Ngoài ra, sữa còn chứa một số hợp chất khác với hàm lượng nhỏ như các hợp chất chứa nitơ phi protein, vitamine, hormone, các chất màu và khí.. Hàm lượng các chất trong sữa có thể dao độn
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG & CÔNG NGHỆ SINH HỌC
-o0o -
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT YAOURT
GVHD : Th.S Bùi Đức Chí Thiện SVTH : Từ Ngân Trâm
MSSV : 207111062
Tp.HCM, tháng 07 năm 2010
Trang 2Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, ngoài sự phấn đấu của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ của các thầy cô, gia đình và bạn bè…
Nay em trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- Con xin ghi nhớ công ơn ba mẹ, người đã sinh thành, dưỡng dục, dìu dắt con những bước đi đầu đời, tạo cho con hành trang vô giá để con bước vào cuộc sống
- Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô ở Khoa Môi trường và Công nghệ Sinh học trường Đại học Kỹ thuật và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để
em có thể hoàn thành được đồ án tốt nghiệp đúng thời hạn
- Thầy Th.S Bùi Đức Chí Thiện đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận này
- Lời cảm ơn sau cùng xin dành cho bạn bè tôi, những người đã gần gũi, chia sẻ, giúp đỡ và đồng hành với tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp cũng khó tránh khỏi những sai sót Rất mong quý thầy cô trong Hội đồng góp ý để em có thể bổ sung thêm nhiều kiến thức quý báu cho quá trình học tập, làm việc sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Các nhà dinh dưỡng và y học đều khuyên trong khẩu phần ăn của mỗi người nên bao gồm sữa vì đây là thực phẩm có nhiều tác dụng tốt cho cơ thể con người Sữa là một chất lỏng màu trắng đục chảy ra từ tuyến vú của người mẹ hoặc một số động vật giống cái để nuôi con Về ẩm thực, khi nói đến sữa thường là nói đến “sữa bò” vì loại sữa này rất thông dụng và chiếm hầu hết thị trường sữa Sữa bò
là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng cho con người vì nó chứa tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể Trong sữa có 87% nước, 3,9% chất béo, 4,9% đường lactose, 3,5% đạm, 0,7% khoáng chất và vitamin Sữa còn là nguồn cung cấp canxi rất quan trọng cho cơ thể Canxi cần cho sự duy trì các hoạt động cơ bản của cơ thể, phòng ngừa nguy cơ loãng xương, giảm cao huyết áp và ngăn ngừa ung thư đại tràng Sữa có một ít vitamin B, iod và đồng Tương tự như thịt động vật, cá và trứng, sữa là nguồn chất đạm rất phong phú với đầy đủ các amino acid cơ bản mà cơ thể cần
Hiện nay sữa là loại thức uống được tiêu thụ mạnh nhất Bởi theo phân tích của ngành Chăn nuôi Việt Nam, trong thời gian 2006 đến 2010, nhu cầu tiêu thụ sữa của người dân sẽ tăng ít nhất tương đương hoặc cao hơn giai đoạn trước (hơn 8,7% /năm) Dự kiến, năm 2010, tổng sản lượng sữa tiêu thụ của Việt Nam khoảng
1060 nghìn tấn, trung bình 12kg sữa/ người/ năm
Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm sữa và được chế biến từ sữa như: sữa tươi tiệt trùng, sữa đặc, sữa bột, sữa chua, phô mai, bơ, kem,…để người tiêu dùng lựa chọn Tuy nhiên, sản phẩm sữa chua là được tiêu thụ nhiều hơn cả
Sữa chua (Yaourt) có lợi cho hệ tiêu hoá bởi hệ vi sinh vật có trong đó Nó được xem là một trong những sản phẩm tiềm năng, có khả năng chiếm lĩnh thị trường cao ở nước ta trong tương lai Công nghệ sản xuất sữa chua vô cùng đa dạng, phong phú thay đổi theo từng vùng, từng quốc gia trên thế giới, hình thành nên rất nhiều loại sữa chua khác nhau với hương vị hấp dẫn
Trang 4
Chương 1: Nguyên liệu sữa bò tươi 01
1 Nguồn gốc nguyên liệu sữa bò 01
2 Giới thiệu về sữa bò 01
2.1 Sơ lược về sữa bò 01
2.2 Tính chất vật lý của sữa bò tươi 02
2.3 Thành phần hóa học của sữa bò tươi 03
3 Các quá trình sinh hóa xảy ra trong sữa 16
4 Các phương pháp bảo quản sữa bò tươi 17
5 Chỉ tiêu chất lượng của sữa bò tươi 17
Chương 2: Tổng quan về chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam 18
1 Tình hình chăn nuôi bò sữa 18
2 Các giống bò cao sản 19
3 Tình hình phát triển bò sữa ở Việt Nam 21
4 Điều kiện vắt sữa 21
5 Phương pháp vắt sữa bò 23
5.1 Thu hoạch thủ công 23
5.2 Thu hoạch bằng máy 28
Chương 3: Công nghệ sản xuất yaourt từ sữa bò tươi 31
1 Sơ đồ quy trình công nghệ 31
2 Thuyết minh quy trình 32
3 Chỉ tiêu chất lượng yaourt 47
4 Phương pháp về nhân giống và giữ giống vi khuẩn Lactic 49
5 Các phương pháp kiểm tra sản phẩm 49
6 Các sự cố thường gặp và cách khắc phục trong sản xuất sữa chua 51
Chương 4: Kết luận và kiến nghị 53
Trang 5Chương 1: Nguyên liệu sữa bò tươi 1.1 Nguồn gốc nguyên liệu sữa bò:
Sữa là một loại nguyên liệu rất cần thiết cho đời sống con người, nó cho
một giá trị dinh dưỡng cao Giống bò ở Hà Lan có thể cho sản lượng và chất
lượng sữa cao Việt Nam ta đã nhập giống bò này về và lai tạo thành giống bò
sữa nuôi ở các nông trại với sản lượng sữa cho ra không kém Hiện nay, bò
sữa được nuôi ở một số nơi như: Củ Chi, Bình Dương, Đồng Nai…và đang
phát triển trại bò lan dần ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như: Bến Tre,
Cần Thơ…
Mỗi ngày các nông trại nuôi bò sữa có thể cung cấp hàng triệu lít sữa cho
các nhà máy, xí nghiệp Bò cho sữa đều đặng mỗi ngày nên ta có thể thu
hoạch sữa bò liên tục 365 ngày một năm
1.2 Giới thiệu sơ lược về nguyên liệu sữa bò:
1.2.1 Sơ lược về sữa bò:
Sữa là chất lỏng sinh lý do các tuyến sữa tổng hợp được từ các hợp chất
có trong máu Sữa có đầy đủ dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể
Những chất này có khả năng đồng hóa cao Vì vậy, từ lâu con người đã biết sử
dụng sữa như một loại thực phẩm bổ dưỡng cho cơ thể, nhất là đối với trẻ sơ
sinh
Trong sữa có một số thành phần như: lipit, gluxit, protein, chất khoáng,
vitamin Ngoài ra, còn có chất màu và nhiều chất khác Trong các chất trên,
trừ nước và những chất bay hơi khi chế biến thì những chất còn lại gọi là chất
khô của sữa Hàm lượng chất khô của sữa khoảng 1020% tùy theo loại sữa
Chất khô của sữa càng nhiều thì giá trị thực phẩm càng cao, nếu không kể đến
lipit thì chất khô trong sữa gọi là chất khô không béo
Trang 6Thành phần hóa học của các loại sữa không giống nhau Chúng luôn
thay đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời kỳ tiết sữa, thành phần thức
ăn, phương pháp vắt sữa, điều kiện chăn nuôi, sức khỏe, tuổi, độ lớn của con
vật, loài, giống và nhiều yếu tố khác
Bảng 1.1 Thành phần hóa học của sữa từ các loại động vật khác nhau:
Tổng chất khô(%)
Béo (%)
Protein (%)
Casein (%)
Lactose (%)
1.2.2 Tính chất vật lý của sữa bò tươi:
Sữa là một chất lỏng đục Độ đục của sữa là do các chất béo, protein và
một số chất khoáng trong sữa tạo nên Màu sắc của sữa phụ thuộc chủ yếu vào
hàm lượng Caroten có trong chất béo của sữa Sữa bò thường có màu từ
trắng đến vàng nhạt Sữa gầy (sữa đã được tách béo – skimmilk) thường trong
hơn và ngả màu xanh nhạt Sữa bò có mùi rất đặc trưng và vị ngọt nhẹ Sữa
tươi có giá trị pH trung bình là 6,6 Khi sữa bị nhiễm vi sinh vật như nhóm vi
khuẩn lactic, chúng sẽ chuyển hóa đường lactose trong sữa thành acid lactic và
làm giảm giá trị pH của sữa Hàm lượng chất béo trong sữa càng cao thì tỷ
trọng của sữa càng thấp
Tỷ trọng 1.028 – 1.038 (g/l)
pH 6.5 – 6.8
Tỷ nhiệt 0.93
Trang 7Điểm đông 0.550C
Nhiệt độ sôi 100.20C
Chỉ số khúc xạ ở 200C 1.35
Độ nhớt 1.7 – 2.5cp
Độ acid được tính bằng độ Dornic – 0D 16 – 18
( Decigram acid lactic/ lít sữa)
1.2.3 Thành phần hóa học của sữa bò tươi:
Sữa là một hỗn hợp với các thành phần chính bao gồm nước, lactose,
protein và các chất béo Ngoài ra, sữa còn chứa một số hợp chất khác với hàm
lượng nhỏ như các hợp chất chứa nitơ phi protein, vitamine, hormone, các
chất màu và khí Hàm lượng các chất trong sữa có thể dao động trong một
khoảng rộng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng động vật nuôi, tình
trạng sinh lý của từng con vật, điều kiện chăn nuôi (thành phần thức ăn gia
súc, chế độ cho ăn, thời tiết…)
Bảng 1.2 Sự thay đổi hàm lượng các chất trong sữa bò (% khối lượng)
Các thành phần chính Khoảng biến thiên Giá trị trung bình
87,5 13,0 4,8 3,4 3,9 0,8
1.2.3.1 Nước : là thành phần chiếm chủ yếu của sữa và đóng vai trò quan
trọng, là dung môi hòa tan các chất hữu cơ và vô cơ, là môi trường cho các
phản ứng sinh hóa Hàm lượng nước trong sữa chiếm 87% Phần lớn lượng
nước trong sữa có thể thoát ra ngoài khi đun nóng Người ta làm bay hơi nước
ở sữa để chế biến thành sữa đặc, sữa bánh hoặc sữa bột là những sản phẩm dễ
Trang 81.2.3.2 Tổng các chất khô: được hiểu là hàm lượng các chất còn lại trong
sữa sau quá trình bài khí và làm bốc hơi toàn bộ lượng nước (dạng không liên
kết) có trong sữa Đại lượng này thường được biểu diễn dưới dạng phần trăm
(%) khối lượng Chất khô không béo là hiệu số giữa tổng các chất khô (TS) và
hàm lượng chất béo trong sữa Từ bảng 1.1, ta suy ra giá trị trung bình của
hàm lượng chất khô không béo trong sữa bò là 13,0 – 3,9 = 9,1%
Đường lactose: lactose là một disaccharid do một phân tử glucose và
một phân tử galactose liên kết với nhau tạo thành Trong sữa đường lactose
tồn tại dưới hai dạng :
Dạng lactose monohydrate: C12H22O11.H2O
Dạng lactose khan: C12H22O11
Tỷ lệ hàm lượng giữa lactose monohydrate và lactose khan trong
sữa phụ thuộc vào giá trị pH và nhiệt độ của sữa
Chỉ có sữa động vật là nguồn chứa lactose duy nhất trong tự nhiên
Ngoài lactose, trong sữa bò còn có glucose (hàm lượng trung bình 70mg/l),
galactose (20mg/l) và các hợp chất glucid chứa nitơ như Nacetyl
glucosamine, Nacetyl galactosamine, acid Nacetyl neuraminic Tuy nhiên,
hàm lượng của chúng rất thấp, chỉ ở dạng vết Ở nhiệt độ cao, lactose bị biến
đổi thành sản phẩm caramen Vì vậy khi khử trùng sữa, một phần lactose bị
caramen hóa nên màu của sữa đã khử trùng thường sẫm hơn sữa chưa khử
trùng, đồng thời lactose còn có thể kết hợp với các nhóm amin của protein sữa
(casein) để tạo thành hợp chất melanoidin có màu sẫm
Dưới tác dụng của vi khuẩn lactic, lactose bị lên men thành acid lactic
gọi là quá trình lên men lactic Dưới tác dụng của vi khuẩn propionic, acid
lactic có thể chuyển hóa thành acid propionic, acid acetic và khí cacbonic
Phản ứng này là cơ sở của quá trình chế biến một số loại phômai Sự lên men
Trang 9lactic được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất các sản phẩm chế biến của sữa như
sữa chua, phômai…
Các hợp chất có chứa nitơ:
Hình 1.3 Sơ đồ thành phần các hợp chất chứa nitơ trong sữa
Nhóm hợp chất hữu cơ quan trọng nhất của sữa là protein Các protein
của sữa là những protein hoàn thiện Trong thành phần protein của sữa có tới
18 loại axit amin khác nhau, trong đó có đầy đủ 8 axit amin không thay thế
được là Valine, Leucin, Isoleucin, Methyonine, Treonine, Phenyalanine,
Triptophan và Lyzine Trong sữa có 3 loại protein chủ yếu: casein chiếm
khoảng 7585%, lactalbumin chiếm khoảng 12% và lactoglobulin chiếm
khoảng 6% trong toàn bộ lượng protein trong sữa và còn một vài loại protein
khác nhưng hàm lượng không đáng kể
- Casein:
Là thành phần protein chủ yếu có trong sữa Chúng tồn tại dưới dạng
micelle Mỗi micelle chứa khoảng 65% nước, phần còn lại là các loại casein
và khoáng (gồm calci, magie, phosphate và citrate) Trong sữa có các loại
casein khác nhau như: scasein, casein, casein, casein scasein và
Các hợp chất chứa nitơ trong sữa bò (100%)
Protein (95%) Các hợp chất chứa nitơ phi protein (5%):
Acid amin tự do Nucleotide Ure Acid uric Protein hòa tan (1525%):
lactoglobulin
lactalbumin Proteosepeptone Serumalbumin Immunoglobulin Phân đọan protein hòa tan (không đông tụ ở pH = 4.6)
Phân đoạn protein
trong micelle (đông
tụ ở pH = 4.6)
Trang 10casein không tan trong sữa tươi Các protein này chứa nhóm photphate (trong
đó photpho chiếm khoảng 0,8% trong toàn casein) và nhóm photphate này kết
hợp với ion Ca2+ Sự trung hòa một phần lớn các điện tích âm ngăn ngừa s
casein và casein kết khối và kết tủa
- Protein hòa tan gồm : lactoglobulin, lactalbumin, peptoneproteose,
immunoglobulin Ngoài ra, trong sữa còn có các protein màng Hàm lượng
của chúng rất thấp Màng protein tạo nên một lớp màng mỏng bao xung quanh
các hạt béo, góp phần làm ổn định hệ nhũ tương trong sữa
-lactalbumin: còn gọi là albumin của sữa Hàm lượng lactalbumin
trong sữa không nhiều, khoảng 0,51,0% tùy theo từng loại sữa Trong sữa
non có nhiều lactalbumin hơn trong sữa thường Khác với casein,
lactalbumin ở trong sữa dưới dạng hòa tan Dưới tác dụng của nhiệt độ cao
lactalbumin bị đông tụ Trong môi trường acid, khi tăng nhiệt độ thì mức độ
đông tụ nhanh hơn Các enzym làm đông tụ casein không có khả năng làm
đông tụ lactalbumin Sau khi đông tụ, lactalbumin mất khả năng hòa tan
lại trong nước, nó chỉ có thể hòa tan lại trong một vài loại dung môi
-lactoglobulin : còn gọi là globulin của sữa Hàm lượng
lactoglobulin ở trong sữa khoảng 0,10,2% tùy từng loại sữa lactoglobulin
cũng có nhiều trong sữa non dưới dạng hòa tan Nó cũng bị đông tụ khi nhiệt
độ tăng và không bị đông tụ dưới tác dụng của enzym làm đông tụ casein Sau
khi bị đông tụ, lactoglobulin cũng mất khả năng hòa tan lại trong nước
1.2.3.3 Enzym :
Là những chất xúc tác phản ứng, có bản chất là protein Sự có mặt của
các enzym trong sữa là nguyên nhân gây biến đổi thành phần hóa học của sữa
trong quá trình bảo quản, từ đó là giảm chất lượng hoặc làm hư hỏng sữa Tuy
nhiên, một số enzym có trong sữa như lactoperoxydase, lysozym có vai trò
kháng khuẩn Chúng tham gia vào việc ổn định chất lượng sữa tươi trong quá
Trang 11trình bảo quản trước khi chế biến Hàm lượng vi sinh vật trong sữa càng cao
thì thành phần enzym có trong sữa càng đa dạng và họat tính enzym sẽ càng
cao
Lactoperoxydase: enzym này luôn có trong sữa động vật, nó do tuyến vú
tiết ra Enzym xúc tác phản ứng chuyển hóa oxy từ hydrogen peroxyde (H2O2)
đến các chất oxy hóa khác Enzym có pH tối thích là 6,8 Trong sữa non, hàm
lượng enzym thường cao hơn Khi đun nóng sữa đến 80oC trong vài giây,
lactoperoxydase sẽ bị vô hoạt
Catalase: được tìm thấy trong protein màng bao xung quanh các hạt cầu
béo Enzym này xúc tác phản ứng phân hủy hydrogen peroxydase thành nước
và oxy tự do Sữa tươi từ những con vật khỏe mạnh chứa một lượng catalase
rất thấp Sữa nhiễm vi sinh vật thường có họat tính catalase rất cao Catalase
bị vô hoạt ở 75oC sau thời gian 1 phút hoặc vô hoạt ở 6568oC sau 30phút
Lipase: người ta tìm thấy một hệ enzym lipase trong sữa bò Chúng xúc tác
thủy phân liên kết ester trong triglycerid và giải phóng ra các acid béo tự do
Sự thủy phân triglycerid làm tích lũy các acid béo tự do trong sữa Quá trình
phân giải tiếp các acid béo này làm cho sữa có mùi ôi khét và mùi kim loại
Phosphatase: Các phosphatase tìm thấy trong sữa chủ yếu thuộc về nhóm
phosphomonoesterase Chúng xúc tác phản ứng thủy phân liên kết ester giữa
acid phosphoric và glycerin Có hai dạng phosphomonoesterase trong sữa :
phosphatase kiềm và phosphatase acid
Phosphatase kiềm: có pH tối thích là 9,6 Một trong những tính chất đặc
trưng của phosphatase kiềm là khả năng tái hoạt hóa của nó Sau quá trình
thanh trùng, nếu ta kiểm tra ngay mẫu sữa thì không phát hiện thấy hoạt tính
phosphatase kiềm Tuy nhiên, sau một thời gian bảo quản, trong sữa sẽ xuất
hiện trở lại hoạt tính enzym này Người ta gọi đây là hiện tượng tái hoạt hóa
của phosphatase kiềm và đến nay vẫn chưa tìm được lời giải thích rõ ràng về
Trang 12hiện tượng này Để tránh hiện tượng hoạt hóa của phosphatase kiềm, ta cần
làm lạnh nhanh sữa sau quá trình thanh trùng và bảo quản sữa ở nhiệt độ thấp
(2oC) Một số nghiên cứu cho rằng, sự có mặt của ion Ca2+ và Mg2+ thúc đẩy
quá trình tái hoạt hóa enzym, ngược lại, các ion Co2+, Cu2+ và Ni2+ lại kìm
hãm hiện tượng này
Phosphatase acid: enzym này có pH tối thích là 4,7 và là enzym bền nhiệt
nhất trong sữa Để vô hoạt nó hoàn toàn, ta cần gia nhiệt sữa đến 96oC và giữ
ở nhiệt độ này trong thời gian tối thiểu là 5 phút Phosphatase acid bị vô hoạt
bởi NaF
Lysozym: là một glucosaminidase (hay muramidase) có phân tử lượng
khoảng 1400018000Da và là một enzym bền nhiệt Lysozym xúc tác phản
ứng thủy phân liên kết giữa acid muramic và glucosamine của
mucopolysaccharide trong màng tế bào vi khuẩn, từ đó gây phân hủy tế bào
Lysozym trong sữa bò hoạt động ở pH tối thích là 7,9 Hàm lượng lysozym
trong sữa bò trung bình là 130g/l, khoảng 3000lần thấp hơn trong sữa người
(400mg/l)
Protease: theo Humber và Alais (1979) thì có hai loại enzym: protease acid
và protease kiềm được tiết ra từ tuyến vú Chúng thường liên kết với casein và
cũng bị kết tủa ở pH = 4,6 Các enzym protease xúc tác phản ứng thủy phân
protein, tạo các sản phẩm như proteosepeptone, peptide và các acid amin tự
do Sản phẩm thủy phân là casein và các phân đoạn proteosepeptone có
phân tử lượng khác nhau Các protease acid có trong sữa có pH tối thích là
4,0, còn protease kiềm hoạt động mạnh nhất ở pH = 7,58,0 Chúng bị vô hoạt
hoàn toàn ở 80oC sau 10 phút
Trang 131.2.3.4 Lipid :
Bảng 1.4 Thành phần lipid trong sữa bò
Thành phần
Hàm lượng (% so với tổng khối lượng lipid)
Bảng 1.5 Thành phần các acid béo trong sữa
Tên acid béo
Số nguyên tử
C
% so với tổng lượng acid béo trong sữa
Nhiệt độ nóng chảy (oC)
Trạng thái vật
lý ở nhiệt độ phòng Acid bão hòa:
7,9
1,5 +16,5 +31,4 +43,6 +53,8 +62,6
Lỏng Lỏng Lỏng Lỏng/rắn Rắn Rắn Rắn
Trang 14+69,3 +75,0
Rắn Rắn
Acid không bão
Không lớn hơn 1.0
Hàm lượng các acid béo không bão hòa trong sữa được xác định bởi chỉ
số iod của chất béo Chỉ số khúc xạ của sữa thay đổi phụ thuộc vào thành phần
định tính và định lượng các acid béo có trong sữa Đối với sữa bò, chỉ số khúc
xạ dao động từ 4046 Nếu sữa chứa nhiều acid béo nóng chảy ở nhiệt độ cao
thì lipid sữa sẽ có “cấu trúc cứng” Ngược lại, sữa chứa nhiều acid béo nóng
chảy ở nhiệt độ thấp thì lipid sữa sẽ có “cấu trúc mềm” hơn Lipid phức tạp
gồm 2 nhóm chính:
Nhóm 1: hợp chất với glycerol
Nhóm 2: hợp chất với sphingosine (C18H37NO2)
Các chất béo trong sữa thường có dạng hình cầu, đường kính dao động
từ 0,1 20m Trong 1ml sữa có khoảng 1015 tỷ hạt cầu béo Do đó, ta có
thể xem sữa là một hệ nhũ tương dầu trong nước Các hạt cầu béo được bao
bọc bởi một lớp màng lipoprotein tích điện âm Các màng này có vai trò làm
bền hệ nhũ tương trong sữa Các hạt cầu béo có thành phần chủ yếu là
glyceride, phospholipid và protein Phân tử phospholipid có hai đầu: đầu ưa
béo (không phân cực) sẽ tương tác với các phân tử glyceride ở tâm cầu; đầu
ưa nước (phân cực) sẽ kết hợp với màng protein bao xung quanh hạt cầu béo
Nếu ta không đồng hóa sữa tươi, trong thời gian bảo quản các hạt cầu béo có
Trang 15xu hướng kết hợp lại với nhau thành chùm nhờ một protein kém bền nhiệt là
euglobulin Do tỷ trọng các hạt béo nhỏ hơn nước nên chúng sẽ nổi lên trên bề
mặt sữa dưới tác dụng của lực đẩy acsimet và tạo nên váng sữa Khi đó trong
sữa tồn tại hai pha lỏng tách biệt: pha trên cùng với thành phần chủ yếu là
lipid; pha dưới có tỷ trọng lớn hơn gồm nước và một số chất hòa tan trong sữa
như đường lactose, khoáng, một số protein
1.2.3.5 Khoáng:
Hàm lượng chất khoáng trong sữa dao động từ 810g/L Các muối trong
sữa ở dạng hòa tan hoặc dung dịch keo (kết hợp với casein) Trong số các
nguyên tố khoáng có trong sữa, chiếm hàm lượng cao nhất là calci, phosphore
và magie Một phần chúng tham gia vào cấu trúc micelle, phần còn lại tồn tại
dưới dạng muối hòa tan trong sữa Các nguyên tố khoáng khác như: kali, natri,
clo đóng vai trò là chất điện ly (electrolyte) Ngoài ra, sữa còn chứa các
nguyên tố khác như: Zn, Fe, I, Cu, Mo Chúng cần thiết cho quá trình dinh
dưỡng của con người
1.2.3.6 Vitamin:
Các vitamin trong sữa được chia làm hai nhóm:
Vitamin hòa tan trong nước gồm: B1, B2, B3, B5, B6, C…
Vitamin hòa tan trong chất bao gồm: A, D, E, K
Bảng 1.6 Hàm lượng một số vitamin trong sữa bò
Vitamin Hàm lượng Vitamin
Hàm lượng (mg/L)
Vitamin
Hàm lượng (g/L)
g/L 0.751.00 mg/L
B12
C Biotine Acid folic
4.3
20
30 2.8
Trang 161.2.3.7 Hormone:
Hormone do các tuyến nội tiết tiết ra và giữ vai trò quan trọng trong quá
trình sinh trưởng của động vật Trong sữa bò, ta có thể tìm thấy nhiều loại
hormone Chúng được chia thành ba nhóm là proteohormone, hormone
peptide và hormone steoride
1.2.3.8 Các hợp chất khác:
Trong sữa bò còn chứa các chất khí, chủ yếu là CO2, O2 và N2 Tổng
hàm lượng của chúng chiếm từ 5% đến 6% thể tích sữa Các chất khí trong
sữa thường tồn tại ở ba dạng: dạng hòa tan, dạng liên kết hóa học với các chất
khác và dạng phân tán Khí ở dạng hòa tan hoặc phân tán thường gây ra một
số khó khăn trong các quy trình chế biến Do đó, sữa tươi thường được qua xử
lý bài khí trước khi chế biến
1.2.3.9 Hệ vi sinh vật và vai trò của chúng trong sữa bò: được chia làm
2 nhóm
Procaryote: nhóm vi sinh vật procaryote có nhân chưa hoàn chỉnh Vùng
nhân chỉ là mạch AND xoắn kép nằm trong tế bào chất, lưu giữ các thông tin
di truyền cho tế bào Đại diện quan trọng cho nhóm procaryote là vi khuẩn Số
lượng vi khuẩn trong sữa bò tươi sau khi vắt có thể dao động từ vài nghìn đến
vài triệu khuẩn lạc trong 1ml sữa Sữa được đánh giá là có chất lượng vệ sinh
khá tốt khi tổng số vi khuẩn trong 1ml sữa không lớn hơn 100.000 khuẩn lạc
Các vi khuẩn thường gặp trong sữa là: vi khuẩn lactic, Coliform, vi khuẩn sinh
acid butyric, vi khuẩn sinh acid propionic và các vi khuẩn gây thối
Vi khuẩn lactic: rất phổ biến trong tự nhiên Chúng thường được tìm
thấy trên các loại rau, trái cây và trong hệ thống đường ruột của động vật Để tồn tại trong môi trường sữa, vi khuẩn lactic tổng hợp năng lượng ATP từ cơ chất lactose Acid lactic là một trong những sản phẩm được sinh ra từ quá trình tổng hợp năng lượng trên Dựa vào
Trang 17nhóm sản phẩm được tổng hợp từ quá trình trao đổi năng lượng, người ta chia vi khuẩn lactic thành hai nhóm: vi khuẩn lactic đồng
hình và vi khuẩn lactic dị hình Trong công nghệ lên men các sản
phẩm từ sữa như: yoghurt, kefir, phô mai và một số loại bơ, người ta
sử dụng các loài vi khuẩn lactic để thực hiện một số chuyển hoá cần thiết Giống vi khuẩn lactic trong sản xuất công nghiệp là những canh
trường vi sinh vật thuần khiết được nhân lên qua nhiều cấp từ một tế
bào vi khuẩn ban đầu đã qua tuyển chọn Còn các vi khuẩn lactic có
mặt trong sữa tươi sau khi vắt được xem là những vi sinh vật tạp nhiễm Chúng sẽ tạo ra những chuyển hoá ngoài ý muốn của nhà sản xuất trong quá trình bảo quản sữa trước khi chế biến (giảm pH, đông
tụ casein, xuất hiện các hợp chất mới trong sữa như: ethanol, acid acetic…làm thay đổi thành phần và giá trị cảm quan của sữa) Các vi
khuẩn lactic nhiễm vào sữa thuộc nhiều giống khác nhau như:
Streptococcus, Lactococcus, Lactobacillus Leuconostoc, Bifidobacterium…Chúng gồm các nhóm vi khuẩn lên men đồng hình
lẫn dị hình Khi thanh trùng sữa ở 80oC, hầu hết cácvi khuẩn lactic nhiễm trong sữa sẽ bị tiêu diệt
Vi khuẩn Coliform: trong sữa, vi khuẩn Coliform sẽ chuyển hoá
đường lactose tạo acid lactic và các acid hữu cơ khác, khí CO2,
H2…Chúng cũng phân giải protein trong sữa tươi tạo ra các sản phẩm khí làm cho sữa có mùi khó chịu Ở nhiệt độ 75oC trong khoảng thời
gian 20 giây, vi khuẩn Coliform sẽ bị tiêu diệt
Vi khuẩn sinh acid butyric (giống Clostridium): chúng dễ bị nhiễm
vào sữa Trong sữa vi khuẩn này chuyển hoá đường trong sữa thành nhiều sản phẩm khác nhau như acid butyric, butanol, ethanol, aceton, khí CO2, H2…làm thay đổi thành phần hoá học và giá trị cảm quan của sữa trong quá trình bảo quản Quá trình thanh trùng sữa không thể
Trang 18tiêu diệt được hoàn toàn các bào tử Clostridium chịu nhiệt Khi đó, ta
phải dùng các giải pháp kỹ thuật khác như vi lọc, ly tâm hoặc sử dụng
chất kháng khuẩn để loại bỏ hoặc ức chế Clostridium
Vi khuẩn propionic (giống Propionibacterium): được tìm thấy trong
dạ cỏ và đường ruột của nhóm động vật nhai lại…Vi khuẩn propionic
chuyển hoá đường thành acid propionic, acid acetic, khí CO2…làm
hư hỏng chất lượng sữa Tuy nhiên, trong công nghệ sản xuất một số loại phô mai như Emmenthal…người ta sử dụng canh trường
Propionibacterium thuần khiết để tạo ra cấu trúc lỗ hổng (mắt phô
mai) và hương vị đặc trưng cho sản phẩm Hầu hết các vi khuẩn
propionic bị tiêu diệt khi thanh trùng sữa ở 75oC trong thời gian 20 giây
Vi khuẩn gây thối: đó là các vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp
protease ngoại bào trong môi trường sữa Protease sẽ xúc tác quá trình thuỷ phân protein tạo ra các sản phẩm polypeptide, peptide và acid amin Một số acid amin tiếp tục bị phân huỷ tạo NH3, H2S…làm cho sữa có mùi khó chịu Vài giống vi khuẩn gây thối có khả năng sinh tổng hợp lipase ngoại bào Enzym này xúc tác quá trình thuỷ phân các chất béo trong sữa và tạo nhiều sản phẩm có mùi ôi Các
giống vi khuẩn gây thối thường gặp trong sữa là Pseudomonas, Brevibacterium, Achromobacter, Alcaligenes, Bacillus, Micrococcus… Đáng chú ý hơn cả là loài Pseudomonas fluorescens
Các enzyme protease và lipase được sinh tổng hợp bởi loài vi khuẩn này rất bền nhiệt Chúng là nguyên nhân chính gây nên quá trình phân giải protein và lipid, nhanh chóng làm hư hỏng chất lượng sữa
Ngoài hai qua trình thuỷ phân nói trên, một số vi khuẩn gây thối còn tạo khí (CO2, H2…), sinh tổng hợp các acid hữu cơ làm giảm pH sữa
và đông tụ protein Một số vi khuẩn khác có thể sinh tổng hợp được
Trang 19protease có chức năng xúc tác tương tự như rennin làm xuất hiện sự đông tụ casein trong sữa
Eucaryote: nhóm VSV này có nhân hoàn chỉnh, nằm trong tế bào, nhân
được bao bọc bởi màng nhân, bên trong là các nhiễm sắc thể lưu giữ thông tin
di truyền Hai đại diện của nhóm này thường được tìm thấy trong sữa là nấm
men và nấm sợi
Nấm men: là những cơ thể đơn bào, thường có hình cầu, oval hoặc
hình trứng…Một số loài nấm men thường gặp trong sữa là
Saccharomyces cerevisiae, Kluyveromyces marxianus, Debaromyces hanseni,…Một số nấm men có thể sử dụng đường lactose cho quá
trình trao đổi chất Chúng phát triển trong sữa và gây ra những biến đổi về thành phần hoá học trong quá trình bảo quản sữa
Nấm sợi: có dạng hình sợi, phân nhánh Một số loài nấm sợi thường
nhiễm vào sữa: Penicillium camemberti, P.roqueforti, P.casei,…Trong số các nấm sợi trên, vài loài thuộc giống Penicillium
được sử dụng trong sản xuất một số loại phô mai Việc nhiễm nấm sợi vào sữa gây nhều khó khăn trong công nghệ chế biến sữa
Tuy nhiên, khác với nhóm vi khuẩn sinh bào tử chịu nhiệt, hầu hết các
loài nấm men và nấm sợi đều bị tiêu diệt trong quá trình thanh trùng sữa ở
75oC trong thời gian từ1015 giây Vấn đề quan trọng là phải tuân thủ nghiêm
ngặt các quy định về vệ sinh để tránh hiện tượng tái nhiễm VSV vào sữa sau
khi đã qua thanh trùng
1.3 Các quá trình sinh hóa xảy ra trong sữa:
Sữa tươi là môi trường rất thích hợp cho sự xâm nhập và phát triển của
các loại vi sinh vật Do sự phát triển của vi sinh vật nên trong sữa tươi có xảy
ra nhiều quá trình sinh hóa phức tạp, trong đó có biến đổi có lợi như sự lên
Trang 20men lactic, nhưng chủ yếu là các quá trình biến đổi có hại, làm giảm chất
lượng của sữa và cuối cùng dẫn đến hư hỏng
Một số quá trình biến đổi chủ yếu xảy ra trong bảo quản sữa tươi:
Sự lên men lactic (sự lên men chua của sữa): chúng phân giải
đường lactose thành nhiều chất phức tạp, chủ yếu là tạo thành acid lactic Sự lên men lactic được ứng dụng trong việc sản xuất sữa chua.Sự lên men lactic xảy ra chủ yếu do tác động của vi khuẩn lactic Vi khuẩn lactic không bền vững dưới tác động của nhiệt độ cao Khi đun nóng sữa tới 60650C trong khoảng 1530 phút vi khuẩn lactic sẽ bị tiêu diệt
Sự lên men butiric: là quá trình biến đổi không có lợi của sữa Dưới
tác dụng của vi khuẩn này, đường lactose và các muối của acid lactic
bị lên men tạo thành acid butyric, một số chất khí, một số hợp chất acid… làm giảm chất lượng của sữa Vi khuẩn butyric hoạt động mạnh ở nhiệt độ khoảng 400C
Sự thối rữa: hiện tượng sữa tươi bị thối rữa là do nhiều loại vi sinh
vật phát triển phân hủy các hợp chất protein của sữa thành những sản phẩm có mùi thối khó chịu Ngoài ra, bản thân các loại vi khuẩn gây thối rữa có thể tự tiết ra các chất độc hoặc phân giải protein thành các chất độc làm cho sữa bị nhiễm độc, chất lượng của sữa giảm dần, thậm chí còn không dùng làm thực phẩm được nữa
1.4 Các phương pháp bảo quản sữa bò tươi:
Sữa sau khi vắt, lượng vi sinh vật thay đổi khá nhiều Bản thân sữa còn
chứa nhiều hệ enzym xúc tác cho các phản ứng sinh hóa làm giảm giá trị của
sữa Để hạn chế sữa bị giảm chất lượng, người ta tiến hành bảo quản sữa bằng
nhiều phương pháp khác nhau ở điều kiện thích hợp như là:
Phương pháp vật lý: làm lạnh, đun nóng
Trang 21 Phương pháp hóa học: dùng một số hóa chất để tiêu diệt hoặc ức chế sự
sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật
Phương pháp sinh học: chủ yếu nhờ quá trình lên men lactic để ức chế
sự phát triển của vi sinh vật khác
1.5 Các chỉ tiêu của chất lượng sữa:
Khi đánh giá chất lượng của sữa tươi, người ta thường tiến đánh giá
đồng thời các chỉ tiêu như sau:
Chỉ tiêu về cảm quan: trạng thái, màu sắc, mùi vị …
Chỉ tiêu lý hóa: tỷ khối, hàm lượng chất khô, hàm lượng chất béo, độ
acid …
Chỉ tiêu vi sinh: tổng số vi sinh vật ( tạp trùng ) trong 1ml sữa, vi trùng
gây bệnh, nấm mốc …
Trang 22Chương 2: Tổng quan về chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam 2.1.Tình hình chăn nuôi :
Sau khi có quyết định 167/2001/QĐTTG của thủ tướng chính phủ ngày
26/10/2001 phong trào phát triển bò sữa ở nước ta bước vào giai đoạn mới,
tổng đàn bò sữa hàng năm tăng nhanh, tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2001
BQ gđ 2001
2005(%
)
Tỷ lệ
%/so vói cả nước năm
Đông Nam Bộ là vùng có số lượng đàn bò sữa cao nhất nước và Tây
Nguyên có số lượng đàn bò thấp nhất nước
Trang 23Các giống bò ngoại thường cho sản lượng sữa cao so với các giống bò
nội, một số giống cho năng suất cao như:
Bò Holstein thuần chủng (bò HF): đây là giống bò sữa chuyên dụng
cao sản của Hà Lan Màu lông đen vá trắng hoặc trắng vá đen, tỷ lệ đen trắng
thông thường là 50% 50% Bò Hà Lan thuần thường có 6 điểm trắng: giữa
trán, chóp đuôi và 4 chân Đây là giống bò có sản lượng sữa nhiều và tốt nhất
và được nuôi với tỷ lệ cao nhất trong các giống bò sữa hiện nay
Được nhập về Việt Nam từ những năm 19631964 tại Mộc Châu (tỉnh
Sơn La) và hiện được nuôi ở đó với quy mô lớn.Sản lượng sữa đạt 5500 –
6000kg/305 ngày.Tỉ lệ mỡ sữa là 3.6%
Trang 24Hình 2.1 Hình dáng của bò Holstein
- Bò Jersey thuần chủng: có nguồn gốc từ đảo Jersey ở eo biển
Mangche giữa Anh và Pháp Đây là giống bò sữa có tầm vóc nhỏ nhất nhưng
có ngoại hình rất đẹp và hiệu suất cho sữa khá cao Bò có sắc lông màu nâu
nhạt đốm đen.Bò có khả năng gặm cỏ tốt.Tuy có nguồn gốc từ xứ ôn đới
nhưng có khả năng chịu được khí hậu của nhiệt đới
Ưu điểm là khả năng chống chịu tốt, dễ thích nghi và chịu kham khổ tốt
hơn bò HF, sản lượng sữa chỉ bằng 1/31/2 bò HF (35004000kg/chu kỳ 270
ngày) nhưng tỷ lệ mỡ sữa cao từ 5.2 5.8%, chất lượng sữa thơm ngon.Bò này
có sự trưởng thành sinh dục sớm, con cái từ 1214 tháng tuổi đã cho phối lần
đầu
Hình 2.2 Hình dáng của bò Jersey
Ngoài ra còn có một số giống bò lai: chúng được sinh sản bằng phương
pháp thụ tinh nhân tạo, tinh đực giống đều là tinh bò Holstein Friesian thuần
chủng:
Bò lai HF Jersey: con lai được tạo ra từ bò mẹ Jersey thuần với tinh bò
đực giống Hà Lan
Trang 25 Bò AFS: đây là một giống bò lai của Australia, được lai tạo giữa giống
bò địa phương với bò Holstein Friesian và bò Siwan Giống bò này tuy sản
lượng sữa không cao như bò HF, nhưng có ưu điểm là khoẻ mạnh, ít ốm đau,
thích nghi được với những vùng thời tiết khí hậu khô nóng
2.3 Tình hình phát triển giống bò sữa ở Việt Nam :
Bò HF thuần chủng được đưa về Việt Nam (cụ thể là ở Mộc Châu và
Lâm Đồng) từ những năm 19631964 cùng với 114 con bò lang trắng đen từ
Trung Quốc Năm 19751976 nhập 879 con Hoslstein Friesian từ Cu Ba Trải
qua 910 thế hệ đàn bò này đã thích nghi với khí hậu cũng như môi trường tại
Việt Nam
Năm 20012002 nhập 49 con bò Hoslstein Friesian từ Mỹ theo chương
trình phát triển bò sữa quốc gia, nhằm phát triển nguồn gen quý à một giống
bò có tầm vóc to lớn và cho sản lượng sữa cao Trong chương trình phát triển
bò sữa của tỉnh Sơn La năm 2003 nhập 374 bò Hoslstein Friesian từ Australia
và chúng được nuôi, sinh sản và sản xuất tại Mộc Châu
Bò sữa ở nước ta cho năng suất thấp hơn các giống bò ngoại Cơ cấu của
đàn bò sữa Việt Nam hiện nay chủ yếu là bò lai HF được lai từ giống bò
Holstein của Hà Lan chiếm gần 85% tổng đàn bò sữa, tỷ lệ máu bò lai HF ở
đàn bò lai thường từ 50%, 75% và 87,5% Số lượng bò thuần HF chiếm 14%
tổng đàn Số còn lại là các giống bò khác
2.4 Điều kiện vắt sữa :
Đối với các loài động vật khác nhau thì thành phần hoá học của sữa sẽ
khác nhau, ngay cả ở những động vật cùng loài cũng không giống nhau
Thành phần và chất lượng của sữa ở các loài hay ở những động vật cùng loài
luôn thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thành phần thức ăn, điều kiện
chăn nuôi, sức khoẻ, trọng lượng của con vật, thời kỳ tiết sữa, phương pháp
Trang 26vắt sữa, loài giống và nhiều yếu tố khác Sau đây là một số yếu tố quan trọng
cụ thể ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng của các thành phần trong sữa:
Loài, giống động vật: sữa vắt từ các loài động vật khác nhau thì khác
nhau, ngay cả sữa vắt từ một loài động vật nhưng giống khác nhau cũng sẽ
khác nhau mặc dù điều kiện chăn nuôi và phương pháp vắt sữa giống nhau
Do vậy, trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa người ta phải chọn giống cho nhiều
sữa và sữa có chất lượng tốt
Điều kiện chăn nuôi: thời tiết, thức ăn, chuồng trại có ảnh hưởng tới số
lượng và chất lượng sữa Thông thường, sữa vắt vào mùa hè ít lipid hơn sữa
vắt vào mùa đông; sữa vắt vào mùa hè, mùa xuân nhiều vitamin và chất màu
hơn sữa vắt vào mùa đông
Thể trạng của con vật: sữa vắt từ các con vật khoẻ mạnh thì khác hẳn từ
các con vật ốm yếu, như sữa vắt từ con bò bị bệnh lao thì trong thành phần sữa
vắt có nhiều vi trùng lao, sữa vắt từ các con vật bị viêm vú thì trong sữa vắt có
các tế bào hồng cầu …
Thời kỳ tiết sữa: là khoảng thời gian bắt đầu có sữa đến khi hết sữa Thời
kỳ tiết sữa ở các con vật không giống nhau Thời kỳ tiết sữa của bò sữa trung
bình từ 8 đến 10 tháng Trong khoảng thời gian 710 ngày đầu của thời kỳ tiết
sữa, sữa vắt trong thời gian này được gọi là sữa non (sữa đầu) có thành phần
khá đặc biệt: hàm lượng protein sữa non nhiều hơn sữa thường có khi gấp 23
lần; chất khoáng, chất miễn dịch và chất men nhiều hơn sữa thường rất thích
hợp cho bê con nhưng sữa non có mùi vị kém thơm ngon hơn sữa thường do
đó khi vắt sữa bò người ta không lấy sữa non Sữa vắt trong những ngày cuối
của thời kỳ tiết sữa gọi là sữa cuối hoặc sữa già, sữa già có vị đắng hơn và
nhiều enzym lipase hơn sữa thường
Phương pháp vắt sữa: để vắt được nhiều sữa trước hết con vật phải thuộc
giống cho nhiều sữa, kỹ thuật chăn nuôi phải tốt, nhưng ngoài ra còn một yếu
Trang 27tố quan trọng có ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng sữa vắt được đó là
phương pháp vắt sữa Có nhiều phương pháp vắt sữa: vắt bằng tay, bằng máy,
phối hợp vắt bằng máy và bằng tay Sử dụng phương pháp nào là do tùy từng
nông trại chăn nuôi bò hay do thói quen của từng con vật thì sữa vắt sẽ vừa
nhiều, vừa tốt
2.5 Phương pháp vắt sữa bò:
Quá trình vắt sữa quyết định đến sản lượng sữa thu hoạch được từ mỗi
con bò cũng như các chỉ tiêu vi sinh vật của sữa, chỉ có thể chế biến ra các sản
phẩm tốt khi sữa có nguyên liệu tốt
Sữa được vắt từ những con bò khỏe mạnh vào những thời điểm nhất định
trong ngày, thường là lúc sáng sớm và chiều tối
Sữa vắt ra được làm lạnh ngay, tránh mọi biến đổi xấu đối với sữa
Trong trường hợp vắt sữa bằng tay, sữa được lọc qua vải màng (vài lớp), để
loại bỏ những tạp chất cơ học có kích thước lớn Có thể phải lọc nhiều lần, sau
đó làm lạnh tại chỗ trong thiết bị chuyên dùng
Hiện nay, có 2 phương pháp vắt sữa phổ biến:
Phương pháp vắt sữa thủ công
Phương pháp sử dụng máy vắt sữa
Ở nước ta hiện nay, chủ yếu là vắt sữa bằng tay Sau đó được vận chuyển
tới các cơ sở chế biến hoặc nhà máy bằng ôtô lạnh
2.5.1 Phương pháp vắt sữa thủ công:
2.5.1.1 Đặc điểm:
Phương pháp vắt sữa thủ công là phương pháp vắt sữa bằng tay Phương
pháp này đơn giản nhưng tốn nhiều thời gian, nhân công và khó kiểm soát để
đảm bảo sự ổn định cho các chỉ tiêu vi sinh của sữa Phương pháp vắt sữa thủ
công thích hợp cho các hộ gia đình nuôi bò sữa với quy mô nhỏ
Trang 28Đối với phương pháp vắt sữa thủ công, ta cần chú ý đến các vấn đề sau
đây:
Con vật phải trong tình trạng vệ sinh tốt
Nơi vắt sữa phải được vệ sinh sạch sẽ, tránh bụi
Người vắt sữa cũng phải trong tình trạng vệ sinh tốt, không bị bệnh
truyền nhiễm
Các dụng cụ đựng sữa và các dụng cụ khác có liên quan đến quá trình
vắt sữa phải được vệ sinh sạch sẽ Nếu có điều kiện nên vô trùng cẩn
Vắt sữa bò đúng kỹ thuật là nhằm hạn chế đến mức tối đa sữa cặn tồn tại
trong tuyến bào, tránh viêm vú, đồng thời kích thích quá trình sinh tổng hợp
sữa trong tuyến sữa Sự tiết sữa của bầu vú là hoạt động phản xạ có điều kiện
diễn ra theo hai pha:
Pha 1: là pha thần kinh có thời gian tiềm phục ngắn khoảng 1 4 giây
Pha 2: là pha thần kinh thể dịch.Pha này có liên quan đến hoạt động của
hormon oxytoxin Thời gian tiềm phục khoảng 30 40 giây.Nhưng
oxytoxin từ thùy sau tuyến yên thường kéo dài trong vòng 3 5 phút
Sau đó hoạt động của oxytoxin sẽ hết hiệu lực
Trang 292.5.1.3 Chuẩn bị vắt sữa:
Trước hết, phải dọn sạch chỗ vắt sữa Con bò nào hay đá nên buộc chân
sau lại (buộc chân không ảnh hưởng tới chất lượng sữa vắt được) Ngoài ra,
cũng phải buộc đuôi vào đùi để tránh bò quật đuôi làm bụi, phân rơi vào sữa
Lau sạch vú bằng khăn sạch đã nhúng nước ấm 40 500C Sau đó, tiến
hành xoa bóp vú: dùng hai bàn tay ôm lấy phía trước và phía sau vú, tay trái ở
phía trước, tay phải ở phía sau, hai tay ôm khum khum bầu vú, ép chặt vào
nhau, vừa ép vừa làm cho bầu vú chảy đi chảy lại trong lòng bàn tay, làm nhẹ
nhàng từ trên xuống dưới, đến núm vú thì nắm lấy và vuốt nhẹ vài cái Xong
dùng cả hai bàn tay nâng mạnh bầu vú lên vài lần (như con bê thúc vú mẹ), rồi
lại tiếp tục xoa bóp.Như vậy, độ 45 lần, đến khi thấy bầu vú cứng lên và các
núm vú vểnh ra, đó là dấu hiệu sữa xuống đầy bầu vú Xoa bóp độ 23 phút là
xong toàn bộ
2.5.1.4 Vắt sữa:
Có thể vắt hai vú trước, hai vú sau, cũng có thể chéo góc: vú phải phía
trước và vú trái phía sau vắt trước, vú phải phía sau và vú trái phía trước vắt
sau Khi sữa đã gần cạn (nghĩa là vắt không còn chảy thành tia mạnh nữa) thì
tập trung hai tay vắt một núm cho kiệt sữa (gọi là vắt kiệt) Khi vắt kiệt nên
vắt lần lượt từ vú phải phía trước sang vú trái phía trước, rồi đến vú trái phía
sau và cuối cùng là vú phải phía sau
Nên ngồi vắt bên trái bò, do đó lúc bắt tay trái ở phía trước và tay phải ở
phía sau