tìm hiểu hệ điều hành peppermint one
Trang 1I.Lời mở đầu :
Khoảng 5 năm trở lại đây,với tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, bên cạnh đó là giá thành máy tính, laptop cũng giảm khá mạnh,nên số lựơng ngừơi sử dụng máy tính tăng lên một cách đáng kể.Internet phát triển nên việc tiếp cận và tìm hiểu các hệ điều hành mới của người dùng cũng tăng nhanh, kéo theo đó là việc ngừơi dùng máy tính sẽ có nhiều sự lựa chọn hệ điều hành cho hệ thống của mình Trên thị trừơng hệ điều hành cho máy tính hiện nay có các “ông lớn” như: Windows của Microsoft, MacOS của Apple, và các Distro Linux Tất nhiên mỗi hệ điều hành đều có những ưu và khuyết điểm và những nét đặc trưng riêng của mình
Các phiên bản hệ điều hành của Windows, với giao diện đơn giản,việc cài đặt và sử dụng khá dễ dàng cùng với việc hỗ trợ nhìu tính năng giải trí đa phươngcũng như văn phòng nên đối tượng sử dụng chủ yếu của là những người làm việc văn phòng và những những người đam mê các tính năng đa phương tiện.MacOS là một hệ điều hành có giao diện có thể nói là bóng bẩy nhất trên thị trừơng hệ điều hành hiện nay.Bên cạnh đó thì MacOS còn đựoc hỗ trợ rất nhiều từ Adobe hãng chuyên cung cấp các phần mềm xử lý đồhoạ nổi tiếng nhất hiện nay như Photoshop…và ta cũng biết rằng những nhà biên tập xử lý ảnh chuyên nghiệp thừơng xử dụng MacOS Vì vậy có thể nói MacOS là một hệ điều hành thiên về Multimedia Đối với Linux, vì đa số người dùng máy tính phổ thông đã quá quen với hệ điều hành Windows thì việc làm quen và sử dụng Linux là một việc không hề đơn giản và phải tốn khá nhiều thời gian để tìm hiểu
và sử dụng thành thạo Bên cạnh đó, cùng với cấu trúc các lệnh và khả năng tương thích của những
chương trình dành cho Linux cũng là một vấn đề lớn đối với ngừơi dùng thông thường Chính vì vậy mà Linux rõ ràng sẽ không mấy phù hợp với những ngừơi dùng phổ thông mà thường chỉ thích hợp để phục
vụ cho những ngừơi quản trị hệ thống server, những ngừơi đam mê lập trình hệ thống(vì Linux có kèm theo những gói phần mềm chuyên cho dân lập trình và nó còn là một hệ điều hành mã nguồn mở) Theo nhận xét của nhiều ngừơi quản trị hệ thống thì Linux đựơc đánh giá có độ bảo mật tốt hơn và đặc biệt ngừơi quản trị sử dụng hệ điều hành Linux còn có thể quản trị hệ thống trên giao diện dòng lệnh giúp thao tác nhanh hơn
Bây giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơ lựơc về hệ điều hành Peppermint One để có cái nhìn rõ nét hơn
về Linux nói chung về Peppermint One nói riêng
II.Giới thiệu HĐH Peppermint :1.Vài nét sơ lựơc về Peppermint :
Peppermint đựơc biết đến là một hệ điều hành trên nền tảng đám mây, có nguồn gốc từ Lubuntu, thuộc
họ Ubuntu và Debian Sử dụng môi trừơng đồ hoạ LXDE, cung cấp một giao diện đồ hoạ tuy đơn giản nhưng lại khá đẹp mắt Ngoài ra, nó còn sử dụng trình quản lý cửa sổ OpenBox, dùng để thay đổi theme, các thiết lập cửa sổ…tương tự Display Properties trong Windows XP.
Peppermint có hai phiên bản là Peppermint One và Peppermint Ice, nhìn chung thì hai phiên bản này cũng không khác nhau nhiều về giao diện, hệ thống menu…và có một điểm chung là yêu cầu về phần cứng thiết bị để chạy hai phiên bản này khá nhẹ nhàng :
Cấu trúc vi xử lý i386,AMD64 hoặc x86_64
192 MB dung lựơng RAM
4GB HDD trống
2.Lịch sử hình thành và phát triển
Nói về ý tưởng hình thành nên hệ điều hành này thì có thể nói là khá đặc biệt so với hầu hết các hệ điều hành khác hiện nay Ý tửơng về một hệ điều hành có khả năng đáp ứng cao cho nhu cầu giải trí và truyền thông xã hội như Peppermint lại đựơc hình thành trong một buổi nhậu của các thành viên trong nhóm phát triển tại một quán Bar có tên Black Rose, thuộc Hendersonville, NC, Hoa Kỳ
Trang 2Về quá trình phát triển từ các phiên bản thử nghiệm, sau khi thử nghiệm các nền tảng code của
KDE,É7,Adobe Air cuối cùng bản Alpha của Peppermint One lại sử dụng nền tảng code của Lubuntu 10.04, và bản Alpha bắt đầu được phát hành thử ngiệm vào tháng 3-2010 Trong tháng 4-2010,bản Beta đãđựơc cung cấp cho các thành viên của nhóm testers
Peppermint One được giới thiệu rộng rãi vào ngày 9-5-2010 Một vài tuần sau,nó đã có tới 25000 lượt download Và khi đó công ty VPS.NET đãtrở thành nhà bảo trợ đầu tiên cho dự án hệ điều hành
Peppermint
Ngày 20-6-2010,Peppermint Ice được trình làng Peppermint Ice sử dụng trình duyệt Chrome làm trình duyệt mặc định cho mình và có giao diện xanh đen để phân biệt với Peppermint One có giao diện đỏ đen mang màu sắc cổ điển và sang trọng
Peppermint One :
Là phiên bản gốc của Peppermint OS,kèm theo các ứng dụng Web mặc định :
Pixlr [Image Editor] : trình chỉnh sửa hình ảnh
Facebook : truy cập nhanh mạng xã hội Facebook ma không cần thông qua một trình duyệt web khác như Firefox, Chrome
Hulu
Last.FM
Pandora
Seesmic Web
The Cloud Player
YouTube : chia sẽ video trực tuyến
eBuddy : chương trình chat
Google Calendar : ứng dụng lịch của google
Google Docs
Google Mail
Google Reader
Và các ứng dụng có sẵn :
Firefox Web Browser : trình duyệt mặc định
Dropbox : phần mềm lưu trữ,chia sẽ, đồng bộ hoá dữ liệu với đám mây
Exaile [Music Management & Player] : chương trình nghe nhạc
Prism : duyệt web
X-Chat [IRC Client]
Transmission [Bit Torrent Client] : torrent
Trang 3 X-Chat [IRC Client]
Transmission [Bit Torrent Client]
Trang 4Nguồn download :
http://distrowatch.com/table.php?distribution=peppermint
http://peppermintos.com/download/
Phiên bản cài đặt :
- Peppermint One version mới nhất 01042011, dứơi dạng file *.iso và đựơc cài đặt trên máy ảo
VMWare Workstation 7.1.0 build-261024.
III.Hướng dẫn cài đặt :1.Cấu hình cho máy ảo :
Hình 1 : Chỉnh dung lựơng RAM cho máy ảo
Trước tiên, ta cần tạo một máy ảo mới bằng cách nhấn vào biểu tượng có dòng chữ New Virtual Machine với tuỳ chọn Custom > Next > Next > nếu cài bằng file *.iso thì tick vô lựa chọn thứ 2 và chọn đừơng dẫn tới nơi lưu file iso > Next > tick vô Linux và Next> đặt lại tên cho máy ảo và nơi lưu máy ảo
> Next >Next > thiết lập dung lương RAM cho máy ảo,yêu cầu của HĐH mặc định là 256MB(có thể chỉnh cao hơn để hệ thống hoạt động mượt mà hơn), nhấn Next > để mặc định và Next > Next >Next > Next > có thể thiết lập cho dung lựơng ổ cứng tuỳ ý hoặc để mặc định,tick vào ô vuông đầu tiên và Next > Next > Finish.
Cuối cùng là chờ quá trình tạo máy ảo hoàn tất
2.Cài đặt :
Cài đặt Peppermint One cũng tương đối giống với việc cài đặt các distro khác, khá dễ dàng và nhanh hơn so với các phiên bản của Windows
Trang 5Hình 2: Giao diện chính của hệ thống
Sau khi cấu hình cho máy ảo(chọn cài đặt bằng file *.iso) và khởi động,thì máy ảo sẽ tự động boot
từ file *.iso trên ổ cứng.Quá trình boot này mất khoảng 3-5 phút tuỳ mỗi máy
Sau quá trình boot,ta sẽ vào trực tiếp giao diện mặc định của Peppermint One.Trên màn hình desktop
lúc này chỉ gồm một thanh Taskbar bên dưới và một gói cài đặt hệ thống nằm ở góc cao bên trái màn
hình
Hiện tại lúc này hệ thống đã sẵn sàng cho việc sử dụng,và ta đã có thể sử dụng các ứng dụng có sẵn
của HĐH như : Leafpad,LXTerminal,Firefox (để truy cập Internet, ta không cần cấu hình mạng cho hệ thống, vì trong quá trình tạo máy ảo, ta thiết lập card mạng cho máy là card mạng NAT).
Tuy nhiên,để hoàn tất quá trình cài đặt,cần phải chạy file Install Peppermint trên góc trái màn hình.
Click đúp vào gói trên, một cửa sổ mới xuất hiện, cửa sổ này sẽ liệt kê tất cả các ngôn ngữ được hỗ trợ
(có cả Tiếng Việt, nhưng ta nên chọn English) ,chọn English và nhấn Forward,chờ một lát và tại bước này, ta cần chọn múi giờ cho hệ thống , Việt Nam sẽ có múi giờ GT+7 -> nhấn Forward,bứơc này để mặc định và nhấn Forward.
Đến bứơc cấu hình file cho hệ thống Tại đây, chúng ta có 2 lựa chọn :
Xoá tất cả các phân vùng trên ổ cứng và sử dụng toàn bộ ổ cứng đó để cấu hình cho hệ thống
Thiết lập tuỳ ý bằng tay
Để mặc định (lựa chọn thứ nhất) và nhấn Forward Bứơc này hệ thống yêu cầu tạo một Username và password mới Đây là username và password để truy cập vào hệ thống sau khi hoàn tất, đây không phải là user root nhưng password này lại đựơc dùng cho việc chứng thực các tác vụ trên hệ thống Tiếp theo nhấn Forward.
Sau đó nhấn nút Install ,quá trình cài đặt bắt đầu, quá trình này sẽ mất khoảng 5 phút Sau khi hoàn tất,hệ thống yêu cầu restart để lưu lại các thiết lập Nhấn restart.
* Nhận xét : cả quá trình cài đặt chỉ mất khoảng 10-15 phút, nếu so sánh quá trình cài đặt hệ thống
của Windows về thời gian thì phải nói rằng Peppermint One vượt xa Windows gần gấp đôi,và yêu cầu về cấu hình hệ thống lại nhẹ hơn rất nhiều so với Windows, nên sẽ thích hợp cài đặt cho các máy có cấu hình thấp như Netbook,các PC lâu đời
IV.Tìm hiểu hệ thống :
1 Đăng nhập và log out :
Trang 6Quá trình khởi động của Peppermint nếu so với WinXP thì có vẻ nhanh hơn đôi chút, nhưng nếu đem
so với tốc độ khởi động của Win Vista và Win7 thì có Peppermint lại có phần chậm hơn
Hình 3 : Cửa sổ Log Out
Để thoát khỏi hệ thống ta có thể nhấn Menu >> Log Out hoặc bên góc phải thanh Taskbar nhấn nút Shutdown.Ở cửa sổ Log Out hệ thống cung cấp cho ta các tuỳ chọn :Shutdown(thoát hoàn toàn khỏi hệ thống),Reboot(Restart lại hệ thống),Log Out(thoát ra) và Cancel để đóng hộp thoại này lại.
Ngoài ra chúng ta còn có thể sử dụng lệnh(mở LXTerminal sẽ nói ở phần sau,hoặc tại giao diện dòng
lệnh) để shutdown hệ thống như : poweroff,shutdown
2 Mô tả giao diện và các tiện ích có sẵn :
Nhận xét chung về giao diện thì Peppermint One có vẻ khá đơn giản hơn so với một số Distro khác như : Mint,Ubuntu và ngay với cả Windows.Môi trường Desktop của Peppermint là LXDE,vì đựơc phát triển chủ yếu cho các dòng sản phẩm có cấu hình thấp nên giao diện các Distro sử dụng LXDE khá đơn giản
Ở phía bên trái thanh Taskbar là nút Menu(nút Start trong Windows),nhấn vào đây sẽ xuất hiện một loạt các danh mục của hệ thống như :
Logout : cửa sổ Logout.
Run : cửa sổ thao tác mở nhanh các ứng dụng tương tự của sổ Run trong Windows
Software Manager là chương trình quản lý tất cả các Package trong Peppermint như : package về
Office,Games,Internet có thể dùng chương trình này để cài đặt hoặc gỡ bỏ các package trong peppermint
Firefox là trình duyệt mặc định của Peppermint One,ngoài ra chúng ta có thể cài đặt thêm
Opera,Chrome
Preferences : chứa các chương trình của hệ thống như Users and Group,Software
Manager,Mouse,Keyboard… tương tự như Control Panel trong Windows
System Tool chỉ chứa một chương trình duy nhất là Task manager : trình quản lý các process
đang chạy trên hệ thống,chương trình này tương tự Task manager trong Windows
Sound & Video : chứa đựng tất cả các chương trình giải trí đa phương tiện như : Cheese chụp ảnh, quay phim và quản lý hình ảnh ,video ngay trên máy tính thông qua Webcam; Exaile chương trình nghe nhạc, xem phim;GNOME Mplayer chương trình xem video, phim; Hulu : xem
phim,TV trực tuyến; Last.fm : nghe radio, nghe nhạc trực tuyến ;GNOME Alas Mixer : chỉnh sửa âm thanh; Pandora : tương tự Last.fm; The cloud player : nghe nhạc trực tuyến,chia sẽ,lưu
trữ trên internet
Trang 7 Other : chỉ chứa Peppermint Bug Tracking : xem các web site đã tuy cập bằng Prism.
Office : chứa các phần mềm office như : Google Calender,Google Docs,Googl Reader, ePDF
viewer Ngoài ra chúng ta có thể cài thêm các phần mềm office khác như Openoffice
Internet : Dropbox : lưu trữ và chia sẽ file trực tuyến; Facebook : truy cập nhanh facebook mà không cần thông qua trình duyệt web ; Firefox : trình duyệt web mặc định; eBuddy là chương trình chat mặc định của Peppermint tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế; Seesmic Web; và đặc biệt
là Prism ,đây là trình duyệt đặc biệt,khi mở chương trình này lên,giúp ta truy cập các trang web
mà không cần một trình duyệt thông thường, khi sử dụng, ta sẽ nhập một địa chỉ site vào và tạo ra một “shortcut” để truy cập site đó về sau
Graphics : chứa các trình chỉnh sửa hình ảnh và scan.
Accessories : cũng tương tự như Accessories của Windows,chứa các tiện ích có sẵn như :
Galculator(tương tự calculator của Windows), Leafpad(tương tự Notepad của windows),Image Viewer, File Manager, LXTerminal (cửa sổ cmd trong Windows)
Hình 4 : Menu hệ thống
Trong Peppermint One và hầu như tất cả các Distro của Linux đều có một điểm đặc biệt trong việc quản lý Desktop mà có lẽ Windows nên bắt chước,đó là Linux cung cấp nhiều màn hình Desktop cho ngừơi dùng dễ dàng quản lý các cửa sổ ứng dụng khi mà một Desktop này có quá nhiều cửa sổ đang mở thì họ có thể chuyển sang Desktop khác mà không cần tắt các cửa sổ hiện tại Ở đây Peppermint cung cấp cho chúng ta 4 màn hình Desktop giúp dễ dàng quản lý các cửa sổ ứng dụng, tuy nhiên chúng ta có thể thêm nhiều hơn
3 Quản lý phần mềm :
Khi sử dụng máy tính, tất nhiên bất kì ai cũng có nhu cầu cài đặt và gỡ bỏ những phần mềm ứng dụng,
và để dễ dàng cho việc quản lý các phần mềm, Peppermint One cung cấp cho chúng ta một ứng dụng có
tên Sysnaptic Package Để mở ứng dụng này ta nhấn Menu >> Preferences >> Sysnaptic Package Manager
Trang 8Hình 5 : Cửa sổ Synaptic Pachage Manager(Tương tự Add/Remove Program trong Windows)
Ta cần lưu ý một điều là chỉ có user root hoặc user admin mới có quyền sử dụng chương trình này.Và cho dù ta đang đăng nhập là root hoặc admin thì khi cài đặt hay gỡ bỏ một ứng dụng, vẫn phải trải qua một bứơc nhập mật khẩu xác thực là root hoặc admin
Với giao diện khá đơn giản và trực quan, cửa sổ chương trình đựơc chia thành 4 phần chính : Toolbar
chứa các công cụ như Reload, Apply, Search ; Cửa sổ liệt kê các gói nằm bên trái; Phía dứơi là Menu tuỳ chọn như : Sections hiển thị các gói, Status bao gồm các lựa chọn hiển thị các gói đã cài đặt hoặc đã gỡ
bỏ hoặc chưa cài đặt, Origin, Custom Filter để lọc kết quả và Search Result; Bên phải là nơi hiển thị kết
tự động,vậy là hoàn tất quá trình cài đặt một phần mềm
Các bứơc tháo gỡ một phần mềm cũng tương tự các búơc cài đặt,chỉ có khác mỗi việc thay vì chọn
Mark For Installation chúng ta chọn Mark For Removal và làm các búơc tiếp theo tương tự.Ngoài ra
Trang 9còn có các tuỳ chọn như Unmark để bỏ đánh dấu,Mark For Reinstallation để cài đặt lại,Mark For Upgrade để nâng cấp và Mark For Complete Removal để tháo bỏ hoàn toàn.
Ngoài ra trên hệ điều hành Peppermint One và hầu như tất cả các distro khác, đều có một ứng dụng giúp người dùng dễ dàng cài đặt các package vào hệ thống Đó chính là ứng dụng Software Manager Để
sử dụng ứng dụng này ta nhấn Menu > Preferences > Software Manager > chọn gói package muốn cài đặt như : Office, Internet… gõ tên ứng dụng cần cài đặt vào ô search, sau khi chọn đựơc package cần thiết, nhấn nút Install và chờ hệ thống load trực tiếp từ source về Để gỡ bỏ package ta cũng làm tương tư nhưng thay vì nhấn Install, ta nhấn Remove (Lưu ý, khi cài đặt máy tính cần đựơc nối mạng).
Hình 7 : Chương trình Software Manager
4 Quản lý ngừơi dùng và nhóm:
Trong bài viết này,ta chỉ tìm hiểu trên giao diện đồ hoạ,nên sẽ có một số điểm khác trên giao diện
dòng lệnh Để mở ứng dụng quản lý,nhấn Menu >> Preferences >> Users and Groups Giao diện ứng
dụng khá đơn giản và tương đối dễ sử dụng
Khi mở ứng dụng thì chức năng mặc định là Users Setting(quản lý ngừơi dùng).Bên trái cửa sổ ứng dụng là khung hiển thị các user đã tạo.Bên dúơi là các nút chức năng Add(thêm một user),Delete(xoá bỏ user),và Help Bên phải cửa sổ là nơi chỉnh sửa user Phía dúơi là nút Manager Groups dùng để quản lý nhóm ngừơi dùng,và nút Advanced Setting để thiết lập nâng cao(thiết lập nâng cao chỉ có Root mới sử dụng đựơc,nếu là user thừơng thì cần biết mật khẩu của Root để sử dụng)
*Lưu ý : Khi thực hiện thao tác thêm,xoá,sửa một user hay một group,yêu cầu phải đựơc chứng thực
là administrator hoặc có trong nhóm root bằng cách nhập password của user đựơc tạo trong quá trình cài đặt hệ điều hành
a.Quản lý ngừơi dùng :
Trang 10Hình 8 : Ứng dụng quản lý người dùng và nhóm(tương tự User Accounts trong Windows)
Chỉ có user root hoặc admin mới có thể tạo, xoá, sửa một user hay một nhóm ngưòi dùng Còn đối với user thường chỉ có thể tuỳ chỉnh tên user, password cho chính mình
Để tao một user mới,nhấn nút Add phía dứơi bên trái,một cửa sổ sẽ xuất hiện,nhập tên user và nhấn
OK Một cửa sổ xuất hiện yêu cầu nhập password cho user mới Có 3 tuỳ chọn cho việc tạo mật khẩu mới :
Cuối cùng là nhấn OK Thoát cửa sổ sau cùng hoặc dùng để tạo thêm user.User đựơc tạo mới mặc định là loại Desktop User.
Để chỉnh sửa user nào,nhấp chuột lên user đó,nhìn sang bên phải sẽ thấy thông tin của user tương ứng
Để thay đổi tên user, nhấn Change tại dòng username, nhập tên mới và OK Để thay đổi kiểu tài khoản, nhấn mục Change tại dòng Account Type, hiện tại chỉ có thể thay đổi giữa 2 loại account là Desktop User và Administrator còn kiểu Custom hiện tại đang ở trạng thái Disable, sẽ nói ở phần tiếp theo Trong Windows XP thì chỉ có 2 kiểu user là Limited và Administrator.
Về kiểu user Custom, để thay đổi thành kiểu user này, ta nhấn nút Advanced Setting dùng để thiết lập
các tuỳ chỉnh nâng cao cho user, trong hộp thoại này có 3 tab, tab thứ nhất là Contact Information,khi chọn tab này ta có thể thêm các thông tin cho user như số điện thoại, địa chỉ… Tab tiếp theo là User Privileges ,tại thẻ này ta có thể thiết lập cho user quyền thay đổi trên hệ thống(administer system) sử
dụng các thiết bị như USB,CD/DVD,hoặc đựơc phép truy cập Internet khi tuỳ chỉnh trong thẻ này,kiểu
user tự động chuyển thành Custom, và tab cuối cùng là tab Advanced,tại đây ta có thể thay dổi thư mục
cá nhân của user,Shell,nhóm của user ,User ID và có thể Disable user đó.
Lưu ý : Kiểu Desktop User chỉ đựơc sử dụng các tiện ích và ứng dụng có sẵn,không đựơc cài đặt hay
tháo gỡ phần mềm, không đựơc thay đổi kiểu account cho chính mình Mỗi user có một thư mục
riêng,chứa các thiết lập,các Document… tương tự User Profile trong Windows.
b Quản lý nhóm:
Trang 11Để quản lý Groups,taị cửa sổ của ứng dụng Users and Groups,ta nhấn Groups Manager, và chương
trình quản lý Groups xuất hiện Tại cửa sổ này ta có thể tạo,xoá hoặc sửa một nhóm Để thêm thành viên
vào nhóm,ta chọn nhóm cần thêm thành viên và nhấn Properties,trong hộp thoại tiếp theo,sẽ xuất hiện danh sách các user đã đựơc tao,đánh dấu check vào user cần thêm vào nhóm và nhấn nút OK.
Hình 9 : Cửa sổ quản lý nhóm (nhấn thẻ Group Manager)
Hoặc ta sử dụng cách thứ 2 là tại cửa sổ quản lý Users,ta chọn một user mà ta muốn đưa vào một
group nào đó và nhấn Advanced Setting,chọn tiếp tab Advanced và chọn Main Group cho user đó.Mặc
định khi ta tao một user mà không chỉ định rõ user đó thuộc nhóm nào thì hệ thống sẽ tự động tao ra một nhóm trùng với tên của user vừa tạo
c Quyền của ngừơi dùng và nhóm :
Như đã tìm hiểu ở trên,sau khi boot từ file iso,ta sẽ vào trực tiếp hệ thống và lúc này hệ thống có một
user mặc định là Live Session User,loại user là Administrator,nên user này có thể thêm,xoá sửa
user,group và các thiết lập hệ thống,trong đó có việc cài đặt gói Install Peppermint (đã đề cập ở
trên).Trong quá trình cài đặt,hệ thống yêu cầu chúng ta tạo một user và password cho ngừơi dùng ban
đầu.Mặc định kiểu của user này là Administrator và thuộc nhóm root nên có quyền thay đổi trên hệ thống…,user Administrator này có quyền như user root,khi ta đổi ID của user này hay bất kì user nào
khác thành 0,hệ thống sẽ thông báo lỗi.Khi sử dụng hệ thống trong giao diện đồ hoạ,để sử dụng hệ thống
bằng user Root,chỉ có thể dùng lệnh trong LXTerminal bằng cách gõ sudo [lệnh] tiếp theo nhập password của admin(để sử dụng lệnh dúơi quyền root) hoặc su root (và nhập password admin để chuyển sang quyền
root)
Bây giờ chúng ta bắt đầu tìm hiểu về các quyền trên hệ thống của các loại user,khi tạo user bằng giao
diện,chúng ta có 3 loại user là : Administrator,Custom và Desktop user.(user root không cần đề cập vì
nó có mọi quyền trên hệ thống.)
Administrator : mặc định có thẩm quyền(Priviliges trong thẻ Advanced Setting khi tạo user) là
administer system nên nó có mọi quyền trên hệ thống
Custom : khi ta thêm một “thẩm quyền” cho Dektop user thì user này sẽ trở thành loại
Custom,loại user này sẽ có quyền nếu ta cấp “thẩm quyền” tương ứng cho nó,nếu ta cấp quyền administer system thì nó sẽ có mọi quyền trên hệ thống,ngang với administrator.
Desktop User : user này chỉ đựơc sử dụng các tiện ích có sẵn như : các phần mềm soạn văn
bản,phần mềm giải trí… và không có bất cứ quyền gì trên hệ thống như tạo,xoá,sửa user,cài đặt hay tháo bỏ phần mềm…