1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu

67 479 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên để tồn tại và phát triển, đồng thời cũng vứt thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải có nguy cơ huỷ hoại môi trường. Nhìn chung tình hình phát sinh rác thải gây ô nhiễm đều xảy ra hầu hết ở tất cả các ngành, cơ sở, hộ gia đình sản xuất khác nhau. Trong số đó hoạt động sản xuất cacao cũng là một trong những hoạt động phát sinh nguồn thải góp phần vào sự ô nhiễm môi trường. Vỏ cacao chiếm khoảng 50% trọng lượng quả cacao. Tại các vùng nhiệt đới, đây là nguồn phế thải quan trọng. Trong khi các nước trên thế giới đã có những công trình xử lý vỏ cacao để sản xuất thức ăn cho gia súc gia cầm, ứng dụng lên men tạo phân bón… thì ở nước ta, rất ít công trình nghiên cứu đến việc ứng dụng của phế phẩm này.2 Vỏ cacao chậm phân hủy do có hai thành lignin và cellulose. Các phế phẩm nông nghiệp khác có thời gian phân hủy nhanh hơn vì ít hai thành phần chất này hơn. Có rất nhiều biện pháp xử lý rác thải hiệu quả và không gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng rác thành các sản phẩm có giá trị kinh tế. Trong đó biện pháp được ưu tiên hàng đầu hiện nay để xử lý chất thải là sử dụng biện pháp phân hủy sinh học, có hai phương pháp phân hủy sinh học chất thải hữu cơ là chế biến compost hiếu khí và phân hủy kị khí, trong đó chế biến compost hiếu khí là ít tốn kém, sản phẩm của quá trình là compost có thể sử dụng làm phân bón. Quá trình ủ compost giúp chuyển hóa các dạng hợp chất hữu cơ khó phân hủy như: hydrocacbon, cellulose, lignin… tạo thành các hợp chất đơn giản giàu protein, khoáng và vitamin… có lợi cho con người và môi trường. Bên cạnh đó nhiệt độ trong hệ thống tương đối cao có thể cho phép loại được các mầm bệnh do đó quá trình ủ compost được đánh giá là ít ảnh hưởng đến môi trường và nhất là phù hợp với các quy luật tự nhiên, có thể tái sử dụng làm phân bón cho các loại cây nông nghiệp.21

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đồ án này tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám hiệu nhà Trường, PGS TS Nguyễn Văn Thông Trưởng Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm đã quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài

- ThS Trần Thị Duyên, KS Nguyễn Văn Tới đã nhiệt tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

- Thầy Huỳnh Minh Nhựt, cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh - Hóa Sinh, đã tạo điều kiện tốt nhất về trang thiết bị thí nghiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài

- Các thầy, cô Khoa Công nghệ Thực phẩm đã tận tình đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thiện đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè tôi đã luôn động viên, ủng hộ tôi vượt qua khó khăn trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng tất cả những kết quả nghiên cứu được nêu trong đồ án này là

do tôi thực hiện, các ý tưởng tham khảo và những kết quả trích dẫn từ các công trình nghiên cứu khác đều được nêu rõ trong đồ án

Vũng tàu, tháng 7 năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

C ƢƠN MỞ Đ 1

1.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2 Nội dung nghiên cứu 2

C ƢƠN N Q AN 3

2.1 t u về a ao 3

2.1.1 Nguồn gốc cây ca cao 3

2.1.2 Đặc điểm cây ca cao 4

2.1.3 Thành phần hóa học của vỏ trái ca cao 5

2.2 t u về compost 5

2.3 Các phản ứng sinh hóa xảy ra trong quá trình ủ compost 5

2.3.1.Phản ứng sinh hóa 5

2.3.2.Phản ứng sinh học 6

2.4 Các yếu tố ản ƣởng đến quá trình ủ compost 7

2.4.1.Các yếu tố vật lý 7

2.4.2.Các yếu tố hóa sinh 10

2.5 Lợi ích và hạn chế của quá trình ủ compost 15

2.5.1.Lợi ích 15

2.5.2.Hạn chế 16

2.6 Một số p ƣơng p áp ủ compost trên thế gi i 16

2.6.1.Phương pháp ủ theo luống dài và thổi khí thụ động có xáo trộn 16

2.6.2.Phương pháp ủ theo luống dài hoặc đống với thổi khí cưỡng bức 17

C ƢƠN 3: VẬT LIỆ VÀ P ƢƠN P ÁP N IÊN CỨU 19

3.1 P ƣơng t n nghiên cứu 19

3.1.1.Thời gian và địa điểm 19

3.1.2.Nguyên vật liệu 19

3.1.3.Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu 19

3.2 P ƣơng p áp ng ên ứu 20

3.2.1.Tuyển chọn chế phẩm sinh học có hoạt tính enzyme cellulase cao nhất 20

3.2.2.Thiết kế máy nghiền vỏ ca cao 21

Trang 4

3.2.3.Xây dựng quy trình ủ và khảo sát sự biến đổi của các nhân tố chính trong quá

trình ủ 22

3.3 P ƣơng p áp t ống kê và xử lý số li u 26

C ƢƠN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Kết quả tuyển chọn chế phẩm sinh học có hoạt tính enzyme cellulase cao nhất 27 4.1.1 Kết quả phương pháp đục lỗ thạch 27

4.1.2 Kết quả phương pháp đo quang 31

4.1.3 Kết quả thiết kế máy nghiền vỏ ca cao và thân cây đậu 36

4.2 Kết quả phân tích các chỉ t êu đầu vào 37

4 ến t ên n t độ 38

4 4 ến t ên độ ẩm 39

4 ến t ên p 40

4 ến t ên m lƣợng ơ t 42

4 ến t ên m lƣợng n tơ 43

4 ến t ên m lƣợng a on 45

4 ến t ên tỷ l C N 46

4 0 Đặc tính sản phẩm 49

C ƢƠN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Kiến nghị 50

C ƢƠN ÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Cách bố trí thí nghiệm tuyển chọn chế phẩm 21

Hình 2a Hình chiếu cạnh 22

Hình 2b Hình chiếu đứng 22

Hình 3 Bố trí thí nghiệm quy trình ủ phân 24

Hình 4 Đường kính vòng phân giải trên môi trường thạch 30

Hình 5 máy nghiền vỏ ca cao và thân đậu 36

Hình 6 Sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ 38

Hình 7 Sự thay đổi độ ẩm trong quá trình ủ 40

Hình 8 Sự thay đổi pH trong quá trình ủ 41

Hình 9 Sự biến đổi hàm lượng xơ thô trong quá trình ủ 43

Hình 10 Sự thay đổi hàm lượng nitơ 44

Hình 11 Sự thay đổi hàm lượng cacbon trong quá trình ủ 46

Hình 12 Biểu đồ sự thay đổi tỷ lệ C/N trong quá trình ủ 47

Hình 13 Biểu đồ đường glucose chuẩn 56

DAN MỤC ẢN Bảng 1 Khoảng nhiệt độ của các nhóm vi sinh vật 9

Bảng 2 Tỷ lệ C/N của một số chất thải 11

Bảng 3 Các thông số quan trọng trong quá trình làm phân hữu cơ[13] 14

Bảng 4 Thành phần nguyên liệu ủ phân 23

Bảng 5 Đường kính vòng phân giải điều kiện hiếu khí 27

Bảng 6 Đường kính vòng phân giải điều kiện kỵ khí 28

Bảng 7 Đường kính vòng phân giải điều kiện kỵ khí và hiếu khí 29

Bảng 8 Kết quả đo quang sau 48h ở điều kiện hiếu khí 31

Bảng 9 Kết quả đo quang sau 72h ở điều kiện hiếu khí 31

Trang 6

Bảng 10 Kết quả đo quang sau 48h ở điều kiện hiếu khí 32

Bảng 11 Kết quả đo quang sau 48h ở điều kiện kỵ khí 33

Bảng 12 Kết quả đo quang sau 72h ở điều kiện kỵ khí 33

Bảng 13 Kết quả đo quang sau 96h ở điều kiện kỵ khí 34

Bảng 14 Kết quả đo quang sau 48h ở điều kiện kỵ khí và hiếu khí 34

Bảng 15 Kết quả đo quang sau 72h ở điều kiện kỵ khí và hiếu khí 35

Bảng 16 Kết quả đo quang sau 48h ở điều kiện kỵ khí và hiếu khí 35

Bảng 17 Chỉ tiêu đầu vào của nguyên liệu 37

Bảng 18 Sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ 38

Bảng 19 Sự thay đổi độ ẩm trong quá trình ủ 39

Bảng 20 Sự thay đổi pH trong quá trình ủ 41

Bảng 21 Sự thay đổi hàm lượng xơ thô trong quá trình ủ 42

Bảng 22 Sự thay đổi hàm lượng nitơ 43

Bảng 23 Sự thay đổi hàm lượng Cacbon 45

Bảng 24 Sự thay đổi tỷ lệ C/N trong quá trình ủ 46

Bảng 25 Đặc tính sản phẩm 49

Trang 7

C ƢƠN MỞ Đ

Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên để tồn tại và phát triển, đồng thời cũng vứt thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải có nguy cơ huỷ hoại môi trường

Nhìn chung tình hình phát sinh rác thải gây ô nhiễm đều xảy ra hầu hết ở tất cả các ngành, cơ sở, hộ gia đình sản xuất khác nhau Trong số đó hoạt động sản xuất cacao cũng là một trong những hoạt động phát sinh nguồn thải góp phần vào sự ô nhiễm môi trường

Vỏ cacao chiếm khoảng 50% trọng lượng quả cacao Tại các vùng nhiệt đới, đây

là nguồn phế thải quan trọng Trong khi các nước trên thế giới đã có những công trình xử lý vỏ cacao để sản xuất thức ăn cho gia súc gia cầm, ứng dụng lên men tạo phân bón… thì ở nước ta, rất ít công trình nghiên cứu đến việc ứng dụng của phế phẩm này.[2]

Vỏ cacao chậm phân hủy do có hai thành lignin và cellulose Các phế phẩm nông nghiệp khác có thời gian phân hủy nhanh hơn vì ít hai thành phần chất này hơn

Có rất nhiều biện pháp xử lý rác thải hiệu quả và không gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng rác thành các sản phẩm có giá trị kinh tế Trong đó biện pháp được ưu tiên hàng đầu hiện nay để xử lý chất thải là sử dụng biện pháp phân hủy sinh học,

có hai phương pháp phân hủy sinh học chất thải hữu cơ là chế biến compost hiếu khí và phân hủy kị khí, trong đó chế biến compost hiếu khí là ít tốn kém, sản phẩm của quá trình là compost có thể sử dụng làm phân bón Quá trình ủ compost giúp chuyển hóa các dạng hợp chất hữu cơ khó phân hủy như: hydrocacbon, cellulose, lignin… tạo thành các hợp chất đơn giản giàu protein, khoáng và vitamin… có lợi cho con người và môi trường Bên cạnh đó nhiệt độ trong hệ thống tương đối cao có thể cho phép loại được các mầm bệnh do đó quá trình ủ compost được đánh giá là ít ảnh hưởng đến môi trường và nhất là phù hợp với các quy luật tự nhiên, có thể tái

sử dụng làm phân bón cho các loại cây nông nghiệp.[21]

Trang 8

Để tăng giá trị sử dụng của trái cacao; giúp người sản xuất giảm chi phí phân bón cho vườn cacao và vườn cây trồng khác; giảm chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do

lượng lớn vỏ cacao tạo ra trong quá trình sơ chế Chúng tôi thực hiện đề tài: “Hoàn thiện quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái cacao và thân cây họ đậu”

1.1 Mục tiêu của đề tài

- Tuyển chọn được chế phẩm sinh học có khả năng phân giải cellulose nhanh nhất;

- Thiết kế máy nghiền vỏ ca cao;

- Kiểm soát và điều chỉnh các yếu tố trong quá trình ủ;

- Sản xuất phân bón hữu cơ từ vỏ cacao và thân cây họ đậu, và chuyển giao cho người dân sản xuất;

- Kiểm tra, đánh giá chất lượng phân thành phẩm

1.2 Nội dung nghiên cứu

- Thiết kế thiết bị xử lí thô vỏ cacao và thân cây đậu;

- Tuyển chọn chế phẩm có khả năng phân hủy cellulose nhanh nhất;

- Phân tích các chỉ tiêu đầu vào của vỏ ca cao như: cacbon, cellulose thô, nitơ, nhiệt độ, độ ẩm;

- Xác định công thức phối trộn của các thành phần cho đống ủ

- So sánh tốc độ hoai mục và sự biến đổi của các yếu tố trong quá trình ủ ở 2 nghiệm thức:

 A1 – Nghiệm thức 1: sử dụng chế phẩm Gem-P và Gem-K;

 A2 – Nghiệm thức 2: sử dụng chế phẩm Compost Maker của Viện Thổ

Nhưỡng Nông Hóa Việt Nam do Ths Nguyễn Thị Thu Hà cung cấp

- Theo dõi sự biến thiên trong quá trình ủ các chỉ tiêu: nhiệt độ, độ ẩm, pH, chất hữu cơ, hàm lượng cacbon, hàm lượng nitơ

Trang 9

C ƢƠN N Q AN

2.1 t u về a ao

2.1.1 Nguồn gốc cây ca cao[4]

Nguồn gốc của cây ca cao ở lưu vực sông amazon, Nam Mỹ Từ đó cây ca cao phát triển sang các nước khác ở Trung và Nam Mỹ với hai loại chính là Criollo và Forastero Criollo có dạng hạt tròn, có hương vị nhẹ nhưng tương đối dễ nhiễm bệnh Forastero có dạng cây cao, khỏe, hạt to hơn Criollo nhưng hương vị nhạt hơn Hạt Forastero dạng dẹp, lá mầm bên trong màu tím, chứa nhiều loại chất béo hơn Criollo

Do vậy, hầu hết các vùng trồng ca cao trên thế giới hiện nay đều trồng dạng Forastero Thổ dân Nam Mỹ dùng ca cao làm đồ uống Hạt cac cao được rang lên, nghiền nhỏ, trộn thêm bột ngô, vanilla và đôi khi cả ớt Ngày nay, ở một số nước như Colombia, Philippin, dạng đồ uống đặc sệt như vậy còn tồn tại, mặc dù có thay đổi chút ít như thêm đường, vanilla hoặc tinh dầu quế Ở Nicaragua, hạt ca cao có lúc được dùng như một thứ tiền tệ trong trao đổi mua bán Ca cao được sử dụng rộng rãi từ thế kỷ thứ 6 ở các bộ tộc ở Maya và đến thế kỷ thứ 16 được lưu hành rộng tãi ở Trung Mỹ Từ thế kỷ 16, ca cao bắt đầu phát triển rộng ra các nước khác trên thế giới, trước hết là các nước Nam Mỹ và vùng biển Caribe như Venezuela, Haiti, Jamaica Cac cao vượt Thái Bình Dương và được trồng ở Philippin vào đầu thế kỷ 17, sau đó tiếp tục mở rộng qua Ấn Độ và Scrilanca vài chục năm sau Cho đến thời gian này loại phụ Criollo vẫn chiếm diện tích chủ yếu Brazil và Ecurador

là những nước đầu tiên phát triển loại phụ Foratestero và đầu thế kỷ 19 ca cao bắt đầu được xuất khẩu với quy mô 2000-5000 tấn từ các nước Nam Mỹ

Cuối thế kỷ 19 ca cao mới được trồng tại các nước Tây Phi, trước hết là Ghana

và Nigieria Ngày nay, ca cao phát triển rất nhanh do có thị trường ởn Châu Âu Năm 1900 Châu Phi chỉ chiếm 17% tổng sản lượng ca cao thê giới nhưng đến năm

1960, tỷ lệ này đã lên tới 73% Từ năm 1985 trở lại đây, các nước Châu Á bắt đầu phát triển mạnh ca cao, trước hết là ở các nước Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka…

Trang 10

Vào đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đưa cây ca cao vào miền nam Việt Nam, tuy nhiên do một số yếu tố cây ca cao thời điểm đó chưa thật sự phát triển Khoảng năm

1994, một dự án về trồng cây ca cao với quy mô 10.000 ha được thực hiện, chủ yếu

ở tĩnh Quảng Ngãi tuy nhiên vẫn thất bại không thể phát triển mạnh như cà phê và cao su

2.1.2 Đặ đ ểm cây ca cao

Ca cao là loài thân gỗ nhỏ có thể cao đến 10-20 m nếu mọc tự nhiên trong rừng Trong sản xuất người ta thường xén bớt để việc thu hoạch có thể dễ dàng hơn và độ cao của cây khi đã trưởng thành không vượt quá 7,5 m, đường kính thân cây từ 10-

15 cm Cây ca cao sinh trưởng tốt dưới bóng che, do đó cây ca cao cần được che chắn để tránh bớt tia nắng mặt trời và gió, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển và có thể trồng xen canh cây ca cao với một số cây kinh tế khác Thời kỳ kinh doanh hiệu quả có thể kéo dài từ 25 đến 40 năm

Mỗi năm cây ca cao cho đến hàng nghìn hoa ở thân chính và cành to nhưng chỉ

từ 1-3% là đậu thành trái Sau khi thụ phấn trái tăng trưởng chậm trong khoảng 40 ngày đầu và đạt tốc độ tối đa sau 75 ngày Sau khi thụ phấn 85 ngày sự tăng trưởng của trái chậm lại, trong khi hạt bên trong trái bắt đầu tăng trưởng nhanh, đây cũng là thời kỳ hạt tích lũy chất béo Lớp cơm nhầy hình thành khoảng 140 ngày sau khi thụ phấn đến khi trái chín kéo dài từ 5-6 tháng

Trái ca cao có thể đạt chiều dài từ 15-20 cm, khối lượng trung bình từ 200g-1kg Tùy theo từng loài, hình dạng của trái thay đổi từ hình cầu, hình dài nhọn, hình trứng hoặc hình ống Màu sắc của trái khá đa dạng: màu xanh, màu vàng, màu đỏ Mỗi trái chứa khoảng 20-40 hạt

Lớp cơm nhầy chiếm khoảng 15-20% trọng lượng của hạt ca cao tươi và chứa một trữ lượng đường rất cao, có thể sử dụng lớp cơm nhầy này làm nước sinh tố, kem hoặc cô đặc làm nước cốt trái cây, hay sử dụng chế biến rượu vang…

Vỏ quả ca cao chứa 3-4% kali trên trọng lượng chất khô, là nguồn phân bón giàu kali Tro đốt từ vỏ dã từng được sủ dụng để làm xà phòng Vỏ quả ca cao khô, xay

Trang 11

nhỏ có thể độn vào thức ăn cho bò, cừu, dê Bò có thể ăn trực tiếp vỏ tươi thay thế được cho khẩu phần cỏ voi

2.1.3 Thành phần hóa học của vỏ trái ca cao

Nước, chất béo, cacbohydrate, nitrogen, acid hữu cơ, muối khoáng,… các thành phần này sẽ có hàm lượng khác nhau ở chất nhầy, vỏ hạt và thịt hạt

- Chất nhầy (thịt quả) có hàm lượng nước và đường cao nhất, ngoài ra còn có acid citric làm cho pH thịt quả luôn ở mức 3,5

- Vỏ hạt cso hàm lượng cacbohydrate cao, hàm lượng khoáng trung bình có trong vỏ quả ca cao vào khoảng 8,2% trọng lượng vỏ Trong đó đa số là Fe, K, Mg…

2.2 t u về compost

- Quá trình chế bến compost: là quá trình phân hủy sinh học và ổn định của chất hữu cơ dưới điều kiện nhiệt độ thermoliphic Kết quả của quá trình phân hủy sinh học tạo ra nhiệt, sản phẩm cuối cùng ổn định, không mang mầm bệnh và có ích

cho việc ứng dụng cho cây trồng.[1]

- Compost: là sản phẩm của quá trình chế biến compost, đã được ổn định như

chất mùn, không chứa các mầm bệnh, không lôi kéo các côn trùng, có thể được lưu

trữ an toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng.[1]

2.3 Các phản ứng sinh hóa xảy ra trong quá trình ủ compost

2.3.1 Phản ứng sinh hóa

Quá trình phân hủy chất thải rắn diễn ra rất phức tạp, qua nhiều giai đoạn và sản phẩm trung gian Ví dụ, quá trình phân hủy protein: protein  peptides  amino acids  hợp chất ammonium  nguyên sinh chất của vi khuẩn và N hoặc NH3.Đối với carbonhydrate, quá trình phân hủy xảy ra: carbonhydrate đường đơn  acid hữu cơ  CO2 và nguyên sinh chất của vi khuẩn.[5]

Những phản ứng chuyển hóa sinh hóa diễn ra trong quá trình ủ hiếu khí vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết Các giai đoạn khác nhau trong quá trình ủ hiếu khí có thể phân biệt theo biến thiên nhiệt độ như sau:

Trang 12

- Pha thích nghi: là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi với môi trường

trong quá trình ủ hiếu khí và phân hủy kị khí được đặc trưng bởi 2 phương trình:

CHC + O2 + VSV hiếu khí  CO2 + NH3 + sp khác + năng lượng

CHC + O2 + VSV kị khí  CO2 + H2S +NH3 + CH 4 + sp khác + năng lượng

- Pha trưởng thành: là giai đoạn giảm nhiệt độ đến bằng nhiệt độ môi trường Quá trình lên men chậm và thích hợp cho sự hình thành chất keo mùn (quá trình chuyển hóa các phức chất hữu cơ thành chất mùn) và các chất khoáng (sắt, canxi, nitơ…) và cuối cùng thành mùn Các phản ứng nitrat hóa, trong đó ammonia (sản phẩm phụ của quá trình ổn định chất thải) bị oxy hóa sinh học tạo thành nitrit (NO2)

và cuối cùng thành nitrat (NO3): [14]

NH4+ + 3/2 O2  NO2- + 2H+ + H2O

NO2- + 1/2 O2  NO3Kết hợp hai phương trình trên, quá trình nitrat hóa diễn ra như sau:

-NH4+ + 2O2  NO3- + 2H+ +H2O

Vì NH4+ cũng được tổng hợp trong mô tế bào, phản ứng đặc trưng cho quá trình tổng hợp trong mô tế bào:

NH4+ + 4CO2 + HCO3- + H2O  C5H7NO2 + 5H2O Phương trình phản ứng nitrat hóa tổng cộng xảy ra như sau:

22NH4+ + 37O2 + 4CO2 + HCO3-  21NO3- + C5H7NO2 + 20H2O + 42H+

2.3.2 Phản ứng sinh học

Ủ compost là quá trình sinh học mà các chất hữu cơ có trong chất thải rắn được biến đổi thành các chất mùn ổn định do hoạt động của các thể chức có thể sống trong điều kiện tự nhiên hiện diện trong chất thải Các tổ chức này gồm các loại vi sinh vật như vi khuẩn, nấm, chất hữu cơ được phân hủy như ban đầu từ vi sinh vật

Trang 13

tiêu thụ bậc một như vi khuẩn thực hiện Trong thời gian đầu, vi khuẩn thích hợp điều kiện Mesophilic xuất hiện trước.[11]

Nhiệt độ tăng khi vi khuẩn Thermophilic xuất hiện chiếm hầu hết các vị trí trong khối ủ, thermophilic nấm thường tăng trưởng từ 5-10 ngày sau khi ủ Nếu nhiệt độ cao hơn 60-70o

C thì nấm và hầu hết các vi khuẩn bị ức chế, chỉ còn các dạng bào tử

có thể phát triển, trong giai đoạn cuối cùng, nhiệt độ giảm Actinomycetes trở nên chiếm ưu thế làm cho bề mặt đống ủ xuất hiện màu trắng hoặc nâu

Các loại vi khuẩn Thermophilic, hầu hết là loài Bacillus đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy protein và hydratcacbon Mặc dù chỉ hoạt động bên lớp ngoài đống ủ và chỉ hoạt động trong thời gian cuối nhưng nhóm Actinomycetes đóng vai trò trong việc phân hủy cellulose, lignin và các chất bền vững khác Sau giai đoạn tiêu thụ bậc một hay sơ cấp thực hiện xong, các chất này sẽ là thức ăn cho các sinh vật tiêu thụ thứ cấp như ve, bọ cánh cứng, giun tròn, động vật nguyên sinh, phiêu sinh.[10]

2.4 Các yếu tố ản ƣởng đến quá trình ủ compost

Nhiệt độ tối ưu là 50 – 60oC, thích hợp với vi khuẩn thermophilic và tốc độ phân hủy các chất hữu cơ là cao nhất Nhiệt độ trên ngưỡng này sẽ ức chế hoạt động của vi sinh vật làm cho quá trình phân hủy diễn ra không thuận lợi, còn nhiệt độ thấp hơn ngưỡng này thì phân sẽ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh

Trang 14

Nhiệt độ trong luống ủ có thể điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau như hiệu chỉnh độ thoáng khí và độ ẩm, cô lập khối ủ với môi trường bên ngoài bằng cách che phủ hợp lý

Trang 15

Bảng 1 Khoảng nhi t độ của các nhóm vi sinh vật

Loài vi sinh vật Nhiệt độ (

oC) Khoảng dao động Tối ưu VSV ưa lạnh (Psychrophilic) 10 – 30 15

Độ ẩm tối ưu thường 50 – 60 % Các vi sinh vật đóng vai trò quyết định trong quá trình phân hủy chất hữu cơ thường tập trung tại lớp nước mỏng trên bề mặt của chất hữu cơ Nếu độ ẩm quá nhỏ (< 30%) sẽ hạn chế hoạt động của vi sinh vật, còn khi độ ẩm quá lớn (> 70%) thì quá trình phân hủy sẽ chậm lại, sẽ chuyển sang chế

độ phân hủy kị khí vì quá trình thổi khí bị cản trở do hiện tượng bít kín các khe rỗng không cho không khí đi qua, gây mùi hôi, rò rỉ chất dinh dưỡng và lan truyền vi sinh vật gây bệnh

Độ ẩm ảnh hưởng đến sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ vì nước có nhiệt dung riêng cao hơn tất cả các vật liệu khác

Độ ẩm thấp có thể điều chỉnh bằng cách thêm nước vào Độ ẩm cao có thể điều chỉnh bằng cách trộn với vật liệu độn có độ ẩm thấp hơn như : mạt cưa, rơm rạ… Thông thường độ ẩm của phân bắc, bùn và phân động vật thường cao hơn giá trị tối ưu, do đó cần bổ sung thêm các chất phụ gia để giảm độ ẩm đến giá trị cần thiết Đối với hệ thống sản xuất phân hữu cơ liên tục, độ ẩm có thể được khống chế bằng cách tuần hoàn sản phẩm phân hữu cơ

Trang 16

2.4.1.3 Kích thước hạt

Kích thước hạt ảnh hưởng lớn đến tốc độ phân hủy Quá trình phân hủy hiếu khí xảy ra trên bề mặt hạt, hạt có kích thước nhỏ sẽ có tổng diện tích bề mặt lớn nên sẽ tăng sự tiếp xúc với oxy, gia tăng vận tốc phân hủy

Tuy nhiên, nếu kích thước hạt quá nhỏ và chặt sẽ làm hạn chế sự lưu thông khí trong đống ủ, điều này sẽ làm giảm oxy cần thiết cho các vi sinh vật trong đống ủ và giảm mức độ hoạt tính của vi sinh vật Ngược lại, hạt có kích thước quá lớn sẽ có độ xốp cao và tạo ra các rãnh khí làm cho sự phân bố khí không đều, không có lợi cho quá trình chế biến phân hữu cơ

Đường kính hạt tối ưu cho quá trình chế biến khoảng 3 – 50mm Kích thước hạt tối ưu có thể đạt được bằng nhiều cách như cắt, nghiền và sàng vật liệu thô ban đầu.[6]

2.4.1.4 Độ xốp

Độ xốp là một yếu tố quan trọng trong quá trình chế biến phân hữu cơ Độ xốp tối ưu sẽ thay đổi tùy theo loại vật liệu chế biến phân, thông thường độ xốp cho quá trình chế biến phân diễn ra tốt khoảng 35–60%, tối ưu là 32–36%

Độ xốp của chất thải hữu cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cung cấp oxy cần thiết cho sự trao đổi chất, hô hấp của các vi sinh vật hiếu khí và sự oxy hóa các phần tử hữu cơ hiện diện trong các vật liệu ủ Độ xốp thấp sẽ hạn chế sự vận chuyển oxy , nên hạn chế sự giải phóng nhiệt và làm tăng nhiệt độ khối ủ Ngược lại, độ xốp cao có thể dẫn tới nhiệt độ trong khối ủ thấp, mầm bệnh không bị tiêu diệt

Độ xốp có thể được điều chỉnh bằng cách sử dụng vật liệu tạo cấu trúc với tỷ lệ trộn hợp lý

2.4.2 Các yếu tố hóa sinh

2.4.2.1 Chất dinh dưỡng

Có rất nhiều nguyên tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy do vi sinh vật: trong

đó Cacbon và Nitơ là cần thiết nhất, tỷ lệ C/N là thông số dinh dưỡng quan trọng nhất; photpho (P) là yếu tố quan trọng kế tiếp; lưu huỳnh (S); canxi (Ca) và các

Trang 17

nguyên tố vi lượng khác cũng đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất của tế bào.[19]

Khoảng 20-40% C của chất thải hữu cơ (trong chất thải nạp liệu) cần thiết cho quá trình đồng hóa thành tế bào mới, phần còn lại chuyển hóa thành CO2 Cacbon cung cấp năng lượng và sinh khối cơ bản để tạo ra khoảng 50% khối lượng tế bào vi sinh vật Nitơ là thành phần chủ yếu của protein, acid nucleic, acid amin, enzyme, co-enzyme cần thiết cho sự phát triển và hoạt động của tế bào

Tỷ lệ C/N tối ưu cho quá trình ủ compost là khoảng 30/1 Ở mức tỷ lệ thấp hơn, Nitơ sẽ thừa và sinh ra khí NH3, nguyên nhân gây ra mùi khai Ở mức tỷ lệ cao hơn,

sự phân hủy xảy ra chậm

Tỷ lê C/N của các chất thải khác nhau được trình bày trong bảng sau Trừ phân ngựa và lá khoai tây, tỷ lệ C/N của tất cả các chất thải khác nhau đều phải được điều chỉnh để đạt giá trị tối ưu trước khi tiến hành làm phân

Trang 18

14 Chất thải rau quả 2,5 – 4 11 – 12

Mặc dù tỷ lệ C/N khoảng 30/1 là mục tiêu tối ưu trong quá trình ủ phân compost, nhưng tỷ lệ này có thể được điều chỉnh theo giá trị sinh học của vật liêu ủ, trong đó quan trọng nhất là cần quan tâm tới các thành phần có hàm lượng lignin cao

Trong thực tế, việc tính toán và hiệu chỉnh chính xác tỷ lệ C/N tối ưu gặp phải khó khăn vì nhưng lý do sau:

- Một phần các cơ chất như cellulose và lignin khó bị phân hủy sinh học, chỉ

bị phân hủy sau một khoảng thời gian dài;

- Một số chất dinh dưỡng cần thiết cho vi sinh vật không có sẵn;

- Quá trình cố định N có thể xảy ra dưới tác dụng của nhóm vi khuẩn Azotobacter, đặc biệt khi có mặt đủ PO4 3-

;

- Phân tích hàm lượng C khó đạt kết quả chính xác

Nếu tỷ lệ C/N của nguyên liệu làm phân cao hơn giá trị tối ưu, sẽ hạn chế sự phát triển của vi sinh vật do thiếu N Chúng phải trải qua nhiều chu kỳ chuyển hóa, oxy hóa phân cacbon dư cho đến khi đạt tỷ lệ C/N thích hợp Do đó, thời gian cần thiết cho quá trình làm phân bị kéo dài hơn và sản phẩm thu được chứa ít mùn hơn Theo nghiên cứu cho thấy, nếu tỷ lệ C/N ban đầu là 20, thời gian cần thiết cho quá trình làm phân là 12 ngày, nếu tỷ lệ này dao động trong khoảng 20 – 50, thời gian cần thiết là 14 ngày và nếu tỷ lệ C/N =78, thời gian cần thiết là 21 ngày.[15]

Trang 19

2.4.2.2 pH

Giá trị pH trong khoảng 5,5 – 8,5 là tối ưu cho các vi sinh vật trong quá trình ủ phân compost Các vi sinh vật, nấm tiêu thụ các hợp chất hữu cơ và thải ra các acid hữu cơ Trong giai đoạn đầu của quá trình ủ phân rác, các acid này bị tích tụ và kết quả làm giảm pH, kìm hãm sự phát triển của nấm và vi sinh vật, kìm hãm sự phân hủy lignin và cellulose Các acid hữu cơ sẽ tiếp tục bị phân hủy trong quá trình ủ phân Nếu hệ thống trở nên yếm khí, việc tích tụ các acid có thể làm pH giảm xuống đến 4,5 và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của vi sinh vật

2.4.2.3 Vi sinh vật

Chế biến compost là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều loại vi sinh vật khác nhau Vi sinh vật trong quá trình chế biến compost bao gồm : actinomycetes và vi khuẩn Những loại vi sinh vật này có sẵn trong chất hữu cơ, có thể bổ sung thêm vi sinh vật từ các nguồn khác để giúp quá trình phân hủy xảy ra nhanh và hiệu quả hơn

Hiện nay có nhiều chủng vi sinh vật đã được các nhà khoa học nghiên cứu, phân lập sử dụng để phân giải các chất hữu cơ một cách hiệu quả Chúng phân giải các chất dễ phân hủy như tinh bột đến các chất khó phân hủy như Lignin và cellulose.[20]

2.4.2.4 Chất hữu cơ

Tốc độ phân hủy tùy thuộc vào thành phần và tính chất của chất hữu cơ Chất hữu cơ hòa tan dễ dàng phân hủy hơn chất hữu cơ không hòa tan Lignin và ligno-cellulose là những chất phân hủy rất chậm

Trang 20

Bảng 3 Các thông số quan trọng trong quá trình làm phân hữu ơ[13]

Tỷ lệ C/N tối ưu dao động trong khoảng 25–50

- Ở tỷ lệ thấp hơn, dư NH3, hoạt tính sinh học giảm;

- Ở tỷ lệ cao hơn, chất dinh dưỡng bị hạn chế

Pha trộn Thời gian ủ ngắn hơn

Độ ẩm Nên kiểm soát trong phạm vi 50-60% trong suốt quá trình ủ,

Ph Tối ưu là 7 - 7,5 để hạn chế sự bay hơi nitơ dưới dạng NH3,

pH không được vượt quá 8,5

Mức độ

phân hủy Đánh giá qua sự giảm nhiệt độ vào thời gian cuối

Trang 21

2.5 Lợi ích và hạn chế của quá trình ủ compost

2.5.1 Lợi ích

- Là phương án được lựa chọn để bảo tồn nguồn nước và năng lượng;

- Kéo dài tuổi thọ cho các bãi chôn lấp;

- Ổn định chất thải: các phản ứng sinh học xảy ra trong quá trình chế biến compost sẽ chuyển hóa các chất hữu cơ dễ thối rữa sang dạng ổn định, chủ yếu là các chất vô cơ ít gây ô nhiễm môi trường khi thải ra đất hoặc nước;

- Làm mất hoạt tính của vi sinh vật gây bệnh: nhiệt của chất thải sinh ra từ quá trình phân hủy sinh học có thể đạt khoảng 60oC, đủ để làm mất hoạt tính của vi khuẩn gây bệnh, vius và trứng giun sán nếu như nhiệt độ này được duy trì ít nhất một ngày, các sản phẩm của quá trình chế biến compost có thể thải bỏ an toàn trên đất hoặc sử dụng làm chất bổ sung dinh dưỡng cho đất;

- Thu hồi dinh dưỡng và cải tạo đất: các chất dinh dưỡng (N, P, K) có trong chất thải thường ở dạng hữu cơ phức tạp, cây trồng khó hấp thụ Sau quá trình làm phân compost, các chất này được chuyển thành các chất vô cơ như NO3- và PO43+thích hợp cho cây trồng Sử dụng sản phẩm của quá trình chế biến compost bổ sung dinh dưỡng cho đất có khả năng làm giảm thất thoát dinh dưỡng do rò rỉ các chất dinh dưỡng vô cơ tồn tại chủ yếu dưới dạng không tan Thêm vào đó, lớp đất trồng cũng được cải tiến nên giúp rễ phát triển tốt hơn;

- Làm khô bùn: phân người, phân dộng vật và bùn chứa khoảng 80 – 95% nước, do đó chi phí thu gom vận chuyển và thải bỏ cao Làm khô bùn trong quá trình ủ phân compost là phương pháp lợi dụng nhiệt của chất thải sinh ra từ quá trình phân hủy sinh học làm bay hơi nước chứa trong bùn;

- Tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng: Trong đất bón phân vi sinh với hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ và chủng loại vi sinh vật đa dạng không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn giảm thiểu bệnh cho cây trồng hơn so với các loại phân bón hóa học khác

Trang 22

2.5.2 Hạn chế

- Hàm lượng chất dinh dưỡng trong compost không thỏa mãn yêu cầu;

- Do đặc tính của chất thải hữu cơ có thể thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thời gian, khí hậu và phương pháp chế biến phân, dẫn đến tính chất của sản phẩm cũng khác nhau Bản chất của vật liệu làm compost thường làm cho sự phân bố nhiệt độ trong khối phân không đồng đều, do đó khả năng làm mất hoạt tính của vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm compost cũng không hoàn toàn;

- Quá trình sản xuất compost tạo mùi khó chịu nếu không thực hiện quy trình sản chế biến đúng cách;

- Hầu hết các nhà nông vẫn thích sử dụng phân hóa học vì không quá đắt tiền,

dễ sử dụng và tăng năng suất cây trồng một cách rõ ràng.[12]

2.6 Một số p ƣơng p áp ủ compost trên thế gi i

2.6.1 P ƣơng p áp ủ theo luống dài và thổi khí thụ động có xáo trộn

Trong phương pháp này, vật liệu ủ được sắp xếp theo luống dài và hẹp, và được đảo trộn theo một chu kỳ nhất định nhằm cấp khi cho luống ủ… Các luống compost được xáo trộn bằng cách di chuyển luống compost với xe xúc hoặc xe trộn chuyên dụng

Các luống ủ có chiều dài thay đổi từ 1m (đối với nguyên liệu có mật độ dày như phân) đến 3,5m (đối với nguyên liệu nhẹ như lá cây) Chiều rộng luống ủ thay đổi

từ 1,5-6m

Không khí (oxy) được cung cấp tới hệ thống bằng các con đường tự nhiên như do khuếch tán, gió, đối lưu nhiệt… các luống phân đươc xáo trộn định kỳ thường xuyên nhằm trộn đều chất thải rắn trong luống phân, trộn đều độ ẩm và hỗ trợ cho thổi khí thụ động Việc xáo trộn được thực hiện bằng xe xáo trộn chuyên dụng hoặc bằng xe xúc Các thiết bị sử dụng được xác định theo hình dạng thực tế của luống ủ Tốc độ làm thoáng khí phụ thuộc độ xốp của đống ủ Luống ủ với các nguyên liệu nhẹ như lá cây có tốc độ thoáng khí lớn hơn tốc độ thoáng khí của luống ủ với nguyên liệu phân Nếu luống ủ quá lớn, các vùng kị khí có thể xuất hiện ở khu vực trung tâm, điều này sẽ tạo mùi khi luống ủ được đảo trộn Ngược lại, các luống ủ

Trang 23

nhỏ sẽ mất nhiệt quá nhanh và sẽ không thể đạt được nhiệt độ đủ lớn để diệt vi sinh vật gây bệnh và bay hơi ẩm

Đảo trộn sẽ làm cho nguyên liệu ủ được trộn đều, tạo lại độ xốp của đống ủ, loại trừ được các khoảng trống tạo ra bởi sự phân hủy và sa lắng Đảo trộn sẽ làm xáo trộn các vật liệu bên trong và bên ngoài đống ủ Điều này sẽ làm cho tất cả các vật liệu được tiếp xúc với không khí phía bên ngoài và nhiệt độ cao phía bên trong của đống ủ Bằng cách này, tất cả các vật liệu sẽ được phân hủy với tốc độ như nhau và các vi sinh vật gây bệnh, ấu trùng của côn trùng có cánh sẽ bị diệt Thêm vào đó, đảo trộn sẽ xé nhỏ các phần tử nguyên liệu rắn làm gia tăng diện tích bề mặt tiếp xúc và các vật liệu được trộn lẫn nhau

 Ưu điểm

- Do xáo trộn thường xuyên nên chất lượng compost thu được khá đều;

- Vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp vì không cần hệ cung cấp khí

 Nhược điểm

- Cần nhiều nhân công;

- Thời gian ủ dài (3 đến 6 tháng);

- Do sử dụng thổi khí tự động nên khó quản lý, đặc biệt là khó kiểm soát nhiệt

độ và nấm bệnh;

- Xáo trộn luống compost thường gây thất thoát nitơ và gây mùi;

- Quá trình ủ có thể bị phụ thuộc vào điều kiện thời tiết;

- Cần một lượng lớn vật liệu tạo cấu trúc và vật liệu tạo cấu trúc này khó tìm hơn so với các phương pháp khác

2.6.2 P ƣơng p áp ủ theo luống dài hoặ đống v i thổ k í ƣỡng bức

Trong phương pháp này vật liệu được sắp xếp thành đống hoặc luống dài Không khí được cung cấp cho hệ thống bằng quạt thổi khí hoặc bơm nén khí qua hệ thống phân phối khí như ống phân phối khí hoặc sàn phân phối khí Chiều cao luống hay đống ủ khoảng 2÷2,5m

Trang 24

Để kiểm soát quá trình phân hủy hiếu khí bên trong khối ủ, mỗi khối ủ thường được trang bị một máy thổi khí Lượng không khí cung cấp phải đảm bảo đủ nhu cầu oxy cho quá trình chuyển đổi sinh học và nhằm kiểm soát nhiệt độ trong khối ủ Thời gian cần thiết cho quá trình ủ khoảng 3-5 tuần, phần mùn sau khi ủ được đem đi sàng tinh nhằm thu được sản phẩm phân chất lượng cao

Trong một vài trường hợp, những vật liệu có kích thước lớn, độ ẩm thấp như mạt cưa, gỗ vụn được thêm vào để kiểm soát độ ẩm của khối ủ ở mức tối ưu

 Ưu điểm

- Dễ kiểm soát khi vận hành hệ thống, đặc biệt là kiểm soát nhiệt độ và nồng

độ oxy trong luống ủ;

- Giảm mùi hôi và mầm bệnh;

- Thời gian ủ ngắn (3 – 6 tuần);

- Nhu cầu sử dụng đất thấp và có thể vận hành ngoài trời hoặc có che phủ

 Nhược điểm

- Hệ thống phân phối khí dễ bị tắc nghẽn, cần bảo trì thường xuyên;

- Chi phí bảo trì hệ thống và năng lượng thổi khí của phương pháp này cao hơn thổi khí thụ động.[17]

Trang 25

C ƢƠN 3: VẬT LIỆ VÀ P ƢƠN P ÁP N IÊN CỨU

3.1 P ƣơng t n ng ên ứu

- Chế phẩm Compost maker của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa Việt Nam;

- Các nguyện liệu ủ: vỏ ca cao và thân cây đậu được thu mua từ huyện Châu Đức, Bà Rịa- Vũng Tàu và các thành phần bổ sung như phân bò, ure, lân, DAP v.v

- Các môi trường nghiên cứu đã sử dụng sử dụng: Môi trường hoạt hóa chế phẩm M1: NH4NO3 1g; KH2PO4 0,5g; MgSO4.7H2O 0,5g; NaCl 1g; CaCl2 0,1g; FeCl3 0,02g; cao nấm men 0,05g; CMC 10g; nước cất 1000ml; pH = 7÷7.2 Môi trường đục lỗ thạch WA: CMC 10g; Agar 20g; nước cất 1000ml Môi trường hoạt hóa nhân sinh khối chế phẩm M2: Chế phẩm men vi sinh 2kg; rỉ đường 0,5lít; urea 2kg, DAP kg; MgSO4 0,5kg; KNO4 0,5kg; pH= 7[1]

- Giấy lọc không tro

- Acid sunfulric đậm dặc và dung dịch H2So4 0,1 N

- Hỗn hợp xúc tác sunfat đồng và

Trang 26

- Giấy lọc không tro

kali sunfat theo tỷ lệ 1: 10

3.2.1 Tuyển chọn chế phẩm sinh học có hoạt tính enzyme cellulase cao nhất

3.2.1.1 Mục đích: Chọn lọc được chế phẩm sinh học có khả năng sinh enzyme cellulase có hoạt độ cao nhất để ứng dụng vào quá trình ủ

Tiến hành lấy mỗi chế phẩm sinh học 10g pha trong 90ml môi trường M1, có bổ sung vỏ cacao làm cơ chất cảm ứng, hoạt hóa trong môi trường M1 trong ba điều kiện khác nhau đó là điều kiện hiếu khí; kỵ khí; kết hợp giữa hiếu khí và kỵ khí; sau 48h, 72h, 96h, lần lượt đem chiết dịch enzyme và thử hoạt tính enzyme bằng phương pháp đục lỗ thạch để xác định đường kính vòng phân giải trong môi trường

WA và xác định hàm lượng đường khử bằng phương pháp đo quang dựa trên phản ứng màu của đường khử sinh ra và dung dịch DNS

3.2.1.2 Bố trí thí nghiệm

Trang 27

Hình 1 Cách bố trí thí nghi m tuyển chọn chế phẩm

3.2.2 Thiết kế máy nghiền vỏ ca cao

3.2.2.1 Mục đích: Thiết kế máy nhỏ gọn, đơn giản, chạy bằng điện, sử dụng các răng nhỏ có tác dụng vừa cắt đứt vừa chà xát với tấm lưới kim loại bên dưới, sử dụng motor 2 mã lực để nghiền nhỏ vỏ cacao, phá vỡ kết cấu cellulose, tăng diện tích bề mặt tiếp xúc, rút ngắn thời gian hoai mục vỏ cacao khi ủ

3.2.2.2 Bố trí thí nghiệm

Nhóm chúng tôi đã thiết kế máy nghiền vỏ với các thông số như sau: tổng chiều cao

85cm; chân đế rộng 40cm; phễu nhập liệu hình chữ nhật với kích thước 45x30cm;

ru lô có đường kính 15cm, chiều dài 28cm, trên bề mặt có hàn 8 lớp dao cắt được

Trang 28

sắp xếp so le có chức năng vưa cắt nhỏ vừa kết hợp chà xát với tấm lưới đỡ bên dưới, lưới sắt được bố trí phía dưới có thể di chuyển tại chỗ để điều chỉnh độ mở của niệng tháo sản phẩm, có thể năng động thay đổi kích thước hạt nhờ 2 đai ốc điều khiển bên dưới; ru lô hoạt động nhờ cơ cấu truyền động thông qua băng tải và

bu ly có đường kính 10cm, được tải nhờ motor công suất 2 mã lực đạt số vòng quay

1800 vòng/phút Bản vẽ chi tiết máy nghiền được thể hiện trên hình 2a và 2b

Hình 2a Hình chiếu cạnh Hình 2b Hình chiếu đứng

 Ƣu đ ểm: Nhỏ gọn dễ đàng di chuyển, đơn giản, chạy bằng điện, sử dụng các răng nhỏ có tác dụng vừa cắt đứt vừa chà xát với tấm lưới bên dưới, sử dụng motor

2 mã lực để nghiền nhỏ vỏ cacao, năng động thay đổi kích thước hạt Sau khi nghiền kích cỡ vỏ đạt khoảng 0,5x0,5 cm

3.2.3 Xây dựng quy trình ủ và khảo sát sự biến đổi của các nhân tố chính trong quá trình ủ

3.2.3.1 Mục đích: Chuyển hóa vỏ trái cacao và thân cây đậu thành phân bón hữu cơ với công thức đơn giản, dễ dàng kiểm soát được các yếu tố diễn ra trong quá trình ủ, khắc phục được mùi, thời gian phân hủy vỏ ngắn

Trang 30

Hình 3 Bố trí thí nghi m quy trình ủ phân

- ƣ c 1: Nghiền thô, làm giảm độ ẩm nguyên liệu vỏ cacao

Vỏ cacao được nghiền thô (khoảng 0,5cm x 0,5cm), trải thành lớp mỏng phơi trực tiếp ngoài nắng để làm giảm độ ẩm đến khoảng 40-45%

- ƣ Làm tăng sinh khối men vi sinh

Cần phơi khô vỏ cacao đến độ ẩm khoảng 40-45% để sau khi tưới dịch men vi sinh vào khối hỗn hợp đạt độ ẩm 50-55% (bóp mạnh trong tay thấy vừa ứa nước) Tính cho 1 tấn vỏ cacao: Khuấy 2 kg hỗn hợp men vi sinh trong nước pha rỉ đường loãng (0,5-1,0 lít rỉ đường/200 lít nước) hòa với hỗn hợp gồm: 2 kg urea, 1 kg DAP, 0,5

kg MgSO4 và 0,5 kg KNO3 để khoảng 2 ngày cho tăng sinh khối vi sinh rồi sau đó dùng dịch này phun đều vào đống ủ

Trang 31

- ƣ Phối trộn dịch men vi sinh, ủ hoai

Trước khi tưới hỗn hợp dung dịch men vi sinh đem phối trộn phân bò Trải đều

vỏ cacao và thân cây đậu thành từng lớp xen kẽ nhau đồng thời phun hoặc tưới đều dịch men vi sinh có hòa với super lân (1% lượng vỏ cacao) và urea (0,05% lượng vỏ cacao) Vun thành đống cao >1,2m; phủ bạt che kín đống ủ khoảng 7-10 ngày để giữ nhiệt độ Chú ý, tùy điều kiện mặt bằng, phương tiện thiết bị để đảo trộn có thể chất đống ủ với khối lượng tùy ý nhưng cần phải khá lớn (chiều cao >1,2m) để có thể tạo và giữ nhiệt độ cho đống ủ (nhiệt độ tối đa có thể lên đến 60-70oC) giúp việc phân hủy nhanh và triệt để hơn Khâu này có thể được thực hiện ngoài sân bãi Sau 7-10 ngày đảo trộn đống ủ để cung cấp oxy Tiếp tục đậy kín lại sau 7 - 10 ngày thì tiếp tục đảo trộn

Trong thời gian ủ tiến hành kiểm tra nhiệt độ, pH, độ ẩm, hàm lượng nitơ, hàm lượng cacbon, hàm lượng cellulose thô và điều chỉnh các thông số cho phù hợp với điều kiện hoạt đông của vi sinh vật để cho đống ủ nhanh hoai nhất

3.2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi trong thời gian ủ

- Biến thiên nhiệt độ theo thời gian ủ;

- Biến thiên độ ẩm theo thời gian ủ;

- Biến thiên pH theo thời gian ủ;

- Biến thiên hàm lượng cellulose theo thời gian ủ;

- Biến thiên hàm lượng nitơ theo thời gian ủ;

- Biến thiên hàm lượng cacbon theo thời gian ủ;

- Biến thiên tỷ lệ C:N theo thời gian ủ

Các phương pháp xác định nhiệt độ, độ ẩm, pH theo TCVN 5979:1995 (ISO 10390:1994); Xác định nitơ, phosphor tổng và kali hữu hiệu theo TCVN 8557-2010; AOAC 957.02 (2011); TCVN 8560-2010; xác định xơ thô theo TCVN 5103:1990; xác định hữu cơ tổng số theo TK.AOAC 967.05 (2011); xác định tro tổng theo FAO, 14/7, 1986 Acid humic theo TCVN 8561-2010

Trang 32

Thí nghiệm được thực hiện trên 2 đống ủ: Một đống ủ sử dụng chế phẩm sinh học tuyển chọn được từ thí nghiệm 1 (Compost maker) và một đống ủ đối chứng (sử dụng chế phẩm Gem P và Gem K) để so sánh tốc độ hoai mục

3.3 P ƣơng p áp t ống kê và xử lý số li u

Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kiểm tra sai số bên trong các nghiệm thức bằng phần mềm Excel; so sánh sự sai khác của các giá trị trung bình sử dụng phương pháp LSD bằng phần mềm thống kê Statgraphics Centurion XV

Trang 33

C ƯƠN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả tuyển chọn chế phẩm sinh học có hoạt tính enzyme cellulase cao nhất

4.1.1 Kết quả p ương p áp đục lỗ thạch

4.1.1.1 Kết quả đường kính vòng phân giải hoạt hóa ở điều kiện hiếu khí

Hoạt tính enzyme được đánh giá bằng đường kính vòng phân giải, kết quả được trình bày trên bảng 5

Bảng 5 Đường kính vòng phân giả đ ều ki n hiếu khí

Ngày đăng: 17/12/2014, 23:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Khoảng nhi t độ của các nhóm vi sinh vật - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 1. Khoảng nhi t độ của các nhóm vi sinh vật (Trang 15)
Bảng 2. Tỷ l  C/N của một số chất thải - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 2. Tỷ l C/N của một số chất thải (Trang 17)
Bảng 3. Các thông số quan trọng trong quá trình làm phân hữu  ơ[13] - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 3. Các thông số quan trọng trong quá trình làm phân hữu ơ[13] (Trang 20)
Hình 1. Cách bố trí thí nghi m tuyển chọn chế phẩm - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Hình 1. Cách bố trí thí nghi m tuyển chọn chế phẩm (Trang 27)
Hình 2a. Hình chiếu cạnh  Hình 2b. Hình chiếu đứng - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Hình 2a. Hình chiếu cạnh Hình 2b. Hình chiếu đứng (Trang 28)
Hình 3. Bố trí thí nghi m quy trình ủ phân - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Hình 3. Bố trí thí nghi m quy trình ủ phân (Trang 30)
Bảng 7  Đường kính vòng phân giả  đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 7 Đường kính vòng phân giả đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí (Trang 35)
Hình 4. Đường kính vòng phân giải trên m   trường thạch - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Hình 4. Đường kính vòng phân giải trên m trường thạch (Trang 36)
Bảng 9. Kết quả  đo quang sau     ở đ ều ki n hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 9. Kết quả đo quang sau ở đ ều ki n hiếu khí (Trang 37)
Bảng 8. Kết quả  đo quang sau 48h ở đ ều ki n hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 8. Kết quả đo quang sau 48h ở đ ều ki n hiếu khí (Trang 37)
Bảng 12. Kết quả  đo quang sau 72h ở đ ều ki n kỵ khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 12. Kết quả đo quang sau 72h ở đ ều ki n kỵ khí (Trang 39)
Bảng 14. Kết quả  đo quang sau 4   ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 14. Kết quả đo quang sau 4 ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí (Trang 40)
Bảng 13. Kết quả  đo quang sau     ở đ ều ki n kỵ khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 13. Kết quả đo quang sau ở đ ều ki n kỵ khí (Trang 40)
Bảng 16. Kết quả  đo quang sau 4   ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 16. Kết quả đo quang sau 4 ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí (Trang 41)
Bảng 15. Kết quả  đo quang sau     ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí - Hoàn thành quy trình sản xuất phân hữu cơ từ vỏ trái ca cao và thân cây họ đậu
Bảng 15. Kết quả đo quang sau ở đ ều ki n kỵ khí và hiếu khí (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w