1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích kỹ thuật chứng khoán

40 474 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 864,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, kể từ khi ra đời đến nay, việc nắm bắt các kỹ thuật sử dụng trongphương pháp phân tích kỹ thuật luôn được các nhà đầu tư chuyên nghiệp đặc biệt quan tâm.Phân tích nhằm chỉ

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Trong đầu tư chứng khoán, phân tích kỹ thuật là một phương pháp được các nhà đầu tư coi trọng và sử dụng để giúp nhà đầu tư xác định thời điểm mua – bán và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý trong ngắn hạn

Trang 2

Chính vì vậy, kể từ khi ra đời đến nay, việc nắm bắt các kỹ thuật sử dụng trongphương pháp phân tích kỹ thuật luôn được các nhà đầu tư chuyên nghiệp đặc biệt quan tâm.

Phân tích nhằm chỉ ra tình trạng “sức khỏe” hiện tại của thị trường hay của mỗi chứng khoán để dự báo biến động của giá bằng cách dựa trên những hình mẫu

kỹ thuật đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện Điều này dựa trên giả thuyết là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” để xác định xu hướng của giá trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể

Các công cụ cơ bản được sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật là các loạibiểu đồ, đường xu thế, kênh xu thế, giải giao dịch - mức hỗ trợ và kháng cự, các mô hình

PHẦN II: NỘI DUNGĐịnh nghĩa phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật (technical analysis) là phương pháp phân tích dựa vào các mẫu hình đồ thị và các chỉ số kỹ thuật trong quá khứ để xác định xu hướng giá,

Trang 3

những điểm giá đảo chiều, và những “mốc giá tâm lý” quan trọng của thị trường, từ

đó đưa ra những chiến lược giao dịch phù hợp

Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại

để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhận định

xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương quan lựclượng giữa sự tăng và sự giảm giá Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả, khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ

Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tintrong quá khứ - phân tích kỹ thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cảcủa cổ phiếu Những kết luận thu được từ các biện pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra Khoảng thời gian chênhlệch đó gọi là độ trễ.[3, trang 256]

Vai trò của phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và dự đoán

Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ Đối với nhà đầu tưviệc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời

Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật

để xác nhận về xu thế của giá Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn.Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích

kỹ thuật để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt hơn Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử

Trang 4

dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ Tuy nhiên nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc theo đám đông được hạn chế rất nhiều.

6.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả

kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đến nó

Cơ sở cho giả thuyết về thị trường hiệu quả

+ Giả thuyết tiền đề cũng rất quan trọng của một thị trường hiệu quả rằng nó

đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường với mục tiêu tối

đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau

+ Giả thuyết thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố

trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau

+ Giả thuyết thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách

điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào Có khi sự điều chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau

6.1.2 Phân loại

6.1.2.1 Hình thái yếu (Weak form)

Trong hình thái yếu giả định rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy

đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các chuyển dịch liên tục của

Trang 5

bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của các chuyên gia ngoại hối hay của các nhóm độc quyền khác Vì nó giả định rằng mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau).

6.1.2.2 Hình thái trung bình (Semi strong form)

Hình thái trung bình cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai Hình thái trung bình bao trùm lên hình thái yếu vì tất cả các thông tin trên thị trường đều phải được xem xét công khai dựa trên giả thuyết kém hiệu quả như là giá cổ phiếu, tỷ suất thu nhập, và khối lượng giao dịch

6.1.2.3 Hình thái mạnh (Strong form)

Hình thái mạnh nói rằng giá chứng khoán là sự phản ánh tất cả các thông tin từcông khai đến nội bộ Nghĩa là sẽ không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cậnđược các thông tin liên quan đến việc định giá Do đó, sẽ không ai thu được lợi nhuận vượt mức Hình thái mạnh là sự tổng hợp của cả hình thái yếu và hình thái trung bình Hơn thế, hình thái mạnh đưa ra giả định về thị trường hiệu quả, trong đó giá chứng khoán lên xuống mạnh theo các thông báo công khai, để nêu lên giả thiết

về thị trường hoàn hảo khi tất cả các thông tin đều miễn phí và sẵn có đối với mọi người ở cùng một thời điểm

Trang 6

0 0

Trong đó: I L là chỉ số giá bình quân Laspeyres

Q0 là khối lượng chứng khoán (quyền số) thời kỳ gốc+ Phương pháp Paascher

Dựa trên lượng chứng khoán ở kỳ hiện hành

Trang 7

6.2.2.3 Chỉ số chứng khoán Việt Nam

Chỉ số chứng khoán của Việt Nam hiện nay là chỉ số giá bình quân của tất cả các loại CP vì CP được cấp phép mua bán tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán

trường xanh An Phát AAA 20.000 5.700 114.000.000Ngân hàng thương mại

trường xanh An Phát AAA 21.100 5.700 120.270.000Ngân hàng thương mại

Trang 8

Tổng 262.620.000

(Nguồn: http://www.hastc.org.vn)

262.620.000

100 106, 216 247.250.000

trường xanh An Phát AAA 21.500 5.700 122.550.000Ngân hàng thương mại

266.200.000

279.780.000

100 107, 664 259.863.279,5

Trang 9

tôn trọng Rất nhiều người, dù ít hay nhiều có sử dụng lý thuyết này cho việc đề ra cho riêng mình một quan điểm đầu tư đều không nhận ra một điều là bản chất của

Lý thuyết Dow là hoàn toàn mang “tính kỹ thuật”

Cơ sở để xây dựng cũng như đối tượng nghiên cứu của lý thuyết chính là những biến động của bản thân thị trường (thể hiện trong chỉ số trung bình của thị trường) và không hề dựa trên cùng cơ sở của Phân tích cơ bản là các thống kê hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

6.3.2 Phân loại

6.3.2.1 Xu thế cấp một (Primary Trend)

Xu thế cấp 1 là những chuyển động lớn của giá, bao hàm cả thị trường, thườngkéo dài hơn 1 năm và có thể là trong vài năm Nếu như mỗi đợt tăng giá liên tiếp đều đạt đến mức cao hơn mức trước đó và mỗi điều chỉnh cấp 2 đều dừng lại ở mức đáy cao hơn mức đáy của lần điều chỉnh trước thì xu thế cấp 1 lúc này là tăng giá - thị trường lúc này là thị trường con bò tót

Còn ngược lại nếu mỗi biến động giảm đều làm cho giá xuống những mức thấp hơn còn mỗi điều chỉnh đều không đủ mạnh để làm cho giá tăng lên đến mức đỉnh của những đợt tăng giá trước đó thì xu thế cấp 1 của thị trường lúc này là giảm giá, thị trường được gọi là thị trường con gấu

6.3.2.2 Xu thế cấp hai (Secondary Reaction)

Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn quá trình vận động của giá theo xu thế cấp 1 Chúng là những đợt suy giảm tạm thời (trung gian) hay còn gọi là những điều chỉnh xuất hiện ở các thị trường con bò tót; hoặc những đợt tăng giá hay còn gọi là hồi phục xuất hiện ở các thị trường con gấu

Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng Chúng sẽ kéo ngược lại khoản 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại thị trường) của giá theo xu thế cấp 1

Trang 10

Thông thường thì một biến động trung gian dù là một xu thế cấp 2 hay là một phần của xu thế cấp 1 xen giữa hai xu thế cấp 2 liên tiếp, đều được tạo thành từ một dãy gồm 3 hoặc nhiều hơn những dao động nhỏ khác nhau Xu thế cấp ba là dạng duy nhất trong 3 loại xu thế có thể bị “lôi kéo” (bị tác động) Để tác động vào xu thếcấp 1 và 2 thì cần những giao dịch với khối lượng rất lớn và điều này hầu như là không thể.

6.4 Một số dạng thức đồ thị

6.4.1 Các loại biểu đồ

Hiện nay trên thị trường chứng khoán các nhà phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candllestick chart)

- Biểu đồ dạng đường (Line chart)

Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên thị trường được

sử dụng trên thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và

xã hội … và nó cũng là loại biểu đồ được dùng trong thời gian lâu dài nhất nhưng hiện nay trên thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển, diễn biến của thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng, nhất là trên các thị trường chứng khoán hiện đại Hiện nay nó chủ yếuđược sử dụng trên các thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên

Trang 11

Hình 1:Biểu đồ dạng đường (Line chart)

Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các thị trường chứng khoán hiện đại thường diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích

- Biểu đồ dạng then chắn (bar chart)

Trang 12

Trên các thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các nhà phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán.

Hình 2: Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn

- Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

Còn gọi là dạng nến, là đồ thị hình thanh, nhưng được xây dựng theo cách của người Nhật và ngày càng trở nên phổ biến hơn Đồ thị hình nến cũng biểu hiện 4 giátrị là giá đầu, giá cuối, giá cao nhất và thấp nhất của mỗi khoảng thời gian mà nó đạidiện Đồ thị hình nến có một thanh mảnh gọi là tim nến Đầu trên của tim nến thể hiện giá cao nhất, đầu dưới của tim nến thể hiện giá thấp nhất Khoảng rộng hơn củanến là thân nến, thân nến biểu diễn khoảng cách giữa giá đầu và giá cuối mỗi

Trang 13

khoảng thời gian Nếu giá đầu nhỏ hơn giá cuối thì thân nến có màu trắng, còn ngược lại thì thân nến có màu đen

Hình 3: Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (bar chart), nó được người Nhật Bản khám phá và áp dụng trên thị trường chứng khoán của họ đầu tiên Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các thị trường chứng khoánhiện đại trên toàn thế giới Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.[3, trang 109]

6.4.2 Đường xu thế

Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường

xu thế Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần xuống Đường

xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm Qui trình vẽ một đường xu thế khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về

sự xuất hiện một xu thế giá Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai

Trang 14

điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả ba đáy(một cách tương đối) Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát, như thế là đạt yêu cầu Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao.

Hình 4:Đường xu thếKhi một đường xu thế đã đươc xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá Với xu thế giá tăng, sau mỗi tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế nhưng sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thế thị trường vẫn đang ổn định Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của giá Tương

tự với thị trường đang có xu thế giảm giá thì xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá Như thế đường xu thế chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ

sở để xác định mức giá mua và bán tối thiểu hợp lý

Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu, có thể nói là dấu hiệu sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu thế thị trường

Điểm đột phá:

Trang 15

Là tại đó giá chứng khoán vượt qua mức cận trên tức là cao điểm trước đó, hoặc xuống dưới thấp hơn mức cận dưới là điểm đáy trước đó Điểm đột phá được coi là dấu hiệu xu thế tiếp diễn.

Hình 5: Điểm đột phá

6.4.3 Dạng thức giao dịch

Dạng thức giao dịch được hình thành bằng cách vẽ một đường nối các cao điểm và một đường nối các đáy của giá chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định Hai đường vẽ song song này có xu thế dốc lên hay dốc xuống, cho biết dạng thức dài hạn của chứng khoán

Hình 6 :Dạng thức giao dịch

6.4.4 Cận dưới (Support level)

Cận dưới là mức giá mà tại đó xu thế giảm giá của chứng khoán dừng lại vì cầu lớn hơn cung Các nhà kĩ thuật xác định cận dưới là mức thấp nhất mà giá chứngkhoán đã đạt tới tại một thời điểm nào đó của quá khứ Khi giá chứng khoán giảm

Trang 16

dần xuống cận dưới, nhà phân tích kĩ thuật cho rằng nó đang “thử cận dưới”, nghĩa

là giá chứng khoán kì vọng sẽ tăng trở lại khi đạt tới cận dưới Nếu giá chứng khoántiếp tục vượt qua cận dưới, triển vọng của chứng khoán đó sẽ bị coi là rất tiêu cực.Thông thường cận dưới sẽ hình thành sau khi cổ phiếu đã trãi qua lên giá đáng

kể và có dấu hiệu bán ra để thu lợi Các nhà kĩ thuật cho rằng tại một mức giá nào

đó, những người đầu tư chưa mua vào trong đợt lên giá đầu tiên và chờ đợi một đợt đảo chiều sẽ bắt đầu mua cổ phiếu Khi giá đạt tới cận dưới này, nhu cầu đối với cổ phiếu sẽ tăng mạnh, kéo theo sự tăng giá và khối lượng giao dịch

Cận dưới còn gọi là mức hỗ trợ Mức hỗ trợ là mức giá mà ở đó người mua giành quyền kiểm soát và ngăn không cho giá xuống sâu hơn, có nghĩa là tại mức giá đó người mua cảm thấy đầu tư vào cổ phiếu đó có lợi, người bán không muốn bán cổ phiếu đó với giá thấp hơn

6.4.5 Cận trên (Resistance level)

Cận trên còn gọi là mức kháng cự Mức kháng cự là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển động ngược lại đi xuống Theo lí thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định Cận dưới thì thểhiện sự tập trung cầu còn cận trên thể hiện sự tập trung của cung

Ngược với cận dưới, cận trên là mức giá mà tại đó người phân tích kĩ thuật chorằng người đầu tư sẽ liên tục bán ra Họ cho rằng khi giá chứng khoán vượt ra cận trên là dấu hiệu rất tích cực vì nó báo hiệu giá chứng khoán sẽ tiếp tục đạt tới một cao điểm mới

Cận trên của một cổ phiếu đang trong xu thế tăng giá, đó chính là mức giá mà tại đó phần lớn người đầu tư đều cho là thời điểm thích hợp để bán ra để thu lợi.Qua nhiều diễn biến giao dịch, các nhà phân tích kĩ thuật nhận thấy rằng cận trên luôn tỏ ra chắc chắn hơn cận dưới Điều này được thực tế lý giải rằng là tâm lí người đầu tư muốn rút ra khỏi thị trường luôn mạnh hơn tâm lí muốn tham gia vào thị trường, nghĩa là nỗi lo sợ bị thua lỗ luôn lấn lướt mong muốn kiếm lợi

Nhìn chung, trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ không vượt quá cận trên và không xuống dưới cận dưới Nhưng với tư cách một nhàđầu tư sẽ quan tâm đến việc xác định yếu tố nào làm xuất hiện cận trên và cận dưới

ở một mức giá nhất định Các chuyên gia còn tập trung nghiên cứu thời điểm giá lên

Trang 17

Hình 7: Cận trên và cận dưới

 Mối liên hệ giữa cận trên và cận dưới

 Mức hỗ trợ là mức giá tại đó có đủ một khối lượng cầu mua cổ phiếu để ngăn chặn xu hướng giảm giá, hoặc có thể tăng giá Mức kháng cự là mức giá tại đó

có đủ chứng khoán cung ra để ngăn chặn xu hướng tăng giá Vậy vùng hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu và vùng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung

 Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoản kháng cự thể hiện sự tập trung của cung

 Cơ sở của những dự đoán từ lý thuyết về hỗ trợ và kháng cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn Điều đáng chú ý là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và

Trang 18

hoàn toàn mang tính tự nhiên Những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ.

Hình 8: Mối liên hệ giữa cận trên và cận dưới

6.4.6 Đầu và vai

6.4.6.1 Dạng đỉnh đầu và vai

Đỉnh đầu và vai được mô tả trong hình dưới đây bao gồm giai đoạn:

Giai đoạn tăng giá mạnh mẽ, khối lượng giao dịch lớn, tiếp đó là giai đoạn phản ứng ngắn ngủi (giảm giá) với khối lượng giao dịch thấp hơn Cả giai đoạn này gọi là vai trái Đỉnh của vai trái là điểm S

Tiếp đó là giai đoạn tăng giá thứ hai, với khối lượng giao dịch tăng lên đạt đỉnh H cao hơn đỉnh của vai trái, tiếp đó là đợt giảm giá đạt ở mức gần với đáy của vai trái, nhưng phải thấp hơn đỉnh của vai trái Và đã hình thành nên đỉnh thứ hai được gọi là đỉnh đầu

Đỉnh thứ ba – vai phải – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng một lần nữa nhưng không cao bằng đỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của

nó Đỉnh của hai “vai” chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu”

Nếu giá tiếp tục giảm ở giai đoạn ba sẽ cắt đường vai Đây là giai đoạn xác nhận hoặc đảo chiều

Mỗi đỉnh đều là đặc trưng quan trọng của định hình đỉnh đầu và vai Thiếu bất

kì một trong các nhân tố trên đều không thể gọi là đỉnh đầu và vai Đặc điểm của đỉnh đầu và vai là khối lượng giao dịch của giai đoạn sau phải thấp hơn giai đoạn

Trang 19

Hình 9: Dạng đỉnh đầu và vai

6.4.6.2 Dạng đáy đầu và vai

Đối xứng với dạng đỉnh đầu và vai là định dạng đáy đầu và vai

Một giai đoạn giảm giá, với khối lượng tăng lên, sau đó là giá khôi phục lại trong thời gian ngắn ngủi với khối lượng giao dịch thấp hơn trước cả giai đoạn này được gọi là vai trái

Một giai đoạn giá giảm đạt đáy thấp hơn đáy vai trái khối lượng giao dịch tănglên nhưng thấp hơn ở vai trái với khối lượng giao dịch tăng lên đáng kể Cả giai đoạn này được gọi là đầu

Giai đoạn ba giảm giá với khối lượng giao dịch thấp hơn nhưng giá không thấp hơn đáy của đầu, tiếp đó giá khôi phục lại Cả giai đoạn này được gọi là vai phải Giai đoạn này giá tiếp tục tăng với khối lượng giao dịch đáng kể Đấy là điểm xác nhận hoặc đảo chiều

Sự khác nhau giữa đỉnh đầu và vai và đáy đầu và vai là ở mức độ khối lượng giao dịch Các hoạt động giao dịch ở đáy đầu và vai có xu thế tăng lên tính từ giai đoạn đầu Cần chú ý có thể tin vào dấu hiệu đảo chiều đối với đỉnh đầu và vai, nhưng phải thận trọng đối với trường hợp đáy đầu và vai trừ khi xác nhận khối lượng giao dịch sau khi cắt đường vai Vì vậy phải chờ đợi mới có thể kết luận dứt

Trang 20

khoát về đảo chiều Một điểm nữa là đáy đầu và vai thường được hình thành trong thời gian dài và diễn biến giá bằng phẳng hơn

Hình 10: Dạng đáy đầu và vaiSau khi quan sát đỉnh đầu và hai vai, các nhà phân tích kĩ thuật có thể chỉ dẫn cho khách hàng của mình hoặc bán các cổ phiếu mình đang nắm giữ để tránh những thua lỗ lớn hoặc kiếm lợi bằng cách bán khống các cổ phiếu.[3, trang 124]

6.4.7 Đáy kép (Double Bottom)

Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứ hai)

Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá,

nó mang tính đảo chiều

H

Ngày đăng: 22/12/2014, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả giao dịch ngày 3/5/2011 của sở giao dich chứng khoán  Hà Nội. - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Bảng 2 Kết quả giao dịch ngày 3/5/2011 của sở giao dich chứng khoán Hà Nội (Trang 7)
Bảng 1: Kết quả giao dịch đầu tiên của sở giao dich chứng khoán Hà Nội - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Bảng 1 Kết quả giao dịch đầu tiên của sở giao dich chứng khoán Hà Nội (Trang 7)
Bảng 3: Kết quả giao dịch ngày 5/5/2011 của sở giao dich chứng khoán  Hà Nội - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Bảng 3 Kết quả giao dịch ngày 5/5/2011 của sở giao dich chứng khoán Hà Nội (Trang 8)
Hình 1:Biểu đồ dạng đường (Line chart) - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 1 Biểu đồ dạng đường (Line chart) (Trang 11)
Hình 3: Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart) - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 3 Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart) (Trang 13)
Hình 4:Đường xu thế - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 4 Đường xu thế (Trang 14)
Hình 6 :Dạng thức giao dịch - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 6 Dạng thức giao dịch (Trang 15)
Hình 7: Cận trên và cận dưới - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 7 Cận trên và cận dưới (Trang 17)
Hình 8: Mối liên hệ giữa cận trên và cận dưới - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 8 Mối liên hệ giữa cận trên và cận dưới (Trang 18)
Hình 9: Dạng đỉnh đầu và vai - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 9 Dạng đỉnh đầu và vai (Trang 19)
Hình 10: Dạng đáy đầu và vai - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 10 Dạng đáy đầu và vai (Trang 20)
Hình 11: Đáy kép - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 11 Đáy kép (Trang 21)
Hình 12: Đỉnh kép - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 12 Đỉnh kép (Trang 21)
Hình 13: Đồ thị lá cờ - phân tích kỹ thuật chứng khoán
Hình 13 Đồ thị lá cờ (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w