1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể

161 469 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH ĐOÀN TP.HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH VƯỜN ƯƠM SÁNG TẠO KH - CN TRẺ BÁO CÁO NGHIỆM THU Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu ngày 29 tháng04 năm 200

Trang 1

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH ĐOÀN TP.HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH VƯỜN ƯƠM SÁNG TẠO KH - CN TRẺ

BÁO CÁO NGHIỆM THU

(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu ngày 29 tháng04 năm 2009)

KHẢO SÁT CÁC LOẠI HÌNH VÀ CÁCH THỨC TẬP HỢP THANH NIÊN CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT VÀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chủ nhiệm đề tài:

TH.S NGUYỄN ĐỨC LỘC

Cơ quan chủ trì:

TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TRẺ

Thời gian thực hiện đề tài: 12 tháng

Kinh phí được duyệt: 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng chẵn)

Mục tiêu:

- Nhằm nhận diện thực trạng hoạt động các tổ chức đòan thể dành cho thanh niên công nhân tại khu chế xuất, khu công nghiệp với những việc làm được cũng như chưa làm được, xuất phát từ nhu cầu nguyện vọng của công nhân

- Đề xuất các loại hình cũng như cách thức tập hợp thanh niên công nhân vào sinh hoạt tập thể hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, đồng thời là chỗ dựa tinh thần cho thanh niên công nhân xa quê đang làm việc tập trung tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Trang 2

MỤC LỤC DẪN LUẬN Số trang

1 Lý do – mục đích nghiên cứu 7

2 Mục tiêu của đề tài 10

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

4 Giả thuyết nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề 12

- Về địa bàn nghiên cứu 12

- Về phương pháp – kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THANH NIÊN CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP – KHU CHẾ XUẤT TP.HCM 1.1 Các khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu 20

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài 32

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 37

1.4 Đặc điểm về đội ngũ công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp - khu chế xuất TP.HCM 40

1.4.1 Đặc điểm về tuổi tác 40

1.4.2 Đặc điểm quê quán, thành phần xuất cư 42

1.4.3 Đặc điểm chuyên môn tay nghề 43

Trang 3

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP –

KHU CHẾ XUẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Đời sống vật chất của công nhân 50

2.1.1 Điều kiện sống 50

2.1.2 Thời gian làm việc 54

2.1.3 Thu nhập và chi tiêu 57

2.2 Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân 73

2.2.1 Thời gian rảnh rỗi và các hoạt động văn hóa tinh thần 75

2.2.2 Nhận diện nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân 84

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẬP HỢP THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP – KHU CHẾ XUẤT TP.HCM 3.1 Thực trạng nhu cầu của thanh niên tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể .90

3.2 Thực trạng và cách thức họat động của các tổ chức chính trị xã hội tại các khu công nghiệp tập trung – khu chế xuất 92

3.2.1 Tổ chức Công đoàn 94

3.2.2 Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh 104

3.2.3 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 120

3.2.4 Hội Liên Hiệp Thanh niên Việt Nam 123

3.3 Thực trạng và cách thức tập hợp thanh niên vào các nhóm không chính thức tại các khu công nghiệp tập trung – khu chế xuất 129

3.3.1 Các nhóm không chính thức quan hệ hàng ngang 130

3.3.2 Các nhóm không chính thức quan hệ hỗn hợp 136

KẾT LUẬN 143

PHỤ LỤC 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

Trang 5

Mục lục bảng số liệu

Soá trang

Bảng 1.1: Độ tuổi Thanh niên Công Nhân 41

Biểu đồ 1.1: Đặc điểm tay nghề của công nhân 44

Biểu đồ 1.2: Trình độ học vấn 45

Biểu đồ 2.1: Hiện anh/chị đang sống ở 51

Biểu đồ 2.2: Số người ở chung 52

Bảng 2.1: Mối quan hệ với người ở chung 52

Bảng 2.2: Phương tiện đi làm 53

Bảng 2.3: Số ngày làm tính trung bình tuần 55

Bảng 2.4: Số giờ làm việc tính trung bình mỗi ngày 55

Biểu đồ 2.3: Thu nhập trung bình 68

Bảng 2.5: Tiền nhà trọ(VNĐ) 59

Bảng 2.6: Tiền ăn 60

Bảng 2.7: Tiền sinh hoạt cá nhân 61

Bảng 2.8: Tiền giải trí 62

Bảng 2.9: Tiền chi cho hội họp liên hoan sinh nhật 62

Bảng 2.10: Tiền học 63

Bảng 2.11: Tổng chi (VNĐ) 64

Bảng 2.12: Thu trừ Chi (VNĐ) 65

Biểu đồ 2.4: Số lượng đình công tại Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2007 67

Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ đình công tại Việt Nam theo loại hình doanh nghiệp từ năm 1995- 2007 68

Biểu đồ 2.6: Đình công tại Việt Nam theo loại hình doanh nghiệp từ năm 1995- 2007 69

Bảng 2.13: Diễn biến lương tối thiểu ở Pháp 71

Biểu đồ 2.7: Lương tối thiểu của người lao động đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ năm 1996, 1997 đến 1-1-2008 72

Bảng 2.14: Nguyên nhân cần nhận được sự giúp đỡ của hàng xóm, họ hàng 73

Bảng 2.15: Nguyên nhân cần nhận được sự giúp đỡ của bạn bè 73

Bảng 2.16: Nguyên nhân cần nhận được sự giúp đỡ của Tổ chức chính trị xã hội 73

Bảng 2.17: Mức độ tăng ca 76

Bảng 2.18: Thời gian ranh rỗi trong một ngày 77

Bảng 2.19: Các hội thi văn nghệ/ thể thao nhân các ngày lễ lớn 78

Bảng 2.20: Các buổi dã ngoại, tham quan du lịch 79

Bảng 2.21: Mức độ tổ chức các hội thi văn nghệ/ thể thao nhân các ngày lễ lớn 79

Trang 6

Bảng 2.22: Mức độ tổ chức các buổi dã ngoại, tham quan du lịch 80

Bảng 2.23: Những việc thường làm trong thời gian rảnh rỗi 81

Bảng 2.24: Xếp loại nhu cầu ưu tiên của công nhân Q.7 85

Bảng 2.25: Xếp loại nhu cầu ưu tiên của công nhân Q Thủ Đức 85

Bảng 2.26: Xếp loại nhu cầu ưu tiên của công nhân Q 12 86

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả tham gia sinh hoạt tập thể của công nhân 95

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Công đoàn 98

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả công nhân nhờ đến sự giúp đỡ của Công đoàn khi gặp khó khăn 98

Biểu đồ 3.1: Thể hiện sự tham gia của tổ chức Công đoàn trong các hoạt động 100

Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Đoàn Thanh niên .105

Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia sinh hoạt Đoàn - Hội trong thời gian rãnh rỗi trước đây 106

Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia sinh hoạt Đoàn - Hội thời gian trước đây 107

Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả tương tác công nhân tham gia sinh hoạt Đoàn - Hội thời gian trước đây và hiện tại 107

Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 120

Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Hội Liên Hiệp Thanh Niên 123

Bảng 3.10: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia các tổ chức chính thức theo 3 địa bàn khảo sát 126

Bảng 3.11: Tổng hợp Vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong việc tổ chức các chương trình chia theo từng khu vực 127

Bảng 3.12: Hiện nay anh/chị có tham gia chơi hụi 130

Bảng 3.13: Tỉ lệ Nam – nữ tham gia chơi hụi 131

Bảng 3.14: Hình thức chơi hụi 133

Bảng 3.15: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia các tổ chức phi chính thức theo 3 địa bàn khảo sát 135

Bảng 3.16: Tổng hợp kết quả đánh giá của công nhân về Lợi ích mà Tổ chức Công Đoàn mang lại 137

Bảng 3.17: Tổng hợp kết quả đánh giá của công nhân về Lợi ích mà Hội đồng hương mang lại 138

Trang 7

DẪN LUẬN

1 Lý do – mục đích nghiên cứu :

Cùng với sự nghiệp đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Tính đến cuối năm 2005, tổng số công nhân lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã lên đến 11,3 triệu người Trong đó doanh nghiệp nhà nước là 1,84 triệu, công nhân trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước 2,95 triệu, tăng 6,86 lần; 1,3 triệu công nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,3 lần; doanh nghiệp cá thể 5,29 triệu, tăng 1,63 lần so với 1995 1 Công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, ngành dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm 4,8% Riêng các cơ sở kinh tế cá thể công nhân chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ và thương mại chiếm 66,67%; 33,33% còn lại làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.2

Tuy nhiên, nhìn vào đời sống công nhân hiện nay tại các đô thị lớn ở Việt Nam, có lẽ những công nhân Việt Nam trước đây cũng không thể lường hết những khó khăn mà công nhân ngày nay đang gặp phải Nếu như trước kia người công nhân Việt Nam còn có “hậu phương” là mảnh vườn, miếng đất để phòng kế mưu sinh thì người công nhân ngày nay đa phần phải rời xa quê hương đến tập trung tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong sự bơ vơ, thiếu thốn… và hành trang của

họ trong cuộc mưu sinh không có gì khác hơn là những ước mơ đổi đời, nhưng thực

tế của họ chỉ là cuộc sống tạm bợ của lớp nghèo thành thị Họ là “giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu người lao động, tức

là vào tình hình chuyển hướng tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không có gì ngăn nổi” 3 Diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay (cuối năm 2008 đầu năm 2009) lại đặt công nhân vào những tình thế khó khăn, vất vả hơn bao giờ hết Danh phận lịch sử đã từng được trao vào tay họ với quan niệm giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại đang bị thách thức trước những vất vả của cuộc sống

1 Số liệu Viện nghiên cứu công nhân - Công đoàn Việt Nam, năm 2006

2 Số liệu Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng Tổng Cục thống kê 2006

3 C.Mac va Ph Ăngghen: Sđd, 1994 tr.4

Trang 8

Chính vì vậy, vấn đề thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay đang là vấn đề được chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội đều quan tâm Điều này càng thể hiện rõ khi Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh đã

ra nghị quyết 08 – NQ/TU về công tác thanh niên trong tình hình hình mới và đã có nhiều phương án đầu tư, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề phát triển lực lượng thanh niên công nhân về mọi mặt Nâng chất các chương trình hoạt động dành cho Đoàn viên – Thanh niên trong thời kỳ đổi mới, trong đó, hoạt động Đoàn

TN CSHCM– Hội LHTNVN giữ vai trò căn bản Từ thực tế đó, Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Đoàn các khu công nghiệp, khu chế xuất để quan tâm, chăm lo đời sống văn hóa tinh thần của công nhân

Đặc biệt, từ ngày 14 đến ngày 22 – 1 – 2008, tại Thủ đô Hà Nội, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa X cũng đã họp và đưa ra nghị quyết lần thứ 6 về việc “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” để thấy rằng vấn đề giai cấp công nhân là một trong những quan tâm hàng đầu của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam hiện nay

Mặc dù đã có những nghị quyết, chỉ thị quan tâm đặc biệt đến giai cấp công nhân nhưng qua khảo sát nghiên cứu của các nhà khoa học, cũng như qua sách báo cho thấy đa phần đối tượng công nhân đang bơ vơ không thuộc tổ chức nào Bởi xuất thân của họ là những thanh niên rời quê hương ở miền Bắc, miền Trung và miền Tây Nam bộ vào thành phố mưu sinh và làm việc trong các công ty vốn nước ngoài vốn chỉ quan tâm đến hiệu quả sản xuất và lợi nhuận, tuyệt nhiên không quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần, sức khỏe của người công nhân Thực tế là, đa phần công nhân xuất thân từ các vùng nông thôn, lên thành phố lao động kiếm sống,

kỹ năng nghề nghiệp không được trang bị, mà hầu hết là lao động chân tay, cộng với đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn Trong khi đó, “Tổ chức công đoàn trong nhà

máy (nếu có) cũng chỉ là hình thức Công đoàn không có khả năng bảo vệ hay chăm lo cho công nhân vì công đoàn ở Việt Nam không có sức mạnh thực tế như là Hàn Quốc hay Nhật Bản Hầu hết doanh nghiệp nước ngoài không có và họ cũng không muốn tổ chức công đoàn hay bất cứ tổ chức nào của nước ta tồn tại trong nhà máy của họ Công đoàn rất dễ dàng bị vô hiệu hóa ở các doanh nghiệp tư nhân Sau giờ làm việc về nhà trọ họ cũng biết bá víu vào ai; chính quyền địa phương coi họ là người ở nhờ, thậm chí họ bị coi là nguyên nhân gây ra mọi phiền toái cho địa phương Mặc dù công nhân nhập cư là người mang nhiều lợi ích cho thành phố này, nhưng đã từ lâu thành

Trang 9

phố coi họ là người tạm trú, không có một chính sách nào ngang bằng địa phương (cư trú, học hành, chữa bệnh, mua xe, điện nước…) chứ không nói đến ưu tiên”4

Các tổ chức chính trị xã hội khác như: Đoàn TNCS HCM, Hội LHTN, Hội LHPN…mặc dù đã có sự quan tâm đến đối tượng này nhưng cũng đang gặp lúng túng trong việc tìm ra cách thức tập hợp thanh niên công nhân Qua số liệu của Đoàn các khu công nghiệp khu chế xuất TP.HCM về trường hợp khu chế xuất Tân Thuận, hiện này khu chế xuất Tân Thuận có khoảng 56.000 công nhân trên tổng số

114 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai Trong khi đó về công tác xây dựng tổ chức tại đây vào thời điểm hiện nay (tháng 8/2007) thì Đoàn các khu công nghiệp khu chế xuất mới thành lập được 5 chi đoàn với tổng số 133 đoàn viên Theo một cán bộ Đoàn các khu công nghiệp khu chế xuất thì đây là một cố gắng rất lớn của tổ chức Đoàn nhưng về lâu dài tính bền vững của các chi đoàn được thành lập tại khu chế xuất không cao Bởi có những vấn đề khó khăn của công nhân như thời gian (các doanh nghiệp tăng ca), nơi cư trú không ổn định, thu nhập thấp, nhất là người công nhân nhận thấy tham gia tổ chức đoàn mình được lợi gì trong khi áp lực mưu sinh luôn đè nặng tâm lý của những thanh niên xa quê này Theo số liệu khảo sát tại

6 khu công nghiệp – khu chế xuất ở TP.HCM vào giữa năm 2005 của nhóm nghiên cứu do TS Phạm Đình Nghiệm chủ trì chỉ có 32,7% thanh niên công nhân lựa chọn các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, hội phụ nữ nơi họ đang làm việc đứng ra

tổ chức các chương trình văn hóa tinh thần Điều này các tổ chức đoàn thể chính thức chưa đủ sức hút thanh niên đến với tổ chức mình

Như thế, công nhân tập trung tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đa phần

là những người không có tổ chức hay nói các khác các tổ chức chính thức của thanh niên đang gặp lúng túng việc xác định mô hình tập hợp thanh niên để chăm lo đời sống văn tinh thần cho công nhân “Điều này làm cho họ bơ vơ càng bơ hơn, đương nhiên là

họ sẽ rơi vào thảm cảnh trầm trọng hơn khi có những rủi ro xảy ra như tai nạn lao động mất việc, mất việc làm, đau ốm, hay sinh con nhỏ, hết tiền Nói một cách khác vốn xã hội (social capital) của

họ rất nghèo và mạng liên kết xã hội (social network) của họ rất mỏng Vì vậy người công nhân mất phương hướng, sa vào nhậu nhẹt, tình dục tự do, đánh nhau là chuyện dễ hiểu, bởi vì họ có biết làm gì sau giờ làm việc, không có gia đình bên cạnh, không có tổ chức nào đóng vai trò hướng dẫn, kiểm soát điều tiết, hay ít ra là có một tổ chức làm chỗ dựa về mặt tinh thần.”5 Chính vì vậy, thời gian gần đây tại các khu công nghiệp, khu chế xuất bắt đầu xuất hiện các

tổ chức phi chính thức của công nhân nhằm chia sẻ, tương hỗ những lúc họ gặp khó

4 Nguyễn Minh Hòa, “Vai trò của tổ chức trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần trong các khu công

nghiệp tập trung tại TP.HCM”, kỷ yếu Hội thảo khoa học Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại các

KCX – KCN TP.HCM, tháng 12 năm 2005, trang 87

5 Nguyễn Minh Hòa, tlđd, trang 89

Trang 10

khăn như hội đồng hương, các CLB, Đội, nhóm sở thích… Đây cũng là một xu hướng tất yếu của người công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất vốn luôn bấp bênh, cần đến một tổ chức làm chỗ dựa tinh thần mỗi khi gặp khó khăn, túng thiếu

Có thể nói, thực tiễn xã hội Việt Nam đang trong quá trình đổi mới kinh tế, ngành nghề thay đổi, nhưng sự thay đổi trong các đoàn thể, các hình thức tập hợp không theo kịp với với yêu cầu phát triển, ngành nghề Một chừng mực nào đó, chính các tổ chức đoàn thể cũng thoát ly với thanh niên Bởi cơ cấu, tầng lớp xã hội thay đổi, phong phú, đa dạng nhưng tổ chức tập thanh niên chưa đủ, chưa phù hợp với cuộc sống, nhu cầu thanh niên, chưa thật sự hấp dẫn, thu hút

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một nguồn nhân lực trẻ cao

về trí tuệ, vững vàng về chuyên môn, làm chủ khoa học kỹ thuật công nghệ, trong sáng về đạo đức, lối sống và cường tráng về sức khoẻ Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên phải góp phần tạo nên nguồn nhân lực đó, do đó càng có vai trò cấp bách

và cần thiết Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đoàn kết, tập hợp thanh niên có hiệu quả?

Như thế, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho các lọai hình và cách

thức tập hợp thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất là một

việc cần kíp trong lúc này nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề bức thiết mà thực tiễn xã hội đang đặt ra

2 Mục tiêu của đề tài:

- Nhận diện thực trạng hoạt động các tổ chức đoàn thể dành cho thanh niên công nhân tại khu chế xuất, khu công nghiệp với những việc làm được cũng như chưa làm được, xuất phát từ nhu cầu nguyện vọng của công nhân

- Đề xuất các loại hình cũng như cách thức tập hợp thanh niên công nhân vào sinh hoạt tập thể hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, đồng thời là chỗ dựa tinh thần cho thanh niên công nhân xa quê đang làm việc tập trung tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Trang 11

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Thực tiễn cho thấy việc tập hợp thanh niên công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở các khu nhà trọ đang là công tác hết sức thiết thực và cần thiết đối với các tổ chức đoàn thể trong tình hình hiện nay Những vấn đề về tập hợp thanh niên đã và đang nảy sinh những vấn đề

phức tạp và đa dạng Việc nghiên cứu Nghiên cứu các loại hình và cách thức tập hợp thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất có một ý nghĩa

nhất định trong việc nhận diện thực trạng họat động của các tổ chức đoàn thể dành cho công nhân và tìm mô hình giải pháp thích hợp cho việc tập hợp thanh niên thật

sự hiệu quả và hấp dẫn

Mặt khác, những kết quả nghiên cứu cũng có một ý nghĩa nhất định trong việc góp phần giúp cho các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn TNCSHCM và Hội LHTN Việt Nam… có thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn trong việc đề xuất, triển khai các mô hình hoạt động phù hợp với đời sống thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc điều chỉnh, sửa đổi điều lệ cho phù hợp với tình hình, bối cảnh kinh tế – xã hội nước ta đang nảy sinh mà các tổ chức đoàn thể của thanh niên đang lúng túng giữa thực tiễn xã hội, nhu cầu giới trẻ và điều lệ của tổ chức quy định

4 Giả thuyết nghiên cứu

Một thực tế, không có ai sống mà không có sự liên hệ và nhận biết người khác Hay đơn giản hơn, hầu như mỗi người đều tham gia vào các nhóm xã hội.Tuy nhiên, những khảo sát nghiên cứu trước đây đều phản ánh một lực lượng lớn công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất không tham gia bất cứ tổ chức nào Phải chăng hiện trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

a Chất lượng cuộc sống công nhân là trở ngại đối với công nhân trong việc tham gia các đoàn thể xã hội Khi các điều kiện vật chất và tinh thần (mức thu nhập, chi tiêu, thời gian làm việc ) không đáp ứng mức sống cơ bản của công nhân

b Các tổ chức chính trị xã hội được pháp luật Việt Nam chính thức thừa nhận như Đoàn TNCSHCM, Hội LHTN, Hội LHPN… đang lúng túng trong việc tìm ra cách thức tập hợp thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất một cách hiệu quả và hấp dẫn Các tổ chức đoàn thể nói chung chưa đa dạng về cách thức tổ chức,

Trang 12

nội dung, mô hình sinh hoạt để thật sự hấp dẫn để thu hút như đòi hỏi của thanh niên

c Hiện nay, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất bắt đầu xuất hiện các loại hình tập hợp thanh niên công nhân không chính thức tỏ ra hiệu quả và thiết thực nhằm chia sẻ, tương hỗ những lúc họ gặp khó khăn như hội đồng hương, các CLB, Đội, nhóm sở thích…Tuy nhiên, chúng mới dừng ở quy mô nhỏ, không có điều kiện nhân rộng

mô hình

5 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề :

Viết về đời sống công nhân có khá nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết khoa học

và cả những bài phóng sự, phần nào phản ánh những khía cạnh khác nhau về đời sống công nhân Trong chuyên khảo này, nhóm nghiên cứu mong muốn tiếp cận nghiên cứu trường hợp, quá đó thực hiện được các mục tiêu và những giả thuyết đặt

ra

- Về địa bàn nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại ba

quận trong thành phố: (1) quận 7, (2) quận 12, và (3) quận Thủ Đức Sở dĩ, chúng tôi chọn địa bàn nghiên cứu như vậy vì mỗi quận có một đặc điểm riêng và mang tính đại diện cho các loại hình các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TP.HCM Việc tiến hành khảo sát cùng lúc tại ba quận giúp chúng tôi có được sự so sánh, đối chiếu giữa các địa bàn đồng thời từ đó có thể khái quát được bức tranh chung về các hình thức tập hợp thanh niên công nhân vào sinh hoạt tâp thể và hiệu quả của các hình thức này

(1) Quận 7 là nơi có KCN-KCX đầu tiên của thành phố: KCX Tân Thuận, các phong trào, hoạt động dành cho công nhân hiện nay đã đi vào chiều sâu và tạo được tiếng vang Tại các khu nhà trọ đã có sự xuất hiện của chi hội thanh niên nhà trọ, chi hội nhà trọ văn hóa; tại KCX Tân Thuận đã có Đoàn Thanh niên của KCX

(2) Quận Thủ Đức: hiện nay, quận Thủ Đức là quận tập trung đông nhất các khu công nghiệp, công ty, xí nghiệp lẫn về số lượng công nhân trên địa bàn thành phố Đặc biệt, do là một khu vực giáp với tỉnh Bình Dương nên việc quản lý còn khó khăn huống chi kể đến việc tổ chức các hoạt động cho công nhân

(3) Quận 12, khu vực đang trong quá trình chuyển hóa từ nông thôn sang thành thị với việc hình thành các công ty, xí nghiệp trong thời gian gần

Trang 13

đây Các nhà máy, xí nghiệp chỉ mới thành lập nên còn manh mún, nhỏ

lẻ, chưa tập trung, số lượng thanh niên công nhân còn tương đối ít và rải rác Đi lên từ một vùng ngoại thành, nên quận 12 chưa “bắt nhịp” kịp với

sự gia tăng của các cơ sở sản xuất, số lượng công nhân đến sinh sống vì vậy hình thức quản lý còn khá “lỏng lẻo” và các hoạt động dành cho công nhân vẫn chưa kịp định hình

- Các cuộc khảo sát đã tiến hành: Thời gian tiến hành khảo sát đề tài tại địa

bàn nghiên cứu được diễn ra từ tháng 3/2008 đến tháng 8/2008 Trong đó tháng 3 và 4/2008, chúng tôi tiến hành tập trung khảo sát các thông tin định lượng qua bản hỏi, kết hợp với quan sát đời sống của thanh niên công nhân tại các khu nhà trọ và hỏi ý kiến một số công nhân về ý tuởng có một “Hội công nhân” Từ tháng 6 đến tháng 8/2008, nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu, thực hiện công cụ đánh giá nhanh PRA đồng loạt tại ba địa bàn PRA được thực hiện dựa trên các số liệu khảo sát bước đầu chúng tôi xử lý và tổng hợp trong suốt tháng 5/2008 Thời gian tiến hành khảo sát tương đối thể hiện được đời sống công nhân, vì tháng 3/2008 đến tháng 4/2008 là vừa vào dịp Tết, số lượng đơn đặt hàng tại các xí nghiệp khá nhiều buộc công nhân phải tăng ca thường xuyên, tháng 6 và 7 được coi như là thời gian

“nghỉ giữa năm” của Công nhân vì lúc này lượng hàng tuơng đối vừa phải, không phải làm tăng ca liên tục như đầu năm hay cuối năm trước Tết

- Về phương pháp – kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: Đề tài sử dụng

các phương pháp như quan sát – tham dự, phương pháp thu thập thông tin định lượng và định tính, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp nghiên cứu lịch sử được xét dưới hai phương diện là đồng đại và lịch đại và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA) Trong đó chú trọng vào thực hiện hai phương pháp định lượng và định tính

- Phương pháp quan sát – tham dự là phương pháp đặc thù của ngành Nhân

học, buộc người nghiên cứu phải sống, làm việc và nghiên cứu cùng đối tượng nghiên cứu trong một thời gian dài Nhà nghiên cứu trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày tại cộng đồng, tham gia càng nhiều càng tốt vào công việc và cuộc sống của dân Trên thực tế, việc thực hiện sự hòa nhập hoàn toàn là việc rất khó thực hiện Vì nhiều điều kiện khách quan nên nhóm nghiên cứu không thể cùng sống và làm việc với đối tượng nghiên cứu nên trong quá trình thực hiện điền dã tại các khu công nghiệp - khu chế xuất Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng tiếp cận cộng sống của công nhân không chỉ qua các cuộc phỏng vấn mà còn thông qua sự hiện diện của mình trong cuộc sống của họ (through simple “presence” in their lives)

Trang 14

Với phương pháp này, chúng tôi cố gắng thực hiện thông qua việc đến địa bàn vào những thời gian khác nhau như: ngày cuối tuần và các ngày khác trong tuần vào điểm khác nhau để có thể nắm bắt thông tin một cách tốt nhất và chính xác nhất nhằm phục vụ tốt cho quá trình phân tích của đề tài

Tuy nhiên, khi thực hiện phương pháp này, chúng tôi gặp nhiều vấn đề khó khăn từ cả thanh niên công nhân lẫn chủ nhà trọ Trước hết, sự xuất hiện của nhóm nghiên cứu một phần nào đó gây ra sự xáo trộn trong cuộc sống của họ, dù rằng chúng tôi luôn tạo ra sự thoải mái trong tiếp xúc và gặp gỡ một cách vui vẻ Thứ hai

là đa phần thanh niên công nhân đều rất ngại tiếp xúc với nhóm nghiên cứu Họ tò

mò về chúng tôi và đối với một số người thì sự có mặt của chúng tôi là mối đe dọa đối với trật tự sống hàng ngày của họ Bởi lẽ, họ sợ rằng chúng tôi là nhà báo, là người của chính quyền địa phương hay người của công ty điều tra họ Công nhân sợ rằng nếu tiếp xúc hoặc cung cấp các thông tin cho chúng tôi, thì có thể họ sẽ bị đuổi việc nếu nói về công ty không được tốt, hoặc làm khó dễ về vấn đề ở trọ đối với chính quyền địa phương Đây là vấn đề về tâm lý của thanh niên công nhân mà tất

cả các địa bàn chúng tôi thực hiện đều gặp phải Do đó, chúng tôi rất khó thuyết phục được họ là chúng tôi không phải đến để điều tra, đánh giá hay viết báo, mà là

để tìm hiểu chia sẻ với họ về cuôc sống và kinh nghiệm hàng nghày Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi gần như phải giải thích với chủ nhà trọ, với từng trường hợp công nhân chúng tôi tiếp xúc về mục đích nghiên cứu Đặc biệt, vận dụng

“nguyên lý hạt nhân” - tiếp cận với một vài công nhân có uy tín để từ đó họ làm một

“tuyên truyền viên – tâm lý viên” về mục đích nghiên cứu, trấn an tinh thần cho các

thanh niên công nhân khác Quá trình điền dã tại ba địa bàn chúng tôi đã tiến hành viết nhật ký điền dã Nhân học với hai loại sổ: Nhật ký đầy đủ (Fullnote) và Phương pháp và trải nghiệm bản thân của nhà nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu (Journal) Qua đó thấy rõ được những động thái xã hội trong đời sống công nhân mà các phương pháp khác không thực hiện được

- Phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng điều tra bảng hỏi nhằm

thu thập thông tin trên diện rộng nhằm tăng tính đầy đủ, chính xác và khách quan của đề tài Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 300 phiếu phỏng vấn định lượng, phân bổ theo 3 khu vực đặc thù cư trú của công nhân như trên đã trình bày Trong đó phân

bổ mỗi quận 100 phiếu Mỗi quận lại chọn hai phường theo tiêu chí một gần trung tâm khu công nghiệp, một phường ngoài diên Ở Cấp phường chúng tôi lại tiếp tục chọn hai khu phố và tiến hành chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên có hệ thống theo danh sách công nhân tạm trú tại các địa phương cung cấp Tuy nhiên, chúng tôi

Trang 15

cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình chọn mẫu Chúng tôi đã phải nhờ đến các cán bộ Đoàn ở địa phương để giúp liên hệ với các chủ nhà trọ Hầu hết, khi có

“người của chính quyền” thì ít nhiều các chủ nhà trọ đều đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc tại khu trọ của mình nhưng vô hình chung nhóm nghiên cứu trở thành

“người của chính quyền đến điều tra” trong mắt đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thanh niên công nhân Chính vì vậy, công nhân thường có thái độ e dè, đề phòng khi chúng tôi tiếp xúc với họ Điều này, gây khó khăn cho chúng tôi không những trong khi thực hiện phương pháp thu thập thông tin định lượng mà còn gặp trở ngại khi thu thập thông tin định tính và tiến hành thực hiện phương pháp đánh giá nhanh

có sự tham gia của cộng đồng (PRA)

Cô L.- chủ nhà trọ tiếp chúng tôi với vẻ mặt khó chịu và không muốn cộng tác, không biết nguyên nhân có phải là do V, – PBT Đoàn phường giới thiệu và cô không muốn dính dáng tới chính quyền? Năn nỉ một lúc lâu – V phải nói là do anh

T – Bí thư Đoàn phường giới thiệu xuống , với một thái độ “cực kỳ miễn cưỡng”

cô cũng đưa số đăng ký khách nghỉ trọ và nói: “muốn làm gì thì làm đi, tui không biết gì hết, đó - ngồi đó mà chép chứ không được xách sổ này đi đâu hết” Trong lúc đó, chồng cô L., ngồi phía trong nói vọng ra: “làm gì mà làm, không làm gì hết,

ở đây có làm gì phạm pháp hay gì đâu, ở đây công nhân đi làm tối ngày không có ở nhà đâu mà làm, đi qua mấy khu khác làm đi, ở đây không có gì cho làm đâu

(Trích sổ nhật ký điền dã - Journal, Chu Phạm Minh Hằng, phường Tân Thuận Tây, Quận 7)

Bởi thế nên khi chúng tôi tiếp xúc với bạn công nhân nào đó thì có những người xung quanh còn nói vọng theo: “chết mày chưa?”, “trốn đi tụi bay ơi, coi chớ tới phiên mình đó”, “mày lại hỏi thử có tên mình không mày, lỡ có tao, mày làm dùm tao với”, “điều tra cái gì chớ, công nhân tăng ca nhiều chết mẹ đi mà có thấy tăng lương đâu, điều tra gì đóng cửa đi tụi bay, coi chớ tới lượt mình đó”, thậm chí

“trốn đi tụi bây, quay phim mai lên tivi đó”, “chị ơi, thằng này là tội phạm trốn trại

nè, chị gặp nó đi (Trích sổ nhật ký điền dã - Journal, Huỳnh Thị Dịu Duyên, Quận

12, tháng 4/2008)

Riêng 25 phiếu tại khu lưu xá (địa bàn Quận Thủ Đức) “hành trình tiếp cận” với công nhân quả thật rất vất vả Do khu lưu xá này trực thuộc công ty Nissel nằm trong khu chế xuất Linh Trung nên nằm trong sự quản lý của công ty Nissel và Ban quản lý của khu chế xuất Linh Trung Có lẽ việc tiếp cận phỏng vấn công nhân là một vấn đề nhạy cảm đối với các cơ quan quản lý ở đây nên mỗi khi chúng tôi tiếp xúc với những người có thẩm quyền để xin danh sách hay tiến hành tiếp cận phỏng vấn công nhân là hết sức khó khăn

Để tiếp xúc được với những người có thẩm quyền ở đây chúng tôi được cấp một giấy giới thiệu của Thành Đoàn thành phố, nhưng họ rất e ngại trong việc giúp đỡ

Trang 16

chúng tôi nên chúng tôi cứ phải đi lòng vòng hết nơi này đến nơi khác, xin hết giấy giới thiệu này đến giấy giới thiệu khác Khi đến Ban quản lý Khu chế xuất thì chỉ

đi chỗ này rồi lại chỗ kia, cuối cùng lại bị đòi giấy giới thiệu của ban quản lý các khu Chế xuất, khu Công nghiệp thành phố Ngay cả khi có giấy giới thiệu của Ban quản lý các khu Chế xuất, khu Công nghiệp thành phố chúng tôi cũng không thể

thuận lợi để tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, phỏng vấn (Nguyễn Quốc Thiệp,

Báo cáo tổng kết nghiên cứu định lượng, Quận Thủ Đức)

Đối với những mẫu thực hiện tại các khu nhà trọ, nhóm nghiên cứu đã nhiều lần phải cập nhật danh sách các đối tượng phỏng vấn Do sự biến đổi liên tục của các đối tượng trong mẫu với nhiều lý do như: chuyển nhà, chuyển phòng, nghỉ làm…nên danh sách mẫu luôn có sự thay đổi Có những trường hợp, chúng tôi chọn mẫu từ danh sách của chủ nhà trọ mà theo lời chủ nhà trọ là “mới cập nhật” nhưng khi chọn mẫu và tiến hành thì quá nửa trong số đó đã chuyển đi nơi khác

Từ kinh nghiệm một vài lần buộc phải lập danh sách và chọn mẫu lại, nhóm nghiên cứu đã thực hiện hai giải pháp Một là, chọn mẫu trên danh sách được cập nhật gần nhất, có những khu nhà trọ, để lấy được mẫu, chúng tôi phải đi từng phòng, gõ cửa

để xin tên, tuổi, nghề nghiệp sau đó tổng hợp lại và chọn mẫu và khảo sát ngay sau

đó Bên cạnh đó, chúng tôi còn khắc phục bằng cách khi tiến hành chọn mẫu, chọn thêm một số mẫu “dự phòng” để thay thế khi các mẫu chính không thể thực hiện được (chuyển đi, không đáp ứng đủ quy định chọn mẫu về thời gian làm việc…) Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp buộc phải đổi mẫu vì một số nguyên nhân khách quan như: đối tượng nghiên cứu không muốn tiếp xúc dù đã cố gắng thuyết phục, nghề nghiệp thực chất không phải là công nhân nhưng vẫn khai báo khi đăng

ký tạm trú là công nhân…

Nhìn chung, việc thực hiện 300 bảng hỏi khảo sát định lượng trên ba địa bàn ba quận đạt được yêu cầu đặt ra của đề tài, đảm bảo tính đại diện về trình độ học vấn, thu nhập, điều kiện sống, hình thức giải trí của thanh niên công nhân Các kết quả thu được đã khái quát được cái “khung” cơ bản về đời sống công nhân, vì vậy chúng tôi tiếp tục dùng phương pháp thu thập thông tin định tính để tìm hiểu, thu thập thêm các thông tin phục vụ yêu cầu đề tài

- Phương pháp thu thập thông tin định tính: là phương pháp thu thập thông

tin thông qua các dữ liệu thành văn và các dữ liệu phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn nhóm để lấy thông tin từ các đối tượng nghiên cứu bằng các cuộc đối thoại có chủ định Phương pháp này sẽ được thực hiện cùng với việc thực hiện phương pháp quan sát – tham dự trong quá trình nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã thu thập các dữ liệu thành văn từ các Quận Đoàn, Đoàn phường, Hội liên hiệp thanh

Trang 17

niên của Quận, Đoàn khu chế xuất - khu công nghiệp để có những số liệu căn bản

về những hoạt động, những mô hình dành cho công nhân cũng như mức độ tham gia của họ

Phỏng vấn sâu trong đề tài này cũng được nhóm nghiên cứu thực hiện Phỏng vấn sâu và trò chuyện là một trong những phương pháp quan trọng của ngành Nhân học Nhà nghiên cứu phải hỏi về cuộc sống và kinh nghiệm của đối tượng nghiên cứu để biết được họ đã nhìn nhận và trải nghiệm cuộc sống mưu sinh như thế nào? Vai trò các tổ chức đoàn thể đối đời sống của họ ra sao? Tuy nhiên, phương pháp này hoàn toàn khác với phương pháp thu thập thông tin định lượng với những câu hỏi được soạn sẵn theo cấu trúc, mà phương pháp này chủ yếu ở dạng câu hỏi mở Chính vì vậy, chúng tôi thường biến những cuộc phỏng vấn sau thành những cuộc trò chuyện bình thường, nhằm tránh sự căng thẳng cho đối tượng được nghiên cứu Thông qua các cuộc trò chuyện, công nhân dễ dàng trình bày ý kiến, đưa ra những góp ý cho những mô hình, hoạt động hỗ trợ công nhân cũng như nói lên được nhu cầu thực của mỗi công nhân Từ phỏng vấn sâu, chúng tôi đã cụ thể hóa quá trình sinh sống làm việc, những cột mốc đáng nhớ của công nhân qua công cụ vẽ sơ đồ đường mưu sinh (Timelife)

Chúng tôi thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm tập trung trên địa bàn 3 quận Các buổi thảo luận được gợi mở với những câu hỏi về đời sống công nhân để các cộng tác viên dễ dàng bày tỏ ý kiến thảo luận với câu hỏi chính: Công nhân cần nhận được sự hỗ trợ gì cho đời sống của bản thân hiện nay? Hình thức tập hợp thanh niên công nhân nào sẽ phù hợp và hiệu quả

Bên cạnh đó, trong khi thực hiện các mẫu định lượng, nhóm nghiên cứu cũng

đã phỏng vấn công nhân về một tổ chức dành riêng cho công nhân, tổ chức này nên làm gì, hoạt động thế nào và liệu công nhân có tham gia hay không…chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi tích cực Đồng thời, khi khảo sát, làm việc thì tại mỗi quận chúng tôi đều viết nhật ký điền dã để làm tư liệu định tính Các

tư liệu này vừa cung cấp thông tin về mặt phương pháp vừa dùng để so sánh đối chiếu giữa ba quận, vừa thể hiện mối quan hệ tương tác giữa người nghiên cứu và cộng đồng nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):

PRA là một công cụ đặt biệt hữu ích trong công tác phát triển cộng đồng nói chung

và đây là một phương pháp trao quyền cho người dân để quyết định các công việc của cộng đồng Nhóm nghiên cứu thực địa đã sử dụng các phương pháp được áp dụng trong các nghiên cứu tham dự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định

Trang 18

lượng trong suốt nghiên cứu để đánh giá các nhu cầu, nguồn lực, các tổ chức chính trị xã hội, chính thức và phi chính thức tác động đến đời sống công nhân Nhóm nghiên cứu đã đặt ra tiêu chí đối với các cộng tác viên tham gia vào phương pháp PRA: nhóm nam nữ công nhân từ 6 đến 10 người, chưa lập gia đình, dưới 30 tuổi để thực hiện các công cụ sau:

a) Phân loại ưu tiên: tiến hành khảo sát 5 cuộc phân loại ưu tiên – 2 cuộc ở Quận Thủ Đức, 1 cuộc ở Quận 7 và 2 cuộc ở Quận 12 Với câu hỏi đặt ra:

“Những vấn đề nào cần ưu tiên để nâng cao chất lượng đời sống của công nhân”, các câu trả lời được các cộng tác viên tham gia sắp xếp theo thứ tự

ưu tiên từ cao xuống thấp dần nhằm cho thấy được nhu cầu, mức độ cấp bách cần giải quyết của vấn đề mà công nhân đang phải đối mặt về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần

b) Cây vấn đề: nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện công cụ cây vấn đề với 5 nhóm công nhân tại ba quận Tuy nhiên, theo nhận định của chúng tôi, phương pháp này không mang lại nhiều hiệu quả trong việc thu thập thông tin

c) Biểu đồ Venns: công cụ được thực hiện nhằm tìm hiểu các tổ chức, cá nhân nào tác động đến đời sống công nhân, qua đó có thể biết được quan

hệ xã hội của công nhân đồng thời đánh giá được vai trò của Đoàn - Hội trong đời sống của họ 5 lần thực hiện tại 3 quận cung cấp cho nhóm nghiên cứu những thông tin để tìm ra nhũng điểm cơ bản, giống nhau và những điểm khác biệt do điều kiện sống của công nhân 3 khu vực

- Phương pháp so sánh đối chiếu cũng được thực hiện trong quá trình

nghiên cứu nhằm tiến hành so sánh những hoạt động các mô hình tập hợp thanh niên tại các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất trên địa bàn 3 quận, giữa

2 phường của hai quận và giữa hai khu phố của một phường

Điều kiện về ăn ở, cơ sở hạ tầng ở khu phố 4 tốt hơn khu phố 3: phòng trọ sạch sẽ, thoáng mát hơn chứ không ẩm thấp, thiếu ánh sáng như các khu nhà trọ ở khu phố

3 Mặc dù cùng là hai nơi tập trung các khu nhà trọ nhưng khu phố 3 lại nhộn nhịp đông vui hơn khu phố 4, vì một điều là ngay giữa khu phố 3 có một ngôi chợ và xung quanh nó còn có các dịch vụ như café, quán tạp hoá, các quán ăn, quán chè, quán billard, … vì thế, đến khu phố 3 vào buổi tối , tôi đã ngỡ ngàng vì ở đây

không khác gì một “phố đi bộ” (Trích nhật ký điền dã - Journal, Phan Thị Kim

Liên, Quận Thủ Đức, tháng 05/2008)

Đây được xem là phương pháp đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình so sánh

Trang 19

để cho thấy được không gian cư trú và điều kiện sống của thanh niên công nhân từ

đó giải thích các yếu tố nguyên nhân, thực trạng hoạt động và học hỏi kinh nghiệm

từ các mô hình hỗ trợ công nhân hiệu quả của các địa bàn khác đặc biệt là những nơi có phong Đoàn – Hội mạnh trong thành phố

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử là một trong những pháp nghiên cứu,

phân tích dưới góc độ lịch đại Sử dụng phương pháp này, chúng tôi hướng đến mục đích tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của tổ chức đoàn thể tại các khu công nghiệp – khu chế xuất để tìm ra những bước tiến triển và những yếu tố tác động đến tính hiệu quả các họat động đoàn thể Cụ thể, chúng tôi có nghiên cứu các thông tin định tính là các tư liệu thành văn từ các Đoàn phường, Quận đoàn, đoàn Khu công nghiệp – khu chế xuất…qua đó, chúng tôi sẽ có những cứ liệu lịch sử để phân tích và lý giải những vấn đề nghiên cứu được trong quá trình thực hiện điền dã thu thập tài liệu

Ngoài những phương pháp vừa nêu, chúng tôi còn thực hiện những báo cáo ngắn về tình hình khảo sát, thực hiện đề tài; bài tổng kết, tự đánh giá, bài báo khoa học về vấn đề quan tâm của từng thành viên sau khi thực hiện phương pháp định lượng và khi nghiên cứu thực địa… tất cả đều nhằm khai thác tối đa lượng thông tin

có giá trị cung cấp cho đề tài

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM THANH NIÊN CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP –

KHU CHẾ XUẤT TP.HCM

1.1 Các khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi xác định là phải nắm rõ các khái niệm, bản chất các vấn đề liên quan đến đề tài, nhằm có thể thống nhất được quan điểm nghiên cứu thông qua thao tác hóa khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Trước tiên, chúng tôi xin được trình bày từ các khái niệm có tính bao quát tạo nền cho cơ sở lý luận, sau đến là các khái niệm liên quan đến các tổ chức tập hợp thanh niên tại Việt Nam

- Hệ thống xã hội: Thuật ngữ hệ thống xã hội quy cho mạng lưới các mối

quan hệ xã hội liên kết con người nhưng tính nhận dạng chung kém hơn và tương tác xã hội ít hơn so với một tập thể xã hội điển hình Hệ thống xã hội cũng giống như một tập thể xã hội, nói cách khác, liên kết con người trong mối quan hệ Nhưng không giống như thành viên tập thể, những quan hệ này liên kết bằng một hệ thống thường mang ít ý nghĩa tư cách thành viên Ngoài ra, không như tập thể, một hệ thống mang con người vào sự tiếp xúc thỉnh thoảng với nhau Sau cùng, hệ thống không có biên giới rõ ràng, như các tập thể thường có Một tập thể có thể chọn hình thức “nhóm bạn bè”, nhưng hệ thống được mô tả tốt hơn như đang mở rộng ra bên ngoài từ một cá nhân giống như một “mạng xã hội” trong đó hầu hết mọi người đều liên kết bằng cách gián tiếp qua người khác

- Cộng đồng xã hội: Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử

dụng một cách tương đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương

đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội Danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc

tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, thân phận xã hội Chính vì vậy, khái niệm cộng đồng được hiểu dưới nhiều chiều kích khác nhau như: cộng động, tập thể, nhóm …và ở Việt Nam khái niệm được sử dụng khá phổ biến là làng – xã, thôn, ấp …cũng được xem như loại hình cộng đồng Năm 1887, nghiên cứu chuyên biệt về cộng đồng đầu tiên đã được nhà xã hội học Đức F.Tonnies thực hiện là “cộng đồng và xã hội” - Community and Society (Gemeinschaft und

Trang 21

Gesellschaft), trans and ed C.P Loomis (first published in 1887; New York, 1963) Các luận điểm của ông được coi là lý luận kinh điển trong lịch sử xã hội học Trong quan niệm này, khái niệm cộng đồng đã được cụ thể hoá, thao tác hoá từ góc

độ xã hội học Ông chia các xã hội ra làm hai mô hình: cộng đồng tính (Gemeinschaft) và hiệp hội tính (Gasellschaft) Theo F.Tonnies, một cộng đồng

gồm các đặc trưng sau: “Thứ nhất, Những quan hệ xã hội nào mang tính chất tinh thần, thân

thiện, mang độ cố kết có ý nghĩa tự nhiên thì đấy là tính cộng đồng Thứ hai là tính bền vững Tính cộng đồng được khẳng định theo dòng chảy của lịch sử Thời gian có một vai trò là yếu tố kết dính các thành viên trong cộng đồng Thứ ba là tính cộng đồng khi được xét từ quan điểm đánh giá và vị thế xã hội của các thành viên xã hội thì đó là vị thế xã hội được gán sẵn nhiều hơn là vị thế phấn đấu mà có được Cuối cùng, tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ là quan niệm cơ bản và mang cả hai đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ trở thành khuôn mẫu văn hóa của sinh hoạt cộng đồng” (Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, 2000 :13)

Cộng đồng theo quan niệm Mác-xít là : “Mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động”6 Các cộng đồng xã hội bao gồm toàn bộ các trạng thái và các hình thức tồn tại có thể có của các cá nhân dưới hình thức tồn tại của

chúng, thể hiện được cái chất xã hội của con người, theo Mác, bản chất này là tổng hoà các quan hệ xã hội Các quan hệ này thể hiện trong hệ thống các mối liên hệ xã

hội, trong trao đổi hoạt động qua lại Tất cả các hình thức tự tổ chức mà chúng ta đã biết của con người đều là các kiểu cộng đồng, chỉ khác nhau ở phạm vi không gian-thời gian và nội dung các lợi ích liên kết chung Đó là các hình thức tổ chức gia đình, cư dân, các cộng đồng được xếp theo thứ hạng xã hội, theo nghề nghiệp, tộc người, theo lãnh thổ quốc gia và cuối cùng, loài người nói chung Trong khi đó,

Charles Horton Cooley (1864 – 1929), quan niệm cộng đồng như là dạng thức Tập

thể xã hội và nhóm: Hầu như không có ai sống mà không có sự liên hệ và nhận biết

người khác Hay đơn giản hơn, hầu như mỗi người đều tham gia vào các nhóm xã hội Mỗi tập thể xã hội được định nghĩa là tập thể có từ hai người trở lên có một mức độ nhận biết chung và tương tác với nhau thường xuyên Cho dù các tập thể xã hội có hình thức gì đi nữa cũng gồm những người có chung nhận thức về tư cách thành viên nhận thức về tính chất cá nhân của mình, thì thành viên trong các tập thể

6 Viện Thông tin khoa học xã hội Cái mới trong khoa học xã hội Triết học và xã hội học Số 13/1990 Xã hội học và thời đại Tr 19

Trang 22

xã hội cũng nghĩ về bản thân họ như một “chúng ta” đặc biệt Theo ông, chắc chắn tập thể xã hội có một ảnh hưởng thuyết phục về cách mỗi người trong số chúng ta nên suy nghĩ và hành động như thế nào Điều này phản ánh thực tế rằng con người thường đánh giá và quyết định bằng cách tính đến người khác và thường sử dụng tập thể xã hội dành cho mục đích này (John J.Macionis 2004 : 227)

Theo Lương Hồng Quang, nghiên cứu về cộng đồng là “nghiên cứu các đặc trưng văn hóa biểu thị qua các mặt: Tôn giáo – tín ngưỡng, phong tục tập quán, cách giao tiếp ứng xử, khả năng chinh phục thiên nhiên, khả năng sáng tạo nghệ thuật, tính cách tâm lý của cư dân trong cộng đồng” (Lương Hồng Quang, 1997 :18) Cộng đồng (community) là “một nhóm người cư trú trên một khu vực địa lý riêng biệt và làm việc trong những điểm tập trung cùng mối quan tâm và hoạt động như: thương mại, học vấn, tôn giáo, giải trí, sự thịnh vượng và hoạt động chính trị…” 7

- Tập thể xã hội và nhóm: Hầu như không có ai sống mà không có sự liên

hệ và nhận biết người khác Hay đơn giản hơn, hầu như mỗi người đều tham gia vào các nhóm xã hội Mỗi tập thể xã hội được định nghĩa là tập thể có từ hai người trở lên có một mức độ nhận biết chung và tương tác với nhau thường xuyên Cho dù các tập thể xã hội có hình thức gì đi nữa cũng gồm những người có chung nhận thức

về tư cách thành viên nhận thức về tính chất cá nhân của mình, thì thành viên trong

các tập thể xã hội cũng nghĩ về bản thân họ như một “chúng ta” đặc biệt

Dĩ nhiên, hiểu theo nghĩa rộng nhất, mọi người trong xã hội rất rộng khác với mọi tập thể Nhưng, thẳng thắn mà nói, các nhà xã hội học không xét một xã hội tổng thể như một tập thể xã hội bởi lẽ hầu hầu hết thành viên trong xã hội không quen biết nhau hoặc tương tác với người khác thường xuyên

Trong nghiên cứu khoa học xã hội vấn đề cơ bản đặt ra khi nghiên cứu các tổ chức xã hội thực chất là nghiên cứu về nhóm xã hội Bởi lẽ, nhóm là khâu trung gian giữa xã hội và cá nhân Các cá nhân tạo thành nhóm, các nhóm tạo thành xã hội Các cá nhân tiến hành các hoạt động xã hội trong môi trường của nhóm hay ngược lại xã hội quản lý các cá nhân thông qua các nhóm Như vậy, như thế nào là nhóm? Nhóm được phân loại như thế nào? Nhóm có chức năng gì?

Theo J.P Chaplin, trong cuốn từ điển tâm lý: “Nhóm (nhóm xã hội) là sự tập hợp các cá nhân mà ở đó họ có một số đặc điểm chung hoặc cùng theo đuổi một đích giống nhau”8 Còn theo Edgar H Schein, nhóm là một cộng đồng của con

7 The American peoples encyclopedia – 5 th (trang 337)

8 J.P.Chaplin, Dictiobary of Psychology, New York 1968, Tr 462

Trang 23

người mà ở đó các thành viên có sự tương tác lẫn nhau, có sự hiểu biết lẫn nhau và

tự ý thức về nhóm của mình.9

Trong khi đó các nhà tâm lý học Lawrence J Servery, John C Brigham và Barry R Schenker: “Nhóm là một tập hợp của hai hay nhiều người, giữa các thành viên có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau về hành vi Nhóm là đơn vị tồn tại một cách tổ chức, các thành viên viên của nhóm có cùng chung lợi ích và mục đích”10

Từ những định nghĩa trên ta có thể đúc kết nhóm xã hội như là những tổ chức

xã hội trong đó tập hợp từ hai cá nhân trở lên, có cùng chung các mối quan hệ về lợi ích và mục đính Trong đời sống xã hội Việt Nam, khái niệm Đoàn – Hội cũng được xem là những nhóm xã hội Hay nói đúng hơn là các tổ chức chính trị xã hội

- Đoàn - Hội: Khái niệm này được dùng cả trong cơ cấu làng xã Việt truyền

thống và cả trong cơ cấu tổ chức chính quyền nhà nước hiện nay cũng nhắc đến như một loại hình tổ chức chính trị xã hội Trong cơ cấu làng Việt truyền thống người ta

thường nhắc đến các khái niệm như: Phe, hội, phường Đây là một dạng tổ chức

hoàn toàn dựa trên lòng tự nguyện tham gia của cá nhân Theo Nguyễn Từ Chi: “từ

“Hội” được dùng để chỉ những tổ chức mà trong đó một số nam thành viên cùng làng, cùng xã tập hợp lại với nhau thuần về mục đích vui chơi, giải trí: tập luận võ nghệ (“hội võ), tập và diễn chèo (“hội chèo”) ” (Nguyễn Từ Chi, 1996:227)

Từ “Hội” đối với cơ cấu tổ chức chính trị xã hội của nhà nước và được pháp luật thừa nhận, theo nghị định 88 /2003/NĐ-CP của chính phủ nước CHXHCN Việt

Nam “Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội” thì Hội được quy định trong

Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan Hội có các tên gọi khác nhau: Liên hiệp hội, Tổng hội, Liên đoàn, Hiệp hội, Câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật

- Phân loại nhóm xã hội: Hiện nay, các rất nhiều cách để phân loại nhóm xã

hội, hay tổ chức xã hội khác nhau, tùy vào cách tiếp cận của mỗi người Trong

9 E.H.Chein, Organizational Psychology, 1965, Tr.67

10 Severy, Brigham, Schlenker, A Comtemporary introduction to social psychology, New York, 1976, Tr

339

Trang 24

nghiên cứu này, nhóm nhiên cứu lựa chọn cách phân loại của Edgar H.Schein khi phân thành 2 loại nhóm: Nhóm chính thức và và nhóm không chính thức:

a Nhóm (Tổ chức) chính thức: là những nhóm được thành lập nên nhằm

thực hiện các mục tiêu cụ thể, rõ ràng và các nhiệm vụ cụ thể liên quan đến hoạt động của tổ chức hay xã hội Theo thời gian nhóm chính thức có thể phân thành hai loại là: Nhóm chính thức lâu dài và nhóm chính thức nhất thời Nhóm chính thức lâu dài là những nhóm tồn tại trong khoảng thời gian lâu dài (hoặc vĩnh viễn), chẳng hạn như các tổ chức chính trị xã hội như: Đoàn TNCSHCM11, Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) 12, Công Đoàn, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam13 … Tại Việt

Nam, tổ chức chính trị xã hội: là tổ chức được pháp luật nhà nước thừa nhận Các

tổ chức này có cơ cấu tổ chức, tôn chỉ họat động, điều lệ chặt chẽ và phù hợp với quan điểm hệ thống chính trị của quốc gia Các tổ chức này thường phân thành nhiều cấp quản lý theo chiều dọc Ở Việt Nam, các tổ chức chính thức thường được gọi chung là các tổ chức chính trị xã hội nằm trong hệ thống chính trị của Đảng

Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Theo sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng” (Nxb CTQG, H, 2006) định nghĩa: Hệ thống chính trị là

một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có

11 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội của Thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản

Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập , lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những Thanh Niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Theo Điều lệ Đoàn TNCSHCM thì hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp:

1 Cấp cơ sở (gồm Đoàn cơ sở và Chi Đoàn)

2 Cấp Huyện và tương đương

3 Cấp Tỉnh và tương đương

4 Cấp Trung ương

Cụ thể hơn, Chi Đoàn là tổ chức nhỏ nhất trong hệ thống tổ chức Đoàn, trực tiếp đoàn kết – tập hợp lực lượng thanh thiếu niên có đủ tố chất cần thiết , cùng nhau hoạt động vì mục đích chung mà tổ chức Đoàn đề ra Đơn vị có từ hai Chi Đoàn trở lên và có tối thiểu 30 Đoàn Viên thì được thành lập Đoàn cơ sở Đoàn cơ sở là cấp trên trực tiếp của chi Đoàn

12 Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam: Theo điều lệ Hội LHTN VN được Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội

LHTN Việt Nam lần thứ V thông qua ngày 25 tháng 02 năm 2005 thông qua thì Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên Việt Nam yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh

và lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Hội LHTN Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Hội LHTN Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới Hội LHTN Việt Nam được tổ chức ở: (1)Trung ương, (2) Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (3) Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (4) Xã, phường, thị trấn và tương đương Tổ chức cơ sở của Hội bao gồm các chi hội, câu lạc bộ, đội, nhóm và các hình thức tập hợp thanh niên được Uỷ ban Hội các cấp thành lập theo địa bàn dân cư, trong trường học, cơ quan, doanh nghiệp; nghề nghiệp; sở thích

và các nhu cầu chính đáng khác của thanh niên Uỷ ban Hội các cấp được thành lập tổ chức cơ sở

13 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội là

thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, thành viên của Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (Hiệp Hội các nước Đông Nam Á) Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hòa bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới Mục đích hoạt động là vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Hệ thống tổ chức gồm bốn cấp: (1) Trung ương; (2)Tỉnh/thành phố trực thuộc TW; (3) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương; (4) Xã/phường/thị trấn và tương đương (gọi là cấp cơ sở)

Trang 25

quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị

Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức, các thiết chế với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị Các chủ thể có tính vật chất, có bộ máy, có tư cách pháp lý Hệ thống có tính hợp pháp, là hệ thống tổ chức được Hiến pháp, pháp luật quy định, được xã hội, Nhà nước thừa nhận, không đối lập với Nhà nước, pháp luật, chế độ chính trị hiện hành Tính hợp pháp giúp cho việc phân biệt với những tổ chức, thiết chế đối lập với chế độ, Nhà nước, pháp luật Các tổ chức, thiết chế trong hệ thống có mục đích, chức năng thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị; thực hiện hoặc tham gia vào các quyết định chính trị, vào việc thực hiện cá chính sách quốc gia Đây là cơ sở quan trọng

để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức có mục đích hoặc chức năng kinh tế - xã hội rất đa dạng khác

Hệ thống bao gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ mật thiết với nhau và

có vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận hành của các quá trình chính trị, thể hiện ở các cấp khác nhau (Trung ương, địa phương, cơ sở) Giữa các bộ phận cấu thành

hệ thống, bao giờ cũng có một bộ phận giữ vai trò nòng cốt, hạt nhân, làm động lực thúc đẩy và dẫn dắt cả hệ thống vận động theo một mục tiêu hoặc một phương hướng xác định Đây là bộ phận hạt nhân lãnh đạo cả hệ thống chính trị

Cấu trúc của hệ thống chính trị rất đa dạng, nhưng cơ bản bao gồm ba bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân Đoàn thể nhân dân là những tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực thi quyền lực chính trị, là cơ sở chính trị của Đảng cầm quyền, được Nhà nước bảo trợ, hoạt động tuân theo luật pháp, nhưng mang tính tự nguyện, tự chủ và tự quyết; lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị, đảm nhận những công việc mà Nhà nước không làm được hoặc làm kém hiệu quả

b Nhóm (Tổ chức) không chính thức: là tổ chức xuất phát từ nhu cầu lợi

ích của từng nhóm cá nhân trong xã hội nhằm giải quyết những nhu cầu của chính mình, như hội đồng hương, đồng niên, các câu lạc bộ, đội, nhóm cùng sở thích14,

14

Câu lạc bộ, đội nhóm được xem là hình thức tổ chức tập hợp một nhóm người tự nguyện, có cùng chung sở thích, mục đích, cùng tham gia sinh hoạt, hoạt động đáp ứng nhu cầu của bản thân và góp phần phục vụ lợi ích chung của đơn vị, xã hội qua đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên thanh niên Ngoài ra, còn có các dạng câu lạc bộ, đội, nhóm có tính tổ chức do Đoàn, Hội thành lập Điều hành, hướng dẫn hoạt động trong các câu lạc bộ, đội nhóm là Ban chủ nhiệm câu lạc bộ, hoặc Ban điều hành đội, nhóm do tập thể tín nhiệm bầu lên Đây là những người có uy tín, trách nhiệm, có năng lực tổ chức hoạt động, đã trải qua hoạt động đoàn thể Câu lạc bộ, đội nhóm có quy chế hoạt động,

Trang 26

ngành nghề…Các tổ chức này còn được gọi với tên khác là các tổ chức phi quan phương tức là các tổ chức này không bị chi phối nhiều vào các hệ thống quan điểm, chính trị của Đảng và nhà nước Các nhóm không chính thức tồn tại dưới một số hình thức:

- Các nhóm không chính thức theo quan hệ ngang Đó là nhóm của những

người cùng tầng lớp, cùng vị thế xã hội, nhưng có chung quyền lợi và có quan hệ chặt chẽ với nhau Chẳng hạn, nhóm của người công nhân, của những người quản

lý, nhóm của những người cùng vị thế xã hội, tầng lớp xã hội như nhau

- Các nhóm không chính thức theo quan hệ dọc Đó là nhóm của những

người khác về vị thế trong một tổ chức nhưng có cùng nhu cầu, sở thích và quan hệ chặt chẽ với nhau Chẳng hạn như một nhóm có các thành viên vừa là công nhân, vừa có quản đốc, những nhà quản lý có vị trí cao

- Các nhóm không chính thức theo quan hệ hỗn hợp Các thành viên có

thể khác nhau về địa vị xã hội, cấp bậc trong cơ quan…nhưng họ có chung một mục đích, sở thích như nhóm những người có quan tâm về mồi trường và bảo vệ môi trường, hay nhưng nhóm theo hội – đoàn của tôn giáo

Trong tài liệu hội thảo khoa học Bỉ được lưu hành trên mạng có định nghĩa

về tổ chức không chính thức như sau: “Tổ chức không chính thức là một khái niệm phản ánh về một loại tổ chức không liên quan đến cơ cấu an ninh chính thức của quốc gia Nó đơn giản chỉ là sự kết hợp các cá nhân lại với nhau và kết dính các mối quan hệ một cách tự phát Nó

là một phức hợp của tương tác xã hội trong mối quan hệ thường xuyên, của sự hợp tác hoặc trợ giúp qua lại lẫn nhau” Một tác giả khác là Hawthorne (http:// www.Hawthorne.html ) có viết

rằng “một tổ chức phi chính thức là một nhóm gồm nhiều người có cơ cấu nội xã hội (internal

social structure) dựa trên mối quan hệ bạn bè và quan hệ tự nguyện” 15

chương trình hành động được hội nghị hoặc đại hội hàng năm thông qua Câu lạc bộ, đội nhóm sinh hoạt định kỳ hàng tuần, tháng, 2 tháng, quý tuỳ theo quy định Thời gian sinh hoạt là ngoài giờ làm việc, học tập Câu lạc bộ, đội nhóm có tài chánh từ nguồn đóng góp của các thành viên, vận động tài trợ, và sử dụng theo quy chế do câu lạc bộ, đội nhóm quy định

15 Trích lại từ Nguyễn Minh Hòa, Văn hóa ngọai thành TP.HCM (từ góc nhìn thiết chế), NXB Tổng hợp

TP.HCM, năm 2007, trang 23

Trang 27

SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI CỦA A E.H.SCHEIN

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa trong công trình Văn hóa ngoại thành TP.HCM (từ góc nhìn thiết chế) cho rằng tổ chức không chính thức, “Đó là các

câu lạc bộ, các đội nhóm văn hóa do người dân lập ra… các tổ chức phi chính thức được xác định là các tổ chức họat động trên tinh thần phi lợi nhuận (trước hết là bất vụ lợi kinh tế), phi chính trị (không tham gia vào các hoạt động chính trị, quyền lực, an ninh) do các cá nhân hay nhóm lập ra nhằm hướng đến việc thỏa mãn một số nhu cầu nào đó của xã hội, của cộng đồng (chủ yếu là nhu cầu văn hóa, giáo dục, từ thiện) Các tổ chức này không đăng ký họat động theo luật doanh nghiệp hay luật tổ chức xã hội, không có giấy phép họat động, nhưng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và nằm trong tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng (hành chính, an ninh) và các cơ quan chuyên môn Qui mô các tổ chức này không lớn, phạm vi họat động của các nhóm này chủ yếu là địa bàn dân cư Có thể các tổ chức xã hội này có tên gọi khác nhau, nhưng chúng có đặc tính chung là không chịu sự quản lý trực tiếp của bộ máy công quyền, không có bộ máy hành chính cứng và đương nhiên không có đội ngũ nhân viên kiểu công chức chính thức chính thức hưởng lương, qui chế hoạt động của nó là tự điều hành, tự đề ra qui ước hoạt động trên cơ sở tự nguyện, đồng thuận Nhóm này có cơ cấu mềm dẻo, hoạt động linh hoạt và có một nhóm hạt nhân làm linh hồn và một nhóm trưởng có uy tín được đại đa số thành viên của nhóm đề cử Tùy theo điều kiện cụ thể mà sự ra

NHÓM CHÍNH THỨC

LÂU DÀI

NHÓM

NHÓM CHÍNH THỨC

NHÓM CHÍNH THỨC NHẤT THỜI

NHÓM KHÔNG CHÍNH THỨC

NHÓM KHÔNG CHÍNH THỨC THEO QUAN HỆ HÀNG NGANG

NHÓM KHÔNG CHÍNH THỨC THEO QUAN HỆ HÀNG DỌC

NHÓM KHÔNG CHÍNH THỨC THEO QUAN HỆ HỖN HỢP

Trang 28

đời của các tổ chức này có cần hay không cần có một quyết định hành chánh của một cơ quan công quyền địa phương…”16

Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu nghiên cứu trong đề tài này là các công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất Vì vậy, đa phần họ là các công nhân thuộc các công ty ngoài quốc doanh Chính vì vậy, chúng tôi cũng quan tâm đến một số khái niệm, định nghĩa về liên quan đến công nhân thuộc đơn vị ngoài quốc doanh:

- Định nghĩa về giai cấp Công nhân: Đây có lẽ là khái niệm quan trọng khi

tiếp hành nghiên cứu đề tài này Vì đối tượng chính được tiếp cận nghiên cứu là TNCN Tuy nhiên, có khá nhiều quan điểm khi nghiên cứu công nhân, những ý nghĩa về mặt nội hàm rộng hẹp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chúng tôi xin lần lượt điểm qua một số quan điểm chính liên quan đến giai cấp công nhân Việt Nam như sau:

Trong tác phẩm Những nguyên lý của Chủ nghĩa Cộng sản ra đời năm 1847,

Ph Ăngghen đã đưa ra 2 lần định nghĩa về giai cấp vô sản, mà trong giai đoạn này ông đồng nghĩa gia cấp vô sản là giai cấp công nhân, với nội hàm rộng và hẹp và cách diễn tả có chút ít khác nhau

“Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống của

họ đều phụ thuộc vào số cầu người lao động, tức là vào tình hình chuyển hướng tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không

có gì ngăn nổi Tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX” 17

Cũng trong tác phẩm này khi so sánh với định nghĩa giai cấp tư sản, Ph.Ăngghen lại viết rằng, “giai cấp vô sản là giai cấp những người hoàn toàn không

có của, do tình hình như trên nên họ buộc phải bán lao động của mình cho nhà tư sản để đổi lấy những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của mình Giai cấp đó gọi là giai cấp những người vô sản hay giai cấp vô sản”18

Đến Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (bản tiếng Anh xuất bản năm 1888), trong chú thích 1, Các Mác và Ăngghen đã đưa ra định nghĩa vắn tắt hơn “Giai cấp

16 Sđd trang 26

17 C.Mac va Ph Ăngghen: Sđd, 1994 tr.4

18 C.Mac va Ph Ăngghen: Sđd, 1994 tr.456

Trang 29

vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buột phải bán sức lao động của mình để sống”19

- Giai cấp công nhân ở Việt Nam: Trong công trình “Một số vấn đề về chủ

nghĩa Mac-Lênin hiện nay” định nghĩa: “Giai cấp công nhân là giai cấp những

người lao động, hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp, thuộc các trình độ

kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội thì tùy thuộc vào chế độ xây dựng đương thời Ớ các nước tư bản, họ là những người không có hoặc về cơ bản không

có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình”20

GS Văn Tạo trong công trình “Đổi mới chính sách xã hội đổi mới công tác công nhân và thợ thủ công” thì đưa ra định nghĩa: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao động Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dich vụ công nghiệp Do nắm giữ các cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại”21

Bùi Đình Bôn, trong công trình “Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” thì quan niệm: “Giai cấp công nhân hiên đại là cộng đồng người lao động, hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao: là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các hoạt động công nghiệp, sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các hoạt động công nghiệp, trực tiếp sản xuất vật chất của cải vật chất và cải tạo các mối quan hệ xã hội, là động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”22

Đan Tâm trong bài “Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại – một cách tiếp cận” thì cho rằng: “Giai cấp công nhân Việt Nam là cộng đồng xã hội những làm công ăn lương, nguồn thu nhập chủ yếu bằng tiền công; trực tiếp tham gia vào sản xuất công nghiệp, tạo ra các sản phẩm công nghiệp hoặc có tính cải

19 C.Mac va Ph Ăngghen: Sđd, 1994 tr 458 – 459

20 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh, Một số vấn đề về chủ nghĩa Mac-Lênin hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.97 – 98

21 Trung tâm nghiên cứu tư liệu lý luận, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Đổi mới chính sách xã hội với công nhân và thợ thủ công, NXB Lao động, Hà Nội, 1995, tr.113

22 Bùi Đình Bôn, Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

1997, tr.15

Trang 30

cách; nắm giữ những cơ sở vật chất – kỹ thuật then chốt của xã hội và tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội”23

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra khái niệm và đề cập đến những yếu tố đặc trưng của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Giai cấp công nhân bao gồm

những người lao động chân tay và trí óc (hình thức và tính chất lao động), làm công hưởng lương (địa vị kinh tế trong xã hội), trong các loại hình sản xuất kinh doanh

và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”(gắn liền với công nghiệp, kinh tế công nghiệp, xã hội công nghiệp) Tóm

lại công nhân là người lao động, không bóc lột, không tư hữu công cụ, tư liệu sản xuất và làm việc trong các cơ sở có tính chất công nghiệp

- Các khái niệm liên quan đến tập hợp thanh niên ngoài quốc doanh:

Theo tài liệu Sổ tay công công tác đoàn ngoài quốc doanh, Thành Đoàn

TP.HCM, các khái niệm liên quan đến tập hợp thanh niên ngoài quốc doanh như sau:

- Đơn vị ngoài quốc doanh: đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh (gọi tắt là đơn

vị ngoài quốc doanh) bao gồm: công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài Các loại hình doanh nghiệp này trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị mới, khu công nghệ cao, các Hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể Nói chung là các đơn vị kinh tế không phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Đơn vị ngoài quốc doanh cũng có thể hiểu là những khu vực có đông và đa

số thanh niên công nhân (TNCN) lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sống, sinh hoạt tập trung trên địa bàn dân cư (nhà trọ, khu lưu trú TNCN…), theo ngành nghề, theo đơn vị học tập (lớp học bổ túc văn hóa, trung tâm giáo dục thường xuyên…), các đơn vị hoạt động như doanh nghiệp (bệnh viện tư, trường dân lập, tư thục…)

- Thanh niên lao động ngoài quốc doanh (gọi tắt là thanh niên ngoài quốc doanh): Đây là lực lượng giữ vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế

thành phố, đất nước và của các doanh nghiệp Hàng năm số lượng này liên tục tăng nhanh cùng tốc độ phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Thanh niên ngoài quốc doanh có đặc điểm sau:

23 Tạp chí Cộng sản, số 5 – 1997, tr.29

Trang 31

- Phần lớn trong độ tuổi từ 18- 25 tuổi, có trình độ văn hóa cấp 2, 3; số lượng thanh niên từ các tỉnh khác đến chiếm tỉ lệ cao, đặc biệt trong các khu chế xuất, khu công nghiệp chiếm từ 70% - 80%, đa số là nữ, sống tập trung trong các khu nhà trọ của tư nhân, thông thường những khu nhà trọ này ở gần các doanh nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp; một số ít tại các khu nhà ở của công nhân do doanh nghiệp xây dựng

- Tính chất lao động: chủ yếu là lao động phổ thông, đòi hỏi nhiều sức lao động, một số ít làm trong các khâu kỹ thuật, hành chính

- Thời gian lao động: 8giờ/ngày, nhiều khi tăng ca đến 12 giờ/ngày

- Việc làm thiếu ổn định, điều kiện sống khó khăn

- Nhu cầu của thanh niên ngoài quốc doanh: Mong muốn có việc làm và thu nhập ổn định, đây là nhu cầu lớn nhất của thanh niên; Được nâng cao tay nghề, học vấn và phát triển cá nhân; Được hỗ trợ, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và chính đáng theo quy định của pháp luật; Được vui chơi giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, giao lưu kết bạn

- Công tác tập hợp thanh niên: Tập hợp thanh niên là quá trình tiếp cận,

định hướng, vận động và tập hợp thanh niên tham gia vào các phong trào thanh niên

do Đoàn, Hội tổ chức nhằm mục đích chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của thanh niên; đồng thời giáo dục ý thức giai cấp, giáo dục lý tưởng, tạo môi trường cho thanh niên được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; phát huy vai trò

và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

- Không gian tập hợp thanh niên: Khi nói đến không gian tập hợp thanh

niên là nói đến việc tập hợp thanh niên ở đâu? Có thể tập hợp thanh niên trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, trên địa bàn dân cư (theo phường, xã, khu phố, ấp,…), trong các khu nhà trọ, tại các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa (các đội, nhóm sở thích)… có thể nói không gian đó là nơi làm việc, học tập, nơi cư trú và nơi sinh hoạt giải trí của thanh niên

- Cấp độ tập hợp thanh niên: Mời gọi thanh niên tham gia các hoạt động do

Đoàn, Hội tổ chức tại địa phương hoặc tại khu chế xuất, khu công nghiệp, tại doanh nghiệp, khu nhà trọ Thông qua các hoạt động phát hiện và xây dựng lực lượng nòng cốt của Đoàn, Hội trong các đơn vị ngoài quốc doanh Xây dựng các câu lạc

bộ, đội, nhóm thanh niên và tập hợp thanh niên thông qua hoạt động của các câu lạc

Trang 32

bộ, đội, nhóm này Xây dựng và tổ chức hoạt động của các chi đoàn, chi hội thanh niên trong các doanh nghiệp

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài:

Trước đây, khi nghiên cứu về các tổ chức xã hội hay cộng đồng xã hội, người ta thường vận dụng các lý thuyết kinh điển trong Nhân học, Xã hội học để lý giải các hiện tượng xã hội như: cấu trúc luận, chức năng luận, thuyết xung đột… những lý thuyết này tùy theo từng góc độ mà người nghiên cứu áp dụng để lý giải các hiện tượng của cộng đồng xã hội, những động thái văn hóa, xã hội biểu hiện hành vi của mỗi cá nhân là thành viên trong cộng đồng Chẳng hạn như người ta xem xét cộng đồng dưới góc độ chức năng để tìm hiểu các thành tố tạo lên các tổ chức xã hội và chức năng của chúng trong sự ổn định hay mất ổn định của chúng thì người ta vận dụng chức năng luận Trường phái này xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ

20, đại diện có Bronislaw Malinowski và Radcliffe Brown Theo Malinowski, bất

kỳ văn hóa của cộng đồng nào trong tiến trình phát triển của nó đều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn định, trong đó mỗi bộ phận, cá thể đều thực hiện chức năng của

nó Nếu triệt tiêu một yếu tố nào đó trong văn hóa thì toàn bộ hệ thống văn hóa tộc người sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại Còn Radchiffe Brown cho rằng, nghiên cứu văn hóa của cộng đồng phải đi từ bên trong, và có ý thức đối với giá trị của các nền văn hóa khác

Một đại biểu khác của trường phái chức năng của Mỹ là Talcott Parsons Ông là nhà xã hội học Mỹ được biết đến như là một tác giả chính trong xã hội học của thế kỷ XX Một trong những đóng góp tiêu biểu của ông về lý thuyết văn hóa và chức năng Ông cho rằng xã hội được tạo nên từ 4 tiểu hệ thống, trong đó mỗi tiểu

hệ thống có chức năng giải quyết vấn đề cụ thể riêng Talcott Parsons đã tổng hợp

và đúc kết 4 tiểu hệ thống này thành mô hình AGIL.24

A G

I L

 A ở đây là sự thích ứng (Adaptation), nghĩa là cách mà hệ thống thích

ứng với thế giới vật chất và thỏa mãn nhu cầu vật chất để tồn tại (ví dụ thực phẩm, nhà ở…)

24 Đỗ Lai Thúy, 2006, Theo vết chân những người khổng lồ – Tân guyliơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn

hóa, NXB VHTT, Tạp chí VHNT Hà Nội Tr 59 - 60

Trang 33

 G (Goalattainment) – đạt được mục tiêu Tiểu hệ thống này có nhiệm

vụ đảm bảo cho mục đích và sự lãnh đạo của hệ thống… Chính trị là trung tâm trong lĩnh vực này

 I (Integration) – hợp nhất – thành phần này liên quan đến việc duy trì

trật tự Hệ thống pháp luật và các thể chế cộng đồng có chức năng tăng cường trật tự xã hội

 L (Latent pattern maintenance and tension management) nói đến nhu

cầu có định hướng và mục đích cho hành động của xã hội Trong thành phần này gồm có các thể chế quan tâm tới việc tạo ra các giá trị văn hóa, duy trì tình đoàn kết và việc xã hội hóa như: nhà thờ, trường học, gia đình

Về cấu trúc luận, do nhà Nhân học người Pháp Claude Lévi Strauss đề xướng và phát triển từ sau những năm 1950, có quan hệ mật thiết với lý thuyết chức năng cấu trúc mà Radcliffe-Brown và học trò của ông đã theo Cả hai lý thuyết này đều chịu ảnh hưởng những lý thuyết của Durkheim Điều khác biệt chính yếu là trong khi Radcliffe-Brown nghiên cứu những dạng thức đều đặn (regularities) trong hành động xã hội, cái mà ông cho là biểu hiện của cấu trúc xã hội được tạo thành bởi những mạng lưới và các nhóm, thì Levi-Strauss xác định vị trí cấu trúc ở tư tưởng con người, và xem sự giao tiếp xã hội như là biểu hiện ngoại tại của các cấu trúc nhận thức như thế Lý thuyết cấu trúc xem cấu trúc của xã hội là sản phẩm của

ý tưởng thay vì của những điều kiện vật chất của tồn tại xã hội Những người tham gia vào một hệ thống, cần phải ý thức về những hậu quả cấu trúc của nó đến mức độ nào?

Có thể nói, sự phát triển của cấu trúc luận đến sau chiến tranh thế giới thứ II,

đã có những đóng góp rất quan trọng, với những luận điểm và khái niệm rất cơ bản, làm công cụ và phương pháp luận trong nghiên cứu Nhân học Cấu trúc luận nói chung đã đưa ra các mô hình về cấu trúc như là những phương pháp luận cơ bản trong nghiên cứu Đặc trưng nổi bật của cấu trúc luận cho chúng ta biết rằng: khi nghiên cứu các hiện tượng cần phải đặt nó trong mối quan hệ giữa các yếu tố, xem

nó trong hệ thống, trong cái chung và qua đó tìm ra cái bản chất 25

Ngày nay nghiên cứu về cộng đồng xã hội người ta hình thành các chủ thuyết về cộng đồng, chẳng hạn như chủ nghĩa cộng đồng “Communitarianism”

“Communitarianism” là khái niệm tiếng Anh mới chỉ xuất hiện gần đây, trong các

thế kỷ 19-20, phái sinh từ chữ “community” (cộng đồng), được thêm đuôi -arian

25 Robert Layton, Nhập môn Lý thuyết Nhân học, Nxb ĐHQG TP.HCM, 2007, tr.117

Trang 34

biến thành tính từ và -ism để thể hiện tính chất ‘chủ nghĩa’ Về mặt triết học, các

chuyên gia đào sâu lý luận và xây dựng nền tảng tư duy nhiều lúc mâu thuẫn nhau,

do có tầm nhìn khác nhau về cả bản thể lẫn hiện tượng Tuy nhiên, từ khía cạnh lịch

sử tư tưởng, người ta coi chủ nghĩa cộng đồng là nhóm quan điểm của các triết gia

và chính trị gia hoạt động từ thập niên 1980 với tư duy nhấn mạnh tới vai trò của

cộng đồng / community, khởi nguồn từ trào lưu lập luận phản bác hệ tư tưởng của John Rawls trong quyển Lý thuyết Công lý (1971) và Robert Nozick trong công trình về Quốc gia, Vô chính phủ và Không tưởng (1974, Szahaj 2005)

Một trong những luận điểm chung của nhóm tư tưởng cộng đồng là cá nhân khó hoặc thậm chí không thể tồn tại được, đặc biệt trong xã hội hiện đại, nếu không liên hệ với một cộng đồng nào đó Hơn nữa, mỗi cá nhân còn tồn tại cùng lúc trong nhiều cộng đồng khác nhau, ví dụ vừa là thành viên của một đại gia đình, đồng thời

là dân cư của một tổ dân phố và nhân viên một tập đoàn, cũng như hội viên một tổ chức quốc tế… Do vậy “điểm mấu chốt của xã hội hiện đại là khả năng của mỗi cá nhân biết cân nhắc và lựa chọn giữa các trách nhiệm, biết cách sống trong mối quan

hệ mâu thuẫn của sự trung thành nhiều chiều” (Sandel 1996) Vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội tạo ra bản sắc (identity) của cá nhân đó, một sự định hình dù mang tính lựa chọn nhưng không phụ thuộc vào mục tiêu chung, mà là thể hiện của

sự tư duy về mục tiêu riêng, về vai trò của bản thân trong sự tồn tại của quần thể Nói cách khác, chính các mối quan hệ cộng đồng xung quanh cá nhân, từ gia đình, hàng xóm cho đến quốc gia, đã định đoạt cái “Tôi” của cá nhân đó (Sandel 1982) Hơn vậy, mối liên kết chặt chẽ trong cộng đồng loại trừ khả năng trung lập về chính trị, được coi như một giá trị đạo đức, vì nó bảo vệ và quảng bá các giá trị của cộng đồng Cá nhân sẽ không có cơ hội xây dựng bản sắc, mất khả năng tự chủ và bị tuớc đoạt quyền lợi nếu bị hoặc tự tách rời khỏi chính trị, tức là quá trình bàn thảo và đấu tranh cho quyền lợi chung Etzioni (1996) phân biệt nhiều cấp cộng đồng, từ nhỏ như hàng xóm láng giềng, khu dân cư, cho đến lớn như quốc gia và cộng đồng quốc

tế Cái quan trọng nhất tạo nên định nghĩa cộng đồng chính là các mối quan hệ đượm màu sắc tình cảm giữa người với người, song song với mức độ trách nhiệm với các giá trị chung, chuẩn mực, biểu tượng, lịch sử và bản sắc Hệ giá trị chung được các thành viên tôn trọng và tạo dựng thông qua bàn cãi, cùng nhau thực hiện, chứ không phải do ai khác áp đặt Ngay cả mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng cũng là mối quan hệ ngang hàng vì chính cá nhân là quan tòa cao nhất phán quyết

về giá trị và hành vi đạo đức của mình, nhưng có thể thấy ảnh hưởng của cộng đồng lên cá nhân có phần mạnh hơn chiều ngược lại Nếu xét về tầm quan trọng của các

Trang 35

thứ bậc cộng đồng thì các quần thể nhỏ nhất, gần nhất với mỗi cá nhân thường có ảnh hưởng mạnh hơn, giá trị của nó dù giới hạn nhưng lại có vị thế cao hơn so với giá trị của cộng đồng lớn hơn Thật ra quan điểm này cũng đã được F.Tonnies đã đề cập tới khi công bố khảo luận đầu tiên về cộng đồng “Community and Society” vào năm 1887 (Gemeinschaft und Gesellschaft), trans and ed C.P Loomis (first published in 1887; New York, 1963), ông cho rằng ở những xã hội tiền công nghiệp thì công đồng mang giá trị là cộng đồng đồng tính nhưng quá trình đô thị hóa diễn

ra thì nó sẽ thay đổi thành hiệp hội tính Mối quan hệ được thiết lập dựa trên căn nguyên của lý tính chứ không còn là mối quan hệ mang đượm yếu tố tình cảm

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dựa trên quan điểm Cấu trúc luận Mác-xít để lý giả

các vấn đề nghiên cứu của đề tài Khi tiếp cận học thuyết Mác – xít trong nghiên cứu khoa học xã hội, trước hết chúng ta cần phân biệt giữa chủ nghĩa Mác với tư cách một học thuyết chính trị xã hội và và lý thuyết Mác xít trong khoa học xã hội

Có thể nói trong một thời gian rất dài ở Liên Xô (cũ), các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) ở Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam, khía cạnh trong lý thuyết Mác xít được

sử dụng phổ biến nhất trong khoa học xã hội, nhất là lịch sử và dân tộc học, là tiến hóa luận và duy vật lịch sử Trong khi đó ở phương Tây, có 2 trung tâm chính sử dụng lý thuyết Mác: Pháp và Mỹ Những khía cạnh triết học của lý thuyết của Mác, như biện chứng lịch sử và quan niệm về quyền lực, được các nhà triết học châu Âu, đặc biệt là Pháp, tiếp tục phát triển Trong nhân học, lý thuyết Mác được ứng dụng trong Mác xít cấu trúc luận ở Pháp và một số nhánh Mác xít khác nhau ở Mỹ, gồm duy vật văn hóa, sinh thái học, và lý thuyết hệ thống thế giới Có thể nói, Nhân học Mác-xít cấu trúc ở Pháp và nhân học chịu ảnh hưởng của Mác ở Mỹ trong những năm 1960 đến khoảng giữa 1980

Những nội dung cơ bản của lý thuyết Mác-xít được Mác và Ăng-ghen xây dựng trong lý thuyết kinh tế chính trị, và tập trung vào lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản Một trong những phạm trù quan trọng của lý thuyết Mác – xít là duy

vật biện chứng (dialectical materialism): lý thuyết về tiến hóa xã hội của Mác bắt

nguồn từ lý thuyết về biến đổi biện chứng của nhà triết học Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) Trong khi những học giả khác như Locke và Tylor tin rằng những thiết chế văn hóa là sản phẩm của tư duy duy lý, ngược lại, Mác cho rằng tư duy chính là sản phẩm của những thiết chế văn hóa Ông đã phân chia cấu

trúc xã hội thành hạ tầng (infrastructure) và thượng tầng kiến trúc (superstructure)

và chỉ ra mối quan hệ giữa chúng Lý luận của Mác về ý thức hệ (ideology) và nhận thức hư ảo (false consciousness) Trong xã hội tư bản, giai cấp lao động chỉ có thể

Trang 36

nhận thức về sự bóc lột một cách không toàn diện, bởi lẽ mối quan hệ quyền lực đã

bị che phủ bởi một ý thức hệ biện minh cho trật tự đang tồn tại Những hiện tượng của thượng tầng kiến trúc, nhất là luật pháp, tôn giáo, hoặc thân tộc đã ngấm vào

‘nhận thức hư ảo’ ru ngủ dân chúng Luận điểm này về sau được áp dụng, phê phán,

và tiếp tục hiệu chỉnh trong nghiên cứu nhân học, đặc biệt là các chủ đề về thiết chế văn hóa, như thân tộc, tôn giáo, v.v

Phần lớn các công trình của Mác và Ăng-ghen phân tích mâu thuẫn nảy sinh

từ sự giàu có ngày càng tăng của tư bản (tư sản), có được nhờ sự bóc lột giai cấp lao động (vô sản) và làm họ ngày càng chìm sâu vào đói nghèo diễn ra ở châu Âu, đặc biệt là từ cách mạng công nghiệp Anh

Mác và Ăng-ghen quan niệm biến đổi xã hội là một quá trình đánh dấu bởi cách mạng – đấu tranh giai cấp – đưa đến những nấc thang phát triển kinh tế, chính

trị và xã hội mới Đây cũng được xem là luận điểm của tiến hóa luận (evolutionsim)

Trọng tâm của tiến hóa luận là quan niệm lịch sử là những giai đoạn tiến hóa tuần

tự, đặc trưng bởi phương thức sản xuất (mode of production) Mác và Ăng-ghen tập

trung bàn về lịch sử châu Âu dưới dạng quá độ từ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, và phỏng đoán bước tất yếu trong quá trình tiến hóa của loài người là chủ nghĩa cộng sản

Trong những công trình giai đoạn sau, Mác và Ăng-ghen chịu ảnh hưởng sâu

sắc của Louis Henry Morgan (1818 - 1881) Trong Xã hội cổ đại (1877), Morgan đã

liên hệ những giai đoạn tiến hóa của văn hóa loài người với những thành tựu vật chất và kỹ thuật Chính vì vậy, Mác và Ăng-ghen tin rằng công trình của Morgan đã khẳng định cho lý thuyết tiến hóa của mình

Ngoài ra, vì bản thân Mác là một nhà hoạt động chính trị xã hội tích cực, có

vai trò nổi bật trong phong trào cộng sản quốc tế, nên hai khía cạnh phê phán xã hội

và hành động là những di sản các học giả sau này theo lý thuyết của Mác được thừa

hưởng và tiếp tục

Đầu thế kỷ 20, công trình của Mác ít thu hút sự chú ý trong nhân học Mãi cho tới cuối những năm 1920, ngoài Liên Xô, Mác chỉ có ảnh hưởng rất hạn chế trong phân tích dân tộc học Trong nhân học phương Tây nửa đầu thế kỷ 20, Steward và White (Mỹ) và Gluckman (Anh) có lẽ là những học giả chịu ảnh hưởng của Mác rõ nét nhất – Steward thừa hưởng chủ nghĩa duy vật, White quyết định luận kỹ thuật, và Gluckman quan tâm đến khủng hoảng và mâu thuẫn Tuy vậy, những công trình của họ hầu như hoàn toàn vắng bóng trích dẫn Mác Trong những

Trang 37

năm 1950 và đầu 1960 ở khối nói tiếng Anh, thảng hoặc mới có nhà nhân học trích dẫn hoặc nhắc tới Mác hoặc lý thuyết của Mác, như Eric Wolf và Stanley Diamond

ở Mỹ, Peter Worseley ở Anh Việc áp dụng lý thuyết của ông, sự phân biệt giữa hạ tầng và thượng tầng kiến trúc, khái niệm về ý thức sai lệnh, khái niệm mâu thuẫn, v.v vào nghiên cứu các xã hội đương đại gặp rất nhiều thách thức Hơn nữa, lý thuyết của Mác trước hết đề cập đến xã hội tư bản Trong khi đó, các nhà nhân học thường quan tâm đến các xã hội không tư bản và không phương Tây

Đồng thời, những phát triển trong nội bộ ngành nhân học cho tới giữa thập niên 1960 đã khẳng định một số đặc trưng của ngành: quan tâm đến sự đa dạng phong phú của hiện thực, nghi ngờ đối với những mô hình giản đơn, phổ biến, và quan điểm tương đối văn hóa Vì vậy, tiến hóa luận giản đơn kiểu Mác khó còn được chấp nhận trong nhân học vào thời điểm đó

Các nhà nhân học quan tâm đến lý thuyết Mác như một lý thuyết khoa học

đã hướng sự chú ý đến những khía cạnh khác không phải tiến hóa luận: vấn đề quyền lực, vai trò của ý thức hệ, mối quan hệ giữa thượng tầng và hạ tầng kiến trúc

Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sẽ cố gắng ứng dụng các quan điểm nghiên cứu kể trên để lý giải các động thái xã hội với các mối quan hệ xã hội mà công nhân đóng vai trò quan trọng

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

Khi một quốc gia bước vào quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước, ngoài

những quan tâm về các chỉ số phát triển thì người ta cũng quan tâm đến các hệ quả

xã hội mà tự bản thân nó nảy sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người Ở các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu, châu Mỹ và ở một số nước đang phát triển tại khu vực châu Á, phát triển và đi trước nước ta nhiều năm nên các vấn đề nảy sinh hệ quả xã hội luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đúc kết thành các qui luật xã hội Các nhà Xã hội học thuộc trường phái Chicago ở Mỹ và các nhà Nhân học xã hội ở Anh, Pháp đã thực hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu về lối sống của các thành phần dân cư trong các đô thị đã và đang đô thị hóa tại nhiều quốc gia Đặc biệt, những công trình nghiên cứu dưới góc độ Xã hội học, Nhân học đô thị tại các đô thị lớn ở Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ luôn quan tâm đến vấn đề lối sống của nhóm thanh niên tại đô thị Tuy nhiên, xét về khía cạnh tập hợp nhóm xã hội, cộng đồng xã hội thì phải kể đến nghiên cứu chuyên biệt về cộng đồng đầu tiên đã được nhà xã hội học Đức F.Tonnies thực hiện

là “cộng đồng và xã hội”, năm 1887 - Community and Society (Gemeinschaft und

Trang 38

Gesellschaft), trans and ed C.P Loomis (first published in 1887; New York, 1963) Các luận điểm của ông được coi là lý luận kinh điển trong lịch sử xã hội học Trong quan niệm này, khái niệm cộng đồng đã được cụ thể hoá, thao tác hoá từ góc

độ xã hội học Ông chia các xã hội ra làm hai mô hình: cộng đồng tính (Gemeinschaft) và hiệp hội tính (Gasellschaft) Mô hình thứ nhất thực chất là các cộng đồng truyền thống tiền công nghiệp, thuộc các xã hội nông nghiệp-nông thôn

và mô hình thứ hai là các cộng đồng thuộc xã hội công nghiệp-đô thị Về các tính

đặc thù chủ yếu của công xã truyền thống, F Tonnies cho rằng: chuyên môn hóa hạn chế trong phân công lao động, duy trì tính cộng đồng trên cơ sở các mối liên hệ tương trợ trực tiếp giữa các cá nhân, điều chỉnh các quan hệ này bằng các chuẩn mực đạo đức đơn giản, ảnh hưởng quyết định của các giá trị, tín ngưỡng và tôn giáo, sự thống trị của thiết chế thân tộc Thống trị trong xã hội cũng là kiểu liên hệ qua lại dựa trên cơ sở lợi ích hợp lý, luật lệ hình thức, là chuyên môn hóa phân nhánh trong lĩnh vực lao động và các chức năng xã hội khác

Trong Xã hội học hiện đại và Nhân học phát triển, nhiều tác giả tham gia nghiên cứu và chính xác hoá tiếp tục khái niệm cộng đồng và phát triển cộng đồng Tonnies là một trong tác giả kinh điển của xã hội học rất lo lắng về tình trạng giải thể của cộng đồng tính chuyển sang hiệp hội tính do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Ông ta kêu gọi làm sao duy trì được cộng đồng tính, vì cộng đồng tính là một đặc tính được xét trên những quan điểm của giá trị luận, là những giá trị tốt đẹp của quan hệ giữa người và người Ở Việt Nam, cộng đồng làng-xã có một giá trị rất tốt đẹp mà ai cũng công nhận đó là tình làng nghĩa xóm đang có nguy cơ bị giải thể do quá trình đô thị hóa và thị trường hóa

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa được coi như là sẽ phá hoại những mối quan hệ cộng đồng tính Các mối quan hệ hiệp hội tính sẽ ngày càng gia tăng trong các xã hội đô thị và công nghiệp hóa Tuy nhiên các nghiên cứu của Young và Willmott (1960), của Gans (1962) đã làm nảy sinh những nghi ngờ về mối liên hệ giữa đô thị hóa và “sự biến mất của cộng đồng.” 26

Tuy nhiên, do đặc thù hệ thống chính trị giữa nước ta và các nước trên thế giới có nhiều điểm khác nhau nên khi nghiên cứu về các các tổ chức chính trị, xã hội mà cụ thể là nghiên cứu về tổ chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là nhóm nghiên cứu đặc thù của xã hội Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

đã được quan tâm nghiên cứu Các đề tài nghiên cứu được quan tâm dưới nhiều góc

26 David Jary and Julia Jary Dictionary of Sociology Harper Collins Publisher 1991, p 97- 99

Trang 39

độ trong đời sống công nhân: từ nhận thức, đời sống đến các nhu cầu giải trí của

công nhân… Các công trình nghiên cứu khá công phu và tỉ mỷ như: Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ, Nguyễn Thị Thiềng, Patrick Gubry (và các tác giả), NXB Thế giới, 2006; Thực trạng đời sống công nhân ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vấn đề đặt ra (kỷ yếu hội thảo), Tạp chí Cộng sản và UBND tỉnh Bình Dương, 2006; Vấn đề thích ứng với lối sống đô thị trong quá trình đô thị hóa tại TP.HCM – thực trạng và giải pháp (kỷ yếu hội thảo), Trung tâm KHXH và NV (nay là Viện Nghiên cứu Xã hội), 2003; Vấn đề phát triển đô thị bền vững tại Tp.HCM –đối chiếu kinh nghiệm từ một số thành phố ở Đông Nam Á, Tôn Nữ Quỳnh Trân (chủ nhiệm đề tài), Sở KHCN TP.HCM, 2003; Đời sống của công nhân tại các khu công nghiệp và chế xuất TP.HCM, Phạm Văn Xu, Sở KHCN TP.HCM, 2002; Nghiên cứu tiến trình đô thị hoá của các nước châu Á (Chủ yếu là ĐNÁ) với tiêu điểm là mô hình quản lý đô thị trong mối quan hệ với phát triển không gian đô thị: những bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển cho Tp.HCM, Nguyễn Minh Hòa, Sở KHCN TP.HCM, 2004…

Bên cạnh đó, các tổ chức Đoàn TNCSHCM, Hội LHTN VN với mục tiêu từng bước nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động đoàn, hội tạo tác động mạnh mẽ từ hành động đến nhận thức của đoàn viên – thanh niên tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thời gian gần đây Các tổ chức đoàn thể này đã quan tâm và có nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu cũng đã được tiến hành nhưng số lượng và chất lượng chưa tương xứng với nhu cầu xã hội đặt ra

Đến nay, nghiên cứu về vấn đề tập hợp thanh niên công nhân đang làm việc tại các KCN – KCX đến với các tổ chức đoàn thể, chúng tôi nhận thấy chỉ mới có một số tham luận của các nhà khoa học và các cán bộ Thành đoàn đang làm việc trong lĩnh vực này có đề cập tới nhưng các bài tham luận này cũng mới là những nghiên cứu khai phá nhằm đặt ra những vấn đề cấp bách của xã hội cần quan tâm,

chẳng hạn như trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại các KCX – KCN TP.HCM tháng 12 năm 2005 có các tham luận

nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công

nhân Trong đó PGS.TS Nguyễn Minh Hòa với tham luận Vai trò của tổ chức trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần trong các khu công nghiệp tập trung tại TP.HCM Tác giả đã đặt ra vấn đề “đời sống văn hóa tinh thần của công nhân công nghiệp ở TP.HCM rất thấp, đơn điệu và tẻ nhạt Chính điều này tác động rất xấu đến nhiều mặt cho cá

Trang 40

nhân, nhà doanh nghiệp và chính quyền sở tại”27 Một trong những nguyên nhân mà tác giả chỉ ra là hiện tượng công nhân không thuộc tổ chức nào, nhất là các tổ chức chính thức, điều này rất chính xác đối với công nhân làm trong các doanh nghiệp nước

ngoài Bên cạnh đó, ThS Nguyễn Trần Thực với tham luận Một số mô hình sinh hoạt văn hóa tinh thần cho công nhân đã giới thiệu sơ lược các mô hình tổ chức sinh hoạt phi chính thức của công nhân tại các khu công nghiệp như câu lạc bộ hát với nhau; “những người bạn”; “đờn ca tài tử”… Tuy nhiên, những tham luận này

mới dừng lại ở mức nghiên cứu định hướng hơn là một nghiên cứu mang tính ứng dụng cho các tổ chức chính trị xã hội của thanh niên

Như vậy, có thể nói nghiên cứu về công nhân cho đến lúc này có khá nhiều người nghiên cứu, đồng thời những nghiên cứu về tổ chức đoàn, hội cũng không ít, nhưng nghiên cứu về cách thức tập hợp thanh niên tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh đến với các tổ chức chính trị xã hội nhằm chăm lo đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho công nhân là một đề tài tương đối mới, cần được quan tâm nghiên cứu

1.4 Đặc điểm về đội ngũ công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp - khu chế xuất TP.HCM

1.4.1 Đặc điểm về tuổi tác:

Phần lớn thanh niên công nhân lao động tham gia vào lực lượng sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nằm trong độ tuổi từ 18- 22 tuổi Hầu hết những thanh niên nằm trong độ tuổi này vừa tốt nghiệp phổ thông trung học và một sốt ít trung học cơ sở Bên cạnh đó, chiếm tỷ lệ không nhỏ công nhân nằm trong độ tuổi cao hơn, tức là từ 23-27 tuổi, có người vì lý do không xin được việc làm ngoài quê,

có người thì đã có “thâm niên” làm công nhân tại TP.HCM từ rất lâu Những công nhân ở lứa tuổi nhỏ hơn (từ 18-22), ngoài thời gian đi làm, nhu cầu về tinh thần, về những hoạt động cho giải trí của họ cũng sẽ cao hơn những người ở lứa tuổi từ 23-

27 tuổi Bởi, đa phần họ đều sống độc thân, chưa vướng bận nhiều thời gian dành cho gia đình Còn những người lứa tuổi lớn hơn, ngoài thời gian đi làm, còn phải chăm lo cho gia đình, quán xuyến thêm công việc nhà, thời gian dành cho gia đình,

27 Nguyễn Minh Hòa, “Vai trò của tổ chức trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần trong các khu công

nghiệp tập trung tại TP.HCM”, kỷ yếu Hội thảo khoa học Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại các

KCX – KCN TP.HCM, tháng 12 năm 2005, trang 86

Ngày đăng: 07/02/2015, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chan, Anita and Nolund, Irene 1998, “Vietnamese and Chinese Labour Regimes: On the Road to divergence”, The China Journal, Vol.40, p.180- 181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnamese and Chinese Labour Regimes: On the Road to divergence”, "The China Journal
2. Chan, Anti and Wang, Hong- Zen 2004 , “The impact of the state on Workers’ condition-comparing Taiwanese factories in China and Vietnam”, Pacific Affairs, Vo. 77, No.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of the state on Workers’ condition-comparing Taiwanese factories in China and Vietnam”, "Pacific Affairs
3. Clarke, Simon 2006, “The changing character of Strikes in Vietnam”, Post- Communist Economies, Vol.18, No.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The changing character of Strikes in Vietnam”, "Post-Communist Economies
4. Jee, Joung Kim 2005, “Making Industrial Conflict Public: Newspaper Coverage of Strikes in Ho Chi Minh City, Vietnam”, The symposium on Labor, Enterprises, Entrepreneurs and State in Viet Nam, CERI/Sciences Po, Paris, France on December 9-10 th Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making Industrial Conflict Public: Newspaper Coverage of Strikes in Ho Chi Minh City, Vietnam”, "The symposium on Labor, Enterprises, Entrepreneurs and State in Viet Nam, CERI/Sciences Po
5. Tran, Angie Ngoc 2005, Threads in the Fabric of strikes: Native place bonding, new local mechanisms, evolving labor unions in Vietnam, The symposium on Labor, Enterprises, Entrepreneurs and State in Viet Nam, CERI/Sciences Po, Paris, France on December 9-10 th Sách, tạp chí
Tiêu đề: Threads in the Fabric of strikes: Native place bonding, new local mechanisms, evolving labor unions in Vietnam
Tác giả: Angie Ngoc Tran
Nhà XB: The symposium on Labor, Enterprises, Entrepreneurs and State in Viet Nam, CERI/Sciences Po
Năm: 2005
6. Wang, Hong _Zen 2005 , “Asian Transnational Corparations and Labor rights: Vietnamese trade unions in Taiwan – invested Companies, Journal of business Ethics, Vol.56.Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Transnational Corparations and Labor rights: Vietnamese trade unions in Taiwan – invested Companies, "Journal of business Ethics
1. Tất Thành Cang, Nghiên cứu và xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo cán bộ Đòan - Hội - Đội tại thành phố Hồ Chí Minh, 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo cán bộ Đòan - Hội - Đội tại thành phố Hồ Chí Minh
2. Đồng Văn Công, Sự hội nhập văn hoá đô thị của công nhân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh – Trường hợp công ty Giầy Hiệp Hưng, Trường ĐH KHXH&NV / Khoa xã hội học. –Tp. Hồ Chí Minh, 05/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hội nhập văn hoá đô thị của công nhân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh – Trường hợp công ty Giầy Hiệp Hưng
Tác giả: Đồng Văn Công
Nhà XB: Trường ĐH KHXH&NV / Khoa xã hội học
Năm: 2001
4. Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng, Những vấn đề của phát triển không gian đô thị, NXB Đại học quốc gia TPHCM, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của phát triển không gian đô thị
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TPHCM
6. Nguyễn Minh Hòa, Văn hóa ngọai thành TP.HCM (từ góc nhìn thiết chế), NXB Tổng hợp TP.HCM, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ngọai thành TP.HCM (từ góc nhìn thiết chế)
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.HCM
7. Nguyễn Minh Hòa, Vùng đô thị Châu Á và thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP.HCM, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng đô thị Châu Á và thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP.HCM
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.HCM"
8. Phan Hiền, Trần Khắc Tuấn, Lê Anh Tuấn,… Vai trò của đội ngũ công nhân Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Trường ĐH KHXH&NV / Khoa lịch sử ;– Tp. Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đội ngũ công nhân Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tác giả: Phan Hiền, Trần Khắc Tuấn, Lê Anh Tuấn
Nhà XB: Trường ĐH KHXH&NV
Năm: 2003
9. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận dụng, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2000
10. Chủ nhiệm Lê Quốc Huy, Đặc điểm, vai trò của đội ngũ công nhân và khu công nghiệp Sóng Thần trong thời kì mới : Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường ĐH KHXH&NV / Khoa lịch sử ; – Tp. Hồ Chí Minh, 04-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm, vai trò của đội ngũ công nhân và khu công nghiệp Sóng Thần trong thời kì mới
11. Cao Hồng Hưng, Xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo Giáo dục và rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường ĐH KHXH&NV, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh
12. Nguyễn Đức Lộc (chủ nhiệm đề tài), “Thực trạng họat động Hội sinh viên và giải pháp nâng chất họat động các cơ sở Hội sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”, đề tài nghiên cứu cấp trường, Trường ĐH KHXH&NV, nghiệm thu năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng họat động Hội sinh viên và giải pháp nâng chất họat động các cơ sở Hội sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả: Nguyễn Đức Lộc
Nhà XB: Trường ĐH KHXH&NV
Năm: 2006
13. Mai Quốc Long, Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý lao động trong khu chế xuất – khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiệm thu ngày 22/02/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý lao động trong khu chế xuất – khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
14. Nguyễn Thanh Nghị, Cơ sở lý luận và thực tiễn của bộ giáo trình đào tạo kỹ năng nghiệp vụ, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở, nghiệm thu 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của bộ giáo trình đào tạo kỹ năng nghiệp vụ, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở
15. Phạm Đình Nghinh (chủ nhiệm đề tài), “Đánh giá tính hiệu quả qua hoạt động của hệ thống các chi Đoàn và Đoàn cơ sở trong những trường thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tính hiệu quả qua hoạt động của hệ thống các chi Đoàn và Đoàn cơ sở trong những trường thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
16. TS. Phạm Đình Nghiệm, Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 26/07/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI CỦA A E.H.SCHEIN - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI CỦA A E.H.SCHEIN (Trang 27)
Bảng 1.1: Độ tuổi Thanh niên Công Nhân - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 1.1 Độ tuổi Thanh niên Công Nhân (Trang 41)
Bảng 2.1: Mối quan hệ với người ở chung - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 2.1 Mối quan hệ với người ở chung (Trang 52)
Bảng 2.12: Thu trừ Chi (VNĐ) - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 2.12 Thu trừ Chi (VNĐ) (Trang 65)
Bảng 2.17: Mức độ tăng ca - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 2.17 Mức độ tăng ca (Trang 76)
Bảng 2.26 : XẾP LOẠI NHU CẦU ƯU TIÊN CỦA CÔNG NHÂN QUẬN 12 - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 2.26 XẾP LOẠI NHU CẦU ƯU TIÊN CỦA CÔNG NHÂN QUẬN 12 (Trang 86)
SƠ ĐỒ CÁC LOẠI HÌNH TẬP HỢP THANH NIÊN CÔNG NHÂN - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
SƠ ĐỒ CÁC LOẠI HÌNH TẬP HỢP THANH NIÊN CÔNG NHÂN (Trang 90)
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Công đoàn - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả công nhân tham gia Công đoàn (Trang 98)
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả công nhân tham gia sinh hoạt Đoàn - Hội - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả công nhân tham gia sinh hoạt Đoàn - Hội (Trang 106)
Bảng 3.17: Tổng hợp kết quả đánh giá của công nhân về Lợi ích mà Hội đồng - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Bảng 3.17 Tổng hợp kết quả đánh giá của công nhân về Lợi ích mà Hội đồng (Trang 138)
Hình 02: Công nhân tham gia PRA – Phân loại ưu tiên tại Quận 12 - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Hình 02 Công nhân tham gia PRA – Phân loại ưu tiên tại Quận 12 (Trang 154)
Hình 01: Công nhân tham gia PRA – Biểu đồ Venns tại Quận 7 - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Hình 01 Công nhân tham gia PRA – Biểu đồ Venns tại Quận 7 (Trang 154)
Hình 03: Công nhân mua sắm ở “Phiên chợ Vui” lần 1, tổ chức tại Khu Chế - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Hình 03 Công nhân mua sắm ở “Phiên chợ Vui” lần 1, tổ chức tại Khu Chế (Trang 155)
Hình 04: Công nhân tham gia trò chơi vận động ở “Phiên chợ Vui” lần 1, tổ - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Hình 04 Công nhân tham gia trò chơi vận động ở “Phiên chợ Vui” lần 1, tổ (Trang 155)
Hình 06: Chương trình văn nghệ, hát với nhau thu hút đông đảo công nhân ở - khảo sát các hình thức tập hợp thanh niên công nhân các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất vào sinh hoạt tập thể
Hình 06 Chương trình văn nghệ, hát với nhau thu hút đông đảo công nhân ở (Trang 156)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w