này không hồn nhiên, "vô tư" như ở các học sinh nhỏ Lúc này bạn trai, bạn gái thường xử sự một cách thẹn thùng, kín đáo, tế nhị với nhau Những biểu hiện giới tính này có lúc được che giấu nhưng có lúc được biểu lộ một cách ồn ào, suồng sã thiếu tự nhiên Nhìn chung, những rung cảm giới tính ban đầu ở tuổi thiếu niên là trong sáng Các em chỉ mong thoả mãn tâm trạng này bằng một mối thiện cảm nho nhỏ, một lời nói dịu dàng, một cử chỉ quan tâm, một nụ cười trìu mến Tâm trạng này sẽ qua đi nhanh chóng khi

Trang 38

các em được sống trong một môi trường lành mạnh và có những người lớn quan tâm, hiểu các em, biết hướng các em vào những hoạt động bổ ích, vào những mối quan hệ bạn bè vô tư trong sáng

Tóm lại: Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn “quá độ” từ một đứa trẻ sang người

lớn - người trưởng thành, lứa tuổi có những dấu hiệu đặc biệt về tâm sinh lý, có thể khái quát thành hai đặc điểm tâm lý nổi bật sau đây:

- Xét về thể thức biểu hiện của các qúa trình tâm lý và thuộc tính tâm lý, đây là một thời kỳ biến động nhanh, mạnh, đột ngột có những đảo lộn cơ bản Từ đó dễ có tình trạng mất cân đối, không bền vững của các hiện tượng tâm lý, đồng thời cũng là một thời kỳ chứa nhiều mâu thuẫn, xung khắc, do đó sự diễn biến của các hiện tượng tâm lý và các thuộc tính tâm lý dễ theo hướng cực đoan

- Về nội dung tâm lý, đặc trưng cơ bản của lứa tuổi này là mâu thuẫn giữa một bên là tính chất quá độ "không còn là trẻ con nữa nhưng chưa phải là người lớn", và bên kia là ý thức bản ngã phát triển mạnh mẽ Từ đó gây nên những xung đột với người lớn khi đòi hỏi mọi người phải đối xử với mình như đối xử với người lớn

Với những đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi VTN như trên, vần đề đặt ra là chúng

ta phải đối xử và giáo dục như thế nào đối với lứa tuổi này Nếu được giáo dục một cách toàn diện với phương pháp đúng đắn thì sẽ giúp cho vị thành niên phát triển lành mạnh, hoàn thiện về nhân cách

1.2.2.2 Một số đặc điểm tâm lý nổi bật của người chưa thành niên phạm tội

Tất cả những người ở tuổi vị thành niên đều có những đặc điểm phát triển về tâm sinh lý giống nhau Nhưng ở người chưa thành niên phạm tội phần nhiều chịu sự tác động của những nguyên nhân khác nhau khiến cho các biểu hiện tâm lý có phần không giống như người chưa thành niên bình thường nữa Những đặc điểm tâm lý đã bị biến dạng theo chiều hướng âm tính, khi gặp phải những tình huống đột xuất, bất ngờ kích động hay một số nhu cầu cơ bản không được đáp ứng hoặc được đáp ứng không đầy đủ… NCTN dễ dàng phạm tội

* Về nhu cầu, hứng thú: Nhìn chung toàn bộ hành vi của NCTNPT đều xuất phát

từ nhu cầu gây ấn tượng, nhu cầu tự khắng định phát triển một cách lệch lạc Xuất phát

từ nhu cầu muốn khẳng định mình, NCTN luôn tìm mọi cách làm nổi bật bằng hành vi bất thường như gây gổ, quậy phá, chống đối, hút xách, uống rượu Phần lớn

Trang 39

NCTNPT thường có nhu cầu quá cao về vật chất và tinh thần (ăn chơi, nghiện hút, sống bê tha ) nên có thói quen thoả mãn các nhu cầu đó bằng những hành vi bất thường, bất lương như trộm cắp, cướp giật, gây thương tích, giết người NCTHPT thường có ham muốn tầm thường, nặng về vật chất thấp hèn, thậm chí kỳ quặc, không còn hứng thú học tập, hiểu biết như trẻ bình thường; thường thích kết bạn với trẻ cùng cảng ngộ làm trái pháp luật Trong khi thực hiện hành vi phạm tội, chúng thường kết

bè, kết cánh với nhau, tụ tập thành “nhóm”, “băng”, “đảng”…trong đó vai trò của “thủ lĩnh” được đề cao và có sức ám thị

* Về trí tuệ: ở NCTNPT có sự phát triển chậm về trí tuệ, tư duy trừư tượng kém

hơn trẻ em bình thường, nặng nề về tư duy cụ thể, thực dụng, không biết phân tích, đánh giá đúng một hiện tượng Học yếu kém, chán học, trốn học, bỏ học, coi thuờng học tập, hiểu biết nhưng lại thường khéo léo, “mưu trí” trong thực hiện hành vi trái pháp luật Chính vì NCTNPT có trình độ học vấn thấp (đa số có tiền sử học yếu, học kém, bỏ học sớm ) nên trình độ nhận thức chung về đạo đức, pháp luật, lối sống lệch lạc, buông thả, bất cần

* Về tình cảm: Tình cảm của những NCTNPT thường thiếu bền vững, dễ dàng

thay đổi nhưng lại rất mạnh mẽ, có tính xung động cao, dễ bị kích động, bồng bột, sôi nổi Tình cảm bạn bè trở thành nhu cầu lớn, nhưng thường là kết bạn trong nhóm bạn

bè xấu nên tình bạn trở thành đồng bọn, dễ thân nhau mà cũng dễ phản bội nhau

* Về tính cách: NCTHPT không còn là trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người

lớn nên tính cách chưa ổn định Nét tính cách đặc trưng là muốn vươn lên làm người lớn, muốn hoạt động thử sức… nên có xu hướng bắt chước cái xấu của người lớn hay

bị người lớn lôi kéo; Có tính độc lập cao, muốn tự khẳng định mình nên khi có sự ràng buộc hay can thiệp vào các hoạt động của cá nhân thì cãi lại, bướng bỉnh, vô kỷ luật, ngổ ngáo xấc xược, nếu bị đánh mắng, xúc phạm thì phản ứng quyết liệt, chống trả hoặc nảy sinh tiêu cực, bất cần đời… NCTHPT thường muốn chơi trội, muốn mọi người chú ý đến mình nên thích khác người, thích tự tạo ra những trạng thái thần kinh kích động mạnh như đánh lộn, rượu chè, đua xe… Để thực hiện những nhu cầu theo hướng không bình thường, NCTNPT thực hiện những hành vi sai lệch và luôn cảnh giác tự vệ Vì vậy họ luôn nói dối, giấu diếm khuyết điểm, tự biện hộ cho hành vi của mình, bao biện, thoái thác Ở mức độ cao phản ứng đối với xã hội trở thành thói quen

Trang 40

bao trùm lên mọi hành vi đạo đức của họ, cho nên mọi sự khuyên bảo, giáo dục có thể

bị hiểu theo nghĩa bóp méo, xuyên tạc và phản ứng là gây gổ, hành hung, chống đối…

Ở phần lớn NCTNPT, những phẩm chất xấu chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách thường là: lười biếng; thiếu quyết tâm; vô trách nhiệm; hay bắt chước mù quáng; thô lỗ; gây gổ, chống đối, ích kỷ, cực đoan, hung bạo, độc ác… Các nhà tâm lý học và giáo dục học đã khái quát 5 dấu hiệu cơ bản trong hành vi của NCTNPT là:

- Tính mâu thuẫn trong hành vi do những mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển nhân cách tạo nên

- Thái độ xung đột thường diễn ra đối với người xung quanh

- Trẻ có hành vi vi phạm pháp luật ngẫu nhiên, trái ngược với xu hướng chung của nhân cách

- Trẻ có hành vi vi phạm pháp luật có tính chất khả dĩ do tính không ổn định của

xu hướng chung của nhân cách nhưng mang tính chất tình huống về duyên cớ và hoàn cảnh

- Trẻ có hành vi vi phạm pháp luật là do kết quả chung của sự định hướng tiêu cực của nhân cách nó qui định sự lựa chọn môi trường, sử dụng thời gian và phương

án trực tiếp của hành động khi có sự xúi giục, có gương phạm tội của kẻ khác

- Trẻ có hành vi vi phạm pháp luật là do kết quả của tâm thế phạm tội của nhân cách bao gồm sự tìm kiếm tích cực, sự tổ chức cơ hội và tình huống cho hoạt động phạm tội phù hợp với hệ thống những giá trị và thái độ chống đối xã hội tương đối ổn định

Tóm lại: NCTNPT có những đặc điểm tâm sinh lý khác biệt theo hướng xấu so với bình thướng Những đặc điểm này do điều kiện sống, hoàn cảnh, giáo dục tạo nên Phương châm của nhà giáo dục là "Không có trẻ nào không giáo dục được", dù cho

Ngày đăng: 09/02/2015, 05:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BỘ CÔNG AN, Những qui định của pháp luật Việt Nam đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Vụ pháp chế, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những qui định của pháp luật Việt Nam đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
2. Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. ĐỖ THỊ BÌNH, – LÊ NGỌC VĂN – NUYỄN LINH KHIẾU, Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình..., Nxb Khoa học xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. CÔCHÊTỐP. A.I. , Những vấn đề lý luận đức dục, Nxb Giáo dục, HN, 1975 5. TRẦN ĐỨC CHÂM, "Thanh thiếu niên phạm tội - xét từ góc độ giáo dục ở nhàtrường", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 9/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận đức dục
Tác giả: CÔCHÊTỐP. A.I
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
6. LÊ VĂN CƯƠNG (chủ biên ), Tâm lý phạm tội và vấn đề chống tội phạm, Nxb Công an nhân dân, HN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý phạm tội và vấn đề chống tội phạm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
7. BÙI THIỆN CƠ, "Giáo dục học sinh hư, phạm pháp trên địa bàn dân cư", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 11/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học sinh hư, phạm pháp trên địa bàn dân cư
8. Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1998 9. PHẠM NGỌC CƯỜNG – NGUYỄN VĂN HIẾN... Số tay phòng chống tộiphạm và tệ nạn xã hội, NXB Lao động - Xã hội, HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội
Tác giả: PHẠM NGỌC CƯỜNG, NGUYỄN VĂN HIẾN
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2003
12. ĐĂNG VŨ HỌAT, "Quá trình giáo dục lại học sinh hư và học sinh phạm pháp", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 10/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình giáo dục lại học sinh hư và học sinh phạm pháp
13. NGUYỄN NGỌC HÒA, Cấu thành tội phạm - lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, HN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành tội phạm - lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
14. PHẠM MINH HẠC (chủ biên), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH, Nxb Chính trị quốc gia HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia HN
16. PHẠM LĂNG, "Vấn đề gia đình và trẻ em phạm pháp", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 10/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề gia đình và trẻ em phạm pháp
17. MAKARENCÔ.A.X., Tuyển tập các tác phẩm sư phạm, Nxb Giáo dục, HN, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các tác phẩm sư phạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. HỒ CHÍ MINH, Về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. VÕ QUANG PHÚC, Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp tại TP. HCM, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VÕ QUANG PHÚC, "Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp tại TP. HCM
20. PATRICIA GREY, "Những nguyên nhân xã hội của tội phạm vị thành niên ở Hồng Kông", Kỷ yếu Hội thảo khoa học về trẻ em lang thang, phạm pháp, HN, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên nhân xã hội của tội phạm vị thành niên ở Hồng Kông
21. Phạm nhân vị thành niên: Luật, chính sách và thực hành, Nxb Sweet and Maxxwell, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm nhân vị thành niên: Luật, chính sách và thực hành
Nhà XB: Nxb Sweet and Maxxwell
22. MẠC VĂN TRANG, "Bước đầu tìm hiểu qúa trình biến đổi tâm lý của trẻ bình thường đến vị thành niên phạm pháp", Tạp chí NCGD 5/1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu qúa trình biến đổi tâm lý của trẻ bình thường đến vị thành niên phạm pháp
23. TRẦN TRỌNG THỦY, "Một số vấn đề tâm lý học về thiếu niên phạm pháp", Kỷ yếu Hội thảo định hướng cho cán bộ công tác với trẻ em làm trái pháp luật, HN 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lý học về thiếu niên phạm pháp
24. RITA REDDY, "Chiến lược và kinh nghiệm phòng ngừa trẻ em lang thang, phạm pháp trong khu vực", Kỷ yếu Hội thảo khoa học về trẻ em lang thang, phạm pháp, HN, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và kinh nghiệm phòng ngừa trẻ em lang thang, phạm pháp trong khu vực
25. TED RUBIN.H., Tư pháp vị thành niên: chính sách, thực tiễn và pháp luật, Nxb Mc - Hill, Inc, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp vị thành niên: chính sách, thực tiễn và pháp luật
Nhà XB: Nxb Mc - Hill

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5. Tổng hợp các loại tội danh NCTN vi phạm từ 2001 – 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.5. Tổng hợp các loại tội danh NCTN vi phạm từ 2001 – 2005 (Trang 58)
Hình sự thì có 44 người là phạm tội cướp, cướp giật TSCD); tội trộm cắp tài sản công - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Hình s ự thì có 44 người là phạm tội cướp, cướp giật TSCD); tội trộm cắp tài sản công (Trang 61)
Bảng 2.8. Thống kê số vụ và số đối tượng NCTNPP từ 2001 – 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.8. Thống kê số vụ và số đối tượng NCTNPP từ 2001 – 2005 (Trang 63)
Bảng 2.9. Tổng hợp kết quả xét xử NCTNPT từ 2001 – 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.9. Tổng hợp kết quả xét xử NCTNPT từ 2001 – 2005 (Trang 65)
Bảng 2.13. Tình hình NCTNPP  theo trình độ học vấn từ 2001 – 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.13. Tình hình NCTNPP theo trình độ học vấn từ 2001 – 2005 (Trang 73)
Bảng 2.14. Tổng hợp số NCTNPT theo địa bàn cư trú  từ 2001 – 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.14. Tổng hợp số NCTNPT theo địa bàn cư trú từ 2001 – 2005 (Trang 74)
Bảng 2.15. Tình hình NCTN PP ở TP. HCM giai đoạn 2001 - 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.15. Tình hình NCTN PP ở TP. HCM giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 77)
Bảng 2.16. Tổng hợp các tội danh NCTNPP  bị xử lý hành chính 2001 - 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.16. Tổng hợp các tội danh NCTNPP bị xử lý hành chính 2001 - 2005 (Trang 80)
Bảng 2.17. Các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN PP  2001 - 2005 - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.17. Các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN PP 2001 - 2005 (Trang 81)
Bảng 2.22. Người mà trẻ sống trước khi vào trường - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.22. Người mà trẻ sống trước khi vào trường (Trang 91)
Bảng 2.24. Những lỗi thường mắc phải của NCTN khi còn học ở PT - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.24. Những lỗi thường mắc phải của NCTN khi còn học ở PT (Trang 99)
Bảng 2.27. Đánh giá của cán bộ về nguyên nhân từ phía bản thân NCTNPP - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.27. Đánh giá của cán bộ về nguyên nhân từ phía bản thân NCTNPP (Trang 106)
Bảng 2.29. cho thấy có 73 HV (37.1%) “không hiểu”, 74 HV (37.6%) “hiểu lơ mơ”, - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.29. cho thấy có 73 HV (37.1%) “không hiểu”, 74 HV (37.6%) “hiểu lơ mơ”, (Trang 107)
Bảng 3.1. Hiệu quả công tác phòng chống NCTNPP của cơ quan chức năng - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 3.1. Hiệu quả công tác phòng chống NCTNPP của cơ quan chức năng (Trang 116)
Bảng 3.3. Nguyên nhân hạn chế hiệu quả công tác phòng chống NCTN PP - nghiên cứu tình hình phạm tội của người chưa thành niên tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001-2005
Bảng 3.3. Nguyên nhân hạn chế hiệu quả công tác phòng chống NCTN PP (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w