1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỊA CHỈ PHÂN HÓA MÔN TIẾNG VIỆT

37 362 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 536 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b Khuyết, nhược điểm : - Đa số GV chưa thể hiện rõ việc dạy học theo hướng phân hoá đối tượng HS, còn chú trọng nhiều đến việc truyền đạt kiến thức chung cho số đông, còn dạy theo kiểu “

Trang 1

MÔN TIẾNG VIỆT

I- NHẬN ĐỊNH VỀ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TRONG THỜI GIAN QUA 1- Đối với giáo viên :

a) Ưu điểm :

- Tất cả GV giảng dạy đều được trang bị tài liệu“Hướng dẫn thực hiện chuẩn

KT-KN các môn học ở tiểu học” do Bộ GDĐT ban hành và tham gia tập huấn về “Dạy học theo chuẩn KT-KN và phân hoá đối tượng HS”.

- Đa số GV đều nắm được trình tự lên lớp, đặc trưng dạy học các phân môn, đảmbảo truyền thụ đúng, đủ nội dung kiến thức của từng tiết dạy theo chuẩn KT-KN và nộidung giảm tải

- Qua thực hiện giảm tải, GV được chủ động thay thế một số nội dung, đề bài Tậplàm văn cho gần gũi, thích hợp hơn với đối tượng HS của mình tại địa phương Việc thựchiện dạy học phân hoá HS theo năng lực dựa trên chuẩn KT-KN được GV áp dụng tươngđối đồng bộ

- Phần lớn GV thực sự có lương tâm nghề nghiệp, bên cạnh việc tham gia các đợt

tập huấn/bồi dưỡng chuyên môn của ngành, đã quan tâm đến việc “tự thân vận động”

trong phấn đấu trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ qua tham khảo tư liệu phục vụchuyên môn, tự làm đồ dùng dạy học, thường xuyên tra tự điển Tiếng Việt mỗi khi cầnthiết

- Ngày càng nhiều GV phấn đấu trở thành tấm gương sáng cho HS noi theo qua sựmẫu mực trong sử dụng ngôn từ, cách phát âm, sử dụng chữ viết Những GV phấn đấu đạtdanh hiệu GV dạy giỏi, những GV đạt giải Viết chữ đẹp cấp huyện hàng năm trở thànhcánh chim đầu đàn cho tổ chuyên môn, cho trường tiểu học đang công tác

- Việc ứng dụng CNTT trong một số tiết dạy của GV, kể cả phân môn Tập viết, đãgóp phần nâng cao hiệu quả học tập của HS và giúp các em có khả năng quan sát-ghi nhớtốt hơn

- Việc hầu hết GV đều soạn kế hoạch bài học (KHBH) trên máy tính, sử dụngKHBH in vi tính trên lớp làm giảm đi áp lực soạn giáo án theo phương cách thôngthường, giúp GV có thêm thời gian để tham khảo tư liệu, trong đó có các tư liệu, tranhảnh phong phú được chọn lọc trên mạng internet

b) Khuyết, nhược điểm :

- Đa số GV chưa thể hiện rõ việc dạy học theo hướng phân hoá đối tượng HS, còn chú trọng nhiều đến việc truyền đạt kiến thức chung cho số đông, còn dạy theo kiểu “đại

trà”, chỉ “chạy” theo nội dung bài học hoặc tập trung để truyền đạt đủ yêu cầu chuẩn

KT-KN từng bài

- Việc xác định kiến thức trọng tâm, kĩ năng cần đạt trong mục tiêu của bài dạy có

khi còn mang tính chung chung; hoạt động giữa thầy và trò, giữa trò và trò chưa được cụthể hóa một cách rõ ràng

- Nội dung giảng dạy còn khá rập khuôn, thầy chưa dám tự chủ giải quyết nội dung

chuẩn KT-KN của bài học để giúp trò hoạt động tích cực, phù hợp với tình hình thực tế

Trang 2

Có GV chưa phân loại HS một cách chủ động để có hình thức tổ chức dạy học phù hợpvới từng đối tượng.

- Còn lúng túng trong việc xác định PPDH theo từng phân môn Từ đó, dẫn đến

tình trạng thụ động và thiếu đi sự tư duy, óc sáng tạo của GV Việc đổi mới PPDH cònmang tính hình thức ở nơi này hay nơi khác; khâu quản lý, bao quát lớp chưa đều, chưasâu sát trong kiểm tra, đánh giá

- Đa số GV ít tìm tòi, sáng tạo trong đổi mới PPDH Việc sưu tầm, tham khảothêm tài liệu để phục vụ cho sự phong phú của bài giảng còn hạn chế Quy trình tiết họcdiễn ra theo khuôn mẫu, GV chưa dám linh hoạt để thay đổi, cải tiến hình thức tổ chức

Việc đầu tư cho KHBH chưa thật sự đảm bảo, có khi còn mang tính đối phó (soạn theo

soạn, dạy theo dạy) chưa có sự tuân thủ nhất định theo cái đã được “soạn để dạy”.

- Một số đáng kể GV còn mắc nhiều khiếm khuyết về phát âm do ảnh hưởng từnhững nhược điểm phát âm của địa phương Từ đó, vai trò mẫu mực của người thầy trongkhâu đọc mẫu, trong sử dụng ngôn ngữ nói còn nhiều hạn chế

- Còn có GV, thường là ở vùng nông thôn, dạy tại các điểm lẻ rất ít chú ý đến phânphối thời lượng hợp lí cho từng hoạt động, từng bước lên lớp của từng tiết dạy, dẫn đếnphân phối thời gian tổng thể của cả tiết chưa được hợp lí

- Một số GV có năng lực chuyên môn chưa tốt thường giải nghĩa từ ngữ thiếuchính xác, khai thác nội dung tìm hiểu bài kém hấp dẫn, ít tạo được niềm tin nơi HSnhưng lại chưa chú ý tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ hoặc tham khảo tự điển

- Có GV chưa chuẩn bị sẵn các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt thích hợp trong KHBH đểgiúp HS yếu kém được hoà nhập thực sự vào hoạt động của cả lớp trong tiết học

- Trong thực hiện giảm tải, ở bài lí thuyết LTVC (cấu trúc bài gồm có 3 phần Nhận

xét, Ghi nhớ và Luyện tập), bên cạnh việc bỏ hẳn một số bài “không dạy”, việc giảm phần Nhận xét, Ghi nhớ ở một số bài khác, chỉ còn cho HS thực hiện Luyện tập (thậm chí giảm

một phần bài tập) làm cho GV lúng túng trong triển khai nội dung kiến thức, quản lí quỹ

thời gian tiết học có giảm tải thuộc phân môn này Trong khi HS thì không được cung cấp

phần Tìm hiểu bài, bị “hụt hẫng” trong tiếp thu và làm bài tập.

 Ngoài ra, điều kiện CSVC phòng học còn hạn chế, chưa đáp ứng được cho nhucầu dạy học theo hướng đổi mới cũng làm ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dạy-học

2- Đối với học sinh :

a) Ưu điểm :

- Hầu hết HS được gia đình trang bị khá đầy đủ về SGK, vở Tập viết cũng như một

số dụng cụ học tập khác của môn học như bút, bảng con, phấn, vở ô li,

- Đa số HS có khả năng tiếp thu bài theo từng giai đoạn và thực hiện đầy đủ cácyêu cầu của GV trong quá trình học tập

- Kĩ năng nghe-nói-đọc-viết của đa số HS có tiến bộ đáng kể Các em đọc văn trôi

chảy, thậm chí đọc diễn cảm khá tốt, trả lời câu hỏi tìm hiểu nội dung bài Tập đọc rành rẽ;giảm dần mắc lỗi trong các bài Chính tả

- Các em HS vùng sâu, vùng dân tộc Khmer được tập trung trang bị các kiến thứctối thiểu, cần thiết nhất và được ôn luyện thường xuyên nên phần lớn nắm được nội dungtrọng tâm, căn bản của từng bài học, có thể bắt kịp trình độ chung của lớp

Trang 3

- Việc giảm nhẹ yêu cầu đọc diễn cảm với đa số HS, kể cả HS cuối cấp “chỉ yêu cầu

có giọng đọc phù hợp với nội dung câu, bài” trong giảm tải là phù hợp với HS trung bình, HS

vùng khó khăn tại địa phương

b) Khuyết, nhược điểm :

- Một bộ phận HS thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, chưa đảm bảo tốt tỉ lệchuyên cần trên lớp, từ đó dẫn đến việc tiếp thu bài thiếu tính liên tục, hổng kiến thức

- Do ảnh hưởng bởi những nhược điểm phát âm của địa phương, nhiều HS phát âmsai/lẫn lộn một số phụ âm đầu như s/x, r/g, tr/ch, v/d/gi,…;các âm chính/vần như ă/â, o/ô,

an/oan, u/ưu,… ; các âm cuối như c/t, n/ng, n/nh, im/iêm, uôm/ươm,…

- Kĩ năng đặt câu, viết đoạn trong LTVC và Tập làm văn ở từng nhóm HS vẫn cònnhiều chênh lệch Diện HS khá giỏi hoàn thành bài tập khá nhanh, trước thời gian quyđịnh ngay tại lớp, trong khi các em yếu kém thì không đủ thời gian làm bài

- Một số đáng kể HS các vùng không thuận lợi chưa chuyển biến nhiều về tư thếngồi, cách cầm bút Do đó, chữ viết của nhiều em chưa đúng mẫu, chưa đẹp, thậm chíxấu, khó nhìn Có thể nói cách cầm bút đang là một nhược điểm lớn song chậm khắc phục

ở các trường tiểu học hiện nay

- Đa số HS dân tộc Khmer vẫn còn gặp không ít khó khăn trong phát âm (khó phân

biệt được các dấu thanh, các âm vần khó), đọc bài, viết chữ đúng mẫu và đúng chính tả.

Nhìn chung, về chất lượng học tập, một tỉ lệ đáng kể các em còn phải phấn đấu rất nhiềumới đạt được chuẩn KT-KN Hiện tượng ngồi bên lề lớp học vẫn còn xuất hiện rải rác ởmột số lớp, một số đơn vị

- Thực hiện hướng dẫn giảm tải, HS khá, giỏi ít có cơ hội để nâng cao chất lượnghọc tập Đôi khi các em thiếu hứng thú vì phải cùng các bạn ôn lại bài cũ, kể cả các bàiTập đọc, thay vì được luyện đọc, tiếp cận tìm hiểu bài mới

đã kích thích được phần nào sự hoạt động tích cực, sự tìm tòi suy nghĩ độc lập của HS

- Khai thác tốt kênh hình, kênh chữ trong SGK cũng như bộ chữ thực hành dạy họcTiếng Việt cho HS lớp 1 Tận dụng tốt bảng con, bảng lớp để làm phương tiện dạy họctrực quan khi dạy Học vần cho HS

- Phần lớn GV dạy lớp 1 đều viết chữ đẹp, đúng mẫu; phát âm khá chuẩn và rấtquan tâm đến việc uốn nắn HS đầu cấp đọc đúng, viết đúng

b) Khuyết, nhược điểm :

- Việc xây dựng nền nếp học tập cho HS ngay từ đầu cấp học chưa được quan tâmthực hiện tốt ở một số GV ít kinh nghiệm Việc phân hoá đối tượng dù có thể hiện nhưngcách phân hoá còn khá mờ nhạt, chưa đúng nghĩa

Trang 4

- Một số hình thức tổ chức lớp học và phối hợp các PPDH chưa thật sự được sửdụng cho phù hợp với đối tượng và thực tế nhằm giúp HS dễ tiếp thu bài Khâu sử dụngSGK khi tổ chức các hoạt động có nơi chưa được quan tâm nhiều.

- Việc rèn kĩ năng đọc cá nhân, sửa lỗi phát âm cho HS vẫn còn hạn chế, trong khi

ở giai đoạn này việc rèn kĩ năng đọc đúng cho các em thông qua việc đọc cá nhân là rấtcần thiết

2- Đối với học sinh :

a) Ưu điểm :

- HS bước đầu biết tham gia vào các hoạt động học tập trên lớp và phát huy đượckhả năng tiếp thu kiến thức mới của bản thân

- Thông qua các trò chơi học tập được GV đưa vào sử dụng trong các bài học (đặc

biệt ở phần luyện nói), HS trau dồi tốt vốn tiếng Việt, rèn luyện được kĩ năng nói, tự tin

hơn khi giao tiếp

- Đa số HS, nhất là các em ở vùng thuận lợi, nhận diện mặt chữ, đọc trơn khánhanh, viết chữ khá đúng mẫu ngay từ lớp 1

b) Khuyết, nhược điểm :

- Một bộ phận HS (trong đó có HS vùng dân tộc Khmer) còn tương đối chậm trong

việc tiếp thu kiến thức bài học, kĩ năng cần rèn luyện (kể cả đọc và viết).

- Vở Tập viết, bảng con, phấn viết có lúc còn thiếu ở một bộ phận HS, ảnh hưởngđến việc rèn luyện cũng như phát triển thêm kĩ năng viết qua từng tiết học

- Một số HS yếu còn khá rụt rè, ít tham gia vào các hoạt động học tập, thiếu kĩnăng làm việc cá nhân cũng như hoạt động, học tập theo nhóm

1- Đối với giáo viên :

a) Ưu điểm :

- Trong các tiết Tập viết, GV thường xuyên sử dụng các đồ dùng, thiết bị dạy học

để hỗ trợ : mẫu chữ, bảng nhóm, tranh ảnh, phấn màu, bài viết đẹp,

- Nhìn chung, thầy cô dạy lớp 1 đến lớp 3 đều viết chữ khá đúng mẫu, có hướngdẫn HS quan sát, nhận xét chữ mẫu, luyện viết bảng con trước khi luyện viết ở vở, cóhướng dẫn quy trình viết và theo dõi sửa sai cho HS Một số GV tự luyện viết thêm vào

vở Tập viết để làm mẫu cho HS

- Một số đáng kể GV không chỉ quan tâm hướng dẫn HS trong các tiết Tập viết màcòn chú ý uốn nắn chữ viết của các em trong các phân môn khác của môn Tiếng Việt, cácmôn Toán, Tự nhiên - Xã hội,… của khối lớp

b) Khuyết, nhược điểm :

- Còn nhiều GV soạn, giảng chưa phù hợp với đối tượng, chưa quan tâm đúng mứcđến từng nhóm đối tượng HS để giao việc cho phù hợp

- Bảng lớp tuy được kẻ hàng nhưng trong sử dụng, một số GV chưa kết hợp tốtgiữa bảng lớp với bảng con, nhằm giúp HS xác định đúng cỡ chữ khi viết

Trang 5

- Khi hướng dẫn cả lớp quan sát, nhận xét chữ mẫu, có khi GV chưa phân biệt rõ

cấu tạo chữ và quy trình viết, hướng dẫn gộp chung lại Còn GV hướng dẫn quy

trình viết thiếu chặt chẽ, lướt nhanh, không rõ ràng; tư thế viết mẫu không thật thích hợp,chưa giúp HS quan sát thuận lợi quy trình viết, việc theo dõi sửa sai chưa sâu sát, cụ thể

- Trong giờ học, dù gặp tình huống có vấn đề, một số GV chưa thường xuyên quantâm nhắc nhở HS tư thế ngồi, cách cầm bút cho đúng

- Khi chấm chữa bài, phần lớn GV chỉ cho điểm (còn nhiều GV cho điểm rộng),

chưa chỉ ra những khuyết điểm để giúp HS sửa sai; ghi lời nhận xét ở vở HS chưa chânphương, thiếu chăm chút

- Một số đáng kể GV các khối lớp 4-5 chưa thực sự quan tâm đến vai trò mẫu mựctrong viết chữ của người thầy và cũng thiếu nghiêm túc trong uốn nắn HS giữ vở sạch –viết chữ đẹp

2- Đối với học sinh :

a) Ưu điểm :

- Đa số HS tiểu học ngày càng ý thức hơn về tầm quan trọng của phong trào Vở

sạch - chữ đẹp trong nhà trường Ở những trường vùng thuận lợi, nhiều HS viết chữ đều

nét, đúng mẫu, đẹp ngay từ lớp 1

- Hiện trạng ở nhiều trường, thuộc nhiều địa bàn tiêu biểu, trung bình có khoảngtrên 60% vở Tập viết có chữ viết khá tốt : rõ ràng, đúng mẫu, đúng độ cao, biết nối liềnnét, ít bôi xoá, trình bày sạch đẹp

- Ngoài các bài Tập viết chính khoá, đa số HS còn được luyện viết ở vở luyện chữ hoặc được GV giao viết thêm các bài học vào vở ô li HS ở nhà.

b) Khuyết, nhược điểm :

- Ngoài nội dung luyện viết thuộc chuẩn KT-KN quy định trong một tiết học, nộidung luyện tập thêm còn khá nhiều, HS trung bình, yếu khó có thể hoàn thành tốt được

bài viết Còn một số em không viết hết bài luyện viết thêm; viết bài chữ nghiêng (khối lớp

2, 3) chưa đạt yêu cầu.

- Ở một số trường, một số khối lớp, vở Tập viết có số bài viết đẹp, đúng mẫu chưađạt tỉ lệ mong muốn Nhiều HS ở vùng khó khăn, lại thiếu sự quan tâm của gia đình, cóchữ viết xấu, thiếu nắn nót, sai độ cao, độ rộng chữ, sai điểm đặt bút, dừng bút, đặt dấu thậm chí mắc lỗi chính tả trong bài viết

- Còn nhiều HS có tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở chưa đúng quy định; giữgìn bảo quản tập vở chưa tốt

3- Cơ sở vật chất, dụng cụ và điều kiện phục vụ dạy-học :

a) Ưu điểm :

- Điều kiện về cơ sở vật chất như bàn ghế, bảng lớp (bảng chống loá), học cụ, ánh

sáng, cơ bản đầy đủ để phục vụ cho việc dạy-học Tập viết ở các trường tiểu học

- Các bảng chữ cái mẫu, các con chữ mẫu rời,… được trang bị đầy đủ cho từng lớphọc Phần mềm dạy viết cũng được phổ biến đến những nơi có điều kiện

- Nhiều HS còn được trang bị thêm vở luyện viết chữ đẹp để có cơ hội rèn luyệnthêm chữ viết

Trang 6

b) Hạn chế :

- Ở lớp 1, tuy HS chỉ luyện viết chữ thường, nhưng phần lớn phải viết cỡ chữ 2

dòng li (tối đa, lên đỉnh tới 5 dòng li và xuống thấp 3 dòng li) nên HS khó viết các nét thẳng,

nét cong vào vở Tập viết như mong muốn

- Ở lớp 2, mỗi bài Tập viết HS được luyện viết 2 cỡ chữ vừa và nhỏ (cỡ chữ vừa

cao đến 5 dòng li và cỡ chữ nhỏ cao đến 2,5 dòng li), GV gặp không ít khó khăn khi giúp

HS nắm được qui trình viết của 2 cỡ chữ trong một tiết dạy

- Vở Tập viết các lớp 1, 2, 3 đều có dòng kẻ nhưng thiếu ô li, nên nhiều HS, nhất

là diện yếu kém dễ viết sai độ rộng của chữ, viết nét khuyết chưa được đầy đặn

1- Đối với giáo viên :

a) Ưu điểm :

- Trong soạn giảng, GV đều bám vào chuẩn KT-KN của từng bài để xây dựng mục

tiêu bài học Khi lên lớp, GV rất trung thành với Yêu cầu cần đạt của từng bài trong

chuẩn KT-KN.

- GV cũng luôn căn cứ vào Yêu cầu cần đạt để nhận xét và đánh giá HS GV chủ

động và linh hoạt hơn khi phân bố thời gian tiết dạy

- GV thường xuyên cập nhật, bồi dưỡng vốn từ ngữ để làm phong phú thêm kiến

thức cho bản thân Việc hình thành nền nếp, kĩ năng diễn đạt (nói và viết đúng) cho HS

được đa số GV quan tâm xây dựng, bồi dưỡng qua việc xác định/so sánh các mẫu câu; mởrộng, làm giàu vốn từ; trang bị kiến thức từ ngữ - ngữ pháp cho HS

b) Khuyết, nhược điểm :

- Trong soạn giảng, có GV chưa thể hiện rõ yêu cầu riêng theo từng nhóm đốitượng HS của lớp; soạn giảng theo kiểu rập khuôn, thậm chí sao chép của đồng nghiệp đểđối phó, nội dung KHBH vì thế chưa phù hợp với tình hình và điều kiện của lớp học

- Việc vận dụng chuẩn KT-KN còn mang tính máy móc, không tương thích vớithực tế lớp học GV chưa chú ý thực sự đến đối tượng HS yếu Việc tổ chức hoạt độngnhóm để HS có cơ hội giao lưu học tập lẫn nhau còn mang tính hình thức ở nhiều nơi

- Vốn từ vựng của một bộ phận GV chưa được phong phú, do đó khi dạy LTVC,bám quá sát SGK-SGV, không dám vận dụng ngữ cảnh, ví dụ, dẫn chứng bên ngoài vàonên lớp học ít sinh động

2- Đối với học sinh :

a) Ưu điểm :

- HS học, hiểu và vận dụng được mức độ chuẩn của từng bài học Có kiến thức

TN-NP, các em thuận lợi hơn khi làm các bài làm văn, kể chuyện, chính tả,… khả năngdiễn đạt, giao tiếp của các em cũng được cải thiện

- Các nhóm đối tượng HS khác nhau trong từng lớp học cảm thấy hứng thú học tậphơn bởi tính vừa sức trong nội dung kiến thức được lĩnh hội

- HS thuộc diện yếu, kém cảm thấy tự tin hơn, có thể hoà nhập với bạn bè cả lớptrong học tập, tiếp thu kiến thức mới và cả trong các sinh hoạt khác

Trang 7

b) Khuyết, nhược điểm :

- Yêu cầu “được học” của những HS yếu, kém có lúc còn mờ nhạt Trong giảng

dạy, GV thường yêu cầu HS khá, giỏi thực hiện những công việc theo yêu cầu của mình

(làm bài trên bảng lớp, trả lời câu hỏi…) để đỡ mất thời gian của tiết dạy

- Do phải “chạy đua” với thời gian, nhiều GV chưa tạo điều kiện để các em HS

giỏi được phát huy khả năng của mình trong học tập

- Những em học yếu TN-NP, nghèo nàn vốn từ, khó phân biệt cấu trúc các mẫucâu, khả năng diễn đạt hạn chế, thường cũng khó đạt yêu cầu trong Làm văn, Chính tả nóiriêng, môn Tiếng Việt nói chung

1- Đối với giáo viên :

a) Ưu điểm :

- Căn cứ Yêu cầu cần đạt và phần Ghi chú (nếu có), GV tổ chức các hoạt động dạy

học trên lớp một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng HS (giỏi, yếu) nhằm phát

triển năng lực cá nhân và đạt kết quả thiết thực trong mỗi tiết dạy

- GV nắm vững quy trình, giảng dạy tốt các loại bài hình thành kiến thức (dạy lý

thuyết làm văn) và loại bài luyện tập thực hành.

- GV vận dụng linh hoạt phương pháp dạy Tập làm văn (hướng dẫn phân tích ngữ

liệu, hướng dẫn luyện tập thực hành, hướng dẫn luyện tập theo đề bài) nhằm đạt hiệu quả

thiết thực Để giảm bớt độ khó của một số bài tập, GV chia nhỏ câu hỏi cho phù hợp trình

độ HS

- GV nắm vững trình độ của HS để giải quyết những khó khăn mà các em thườnggặp như: chưa biết vận dụng kiến thức để làm bài, hạn chế về vốn sống và ngôn ngữ nên

chưa có cơ sở làm bài văn đòi hỏi tính sáng tạo (ví dụ tưởng tượng để kể lại một chuyện…)

- Những GV có kinh nghiệm thường rất chú trọng hướng dẫn HS thực hiện nhữnghoạt động nối tiếp ở nhà

b) Khuyết, nhược điểm :

- Các hoạt động học tập TLV như thảo luận nhóm, trò chơi, sắm vai,… nhiều khichưa được tự nhiên và kém hiệu quả

- Phân bổ thời gian cho tiết dạy, cho từng hoạt động chưa phù hợp ở một bộ phận

GV Thời gian dạy 1 tiết có khi kéo dài hơn 40 phút do GV xử lý tình huống không kịpthời các trường hợp HS thực hiện chậm yêu cầu, không khí tiết dạy nặng nề

- Trên thực tế, những tiết làm văn Kể chuyện dường như bị GV xem nhẹ Việc lênlớp những tiết này chưa đúng đặc trưng, chưa đảm bảo yêu cầu của thể loại, khiến tiết học

ít gây được hứng thú cho HS hoặc không đạt được mục tiêu đề ra

2- Đối với học sinh :

Trang 8

- HS được tham gia quá trình học tập nhiều hơn, có hứng thú trong học tập và cótiến bộ nhất định Qua các hoạt động giao tiếp, yếu tố trò chơi giúp các em thoải mái, tựtin tiếp thu bài; nền nếp học tập phân môn được hình thành và ngày càng vững chắc.

- Qua các tiết TLV, HS được phát triển năng khiếu sáng tạo nghệ thuật, đồng thờiphát triển được nhiều kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng diễn đạt : nói rành mạch, rõ ràng, có ngữđiệu Các em HS cuối cấp có kĩ năng trình bày trước một nhóm người hay trước cả lớpbằng ngôn ngữ nói của riêng mình, từ mức độ chấp nhận được cho đến hấp dẫn

b) Khuyết, nhược điểm :

- Một bộ phận HS ít nhạy bén trong quan sát, diễn đạt kém, nghèo ý, không nắmchắc dàn bài của từng thể loại TLV, làm bài không đạt yêu cầu

- Do chữ viết xấu, không đúng mẫu, không đúng dạng chữ, mắc nhiều lỗi chính tả,nhiều bài làm của HS yếu được trình bày rối rắm, khó xem

- Một số em HS lớp 4-5 vùng khó khăn, vùng dân tộc Khmer chưa thật hào hứngvới các tiết TLV Diện HS này tham gia vào các hoạt động của lớp, của nhóm khá thụđộng

- Các tiết lên lớp đảm bảo quy trình, đủ bước, cung cấp đầy đủ KT-KN cơ bản theomục tiêu bài học

- Vận dụng nhiều phương pháp đặc trưng để củng cố phát triển kĩ năng đọc thànhtiếng, đọc thầm, đọc diễn cảm

- Chú ý tạo hứng thú cho HS bằng nhiều hình thức giới thiệu bài mới như sử dụngtranh, ảnh, vật thật, lời giới thiệu về tác giả - tác phẩm, một vài nét chính về chủ điểm

- Có kết hợp giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ cho HS bằng cách liên hệ thựctiễn, mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người

b) Khuyết, nhược điểm :

- Còn nhiều bài soạn chưa thể hiện rõ phần phân hóa đối tượng HS, nội dung dàntrải, tiết học kéo dài

- Còn bám quá sát nội dung câu hỏi tìm hiểu bài ở SGK, chưa chủ động điều chỉnh

độ khó, độ dài nên chưa thu hút được tất cả HS của lớp, để một bộ phận HS đứng bên lềlớp học

- Chưa chuẩn bị tốt cho phần đọc mẫu đoạn/ bài để hướng dẫn HS cách đọc diễncảm theo mục tiêu từng tiết học

- Một số GV chưa làm tốt khâu sửa lỗi phát âm hoặc hạn chế trong thể hiện nộidung qua giọng đọc của HS, chưa thực sự quan tâm đến hoạt động đọc nối tiếp của cácem

Trang 9

2- Đối với học sinh :

a) Ưu điểm:

- Phần lớn HS, nhất là ở các lớp cuối cấp, có kĩ năng đọc tương đối rõ ràng, rànhmạch, đảm bảo tốc độ, có khả năng đọc lướt để hiểu và chọn thông tin nhanh Diện HSgiỏi của từng lớp thường đọc diễn cảm tốt

- Qua các hoạt động rèn đọc, tìm hiểu nội dung, đa phần HS nắm và vận dụngđược các khái niệm về đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách để hiểu ý nghĩa bài học

- Một bộ phận HS khá, giỏi có khả năng phát hiện một vài giá trị, biện pháp nghệthuật trong các bài văn, bài thơ được luyện đọc

b) Khuyết, nhược điểm:

- Một bộ phận HS, thiếu sự quan tâm của phụ huynh, chưa có ý thức thường xuyênchuẩn bị trước bài ở nhà Vào lớp, các em thiếu tích cực tham gia các hoạt động xây dựngbài trong từng tiết học

- Một số đáng kể HS còn hạn chế về khả năng diễn đạt, kĩ năng đọc diễn cảm (các

lớp cuối cấp), nhất là các em HS dân tộc, các em ở các địa bàn khó khăn.

- Một bộ phận HS chưa có ý thức rèn đọc đúng, tiến tới đọc trôi chảy, đọc hay, đọcdiễn cảm theo mức độ, yêu cầu rèn luyện của từng khối lớp

II- DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO HƯỚNG CÓ PHÂN HOÁ ĐỐI TƯỢNG HS

A- Phân môn Học vần :

1- Quan điểm chung về soạn giảng phân môn Học vần :

- Tổ chức dạy học phân hóa nhằm giúp HS đạt được chuẩn KT-KN trên cơ sở kiến

thức được quy định ở từng giai đoạn : học âm, học vần, luyện tập tổng hợp, tập đọc.

- GV phải biết phân loại HS, xếp theo từng nhóm đối tượng (nhóm có kiến thức

tương đối hoàn chỉnh, nhóm hổng kiến thức nhiều, nhóm hổng ít, …) Lập kế hoạch bổ sung

các kiến thức còn thiếu của HS (đôi khi buổi sáng dạy chương trình mới, buổi chiều phải bổ

sung kiến thức còn thiếu cho HS)

- Trong cùng một hệ thống bài học, GV cần làm thế nào để giúp cho từng nhóm

đối tượng HS đạt được các yêu cầu chung của mục tiêu bài học (hướng dẫn đọc/viết nhiều

hơn cho đối tượng yếu, ít hoặc không gợi ý cho HS giỏi) thông qua việc tổ chức các hoạt

động và dùng PPDH phù hợp

- Trong soạn giảng Học vần, cần đặc biệt lưu ý đến 2 nhóm đối tượng HS giỏi và

HS yếu Làm thế nào để HS giỏi phát huy năng lực tốt hơn trong khi nhóm HS yếu vẫnđảm bảo lĩnh hội được chuẩn KT-KN theo yêu cầu

2- Soạn giảng theo hướng có phân hóa đối tượng HS :

- Người thầy phải có sự chuẩn bị tốt trong soạn giảng, phải nắm chắc trình độ, kĩnăng của các nhóm đối tượng để hoạch định rõ hướng đi sao cho phù hợp với mỗi nhóm

mà vẫn đảm bảo được lượng KT-KN bài học

Trang 10

- Ngoài các nội dung được biên soạn trong KHBH, GV còn phải biết các em cần gì

và đạt được gì qua từng nội dung bài học để có những yêu cầu riêng cho nhóm HS giỏihoặc giảm nhẹ, chia nhỏ hay chuẩn bị thêm những câu hỏi hỗ trợ để giúp nhóm HS yếuhoàn thành được yêu cầu của bài học

- Mạnh dạn trong việc tổ chức các hoạt động trên lớp, thường xuyên đưa ra nhữnghình thức dạy-học nhằm thu hút và phục vụ tốt cả 3 nhóm đối tượng bằng việc đưa các em

vào hoạt động học tập, trong đó có chuẩn bị trước cái gì, dành cho nhóm đối tượng nào để

các em tự tin, hứng thú hơn với từng giờ học

3- Một số ví dụ khi áp dụng dạy học phân hóa :

Dạy học phân hóa ở phân môn Học vần có thể thực hiện từng bước như sau :

a) Nhận diện vần :

- HS yếu : có thể các em nhận biết được vần tạo ra gồm mấy âm (con chữ).

- HS giỏi : biết so sánh vần đang học với vần đã học và vần sắp học (vần thứ 2

trong bài).

b) Luyện viết bảng con :

Sau khi GV viết mẫu và hướng dẫn quy trình viết, GV yêu cầu:

- HS yếu : phải biết được điểm đặt bút, điểm dừng bút của từng con chữ và viếtđược các vần đang học

- HS giỏi : ngoài việc biết được điểm đặt bút, điểm dừng bút,… có thể nhắc lại quy trình viết, nêu thêm nhận xét về khoảng cách giữa tiếng-tiếng (2 ly)

Cách 1 : Nêu câu hỏi giống nhau cho tất cả các đối tượng, nhưng khi HS trình

bày, GV sẽ tùy vào trình độ của từng HS mà mời phát biểu cho phù hợp (câu dễ dành cho

HS yếu; câu khó dành cho HS giỏi)

Cách 2 : Chia nhóm theo trình độ HS, GV giao việc cụ thể.

- Nhóm HS yếu : có thể luyện nói 2 câu đơn giản

- Nhóm HS giỏi : yêu cầu câu hỏi nhiều hơn hoặc có thể nêu thêm câu hỏi mở

bằng cách đặt vấn đề “Tại sao”, “Vì sao”,… để HS trình bày cách suy nghĩ của mình trước

lớp, qua đó cũng giúp cho nhóm HS yếu nhận biết thêm

Trang 11

Ví dụ : Khi dạy phần Luyện nói : Quan sát và nêu nội dung tranh ở bài 68 : ot - at, GV

có thể gợi ý cho 2 nhóm HS :

- Em thường nghe tiếng gà gáy vào buổi nào ?

- Em được ca hát khi học môn học nào ?

- Em thường nghe tiếng gà gáy vào buổi nào ?

- Em được ca hát khi học môn học nào ?

- Chim thường hót ở đâu ?

- Tiếng gà gáy, tiếng chim hót có ích gì cho con người?

- Em có thích ca hát không ? Vì sao ?

g) Củng cố :

Yêu cầu HS tìm tiếng có âm/vần mới học :

- Nhóm HS yếu : chỉ cần tìm được tiếng có vần đang học

- Nhóm HS giỏi : ngoài việc tìm được tiếng có vần đang học, khuyến khích các emđưa tiếng vừa tìm được vào từ cho rõ nghĩa hoặc có thể cho HS giải nghĩa từ vừa tìm

B- Phân môn Tập viết :

1- Quan điểm chung về soạn, giảng phân môn Tập viết :

- Phân môn Tập viết nhằm truyền thụ cho HS những kiến thức cơ bản về chữ viết, về

kĩ thuật viết chữ và rèn luyện kĩ năng viết chữ Các em được hướng dẫn kỹ thuật viết nét

chữ, chữ cái, viết từ và câu; được rèn luyện các thao tác viết từ đơn giản đến phức tạp,bao gồm các kĩ năng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái, liên kết các con chữ để tạo chữ ghitiếng; xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li; tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữcái, những biểu tượng về hình dáng, sự cân đối, tính thẩm mĩ của các con chữ Từ đó, các

em có kĩ năng viết chữ đúng mẫu, rõ ràng, nhanh và đẹp

- Phân môn Tập viết còn kết hợp dạy kĩ thuật viết chữ với rèn chính tả; mở rộng vốntừ; phát triển tư duy cho HS; góp phần rèn luyện những phẩm chất như: tính cẩn thận, ócthẩm mĩ, ý thức tự trọng và tôn trọng người khác

- Trong hướng dẫn viết, GV cần vận dụng và phối hợp các phương pháp một cáchlinh hoạt để phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập Tuy nhiên, do đặc thù

của phân môn, GV cần lưu ý 2 phương pháp trực quan và quan sát (chữ viết mẫu của GV

trên bảng lớp phải chân phương, đúng mẫu và thể hiện quy trình viết để giúp HS quan sát, nắm vững cách viết, nối liền nét các chữ cái trong cùng một tiếng, chỗ đánh dấu thanh, ước lượng khoảng cách giữa các chữ để các em viết đúng và đẹp).

2- Soạn giảng Tập viết theo hướng phân hóa đối tượng HS :

- GV phải đảm bảo tốt mục tiêu dạy học, đồng thời phát huy có hiệu quả khả nănghọc tập của từng HS, giúp các em tích cực, chủ động hơn trong quá trình tiếp thu và

chiếm lĩnh kiến thức một cách vững chắc (giúp tất cả HS đều được học và học được)

- Do đó, GV phải nghiên cứu kĩ Yêu cầu cần đạt trên cơ sở chuẩn KT-KN của từng bài Tập viết cũng như tình hình thực tế của HS trong lớp học để xây dựng KHBH sao cho

phù hợp

- Theo khả năng, ngay trong tiết Tập viết, HS giỏi cần được viết nhiều hơn và HSyếu được viết ít hơn vào vở Tập viết theo yêu cầu cần đạt của chuẩn KT-KN Tuy nhiên,

Trang 12

trong các hoạt động nối tiếp (ở buổi thứ nhì/ở nhà), tất cả HS đều cần được luyện tập đầy

đủ theo nội dung từng bài Tập viết

3- Một số ví dụ về soạn giảng Tập viết theo hướng phân hoá đối tượng HS :

Sau đây là một vài ví dụ ở khối lớp 2 :

- Bài 1 : Chữ hoa A (tuần 1)

Trong phần hướng dẫn viết từ ứng dụng :

HS giỏi : Nêu được nghĩa của câu ứng dụng “Anh em thuận hoà”.

HS yếu : Đọc câu ứng dụng “Anh em thuận hoà”.

- Bài 10 : Chữ hoa H (tuần 10)

Trong phần hướng dẫn viết câu ứng dụng vào vở Tập viết :

HS giỏi : Viết câu ứng dụng 4 lần

HS yếu : Viết câu ứng dụng 2 lần

4- Quy trình giảng dạy Tập viết theo hướng phân hóa đối tượng HS :

a) Kiểm tra bài cũ :

GV cho HS viết chữ hoa, viết cụm từ/câu ứng dụng hoặc GV nhận xét bài Tập viết

đã chấm của HS (tùy tình hình thực tế của lớp) Cần kiểm tra bài viết của HS yếu.

b) Dạy bài mới :

b1- Giới thiệu bài :

GV nêu nội dung và yêu cầu của tiết dạy, ghi bảng tựa bài

b2- Hướng dẫn HS viết chữ hoa :

Hoạt động chính của GV :

- Hướng dẫn HS quan sát, nhận xét về mẫu chữ cái viết hoa (cấu tạo, đặc điểm

của nét chữ) HS yếu nêu độ cao, độ rộng của con chữ; HS giỏi nêu cấu tạo của con chữ (có thể dưới hình thức trắc nghiệm).

- Hướng dẫn quy trình viết chữ (trên khung chữ, trên dòng kẻ).

- Hướng dẫn HS tập viết trên bảng con (theo mẫu) GV cần quan tâm, hướng dẫn

HS yếu luyện viết

b3- Hướng dẫn HS viết cụm từ hoặc câu ứng dụng :

Hoạt động chính của GV:

- Giới thiệu nội dung (kết hợp giải nghĩa : HS giỏi nêu ý nghĩa câu ứng dụng) và

viết mẫu cụm từ/câu ứng dụng

- Hướng dẫn HS cách nối từ chữ viết hoa sang chữ viết thường; thực hành nối

chữ trên bảng con (quan tâm HS yếu).

- Hướng dẫn HS quan sát và nhận xét chung về cách viết cụm từ/ câu ứng dụng

(chú ý những điểm quan trọng như : độ cao, cách nối nét, khoảng cách, chỗ đặt dấu thanh, ).

HS yếu nêu hình dáng các con chữ có độ cao 1 li ; HS giỏi nêu cách đặt dấu thanhtrên/dưới các con chữ

b4- Hướng dẫn HS luyện viết trong vở Tập viết : (nhắc nhở tư thế

ngồi, cách cầm bút, đặt vở… khi cần thiết)

- GV nêu nội dung và yêu cầu tập viết (chữ cái viết hoa, cụm từ, câu ứng dụng).

Trang 13

- HS luyện tập viết chữ trong vở Tập viết theo chỉ dẫn của GV (GV quan sát,

hướng dẫn, uốn nắn HS yếu khi viết).

- Viết câu ứng dụng (HS giỏi viết 4 lần ; HS yếu viết 2 lần)

b5- Chấm bài tập viết của HS :

GV chấm một số bài đã viết xong tại lớp (5-7 vở), nhận xét và rút kinh nghiệm chung (chọn 3 đối tượng : giỏi, bình thường, yếu) Tuyên dương HS viết đẹp, khích lệ HS

yếu viết tiến bộ

b6- Củng cố, dặn dò :

Nhấn mạnh nội dung, yêu cầu tiết học, dặn dò HS luyện tập ở nhà

GV cần hết sức chú ý :

 Uốn nắn tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, khoảng cách giữa vở và mắt,…

 Nhắc nhở về cách trình bày, về ý thức viết chữ và giữ gìn sách vở sạch đẹp

 Bao quát lớp : theo dõi, giúp đỡ thường xuyên những HS yếu

 Đối chiếu với yêu cầu đề ra để đánh giá chất lượng chữ viết của HS, giúp HSthấy rõ thành công hay hạn chế trong bài Tập viết

 Cho điểm theo quy định, nhận xét, nêu yêu cầu cụ thể đối với HS về chữ viết

C- Phân môn Luyện từ và câu :

1- Quan điểm chung về việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu :

Sơ đồ : Quy trình dạy học phân hóa đối tượng HS :

- Dạy học phân hóa nói chung, dạy LTVC nói riêng cũng đều cần thực hiện theoquy trình dạy học trên Cùng với việc tích cực đổi mới nội dung và PPDH, GV cần tíchcực tìm ra những bước cải tiến mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

- Dạy học phân hoá phù hợp với đối tượng HS sẽ tạo ra động lực học tập cho các

em, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tối đa tư chất và năng lực của các em có năng

khiếu Cũng chỉ có dạy học phân hoá mới có khả năng loại trừ tình trạng quá tải đối với đa

Tổ chức triển khai

Thực hiện KHBH, kiểm tra, đánh giá

và điều chỉnh

Trang 14

- GV phải tâm huyết với nghề nghiệp, nắm thật vững các nhóm đối tượng HS giỏi,bình thường, yếu mà giao cho từng nhóm những công việc thích hợp Nói khác đi, GV

cần coi lớp mình đang dạy là một “lớp ghép”.

- Kiên trì giúp đỡ HS yếu mọi lúc, mọi nơi, tạo cho các em cơ hội để được học tập

và rèn luyện, thể hiện tính thân thiện trong giảng dạy

2- Soạn giảng theo hướng có phân hoá đối tượng HS :

Bài soạn cần thể hiện rõ nội dung phân hoá đối tượng HS, được biểu hiện như sau:

Nội dung dạy học :

Hoạt động 1 : Học kiến thức mới

 Lấy trình độ chung của lớp làm nền tảng

Hoạt động 2 : Luyện tập

Hoạt động 3 : Củng cố - dặn dò

Soạn bài LTVC, GV phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh dạy học, phải nắm được

khả năng học tập của từng HS trong lớp và yêu cầu cần đạt để xác định nội dung cụ thể của

bài học trong SGK, xác định cách hướng dẫn cho từng nhóm đối tượng HS

- Ở các lớp có nhiều HS học yếu, hạn chế vốn tiếng Việt, GV cần dành thời gianthích đáng để hướng dẫn các em làm tốt các bài tập vừa sức, cố gắng đạt yêu cầu tối thiểu.Đối với các bài tập đồng dạng, GV có thể chọn cho HS làm tại lớp một phần trong số cácbài tập ấy Ví dụ:

Bài tập 3 (TV 3, T1, tr 33) : HS thực hiện các phần a, b hoặc c, d.

Bài tập 1, 4 (TV 3, T1, tr 42-43) : HS làm 1 trong 2 bài tập này.

Bài tập 4 (TV 3, T1, tr 90) : HS đặt câu với 2 trong 4 cụm từ.

Bài tập 2 (TV 3, T2, tr 35) : HS thực hiện các phần a, b hoặc c, d.

- Đối với một số bài tập có thể thực hiện bằng cách nói hoặc viết, GV có thể chuyển

yêu cầu viết thành nói Ví dụ : Bài tập 2 (TV 3, T1, tr 25) : HS chỉ cần nêu các từ chỉ sự so

sánh, không cần viết các từ ấy.

- Đối với các bài tập Ôn luyện về dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than,

dấu phẩy), GV cần cho HS luyện tập bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp nhằm khai

thác sự cảm nhận về tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu của HS về các mẫu câu hoặctrả lời các câu hỏi đã học Sử dụng HS giỏi làm vai trò nòng cốt trong việc hình thành

mẫu câu Thông qua việc hướng dẫn HS làm mẫu (bằng cách thử đặt dấu câu vào một vị trí

để xem xét đúng/sai hoặc đặt câu hỏi để xác định ý trọn vẹn theo mẫu câu đã học khi đặt dấu

chấm, xác định các bộ phận đồng chức cùng trả lời câu hỏi Ai? Làm gì? Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? để đặt dấu phẩy), GV giúp HS bước đầu biết nhận xét về cách dùng dấu

câu, chữa lỗi về dấu câu,… từ đó biết sử dụng dấu câu cho đúng, góp phần phục vụ cho kĩnăng viết của các em HS yếu cần được tăng thời lượng thực hành mẫu câu

Trang 15

Ví dụ : Chép các câu sau vào vở, thêm dấu phẩy vào chỗ thích hợp

(TV 3, T1, tr 51) :

a) Ông em bố em và chú em đều là thợ mỏ.

b) Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan trò giỏi.

c) Nhiệm vụ của đội viên là thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội.

Hoặc bài tập 3 (TV 3, T1, tr 80) : Dùng dấu chấm để tách câu trong đoạn văn

sau: “Trên nương, mỗi người một việc người lớn thì đánh trâu ra cày các bà mẹ cúi lom khom tra ngô các cụ già nhặt cỏ, đốt lá mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm”. Đối với loại bài tập này,

GV yêu cầu HS giỏi đọc yêu cầu của bài, đọc để xác định ý của từng câu bằng cách thửđặt dấu chấm vào từng vị trí để đọc lên, nếu câu văn có ý nghĩa thì chấp nhận dấu chấm ở

đó Sau đó cho HS thực hành với dạng bài tập tương tự Nên cho HS làm việc theo nhóm

để HS giỏi có điều kiện giúp đỡ bạn yếu cách đặt dấu chấm câu thích hợp

3- Một vài ví dụ về giảng dạy phân hóa đối tượng phân môn LTVC :

Trang 16

 Ở lớp 4 :

- Tuần 20, tiết 2, bài tập 1 (TV4, T2, tr 19) :

HS yếu : làm phần a

HS còn lại : làm phần b

- Tuần 25, tiết 2, bài tập 1 (TV4, T2, tr 73) : dành cho tất cả HS Tuy nhiên HS

yếu chỉ cần tìm ra 2 từ cùng nghĩa là đạt yêu cầu

- Tuần 29, tiết 2, bài tập 4 (TV4, T2, tr 112) :

HS yếu : chỉ yêu cầu thực hiện phần a

HS giỏi : thực hiện cả 2 phần a và b

 Ở lớp 5 :

- Tuần 20, tiết 1, bài tập 3 (TV5, T2, tr 18) :

HS yếu : yêu cầu trả lời đúng 1 trường hợp

HS giỏi : yêu cầu trả lời đúng tất cả mọi trường hợp

- Tuần 21, tiết 1, bài tập 3 (TV5, T2, tr 28) :

HS yếu : yêu cầu viết được 2 câu

HS giỏi : yêu cầu viết được 5 câu

- Tuần 32, tiết 1 (TV5, T2, tr 138) :

Bài tập 1 : yêu cầu HS giỏi thực hành; HS yếu theo dõi và nhắc lại

Bài tập 2 : yêu cầu HS yếu viết được 2 câu Các đối tượng khác thực hiện đủ yêucầu của bài tập

D- Phân môn Tập làm văn :

1- Quan điểm chung về soạn giảng phân môn Tập làm văn :

- TLV tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác củamôn Tiếng Việt cung cấp, đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm được một bài

văn, người viết phải có cả bốn kĩ năng nghe-nói-đọc-viết, phải vận dụng các kiến thức về

tiếng Việt, về vốn sống Trong quá trình vận dụng, rèn luyện, các kĩ năng và kiến thức đóđược hoàn thiện và nâng cao dần

- Phân môn TLV rèn luyện cho HS các kĩ năng sản sinh văn bản Nhờ vậy, mônTiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc từng phần, từng mặt qua từng phân môn

mà là một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác,phân môn TLV đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy vàhọc tiếng Việt là dạy HS thực hành sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quátrình lĩnh hội các tri thức, rèn luyện các kĩ năng của cấp học…

- Cần phân biệt rõ việc dạy TLV ở các lớp đầu cấp và ở các lớp cuối cấp Ở cáclớp 2-3, HS được làm quen với các nghi thức lời nói tối thiểu, nhắn tin, kể về một sự việc

đơn giản, tả sơ lược về người… (lớp 2); điền vào giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn, kể chuyện và miêu tả đơn giản,… (lớp 3) Ở cuối cấp, nội dung các kĩ năng TLV được trau

dồi cho HS lớp 4-5 được xây dựng trên cơ sở quy trình sản sinh ngôn bản qua các thể loại

Trang 17

văn kể chuyện, văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật, tả cảnh, tả người), các loại văn bản

khác,…

Có thể nói, TLV ở 2 lớp đầu cấp là giai đoạn tập dượt, rèn luyện tìm ý, xếp ý, đặt

câu,… theo đề bài, chuẩn bị tiền đề cho bài làm văn thực sự, đúng nghĩa ở các lớp cuốicấp Bài TLV lớp 4-5 mang dáng nét của bài văn với cấu trúc đầy đủ, thông dụng trongđời sống

2- Soạn giảng theo hướng có phân hoá đối tượng học sinh :

- Kết hợp kết quả khảo sát chất lượng đầu năm, điều kiện hoàn cảnh dạy học, khả

năng học tập của từng HS trong lớp và Yêu cầu cần đạt để xác định nội dung cụ thể của

bài học trong SGK mà soạn bài Dựa vào cột Ghi chú trong Hướng dẫn thực hiện Chuẩn

KT-KN để phân hóa từng nhóm đối tượng HS (yếu và giỏi).

- Về soạn KHBH : căn cứ Yêu cầu cần đạt về KT-KN được xác định cho từng bài

dạy (tiết học), GV soạn KHBH một cách ngắn gọn, thể hiện rõ các phần cơ bản; dự kiến

hình thức tổ chức hoạt động học tập đảm bảo phù hợp với từng nhóm đối tượng HS, kể cả

HS cá biệt (nếu có).

Ví dụ : “Dễ hóa” bằng cách gợi mở, dẫn dắt, làm mẫu,… đối với HS yếu; “mở

rộng, phát triển” (trong phạm vi của chuẩn) đối với HS giỏi Việc xác định nội dung dạy

học của GV đảm bảo tính hệ thống và đáp ứng yêu cầu nội dung bài học mới dựa trênKT-KN đã đạt được ở bài học trước và đảm bảo vừa đủ tiếp thu bài học tiếp sau, từngbước đạt được yêu cầu cơ bản của Chương trình học

- Trong việc dạy phân hóa HS, cần xác định:

HS giỏi trả lời, nhận xét mang tính tư duy hay quan sát phức tạp và là nhữngvấn đề mới, tương đối khó; thực hành những bài tập khó

HS yếu tham gia suốt quá trình học tập nhưng ở mức độ đơn giản như nhậnbiết những chi tiết bằng trực quan khi quan sát tranh hoặc trả lời câu hỏi đơn giản Làmtheo, lặp lại những vấn đề mà GV đã kết luận

- Phần giảm tải : Với một số bài không dạy Ghi nhớ, Nhận xét, chỉ dạy phần Luyện tập, GV tùy trình độ HS của lớp, có thể cho vài em nhắc lại nội dung Ghi nhớ, giúp HS yếu tái hiện lại kiến thức để làm bài tập Với bài giảm phần Luyện tập, GV có thể cho HS

giỏi làm bài để phát triển năng lực và làm mẫu cho HS yếu Phần thực hành này quantrọng vì là tiền đề hình thành bài làm văn hoàn chỉnh

3- Một số ví dụ cụ thể về soạn giảng theo hướng có phân hoá đối tượng HS :

- Bài “Mở bài trong bài văn kể chuyện”, kiểm tra bài cũ :

Kiểm tra bài cũ : Một số bài không có yêu cầu, nhưng GV nhận thấy cần cho HS

yếu nắm lại KT-KN thì cho HS giỏi thực hiện (không nhất thiết phải liên quan tới bài mới).

HS giỏi : thực hành trao đổi với người thân về một người có nghị lực, ýchí vươn lên trong cuộc sống

HS yếu : nắm lại kiến thức

- Bài “Mở bài trong bài văn kể chuyện”, bài tập 3, phần Nhận xét :

HS yếu : nêu mở bài ở BT1, 2 ngắn, mở bài ở BT3 dài hơn

Trang 18

HS giỏi : nêu mở bài ở BT1, 2, kể ngay vào chuyện rùa đang tập chạy Còn mở bài ở BT3 nói chuyện khác rồi mới vào đề rùa đang tập chạy.

- Bài “Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật”, bài tập 2 :

HS yếu : viết đoạn mở bài cho bài văn miêu tả cái bàn học của em theo

cách mở bài trực tiếp.

HS giỏi : viết đoạn mở bài theo cách mở bài gián tiếp

- Bài “Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả đồ vật”, bài tập 1 :

HS yếu : trả lời câu a

HS giỏi : trả lời câu b

- Bài “Luyện tập giới thiệu địa phương”, bài tập 1:

HS yếu : trả lời câu a

HS giỏi : trả lời câu b

- Bài “Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối”, phần Nhận xét:

HS yếu : thực hiện BT1

HS giỏi : thực hiện BT2, 3

- Bài “Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối”, bài tập 1, phần Luyện tập:

HS yếu : xác định các đoạn văn

HS giỏi : xác định nội dung chính của từng đoạn

- Bài “Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối”, bài tập 2:

HS yếu : viết hoàn chỉnh đoạn 1 và 4

HS giỏi : viết hoàn chỉnh đoạn 2 và 3

E- Phân môn Tập đọc :

1- Quan điểm chung về soạn giảng phân môn Tập đọc :

- Tập đọc là một phân môn thực hành có nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là hình

thành năng lực đọc-hiểu cho HS Vì vậy khi dạy tiết Tập đọc, chúng ta cần thực hiện hai yêu cầu chính : rèn kỹ năng đọc và giúp HS cảm thụ tốt bài văn.

- Kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm được rèn luyện, hình thành ngay từ các lớp

dưới Đối với HS lớp 4 và lớp 5 cuối cấp, các em được củng cố và nâng cao kĩ năng đọc

một cách đầy đủ, toàn diện nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt là : đọc đúng, rõ ràng, rành

mạch, lưu loát bài văn, bài thơ; đọc có biểu cảm, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc.

- Việc tổ chức đọc đồng thanh chủ yếu được thực hiện ở các lớp đầu cấp Đọc

đồng thanh hỗ trợ khá tốt cho HS yếu Tuy nhiên, nghe HS đọc đồng thanh, GV rất khónhận xét về đọc đúng, đọc diễn cảm đối với từng cá nhân Do đó, càng lên lớp trên, khi

mà khả năng nhận diện mặt chữ được củng cố; kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm được quantâm thì việc cho HS đọc đồng thanh càng giảm

Ngày đăng: 07/02/2015, 02:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Quy trình dạy học phân hóa đối tượng HS : - ĐỊA CHỈ PHÂN HÓA MÔN TIẾNG VIỆT
uy trình dạy học phân hóa đối tượng HS : (Trang 13)
Bảng con : - ĐỊA CHỈ PHÂN HÓA MÔN TIẾNG VIỆT
Bảng con (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w