NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG- Nền đất yếu là phạm vi đất nền gồm các lớp đất yếu có khả năng chịu lực kém, nằm ở bên dưới móng công trình và chịu tác động của
Trang 1NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
NỀN MÓNG
Chương IV:
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU
I Khái niệm về đất yếu
- Đất yếu gồm các loại đất sét mềm bão hoà nước; các loại cát hạt nhỏ, mịn; than bùn; các trầm tích bị mùn hoá v v chúng rất đa dạng về thành phần khoáng vật, nhưng thường giống nhau về tính chất cơ lý và chất lượng xây dựng (kém)
- Đất yếu nói chung có các đặc điểm sau:
Hầu như hoàn toàn bão hoà nước, có hệ số rỗng (ε) lớn, thường > 1,0
Khả năng chịu lực yếu, vào khoảng 50 - 100 kN/m2
Tính nén lún mạnh, hệ số nén lún (a) lớn; môđun biến dạng nhỏ (E ≤ 5000kN/m2); trị số sức kháng cắt không đáng kể
§4.1 Khái niệm về đất yếu và nền đất yếu
Trang 2NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Nền đất yếu là phạm vi đất nền gồm các lớp đất yếu có khả năng chịu lực kém, nằm ở bên dưới móng công trình và chịu tác động của tải trọng công trình truyền xuống Xét về mặt cấu trúc, tầng đất nền này có thể được hợp thành là do một hoặc nhiều lớp đất yếu xen kẽ nhau hoặc xen giữa các lớp đất khác có khả năng chịu lực tốt hơn
3
- Trong đa số trường hợp, chỉ sau khi đã thay đổi kết cấu phần trên,
đã mở rộng hợp lý diện tích đáy móng mà những điều kiện cần đảm bảo khi thiết kế (về cường độ, biến dạng) không đạt mới cần phải xử
lý nền Nền cần phải xử lý gọi là “nền đất yếu”.
- Khi tính toán nền công trình theo trạng thái giới hạn, nếu không thoả mãn các yêu cầu về cường độ và biến dạng mà vội vàng coi nền là yếu và tiến hành Xử lý nền thì nhiều khi gây tốn kém không cần thiết (đặc biệt đ/với công trình lớn) Cần phải áp dụng toàn diện các biện pháp xử lý đối với kết cấu phần trên, kết cấu móng và đối với nền.
- Như vậy, Khái niệm về nền đất yếu phải hiểu một cách tương đối trong một hoàn cảnh và điều kiện xây dựng cụ thể nhất định Việc làm sáng tỏ khái niệm này có ý nghĩa kinh tế và kỹ thuật trong việc lựa chọn phương án hợp lý nhất.
Trang 3NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
+ Nguyên nhân xử lý:
Kết cấu công trình có thể bị phá hỏng toàn bộ hay từng bộ phận do:
- Các điều kiện về biến dạng không được thoả mãn,
(S > [S gh ], ∆S > [∆S gh]… )
- Áp lực tác dụng lên mặt nền quá lớn
(N tt> Rgh)
+ Mục đích xử lý:
- Giảm tải trọng tác dụng lên móng → Làm giảm trị số Vế Trái
- Tăng khả năng chịu lực của kết cấu → Làm tăng trị số Vế Phải
§4.2 Các biện pháp về kết cấu công trình
5
+ Các biện pháp kết cấu công trình bao gồm:
- Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ
- Làm tăng độ mềm của công trình
- Làm tăng cường độ cho kết cấu công trình
Trang 4NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
II Làm tăng độ mềm của công trình
- Mục đích: Khi nền móng lún không đều sẽ phát sinh ư/s phụ tại các liên kết của kết cấu công trình, có thể phá hỏng kết cấu Làm tăng độ mềm của công trình (kể cả móng) sẽ khử được các ứng suất phụ.
-Biện pháp: Có hai biện pháp:
sự thay đổi về bố trí mặt bằng công trình (Hình 3)
δ = 3-5cm
Trang 5NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
+ Các khớp nối bố trí ở các khe lún phải mềm mại và chịu được độ chênh lún giữa hai bộ phận ở hai bên khe lún do đó phải tính toán kiểm tra khớp nối.
-Khớp nối là tấm đồng Ω: Thường
dùng cho công trình thuỷ lợi
-Khớp nối bằng chất dẻo polime:
Rộng 18cm; dầy 0,4cm; mấu nhô
+ Cần hạn chế số lượng khe lún trong một công trình, vì mặc
dù tác dụng kỹ thuật tốt nhưng tốn kém, thêm nhiều vật liệu xây dựng (phải làm thêm các tường ngăn ngang, dọc tại chỗ bố trí khe lún, làm khớp nối v.v ), và quản lý khó khăn nhất là trong các công trình thuỷ lợi.
+ Chiều rộng khe lún phải tính toán
vừa đủ để cho các bộ phận đã được
tách ra không tựa sát bên nhau (làm nứt
nẻ công trình) khi chúng bị lún không
đều hoặc bị nghiêng Chiều rộng tối
thiểu khe lún được xác định theo công
thức:
δ = k.h.( tgθp- tgθtr) (4.1)
h: chiều cao khe lún
θp, θtr: góc nghiêng của phần công
trình ở bên phải và trái khe lún
Trang 6NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
2- Biện pháp kết cấu tĩnh định
- Thay các liên kết cứng giữa các bộ phận của công trình bằng liên kết khớp hoặc liên kết tựa cũng có tác dụng làm tăng độ mềm của công trình và khử được ứng suất phụ thêm phát sinh khi công trình bị biến dạng lệch
- Việc thay các liên kết cứng bằng các liên kết mềm (khớp, tựa) làm cho công trình có tính chất tĩnh định nên phần nào làm nó nặng nề thêm và kém phần mỹ thuật Do đó cần hết sức giảm bớt khớp nối mềm trong công trình
- Tốt nhất là dự tính được các yếu tố biến dạng của công trình rồi từ đó tính toán nội lực trong kết cấu siêu tĩnh của các bộ phận công trình
- Trong các công trình dân dụng
và công nghiệp người ta sử
dụng các giằng bê tông cốt thép
(giằng tường, giằng móng), (xem
Hình)
Trang 7NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Giằng cốt thép
Giằng bê tông cốt thép
- Các giằng có tác dụng tăng cường khả
năng chịu ứng suất kéo phát sinh khi
tường chịu uốn mà không ảnh hưởng
đến độ mềm của công trình
- Tính toán kết cấu giằng gia cường theo
p/pháp dầm trên nền đàn hồi Trong thiết
kế thường lấy cốt thép cấu tạo là 5 - 15
cm2
- Có thể dùng biện pháp gia cố cục bộ để
tăng cường độ chống cắt cục bộ của
tường hay của bộ phận công trình bằng
cách đặt giằng hoặc đặt thêm cốt thép tại
những nơi dự đoán có phát sinh ứng lực
cắt lớn
13
- Thay đổi chiều sâu chôn móng
- Thay đổi kích thước đáy móng
- Thay đổi loại móng và độ cứng móng
I Thay đổi chiều sâu chôn móng
- Cơ sở của phương pháp:
+ Công thức tính sức chịu tải và cường độ tiêu chuẩn của nền có dạng chung là:
pgh = Aγ.b + Bq + Dc
A, B, D: các hệ số phụ thuộc góc ma sát trong ϕ của đất
γ, c: trọng lượng riêng và lực dính đơn vị của đất.
Trang 8NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
thì khả năng chịu tải của nền
(p gh) được tăng lên
+ Mặt khác, nền nói chung có
độ chặt tăng theo chiều sâu, nên
khi h m tăng là đã đặt móng tại
lớp đất tốt hơn, do đó độ lún S
giảm
15
- Xét các trường hợp thực tế:
* Trường hợp cao trình đặt móng thiết kế không thay đổi: Do nhiều điều
kiện khống chế, móng thường phải đặt tại một cao trình thiết kế nhất định
Bảo đảm được cao trình đặt móng thiết kế (tức là bảo đảm cao trình của
các bộ phận công trình) là một vấn đề rất quan trọng và khó khăn, nhất là đối với nền đất yếu
Để giảm bớt độ chênh lệch giữa cao trình đặt móng thiết kế với
cao trình đáy móng sau khi lún ổn định thì thường phải nâng cao trình đặt móng thiết kế lên một trị số dự phòng, tính gần đúng theo công thức:
Sdp = ½ ( S + Stc) (4.2)
Sdp - độ nâng thêm của cao trình dự phòng
S - độ lún ổn định do tính toán
Stc - độ lún xảy ra khi thi công
. Đối với các công trình dân dụng công nghiệp xây trên nền đất loại sét
Trang 9NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
* Nếu công trình có nguy cơ bị nghiêng, bị lún không đều thì có
thể dùng biện pháp thay đổi chiều sâu chôn móng để xử lý khi thiết
kế thi công (Hình 1).
* Gặp trường hợp tầng đất yếu có chiều dày thay đổi nhiều, để
giảm chênh lệch lún, có thể đặt móng ở nhiều cao trình khác nhau (Hình 2)
+ Nếu tầng đất có chiều dày chịu nén khác nhau, dùng biện pháp thay đổi chiều rộng móng để cân bằng lún cho toàn bộ công trình (Hình 2)
e P
II Thay đổi kích thước và hình dáng móng
Trang 10NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
III Thay đổi loại móng và độ cứng của móng
+ Tuỳ tình hình phân bố tải trọng tác dụng lên móng và điều kiện địa chất
mà chọn móng cho thích hợp (móng đơn, móng băng, móng băng giao nhau, móng bản, móng hộp (có độ cứng lớn, nhẹ)
+ Khi độ võng móng ΔS quá lớn thì phải tăng độ cứng móng
+ Để tăng cường độ cứng của móng có thể dùng các biện pháp: tăng chiều dày móng, tăng cốt thép dọc, kết hợp với kết cấu phần trên; dùng loại móng hộp, độ cứng lớn và nhẹ
+ Trường hợp đất nền có tính nén lún tăng theo chiều sâu thì việc mởrộng đáy móng thường không có tác dụng (Hình 3)
* Trong điều kiện tồn tại tự nhiên có hệ số
rỗng (e) lớn hơn nhiều so với lớp đất nằm
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
I Khái niệm
¾Trường hợp cần XLN: sau khi đã thay đổi kết cấu phần trên, đã mở
rộng hợp lý diện tích đáy móng mà những điều kiện cần đảm bảo khi thiết kế (về cường độ, về biến dạng) không được thoả mãn thì mới phải
xử lý nền, nền phải xử lý gọi là nền đất yếu
Trang 11NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
¾ Mục đích XLN: Các phương pháp xử lý hiện nay đều nhằm cải
thiện điều kiện của đất nền: - làm tăng độ bền của đất, - giảm độ lún tổng và chênh lệch lún Cụ thể là:
* Giảm tính rỗng.
* Tăng cường độ liên kết giữa các hạt.
* Giảm tính thấm nước của nền (đặc biệt đ/với công trình thuỷ lợi).
¾ Phân loại các phương pháp XLN: Hiện nay có nhiều phương
pháp, vấn đề quan trọng là làm sao chọn được phương pháp xử lý thích hợp cho các loại đất riêng biệt, thỏa mãn được yêu cầu thiết
kế đối với công trình, đồng thời rút ngắn được thời gian thi công, giảm chi phí xây dựng, nâng cao tính hiệu quả của công trình.
Nói chung có thể phân thành ba loại chủ yếu sau:
21
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
3) Thuộc loại biện pháp hoá học có: p.pháp keo kết bằng xi
măng, p.pháp si li cát hoá, p.pháp điện hoá v v
1) Thuộc loại biện pháp cơ học có: p.pháp làm chặt bằng đầm,
p.pháp làm chặt bằng chấn động, p.pháp làm chặt bằng các loại cọc, p.pháp thay đất, p.pháp nén trước, p.pháp phản áp,
v v…
2) Thuộc loại biện pháp vật lý có: p.pháp hạ mực nước ngầm,
p.pháp giếng cát, p.pháp điện thấm, p.p bấc thấm, vải địa kỹ thuật, v v
- Trong chương trình chỉ giới thiệu một số biện pháp xử lý nền sau:
Trang 12NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Áp dụng: thường trong các điều kiện sau
* Đất yếu là đất sét chảy (nếu dùng biện pháp đầm thì không lợi)
* Chiều dày lớp đất yếu tương đối mỏng ( 3 - 6 m ).
* Vật liệu cát dễ kiếm.
* Đối với công trình thuỷ lợi, do có độ chênh cột nước, cần có
biện pháp chống xói ngầm (dùng tường, bản cừ ) và phải chú ý đến hiện tượng hoá lỏng dưới tác dụng của tải trọng động
23
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
2- Hiệu quả:
- Tăng sức chịu tải của nền
- Giảm độ lún của móng công trình (vì đất cát có môđun biến dạng Eolớn hơn của đất sét)
- Giảm độ chênh lệch lún của móng (vì có sự phân bố lại ứng suất do tải trọng ngoài gây ra trong đất nền nằm dưới tầng đệm cát)
- Giảm chiều sâu chôn móng, do đó giảm được khối lượng vật liệu làm móng
- Tăng nhanh tốc độ cố kết của nền, do đó làm tăng nhanh sức chịu tải của nền và rút ngắn quá trình lún
3- Tính toán, thiết kế tầng đệm cát:
+ Nguyên tắc tính toán:
Xác định kích thước của tầng đệm cát bao gồm chiều dày (h c) và
chiều rộng đáy tầng đệm cát (b c), đảm bảo hai điều kiện kỹ thuật cơ bản là:
- Đảm bảo nền (sau khi có đệm cát) ổn định về mặt cường độ
- Đảm bảo độ lún của nền (sau khi có đệm cát) nhỏ hơn độ lún cho phép của công trình
Để làm được điều trên ta phải tính thử dần; thông thường các bước
tính toán được tiến hành như dưới đây:
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
Trang 13NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
a) Sơ bộ chọn kích thước đệm cát:
* Chọn h c: theo kinh nghiệm có thể lấy vào khoảng 0,5 - 3 m có khi là
5 - 6 m
* Chọn b c: người ta xác định kích thước chiều rộng đáy đệm cát theo
góc mở α Căn cứ vào hiện tượng khuyếch tán ứng suất trong nền người ta lấy α như sau:
- Tính toán kiểm tra về cường độ, ổn định trượt
- Tính toán kiểm tra về biến dạng
¾ Đệm cát được xem như một bộ phận của đất nền nhiều lớp: lớp cát nằm trên, lớp đất yếu nằm dưới
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
b) Trường hợp công trình chịu tác dụng của lực đẩy ngang:
Ä Cần tính toán ổn định của nền đã xử lý bằng đệm cát.
- Cát có ma sát lớn nên móng không có khả năng trượt phẳng
- Khi tính toán nền theo ổn định (TTGH-1) cần phải tiến hành kiểm tra trượt sâu theo phương pháp cung trượt tròn và trượt sâu theo mặt tiếp xúc giữa đáy đệm cát và đỉnh lớp đất yếu (Khi tính toán, cần kể đến sự thay đổi các chỉ tiêu cường độ chống cắt của đất nền do cố kết nhờ có tầng đệm cát thoát nước)
[ ] K M
M K
Trang 14NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
c) Tính toán đệm cát theo biến dạng của nền gồm các bước (theo TCXD):
* Chọn hệ số rỗng εnc của cát, từ đó xác định môđun biến dạng E 0 cát:
Từ công thức độ chặt tương đối của đất cát:
- Tính εnc, bằng cách khống chế D = 0,70 ÷ 0,80, với
¨ εnc = εmax- D(εmax -εmin )
Từεnccủa cát tìm ra E0cát, có thể lấy theo bảng IV-1/tr.68
min max
maxε ε ε ε
−
−
* Kiểm tra ứng suất đáy đệm cát:
Đệm cát truyền áp lực đáy móng xuống
tầng đất thiên nhiên phía dưới trong một
phạm vi lớn hơn diện tích đáy móng Để
đảm bảo tầng đất thiên nhiên dưới lớp đệm
cát vẫn còn làm việc trong giai đoạn biến
dạng tuyến tính thì ứng suất thẳng đứng tác
dụng lên lớp đất yếu không được vượt quá
áp lực tiêu chuẩn R tc:
tc c
0,001 40 40
43 50 -
0,002 38 40
0,001 35 30
- -
0,004 36 38
0,002 32 28
28 18
0,006 34 28
0,004 30 18
0,002 26 11
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
Trang 15NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
S S
- Khi hố đào khô: cát được đổ từng lớp dày 20 cm và đầm chặt
(bằng đầm lăn, xung kích, chấn động)
- Trừơng hợp mực nước ngầm cao (mà không dùng biện pháp hạ
mực nước ngầm): thì nên dùng biện pháp thi công trong nước (xỉa lắc cát, đầm dùi cho D = 0,7)
- Độ lún tổng cộng tính theo công thức
(4.9) không được vượt quá độ lún giới
hạn:
- Nếu các tiêu chuẩn kiểm tra theo công
thức (4.6) hoặc (4.10) không đảm bảo thì
ta phải chọn lại kích thước đệm cát, và
các bước tính toán được lặp lại
ghS
Trang 16NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
III Phương pháp lèn chặt đất bằng cọc cát
1- Nội dung và điều kiện áp dụng:
* Nội dung phương pháp: Hạ cọc vào trong đất yếu,
nhờ thể tích cọc chiếm chỗ mà đất được lèn chặt lại (nén
chặt sâu) Đây cũng là cơ sở để tính cọc sau này
Trong khuôn khổ môn học ta chỉ nghiên cứu tính toán
đối với cọc cát
* Thi công cọc cát: Các phương pháp thi công khác
nhau chủ yếu ở cách tạo lỗ:
Tạo lỗ dùng ống thép: đường kính vào khoảng 30 ÷
50 cm Mũi cọc nhọn bằng thép gồm 4 cánh mắc bản lề
Khi đang đóng ống thép xuống thì mũi cọc khép lại, khi
rút lên thì mũi cọc mở ra (xem Hình 1) Mũi cọc có thể
làm bằng nút gỗ hoặc bê tông, sau khi hạ ống tạo lỗ có
thể để lại trong đất (xem Hình 2)
31
Ống rỗng thường được hạ xuống nền đất bằng búa đóng cọc hoặc
bằng phương pháp chấn động tùy theo loại đất Việc thi công cọc cát theo hai cách hạ ống thép như sau:
- Đóng ống thép xuống tới cao trình thiết kế, sau đó rút lên rồi nhồi
cát vào lỗ, đồng thời đầm từng lớp một bằng búa treo, chiều dày mỗi lớp
khoảng 1,0 m → Thường dùng với đất sét dẻo, dẻo cứng (Hình 1).
- Dùng chấn động hạ ống thép xuống tới độ sâu thiết kế, nhồi cát
vào từng lớp dầy khoảng 1,0 m, sau đó dùng chấn động để làm chặt lớp cát, rút ống lên khoảng 0,5 m cho cát tụt xuống Cứ tiến hành như thế đối
với các lớp tiếp theo → Thường dùng với đất sét dẻo chảy, đất cát hạt
nhỏ, mịn bão hòa nước (Hình 2).
Trang 17NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Tạo lỗ bằng mìn nổ ép
đất (theo chiều sâu cọc):
sau đó đổ cát vào đầm từng
lớp Với cách thi công này có
thể tạo được cọc cát dài
khoảng 18 ÷ 20m Lưu ý rằng,
do chấn động khi nổ làm cho
lớp đất trên dày khoảng 2 m bị
tơi ra, cần có biện pháp xử lý
trước khi làm móng
* Áp dụng:
Phương pháp cọc cát thường dùng để nén chặt các lớp đất yếu khá dầy (>2,0 m), chịu tải trọng tương đối lớn Như các loại đất cát nhỏ, cát bụi ởtrạng thái bão hoà nước, đất cát xen kẽ những lớp bùn mỏng, đất dính yếu, đất bùn và than bùn
- Cọc cát có tính nén lún không khác nhiều so với tính nén lún của đất xung quanh nó, cho nên có thể coi cọc cát cùng chịu tải trọng với đất nền xung quanh, và khi tính toán thì lớp đất có cọc cát được coi là một lớp nền
có các chỉ tiêu cường độ chống cắt tương ứng với độ chặt thiết kế (εtk, γtk)
- Cọc cát có tác dụng tăng nhanh tốc độ cố kết của đất nền Phần lớn độlún của nền đất có cọc cát thường kết thúc trong quá trình thi công, làm cho công trình mau chóng đạt đến giá trị ổn định
- Về mặt kinh tế, cát dùng trong cọc là loại vật liệu rẻ hơn so với cọc làm bằng vật liệu cứng và không bị ăn mòn nếu nước ngầm có tính xâm thực Biện pháp thi công cọc cát tương đối đơn giản, không đòi hỏi những thiết bịphức tạp Vì những lý do trên mà giá thành xây dựng khi dùng cọc cát thường rẻ hơn so với một số phương án xử lý khác
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
Trang 18NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Đất nền không bị trồi lên khi có cọc
Đất được lèn chặt đều giữa các cọc.
* Chứng minh:
Bố trí cọc cát trên mặt bằng (xem Hình)
- Xét một lăng thể đất có đáy là tam giác đều,
chiều cao là L (mang tính đại biểu)
ε
ε ε
ε0– hệ số rỗng tự nhiên của đất nền (khi chưa có cọc cát):
εtk– hệ số rỗng thiết kế của đất nền (sau khi có cọc cát):
c
23
c
L c V
lt tk
32
11
0 0
+
−
=+
−
=
Δ
εεεε
ε
ε
L c tk
4
31
2 c
42
1.3
2 ε εεπ
γ π
−
= d
d - đường kính cọc cát, d = 30 - 40 cm tuỳ theo đường kính tạo lỗ
Cần phải chọn độ chặt thiết kế của nền đất sau khi xử lý cọc cát (εtk):
Trang 19NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Đối với nền đất cát:
εtk = εmax- D(εmax-εmin) (4.18) , Với D = 0,7 ÷ 0,8
- Đối với nền đất cát bụi: (chọn ở trạng thái chặt vừa)
.fF
ε ε
+
−
=Δ
F
F
εεε+
−
=
o tk o
+1
=
VF
εεε
- Thể tích 1 cọc cát: vc= f.L,
với f = π.d2/4
(4.22)(4.21)
F
f
từ
c) Xác định L :
Có thể dựa trên hai cơ sở:
Khống chế về mặt biến dạng: lấy L ≥ H a với H alà chiều sâu vùng nền ảnh hưởng lún
Khống chế về mặt cường độ, ổn định: lấy L > độ sâu lớn nhất của vùng nền trượt Trị số L còn phụ thuộc vào khả năng của phương tiện đóng nhổ ống thép Hiện nay chưa có phương pháp chính xác tìm chiều dài cọc L
Ha
hmb
b
h m
T II gh
Hmax
§4.4 Các biện pháp xử lý nền
Trang 20NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
1- Nội dung và trường hợp áp dụng:
a) Nội dung phương pháp:
- Trước khi xây dựng công trình dùng các loại vật liệu (cát, sỏi,
gạch, đá v.v ) chất đống lên mặt đất trong phạm vi xây dựng móng
để gây ra một áp lực nén tạm thời (gọi là áp lực nén trước) tác dụng
lên mặt nền, làm cho đất nền bị lún do đó đất được chặt lại Khi đất nền đạt được độ chặt yêu cầu, người ta dỡ
Lúc này nền công trình vừa
có cường độ đạt yêu cầu
c) Cơ sở lý thuyết:
Phương pháp nén trước dựa trên quy luật giảm tính nén lún của
đất dưới tác dụng của tải trọng (quan hệ e∼p).
2- Hiệu quả:
Đất sau khi nén trước có tính
nén lún nhỏ; hệ số rỗng (e) và
hệ số nén (as << ac) giảm và
cường độ tăng lên
Hiệu quả của phương pháp
nén trước thường được đánh
giá bằng giá trị độ lún (St) sau
một thời gian t nào đó
Trang 21NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
3- Tính toán thiết kế:
Cần xác định 2 đại lượng: - Độ lớn của áp lực nén trước (pnt)
- Thời gian nén trước (tnt) 9Chọn (pnt) : cần đảm bảo hai yêu cầu:
y Hiệu quả nén trước cao, muốn vậy cần chọn pnt ≥ tải trọng thiết
kế; thường pnt> ptk
y Đảm bảo không phá hoại nền, bằng cách tăng tải trọng từng cấp,
khống chế tốc độ tăng tải nén trước sao cho nền không bị phá hoại 9Chọn (tnt) : Liên quan tới quá trình cố kết của đất và tiến độ xây
dựng công trình.
9Cả hai đại lượng cần tìm lại có quan hệ mật thiết với nhau.
41
lớn diễn ra trong thời gian dài, dùng biện pháp nén trước vẫn không đảm bảo yêu cầu thiết kế thì có thể áp dụng kết hợp biện pháp giếng cát Trước hết ta xét trường hợp không dùng giếng cát.
′
′Δ+
′Δ+
′+
′
′Δ+
′+
Độ lún cố kết sơ cấp (cố kết thấm) lớn nhất do tải trọng công trình sẽ là:
A- Trường hợp không có giếng cát:
Áp dụng lời giải của bài toán cố kết một hướng để tìm thời gian t nt, và tải
trọng nén trước p nt
σ’ o = áp suất hiệu quả trung bình
trên lớp sét trước khi xây móng
H c
Trang 22NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Lưu ý là tổng độ lún
Sc(p) có thể xảy ra ở thời
gian t2 ngắn hơn rất nhiều
so với t1 Do vậy, nếu tổng
tải trọng tạm thời được đặt
lên mặt nền trong thời gian
t2, độ lún sẽ bằng Sc(p) Khi
đó, nếu phần đắp tạm thời
được dỡ đi và công trình
được xây dựng với tải
Quan hệ giữa lún với thời gian dưới tải trọng tạm thời Δσ’(p)+Δσ’(f)
(= pnt) cũng được biểu thị trong hình 14.18b.
H c
Thiết lập công thức xác định Δσ’(f)và t2
Hình 14.18b cho thấy dưới tải trọng tăng thêm Δσ’(p)+Δσ’(f), độ cố
kết ở thời gian t2sau khi gia tải là
) ( )
f p
p S
S U
′ Δ
′ Δ
=
o p p
f
f U
σ
σ σ
) ( ) ( ;
Trang 23NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Độ cố kết theo PT (14.11) thực ra là độ cố
kết trung bình ở thời gian t2, như nêu trong
hình 14.18b Tuy nhiên, nếu dùng độ cố kết
trung bình để xác định t2có thể sẽ xảy ra một
số vấn đề về xây dựng Nguyên do là sau khi
dỡ bỏ tải trọng thêm và đặt tải trọng công
trình, một phần sét gần bề mặt thoát nước sẽ
tiếp tục nở ra và đất gần giữa lớp sẽ tiếp tục
lún (xem Hình 14.20) Trong một số trường
hợp, lún liên tục thực có thể xảy ra Một tiếp
cận an toàn có thể giải quyết vấn đề này; đó
là giả thiết rằng U trong công thức (14.11) là
độ cố kết tại giữa lớp Khi đó, từ PT (1.65),
thoát nước 2 phía và,
= Hc cho thoát nước
C
T v
v =
Trang 24NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Các bước xác định các thông số nén trước
Trong công tác nén trước ở hiện trường ta có thể gặp hai bài toán :
1 Biết giá trịΔ ’ (f) cần phải xác định t2 Trong trường hợp này, xác định
σ’o, Δ ’ (p) , và tìm U bằng cách dùng PT (14.11) hoặc Hình 14.19 Với giá trị U này, nhận được T vtừ Hình 14.21 Sau đó
v
v
C
H T t
2
2 Đối với một giá trị t2 xác định, phải tìm Δ ’ (f) Trong trường hợp này,
tính T v Sau đó dùng Hình 14.21 để xác định độ cố kết U tại giữa lớp Với giá trị U xác định được, dùng hình 14.19 để xác định giá trị cần tìm
a) Tổng độ lún cố kết sơ cấp của cầu khi không nén trước
b) Tải trọng phụ thêm Δ ’(f)cần để loại bỏ toàn bộ độ lún cố kết ban đầu bằng phương pháp nén trước trong thời gian 9 tháng
=
210
115 210 log 9 , 0 1
6 28 , 0 '
' ' log 1
) ( )
(
o
p o o
c c
= 0,1677 m = 167,7 mm
Trang 25NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Phần b
H
t C
Δ σ p kN/m2 và σ’o= 210 kN/m2 ,
o
p / ' '( ) σ σ Δ
Theo hình 14.19, với U = 47% và = 0,548,
) ( ) ( / '
115 '
'( )
=
= Δ
o
p
σ
σnên
B- Trường hợp cần có giếng cát:
Trường hợp này thuộc bài toán cố kết thấm 3 hướng, đối xứng trục, có công thức:
Ut= 1 - (1 - Utz) (1 - Utr) (4.24)
Nếu (tnt) tìm được theo trường hợp
trên quá lớn, không đạt yêu cầu; hoặc
Với thời gian yêu cầu tntmà độ lún
Stntquá nhỏ
cần xét làm giếng cát kết hợp
Trong đó:
Ut - độ cố kết chung của nền
Utz - độ cố kết của nền không có
giếng cát, tính theo lý thuyết cố kết
thấm một hướng, theo chiều đứng (z).
Utr- độ cố kết của nền có giếng cát
H 2r
Trang 26NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
t H
C
z=
Trong đó:
H - chiều dài giếng cát
R - khoảng cách giữa các tim giếng cát
r - bán kính giếng cát
n c
z
) ( k C
γ
ε01+
)r
R,
r
) ( k C
γ
ε01+
liệu quan trắc lún trong quá trình nén
trước như sau:
t2
S t2
) ( + t f t
t S
1 1 1
t t S
S t
−
=
α
1 1 2 2 1 2
t
t S t t t S
−
−
=
2 2 2
t t S
S t
Trang 27NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
V Dùng biện pháp thi công để xử lý nền
Tuỳ tình hình thực tế, có thể lợi dụng biện pháp thi công để xử lý nền rất cóhiệu quả Dưới đây nêu ra ba biện pháp nhằm cải thiện đất nền
1- Nén chặt đất bằng cách hạ thấp mực nước ngầm:
* Khi thi công các công trình ở những nơi có mực nước ngầm cao, có thể
dùng biện pháp hạ mực nước ngầm để làm khô hố móng Khi hạ thấp mực nước ngầm thì đất trong phạm vi thay đổi mực nước ngầm sẽ được nén chặt lại do áp lực nén tăng lên tương ứng (xem Hình)
- Trong điều kiện tự nhiên, khi mực nước ở cao trình 1 thì tại cao trình 2 đất chịu áp lực thẳng đứng là:
Biện pháp này có thể dùng để nén chặt đất loại sét, đất cát bồi tích
Như vậy p2lớn hơn p1 một lượng là:
Δp = p2- p1 = (γω-γđn ) h2 (4.34) Trong đó:
γω: trọng lượng riêng của đất ở trạng thái tự nhiên có độ ẩm ω
γđn: trọng lượng riêng đẩy nổi của đất ngập nước
Trang 28NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
2- khống chế tốc độ thi công để cải thiện điều kiện chịu lực của nền:
- Tốc độ thi công công trình về mặt cơ học là tốc độ tăng tải trọng lên nền đất Các đất sét yếu có hệ số rỗng và độ ẩm tự nhiên lớn thì sức chống cắt rất nhỏ, khi xây dựng trên các loại đất ấy có thể khống chế tốc độ thi công trong giai đoạn đầu để làm tăng sức chịu tải của nền
- Theo lý thuyết cố kết thì quá trình lèn chặt đất dính bão hoà nước
là quá trình ứng suất trung hoà (u t) giảm đi và ứng suất hiệu quả (σ't) tăng lên Mặt khác, theo lý thuyết Coulomb thì cường độ chống trượt của đất tỷ lệvới σ't:
τ = σ' t tgϕ+ c , với σ' t = σ- u t
Như vậy, tốc độ tăng tải càng chậm thì càng có thời gian để đạt trị
số ứng suất σ't lớn và sức chịu tải của nền tăng
* Để làm rõ, có thể lấy kết quả thí nghiệm sau đây:
55
- Hình (a) biểu thị tốc độ thi công (σ~ t)
- Hình (b) là quan hệ giữa độ rỗng của đất và áp lực (n ~ σ)
- Hình (c) là quan hệ giữa cường độ chống cắt của đất và áp lực (τ~ σ)
Theo lý thuyết cố kết, nếu tăng tải trọng đột ngột từ trị số áp lực 0 đến áp lực σc
(đường 1a) thì nước trong lỗ rỗng của đất chưa kịp thoát ra, nền đất chưa bị nén chặt, nên sự thay đổi độ rỗng và cường độ chống cắt được biểu thị bằng đường 1b và 1c Nếu tăng tải trọng đều trong suốt thời gian thi công (đường 2a) thì tính nén và cường độ chống trượt của đất được biểu thị tương ứng bằng đường 2b
và 2c Đối với đất sét yếu, lượng ngậm nước cao, nên tăng tải theo đường 3a: thời gian đầu thi công chậm để cho mức độ cố kết tăng lên tương ứng với độ
tăng áp lực Sau khi đạt đến trị sốσt, độ cố kết của đất nền đã khá cao, cường
độ chống cắt khá lớn thì bắt đầu tăng nhanh tốc độ thi công (đường 3b và 3c)
Trang 29NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
3- Thay đổi tiến độ thi công để cải thiện điều kiện biến dạng của nền:
-Một trong những nguyên nhân gây ra chênh lệch lún giữa các bộ phận của công trình là do nền đất không đồng nhất (theo mặt bằng) Đối với những công trình rộng thì nguyên nhân này thường là phổ biến Trong trường hợp này cần phải nghiên cứu lát cắt địa chất và lợi dụng quá trình thi công để xử
lý nền Về nguyên tắc, những bộ phận công trình nằm trên phần nền có tính nén lớn thì cần thi công sớm hơn Cần theo dõi sự tiến triển lún của các bộphận này để bắt đầu thi công những bộ phận tiếp giáp Phương pháp này được áp dụng rất có hiệu quả khi thi công đê, đập đất, đập đất đá hỗn hợp
57
-Trong thực tế đã có những đoạn giữa nền đập đất thuộc loại bùn có độ lún tính toán lớn còn ở hai đầu là nền tốt nên độ lún nhỏ thì người ta quyết định thay đổi trình tự thi công như sau: đắp đất đoạn giữa trước sau đó mới đắp hai đầu Sau khi thi công, bằng quan trắc thực tế người ta đã chứng minh biện pháp này có hiệu quả tốt
- Đối với công trình có móng cứng cần kết hợp với biện pháp làm khe lún
Vùng đất yếu Giai đoạn 1
Trang 30NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG 59
Kết thúc chương 4
Trang 31NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Nền Móng
Chương 5: Móng Cọc
§5.1 Khái niệm chung
I Cấu tạo móng cọc:
- Gồm 3 bộ phận: cọc, đài cọc, đất bao quanh cọc
9Cọc là bộ phận chính có tác dụng truyền tải trọng từ công trình lên đất ở đầu mũi và xung quanh cọc
9Đài cọc liên kết các cọc thành một khối và phân phối tải trọng công trình lên các cọc
9Đất xung quanh cọc được cọc lèn chặt tiếp thu một phần tải trọng và phân
bố đều hơn lên đất đầu mũi cọc
Trang 32NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
III Ưu điểm nổi bật của MC:
- Tiếp thu tải trọng lớn (cả tải trọng đứng và ngang), tiếp kiệm VL móng, giảm khối lượng đào đắp, tận dụng lớp đất nền cũ
I Phân loại cọc: theo 4 cơ sở
1 PL theo tác dụng làm việc giữa đất và cọc:
- Cọc chống: truyền tải trọng lên lớp đất đá có cường độ
lớn, vì thế lực ma sát ở mặt xung quanh cọc thực tế
không xuất hiện và khả năng chịu tải của cọc chỉ phụ
thuộc khả năng chịu tải của đất đầu mũi cọc
- Cọc treo (cọc ma sát): Đất bao quanh cọc là đất chịu
nén (đất yếu) và tải trọng được truyền lên nền nhờ
lực ma sát ở xung quanh cọc và cường độ của đất
đầu mũi cọc
2 PL theo vật liệu làm cọc:
- Cọc gỗ, c tre, c.bê tông, c.bê tông cốt thép, c.thép, c hỗn hợp
- Chọn vật liệu cọc phải căn cứ cụ thể vào
khả năng cung cấp vật liệu,
công nghệ chế tạo cọc,
điều kiện ĐCCT và ĐCTV.
Trang 33NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
Một số đặc điểm khái quát
5
a) Cọc thép
Cọc thép thường là cọc ống hay cọc thép cán tiết diện chữ H, chữ I.
- Các cọc ống được đóng xuống đất với đáy hở hay bịt kín
- Các cọc chữ H thường được dùng nhiều hơn vì chiều dày thân và cánh của chúng bằng nhau Với dầm mặt cắt chữI, chiều dày thân nhỏ hơn chiều dày cánh
Trong nhiều trường hợp,
những cọc ống sau khi đóng
xuống được lấp đầy bê tông
(a) cọc bê tông: thường được chế tạo tại hiện trường
xây dựng Dùng trong trường hợp tải trọng không lớn và
không có lực ngang tác dụng Thí dụ, cọc bê tông khoan
nhồi
(b) cọc bê tông cốt thép: thường được chế tạo tại các
nhà máy; có khả năng chịu uốn lớn Dùng trong trường
hợp tải trọng đứng và ngang lớn Có thể hạ cọc này vào
trong đất bằng các biện pháp cơ học (như hạ bằng búa
xung lực hoặc búa rung)
c) Cọc gỗ
Các cọc gỗ là những thân cây có các cành và vỏ được
đẽo gọt cẩn thận Chiều dài tối đa của hầu hết các cọc
gỗ là 10÷20 m Để có đủ điều kiện làm việc như một cọc,
cây gỗ nên thẳng, vững chắc, và không có bất kỳ khuyết
tật nào
b) Cọc bê tông, bê tông cốt thép
Được dùng tương đối phổ biến trong xây dựng
Trang 34NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Cọc gỗ không thể chịu được ứng suất đóng cọc lớn; do vậy, khả năng chịu tải của cọc nói chung bị hạn chế Ta có thể dùng mũi bịt bằng thép để không làm hư hại mũi cọc Đỉnh cọc gỗ cũng có thể bị hư hại trong quá trình đóng cọc Người ta bảo vệ đỉnh cọc bằng đai kim loại hay mũ
- Không nên ghép nối các cọc gỗ, đặc biệt
khi chúng phải chịu tải trọng kéo hay tải
trọng ngang Tuy nhiên, nếu cần thiết, có
quanh bão hòa
nước Không nên
để cọc gỗ nhô
lên khỏi mực
nước ngầm để
tránh mối mọt
Hình 11.5 Mối ghép nối của cọc
gỗ: (a) ống bao; (b) dùng đai kẹp kim loại và bu lông
7
Những đoạn cọc phần trên và phần dưới của cọc hỗn hợp được làm từ các vật liệu khác nhau Ví dụ, cọc hỗn hợp có thể được làm từ thép và bê tông hay gỗ và bê tông
- Các cọc thép-bê tông gồm có đoạn cọc phần dưới bằng thép và đoạn cọc phần trên bằng bê tông đổ tại chỗ Loại cọc này được dùng khi yêu cầu chiều dài cọc cho khả năng chịu tải cần thiết lớn hơn khả năng chịu tải của cọc đơn thuần bằng bê tông đổ tại chỗ
d) Cọc hỗn hợp
- Các cọc gỗ-bê tông thường bao
gồm đoạn cọc phần dưới bằng gỗ
nằm dưới mực nước không đổi và
đoạn cọc phần trên bằng bê tông
Trong mọi trường hợp, việc tạo mối
ghép hoàn chỉnh giữa hai vật liệu
khác nhau là khó khăn, do đó, cọc
hỗn hợp không được sử dụng rộng
rãi
Trang 35NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
a) Cọc đúc sẵn: Liên quan tới ba vấn đề: Chế
tạo cọc - Vận chuyển cọc - Đưa cọc vào trong
đất
- Cọc được gia cố bằng cách dùng cốt thép
thông thường, và có mặt cắt ngang hình
vuông hay hình tám cạnh (Xem Hình 11.3.)
Việc gia cố bằng cốt thép cho phép cọc chống
lại mômen uốn xuất hiện trong khi nâng và
vận chuyển cọc, tải trọng thẳng đứng và
mômen uốn gây ra bởi tải trọng ngang
- Cọc được đúc đạt chiều dài mong muốn và
được xử lý trước khi vận chuyển đến công
Một số đặc điểm khái quát về cọc bê tông như sau:
- Chiều dài thông thường: 10 m÷15 m
- Tải trọng thông thường: 300 kN÷3000 kN
¾ Cọc đúc sẵn cũng có thể được tạo ứng suất trước bằng cách dùng dây cáp bằng thép cường độ cao chịu ứng suất trước Cường độ giới hạn của những cáp này vào khoảng 1800 MN/m2 Trong quá trình đúc cọc, dây cáp được tạo ứng suất căng trước khoảng 900÷1300 MN/m2, và bê tông được đổ xung quanh dây cáp Sau khi bảo dưỡng bê tông, cắt đứt dây cáp tạo ra lực nén lên mặt cắt cọc
Một số đặc điểm chung về cọc đúc sẵn chịu ứng suất trước như sau:
- Chiều dài thông thường: 10 m÷45 m
- Chiều dài lớn nhất: 60 m
- Tải trọng tác dụng lớn nhất: 7500 kN÷8500 kN
¾ Phân loại cọc đúc sẵn theo phương pháp thi công hạ cọc :
Phần lớn các cọc được hạ bằng búa xung lực hoặc búa rung Trong các trường hợp đặc biệt, cọc cũng có thể được hạ bằng phương pháp xói nước hoặc khoan Các loại búa đóng cọc bao gồm (a) búa rơi, (b) búa hơi hay khínén tác động đơn, (c) búa hơi hay khí nén tác động kép và khác, (d) búa diesel
Trang 36NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Búa rơi (xem Hình 11.7a): được kéo lên bằng tời và rơi xuống từ độ cao H
đã biết Đây là loại búa đóng cọc cổ nhất Nhược điểm chính của loại búa rơi
là tốc độ các nhát đập chậm
- Búa hơi hay khí nén tác động đơn (Hình 11.7b): Bộ phận va đập, hay quả
tạ, được nâng lên bởi áp lực khí hay hơi và sau đó rơi xuống do trọng lượng của nó
Hình 11.7 Thiết bị
đóng cọc (a, b)
11
- Búa hơi hay khí nén tác động kép và so lệch (Hình 11.7c): Không khí
và hơi nước cùng được sử dụng để nâng quả búa lên và đẩy nó xuống, bằng cách ấy làm tăng vận tốc va đập của quả búa
Hình 11.7 Thiết bị đóng cọc (c, d)
- Búa diesel (xem Hình 11.7d): về cơ
bản gồm có quả búa, khối đe, và hệ
thống phun nhiên liệu Đầu tiên quả búa
được nâng lên và nhiên liệu được phun
vào gần đe Sau đó thả quả búa ra Khi
quả búa rơi xuống, nó làm nén hỗn hợp
nhiên liệu khí và đốt cháy hỗn hợp Tác
động này đẩy cọc đi xuống và nâng quả
búa lên Loại búa diesel làm việc tốt
trong các điều kiện đóng cọc khó khăn
Trong các loại đất mềm yếu, chuyển
dịch đi xuống của cọc là khá lớn, và
chuyển dịch đi lên của quả búa lại nhỏ
Sự chênh lệch này có thể không đủ để
đốt cháy hệ thống nhiên liệu khí, nên
quả búa có thể phải được nâng bằng
tay
Trang 37NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
- Máy hạ cọc chấn động (Hình 11.7e): Thiết bị này về cơ bản gồm có hai
khối nặng quay ngược chiều nhau Các thành phần lực ly tâm nằm ngang phát sinh do sự quay các khối nặng triệt tiêu lẫn nhau Kết quả là lực thẳng đứng động hình sin được sản sinh và dẫn cọc đi xuống
Hình 11.7 Thiết bị đóng cọc: (e) máy đóng cọc kiểu
rung động; (f) ảnh máy hạ cọc chấn động (Được phép của Michael W O'Neill, Đại học Houston)
13
- Xói nước là kỹ thuật đôi khi được dùng
trong đóng cọc khi cọc cần xuyên qua lớp
đất cứng mỏng (như cát và sỏi sạn) phủ
bên trên lớp đất yếu hơn Theo kỹ thuật
này, nước được xả ra ở mũi cọc qua một
ống đường kính 50-75 mm (2-3 in.) để rửa
và làm tơi cát, sỏi sạn
- Cọc xoắn:
Hình 11.8 Công tác đóng cọc ở hiện trường.
Trang 38NGUYỄN HỮU THÁI – NGÀNH ĐỊA KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH NỀN MÓNG
b) Cọc đúc tại chỗ:
được đúc bằng cách tạo một lỗ khoan
(bằng đóng ống thép hoặc nổ mìn)
trong đất, sau đó đặt cốt thép nếu
cần, rồi đổ đầy bê tông vào và đầm
chặt bê tông trong hố Có nhiều
loại cọc bê tông đổ tại chỗ khác
nhau hiện được sử dụng trong xây
dựng, và hầu hết đã được các nhà
sản xuất cấp bằng sáng chế Các
cọc này được phân thành hai loại
chính: (a) cọc đổ theo khuôn và (b)
cọc đổ không theo khuôn Cả hai
loại có thể có chân đế ở đáy
15
Cọc đổ theo khuôn : được tạo ra bằng cách đóng ống chống bằng thép vào
đất với sự trợ giúp của một trục lõi đặt bên trong ống Khi đạt tới độ sâu yêu cầu thì rút trục lõi lên và đổ đầy bê tông vào ống chống Hình 11.4a, 11.4b, 11.4c, và 11.4d chỉ ra một số ví dụ của cọc đổ theo khuôn không mở rộng đáy Hình 11.4e trình bày cọc đổ theo khuôn mở rộng đáy Phần mở rộng đáy códạng hình bầu bê tông được tạo ra bằng cách đóng búa lên bê tông tươi
Hình 11.4 Cọc bê tông đổ tại chỗ
• Một số đặc điểm chung
về cọc đổ tại chỗ theo
khuôn như sau:
-Chiều dài thông thường: