Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề nhằm góp phầnphát triển phương pháp luận phục vụ việc thu thập các tri thức chuyên gia trong môitrường thông tin mờ, không chắc chắn và xây dựng một hệ
Trang 3Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, Em xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Hoàng Kiếm
đã truyền đạt kiến thức chuyên đề môn Công nghệ tri thức & ứng dụng Qua đó giúp em
có thêm nhiều kiến thức, thêm động lực để cố gắng tìm hiểu và hoàn thành bài thu hoạch
Và em không quên gửi lời cảm ơn đến bạn bè lớp CH K9 & CH K8 đã chia sẻnhững tài liệu, giúp em giải quyết những vấn đề khó khăn trong quá trình làm bài
Mặc dù rất cố gắng nhưng vẫn không thể tranh khỏi những sai sót, mong thầy giáochỉ bảo thêm, mong các bạn đóng góp ý kiến để bài thu hoạch ngày càng hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !
TP HCM, ngày 11 tháng 10 năm 2014
Học viên thực hiện
(ký và ghi rõ họ tên)
Phạm Thị Thắm
Trang 4Từ ý tưởng kết hợp giữa tri thức hiện đại và tri thức cổ, cho nên em quyết định chọnchuyên đề “Ứng dụng của Kinh dịch - dự đoán tương lai” làm bài thu hoạch cho môn học
“Công nghệ tri thức và ứng dụng” Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề nhằm góp phầnphát triển phương pháp luận phục vụ việc thu thập các tri thức chuyên gia trong môitrường thông tin mờ, không chắc chắn và xây dựng một hệ hỗ trợ dự đoán tương lai, cụthể là Hôn nhân
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu Kinh dịch dựa trên Lý Thuyết mờ để vận dụng xây dựng hệ chuyên giagiúp dự đoán hôn nhân Kết quả chuyên đề cho phép tìm giải pháp Tin học xử lý các vấn
đề về dự đoán hôn nhân, tạo điều kiện thuận lợi trong đánh giá và ước lượng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Nghiên cứu nguồn gốc và ứng dụng của Kinh dịch trong đời sống
• Nghiên cứu về lý thuyết mờ để xây dựng cơ sở tri thức dự đoán Vận mệnh
Trang 5• Nghiên cứu các phương pháp dự đoán vận mệnh, đi sâu vào trường hợp áp dụng tứtrụ dự đoán Hôn nhân
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập, tìm hiểu, phân tích các tài liệu và thông tin có liên quan đến chuyên đề
5. Kết quả dự kiến
• Nắm được kiến thức về logic mờ, cấu trúc của hệ chuyên gia mờ
• Tìm hiểu về Kinh dịch và ứng dụng của nó trong dự đoán vận mệnh Cụ thể trongbài thu hoạch là áp dụng Tứ trụ dự đoán Hôn nhân
• Xây dựng hệ trợ giúp dựa trên logic mờ để dự đoán Hôn nhân
6. Bố cục của chuyên đề.
Nội dung của chuyên đề bao gồm 4 Phần, chủ yếu phân tích, tổng hợp và sắp xếpnhững nội dung then chốt nhất trong khoảng thời gian cho phép
• Phần I: Kinh dịch – Một hệ mờ
• Phần II: Tìm hiểu logic mờ ứng dụng trong Kinh dịch
• Phần III: : Ứng dụng Kinh dịch dự đoán tương la: Tứ trụ - dự đoán hôn nhân
• Phần IV: Kết luận và hướng phát triển
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề
• Hiểu và đánh giá các yếu tố cơ bản của logic mờ và ứng dụng
• Hiểu được phương pháp dự đoán
• Ứng dụng được lý thuyết logic mờ trong CNTT vào hệ hỗ trợ dự đoán Hôn nhânmang tính nhân văn, xã hội
8. Đặt tên chuyên đề
TÌM HIỂU KINH DỊCH DỰA TRÊN LOGIC MỜ ỨNG DỤNG DỰ ĐOÁN VẬN MỆNH
Trang 6Phần I: KINH DỊCH – MỘT HỆ MỜ
1. Mối tương quan giữa Kinh dịch và logic mờ.
Lý thuyết tập mờ ( fuzzy set theory) được vận dụng rất nhiều trong các lĩnh vực nhưcông nghệ thông tin, cơ khí máy móc, Y học, bói toán… GS TS Nguyễn Hoàng Phương
đã đề cập đến 2 mảng ứng dụng trong quyển sách TÍCH HỢP ĐA VĂN HOÁ ĐÔNGTÂY cho một chiến lược giáo dục tương lai – 1996 của ông, đó là Đông y và Thái ẤtĐộn giáp với lý thuyết tập mờ
Trong cuộc sống thực tế có rất nhiều khái niệm mơ hồ, và người ta không thể khẳngđịnh một cách dứt khoát vấn đề là đúng hay sai, chẳng hạn như trông cô ấy già quá, thếnào là già? 40, 50 hay 60 tuổi … hoặc anh ta nói a ta đang yêu một cô gái nào đó, có thể
là anh ta đang nói thật ngay lúc đó, nhưng chỉ sau 1 vài phút anh ta lại thấy cô khác đẹphơn thì anh ta quên ngay cô gái ban đầu, như vậy là anh ta nói dối chỉ vài phút sauđó……
" Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?
Gái bao nhiêu tuổi gọi là gái non?
Như vậy, tuổi tác của phụ nữ cũng rất là mơ hồ, rất mờ ảo
Và sự mơ hồ đang có khuynh hướng gia tăng trong thế giới này đến độ người takhông thể biết đâu là sự thật, đâu là chân lý tương đối và đâu là chân lý tuyệt đối Từ đókhái niệm lý thuyết tập mờ được hình thành để kiểm soát nhưng khái niệm mang tính kochính xác và mơ hồ, phát biểu dưới dạng tập hợp thì A có thể chứa không_A - một thứ
có thể chứa một phần thứ khác mâu thuẫn với nó Logic truyền thống chỉ quan tâm đến 2giá trị tuyệt đối (đúng hoặc sai) Logic truyền thống luôn tuân theo 2 giả thuyết Một làtính thành viên của tập hợp: Với một phần tử và một tập hợp bất kỳ, thì phần tử hoặc làthuộc tập hợp đó, hoặc thuộc phần bù của tập đó Giả thiết thứ hai là định luật loại trừtrung gian, khẳng định một phần tử không thể vừa thuộc một tập hợp vừa thuộc phần bùcủa nó
Thuyết âm dương của người Trung Quốc đã hàm chứa logic mờ! trong âm códương, trong dương có âm Một vật dưới 1 hệ qui chiếu này là âm nhưng dưới 1 hệ quichiếu khác là dương Sự đối lập giữa 2 mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện
cụ thể nào đó nó có tính tương đối Thí dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương,
Trang 7nhưng lương (là mát) thuộc âm đối lập với ôn (là ẩm) thuộc dương Trên lâm sàng tuy sốt(là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn sốt ít thuộc biểu dùng thuốcmát (lương) Trong âm có dương và trong dương có âm do âm dương cùng nương tựa vớinhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.
Có thể nói lý thuyết tập mờ được các triết gia Trung Hoa cổ đại nhận biết từ cáchđây gần 3000 năm, họ đã nhận thấy sự vật luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất vớinhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát triển và tiêu vong, gọi là họcthuyết âm dương
Bertrand Arthur William Russel (Anh) trong quá trình nghiên cứu, ông đã phát hiện
ra một nghịch lý mà ngày nay gọi là nghịch lý tập của Russell: Thí dụ một quả táo thuộctập các quả táo, nhưng tập các quả táo không thuộc về tập các quả táo do bản thân nókhông phải là một quả táo ! Nghĩa là tập các quả táo không phải là một thành viên củachính nó Nếu nó là một thành viên của chính nó, thì không thoả mãn định nghĩa Mặtkhác, nếu nó không phải là thành viên của chính nó, thì theo định nghĩa về tập đó, thì nólại thoả mãn và như vậy nó là thành viên của chính nó !
Vì vậy khi tìm ra nghịch lý này, Russell ngẫu nhiên chứng minh rằng logic nhịphân, mà ông nghĩ là cơ sở của toán học, không thể tự chứng minh nó Tất nhiên ngàynay, chúng ta biết nghịch lý của Russell không phải là một trường hợp không giải được,nếu dùng logic mờ thì ta có câu trả lời ngay Tuy nhiên, Russell không hề biết gì về logic
mờ và đã vô cùng thất vọng với toán học
Năm 1964, giáo sư Lofti Zadeh – thuộc đại học Berkeley (California, Mỹ) bắt đầusuy nghĩ liệu có thứ logic tốt hơn nào dùng trong máy móc Ông có ý tưởng liệu ta có thểbảo máy điều hoà làm việc nhanh hơn khi trời nóng lên, có thể đặt tự động số độ của máylạnh tùy nhiệt độ bên ngoài hay ko? Có nghĩa là ko chỉ có khái niệm nóng hay lạnh 1cách tuyết đối như Aristotle cha đẻ của logic học cổ điển ( logic nhị phân) đã phát biểu,hoặc lạnh hoặc nóng, nóng là ko lạnh và lạnh là ko nóng Đây chính là bước đi đầu tiêncủa logic mờ hiện đại được ứng dụng rộng rãi như ngày nay
Như vậy, có thể thấy để khắc phục khuyết điểm của logic truyền thống, Lotfi Zadeh đã đưa ra lý thuyết mới về logic gọi là logic mờ (fuzzy logic).
Trang 8Lý thuyết của Zadeh biểu diễn tính mờ hay tính thiếu chính xác trong các phát biểu theo cách định lượng bằng cách đưa ra một hàm tư cách thành viên tập hợp (setmembership function) nhận giá trị thực giữa 0 và 1 Từ năm 1965 trở đi, Zadeh cống hiếntoàn bộ sức lực của mình vào phát triển lý thuyết tập mờ, logic mờ và ứng dụng củachúng trong lý thuyết điều khiển, hệ thống và trí tuệ nhân tạo Có thể thấy lý thuyết tập
mờ ứng dụng trong rất nhiều thiết bị điện tử ngày nay: Từ quạt "mờ", nồi cơm điện "mờ",
tủ lạnh "mờ", lò vi sóng "mờ" Nó đang là xu thế trong thời đại mới, vì nó giúp các thiết
bị điện tử "thông minh" hơn
2. Trình bày nguồn gốc và ứng dụng của Kinh dịch.
2.1 Nguồn gốc của Kinh dịch
2.1.1 Ý nghĩa của tiêu đề “Kinh dịch”.
Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ
"quy tắc" hay "bền vững", hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian
Dịch (易 yì) có nghĩa là "thay đổi" hay "chuyển động"
Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan
hệ tương hỗ như sau:
• Giản dịch - thực chất của mọi thực thể Quy luật nền tảng của mọi thực thểtrong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của
nó là khó hiểu hay phức tạp
• Biến dịch - hành vi của mọi thực thể Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay
đổi Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của
sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để cóthể xử sự trong những tình huống khác nhau
• Bất dịch - bản chất của thực thể Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không đổi theo không gian và thời gian.
Tóm lại: Vì biến dịch, cho nên có sự sống
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống
Trang 9Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành nhữngquy luật để tổ chức đời sống xã hội.
2.1.2 Nguồn gốc và truyền thuyết Kinh dịch
Kinh dịch không do một người viết mà do nhiều người góp sức trong một ngànnăm, từ Văn Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán nó mới có hình thức gần như hìnhthức ngày nay chúng ta được biết từ Tây Hán đến nay, trên 2.000 năm nữa, thời nào cũng
có người tìm hiểu nó thêm, đem ý riêng của mình và tư tưởng của thời đại giọi vào nó,khiến cho ý nghĩa và công dụng của nó mỗi ngày một nhiều và một xa nguồn gốc Do đó,không thể gọi nó là tác phẩm của một nhà nào cả, không phải của Khổng gia cũng khôngphải của Lão gia, và Vũ Đồng, tác giả bộ Trung Quốc triết học đại cương (Thương vụ ấnthư quán) gọi nó là tác phẩm chung của một phái, phái Dịch học, mà những người trongphái này gồm nhiều triết gia xu hướng khác nhau
Mới đầu Kinh dịch chỉ là sách bói, tới cuối đời Chu trở thành một sách triết lý tổnghợp những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần;qua đời Hán nó bắt đầu có màu sắc tượng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tượng
và số mục, tới đời Ngũ Đại nó được dùng trong môn lý số đời Tống nó thành lý học;ngày nay một số nhà bác học phương Tây như C.G Jung tâm lý gia nổi danh của Đức vàRaymond de Becker (Pháp) muốn dùng nó để phân tích tiềm thức con người, coi nó làmột phương pháp phân tâm học
Điều kỳ dị nhất là môn "dịch học" nó chỉ dựng trên thuyết âm dương, trên một vạchliền _ tượng trưng cho dương, một vạch đứt _ _ tượng trưng cho âm, hai vạch đóchồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bátquái này lại chồng lẫn lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: Lục thập tứ quái
Dùng sáu mươi bốn hình này, người Trung Hoa diễn được tất cả các quan niệm về
vũ trụ, về nhân sinh, từ những hiện tượng trên trời dưới đất, những luật thiên nhiên tớinhững đồ dùng, những công việc thường ngày như trị nước, ra quân, trị nhà, cưới hỏi, ănuống, xử thế
Các ông "Thánh" Trung Hoa đó quả thực có một sáng kiến mới mẻ, một sức tưởngtượng, suy luận lạ lùng, khiến người phương Tây ngạc nhiên và có người Âu (J.Lavier)
Trang 10đã dùng một vài quẻ để giải thích một vài hiện tượng khoa học, sự tiến triển của khoahọc.
Sự kiện dùng hai vạch để giảng vũ trụ, xã hội đó thật ít ai quan niệm nổi, cho nênngay người Trung Hoa đã tạo ra nhiều truyền thuyết để giải thích nguồn gốc KinhDịch Nguồn gốc Kinh dịch có thể tóm tắt như sau:
• Kinh Dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, lúc ấy Hoàng Hà có con long mã hiện
hình lưng nó có khoáy thành đám, từ một đến chín, vua Phục Hy coi những khoáy
đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét Đầu tiênvạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương,
và một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm Hai
cái vạch đó gọi là hai Nghi Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái hai vạch, gọi là bốn Tượng Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra
tám cái ba vạch, gọi là tám Quẻ (tức là quẻ đơn) Sau cùng Phục Hy lại đem quẻ
nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là sáu mươi tư
Quẻ (tức là quẻ kép) Từ thời Phục Hy đến cuối nhà Thương Kinh Dịch vẫn chỉ lànhững vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả
• Sang tới đầu nhà Chu, Chu Văn Vương mới đem những Quẻ của Phục Hy mà đặttừng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như
chữ nguyên hanh lợi tẫn mã chi trinh ở quẻ Khôn v.v Lời đó gọi là Lời
Quẻ (quái từ), hay lời thoán (thoán từ).
• Rồi sau đó Chu Công tức Cơ Đán (con trai thứ Văn Vương), lại theo số vạch của
các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một Hào, và dưới mỗi
hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu Sơ Cửu: tiềm long vật dụng hay câu Cửu Nhị: hiện long tại điền trong quẻ Kiền và câu Sơ Lục lý sương kiên băng chí hay câu Lục Tam: Hàm chương khả trinh trongquẻ Khôn Lời đó gọi là lời hào (Hào từ) vì phần nhiều nó căn cứ vào hình tượngcủa các hào, cho nên nó còn gọi là (Lời tượng)
• Tiếp đến Khổng Tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái Thoán truyện có hai thiên:
Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng và Hạ Tượng;
Trang 11Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, thường gọi
là Thập dực (mười cánh) Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh Dịch rộng
thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách
2.2 Ứng dụng Kinh dịch trong đời sống
Kinh dịch từ lâu đã có quan hệ mật thiết đối với đời sống vật chất và tinh thần đốivới nhân dân các nước phương Đồng trong đó có Việt Nam chúng ta Kinh dịch là nhữngtri thức cốt lõi, để rồi khi kết hợp với các tri thức khác sẽ giải quyết được một bài toán cụthể trong đời sống như:
• Khi kết hợp với các tri thức về nhân thể học sẽ cho ra đời phương pháp chữa bệnhtheo Đông Y, châm cứu…
• Khi kết hợp với học thuyết Phong Thủy sẽ giúp ta chọn các vùng đất thích hợpcho việc xây dựng
• Khi kết hợp với các học thuyết dự đoán (Độn Giáp, Thái Ất Thần Kinh, Tứ trụ…)
sẽ cho ra các phương pháp dự đoán vận mệnh của một con người hay cho cả cộngđồng người…
2.3 Học thuyết âm dương – Ngũ hành
2.3.1 Thế nào là "Âm dương"?
Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể
mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tếbào, từng chi tiết Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương cómầm mống của âm và ngược lại
2.3.2 Thế nào là "Ngũ hành"?
Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giớinày đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại Tức năm hành thuỷ,hoả, thổ, mộc, kim Để giúp các bạn dể nhớ ngũ hành tương sinh và tương khắc, chúngtôi nêu thí dụ mộc mạc đơn giản theo vần thơ như sau:
Ngũ hành tương sinh: thuộc lẽ thiên nhiên
Trang 12Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên (thuỷ sinh mộc)
Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hoả)
Tro tàn tích lại đất vàng thêm (hoả sinh thổ)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim)
Kim loại vào lò chảy nước đen (kim sinh thuỷ)
Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay
Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc thổ)Đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thuỷ)Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (thuỷ khắc hoả)Lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hoả khắc kim)Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc)
2.3.3 Thuyết âm dương
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượngsinh bát quái Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài)
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chếlẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau
Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra
"thuyết âm dương"
Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằmtrong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hoá vàphát triển của sự vật
Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướnglên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương Tất cả những cái gìtrầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu
Trang 13nhược, tiêu cực đều thuộc âm Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏnhư con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được qui vào âm dương.
Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè,đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm,thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối Trong con người, dương là méngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phầndưới ngũ tạng, huyết, vinh
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩanguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại Trong âm có mầm mống củadương, trong dương lại có mầm mống của âm
(Trích "Cây thuốc vị thuốc VN." của Đỗ tất Lợi)
2.3.4 Thuyết ngũ hành
Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đã giới thiệutrong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn
Ngũ hành là : Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ cho 5 chất phối hợp nhau mà tạonên Theo tính chất thì:
• Thuỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống
• Hỏa là lửa thì bùng cháy, bốc lên.
• Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
• Kim là kim loại, thuận chiều hay đổi thay
• Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi làtương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiệntượng chế hoá, tương thừa, tương vũ Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa,tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng Đem ngũ
hành liênhệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau
Trang 14Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim,kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi Thúc đẩy sự phát triểnkhông bao giờ ngừng Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hànhnào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệmẫu tử Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là concủa Thuỷ Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăngbằng, giữ gìn lẫn nhau.
Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau Trong qui luật
tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim, kimkhắc mộc, và mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái
Trong tình trạng bình thường, sự tương khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng,nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường
Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai quan hệ: Giữa cái thắng nó và cái nóthắng Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó
Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tươngsinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển
Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau Trong chế hoá bao
gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc Hai hiện tượng này gắn liền với nhau
Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc Không có sinh thìkhông có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại Cần phải có sinhtrong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau Quy luật chế hoá ngũ hành là:
Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc
Hoả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả
Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc khắc thổ
Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim
Thuỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ
Trang 15Luật chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành Nó biểu thị sự cân bằngtất nhiên phải thấy trong vạn vật Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì
sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường Coi bảng dưới đây chúng ta thấy mỗi hành đều có mốiliên hệ bốn mặt Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó và cái bị nó khắc