1.Tên đề tài: CẢI TIẾN VÀ SÁNG TẠO MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH GIỎI LỚP 5 NHẬN BIẾT 4.Tính mới của giải pháp Hướng dẫn học sinh nắm được các kiến thức về câu một cách thấu đáo, bi
Trang 31.Tên đề tài: CẢI TIẾN VÀ SÁNG TẠO MỘT SỐ
PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH GIỎI LỚP 5 NHẬN BIẾT
4.Tính mới của giải pháp
Hướng dẫn học sinh nắm được các kiến thức về câu một cách thấu đáo, biết phân tích chính xác các bộ phận trong câu, biết sửa câu hợp lí, viết và sử dụng chúng một cách thành
Trang 4Hướng dẫn học sinh nhận biết câu đúng ngữ pháp bằng cách phân tích chính xác các bộ phận trong câu.
Hướng dẫn học sinh nhận biết các lỗi thường gặp
trong câu sai.
Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành câu đúng
II Nội dung giải pháp
Trang 51 Hướng dẫn học sinh nhận biết câu đúng ngữ pháp
Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ được cấu tạo theo những quy tắc nhất định, là đơn vị ngữ pháp trên từ, cụm từ và dưới đoạn văn, do 1 hoặc nhiều kết cấu chủ –vị hợp thành Cuối câu có dấu chấm
* Định nghĩa về câu:
Trang 6Câu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
*Nội dung câu phải có nghĩa
*Câu phải đảm bảo yêu cầu thông tin.
*Cấu trúc cú pháp của câu phải phù hợp với quy tắc tạo câu của Tiếng Việt
Ví dụ:
Hoa loa kèn mở rộng cánh, rung rinh trước gió
Trang 7Các dạng bài tập:
Yêu cầu chỉ ra các thành phần câu (CN-VN)
Yêu cầu kết hợp, thêm các thành phần câu
Yêu cầu viết câu theo mẫu cấu tạo đã cho trước
Câu có một thành phần phụ bổ sung ý nghĩa là trạng ngữ Các danh từ, động từ, tính từ trong câu cũng có thành phần phụ đó là định ngữ và bổ ngữ
Trang 8
Cách xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu
CN,VN gắn bó với nhau bằng quan hệ chủ
vị CN gọi tên sự vật còn VN miêu tả hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật đó
Trang 9Ví dụ: Xác định CN, VN trong câu sau:
“Tiếng suối chảy róc rách.”
Dựa vào quan hệ lô gíc
giữa CN,VN ta thấy rằng:
“Tiếng suối ” là âm thanh
Âm thanh có “chảy” được
không? (không)Vậy: TH1
sai,TH2 đúng
Trang 10Những con voi //về đích trước tiên huơ vòi chào khán
Trang 11Dựa vào đặc trưng của cụm danh từ, ta nhận thấy tổ hợp
“những con voi” bao giờ cũng phải có định ngữ kèm theo sau nhằm hạn định, cụ thể hoá ý nghĩa cho danh từ trung tâm (ở đây “con voi” là danh từ trung tâm ) còn cụm từ:
“về đích trước tiên” trả lời cho câu hỏi: những con voi
nào? (Những con voi về đích trước tiên) chứ không phải ( những con voi về đích cuối cùng hay về thứ hai, thứ ba nào đó), cả cụm danh từ đó mới đảm nhiệm chức năng làm
bộ phận chủ ngữ của câu Như vậy, cách làm (2) mới đúng
Trang 12Các lỗi thường gặp trong câu như sau:
Câu mới chỉ có một trong các bộ phận sau: trạng
ngữ, CN hoặc VN Câu thiếu vế hoặc dùng cặp quan hệ
từ không phù hợp Câu sai quan hệ lô gíc hoặc dùng
các từ ngữ kết hợp chưa hợp lí
2 Hướng dẫn học sinh nhận biết các lỗi thường gặp trong câu sai
Ví dụ Những học sinh đạt kết quả cao trong kì thi
giải Toán qua mạng
Trang 13Học sinh đã nhầm bộ phận “định ngữ sau” của
các cụm danh từ trên là vị ngữ của câu Bởi vì các em
nhận thấy: Về hình thức và nội dung thì các định ngữ:
“đạt kết quả cao trong kì thi giải Toán qua mạng”,
“trong suốt như thuỷ tinh”…có nhiều nét tương đồng
với vị ngữ của câu Vì vị ngữ đứng sau danh từ làm chủ ngữ, vị ngữ cũng do động từ hoặc tính từ đảm nhiệm, cũng chỉ hoạt động hoặc đặc điểm, trạng thái,…của sự vật nêu lên trong danh từ làm chủ ngữ
Trang 14
Tuy thoạt nhìn giữa bộ phận “định ngữ sau ”và vị ngữ có những nét giống nhau như vậy nhưng chúng hoàn toàn
khác nhau về cấp bậc, chức năng và tác dụng Định ngữ là thành tố phụ của danh từ trung tâm thuộc bậc cụm từ Nó
có nhiệm vụ hạn định, cụ thể hoá ý nghĩa cho danh từ trung tâm còn vị ngữ nêu nội dung thông báo do chủ ngữ biểu
thị
Trang 153 Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành
câu đúng
Trang 164 Hướng dẫn học sinh viết câu văn thành thạo
Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích chính xác các bộ phận và nhận biết rõ các loại lỗi trong câu, tôi hướng dẫn các em rèn kĩ năng viết câu văn bằng cách phân tích theo hai chiều đó là rút gọn và mở rộng câu
Trang 17Dạng 1: Rút gọn để tìm nòng cốt câu
Tìm danh từ, động từ hoặc tính từ trung tâm làm chủ ngữ, vị ngữ của câu đó, rồi lược bỏ những bộ phận phụ
Trang 18Ví dụ:
Rút gọn để tìm bộ phận nòng cốt trong câu sau:
Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xoá tựa mây trời, những rừng cây âm âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa.
Phân tích: Danh từ làm chủ ngữ là: “chúng tôi”, động
từ là vị ngữ là từ “đi”, còn lại đều là bộ phận phụ bổ
nghĩa cho động từ “đi” này Vậy nòng cốt câu trên sẽ là:
Trang 19Mở rộng câu sau: Mặt trời mọc.
HS có thể thêm vào các thành phần phụ để mở rộng câu
VD: Từ phía đằng đông, trong làn sương mù, mặt trời buổi sớm đang từ từ mọc lên.
Trang 20những giúp cho giáo viên bồi dưỡng nghiên cứu những vấn đề về câu mà nó còn giúp cho học sinh học môn Tiếng Việt một cách tích cực, tự giác, đầy hứng thú
Trang 213 Hiệu quả: Việc áp dụng cách cải tiến và sáng tạo một số
phương pháp theo giải pháp mới đã giúp học sinh nắm chắc
kiến thức, vận dụng tốt nội dung bài học Kết quả như sau:
Trang 22Việc áp dụng đề tài giúp giáo viên giảng dạy một cách
linh hoạt, có hiệu quả cao mà tốn ít công sức và thời gian
Qua tính toán, số thời gian và lượng tiền có thể tiết kiệm
được như sau:
Thời gian Số tiết Thời gian
Trang 23- Hiệu quả đối với công tác bồi dưỡng học sinh Giỏi :
Sau 3 năm dạy thử nghiệm, kết quả học tập của học sinh được bồi dưỡng môn Tiếng Việt qua các kỳ dự học sinh giỏi được nâng lên rõ rệt
Năm
học
Số HSDT Đạt cấp Tỉnh Đạt cấp Huyện Không đạt
Trang 24Cách cải tiến và sáng tạo theo giải pháp mới đã giúp cho các em tiếp thu bài học tốt HS hứng thú, vui vẻ, học tập
một cách tích cực, tự giác và thêm yêu Tiếng Việt, bảo vệ sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt
Như vậy, xét cả về mặt định tính và định lượng, việc sử dụng một số giải pháp mới của đề tài nhằm đổi mới
phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn là khả thi và hiệu quả, đồng thời, những kết quả trên là cơ sở để chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài là: Cải tiến và sáng tạo một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết