1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận đường lối công nghiệp hoá

22 738 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 390,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chủ yếu dựa vào lợi thế lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợcủa các nước xã hội chủ nghĩa; chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là nhà nước vàdoanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ 7-1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc.Trung ương Đảng và chính phủ ta đã đi từ Việt Bắc về thủ đô Hà Nội và tiến hànhcủng cố xây dựng lại đất nước sau chiến tranh

Từ Đại hội III (9-1960) đã hình thành đường lối công nghiệp hoá Với nhữngthành công và thất bại trong thời kì trước tháng 12-1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ 6 đã mở ra mọt trang mới trong lịch sử xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoáthời kì đổi mới

Nằm trong thành phố phát triển năng động nhất của cả nước, khu công nghệ caoQuận 9, TPHCM là khu kinh tế hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng tiên tiến áp dụng kỹ thuậtcao,… với nhiều thành tích trong nhiều năm Khu công nghệ cao đã thực hiện đúng đắn

và có hiệu quả về đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

Trang 2

NỘI DUNG

Công nghiệp hóa trước thời kì đổi mới (1960-1985):

Nhìn chung trong thời kì 1960-1985, chúng ta đã nhận thức và tiến hành côngnghiệp hóa theo kiểu cũ với các đặc trưng chủ yếu như:

- Công nghiệp hóa theo mô hình kinh tế khép kín, hường nội và thiên vềphát triển công nghiệp nặng

- Chủ yếu dựa vào lợi thế lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợcủa các nước xã hội chủ nghĩa; chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là nhà nước vàdoanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa chủ yếu bằng cơchế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong một nền kinh tế phi thị trường

- Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, muốn làm nhanh làm lớn khôngquan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội

 Kết quả:

- So với năm 1955, số xí nghiệp tăng lên 16.5 lần

- Hàng chục trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đượcxây dựng, đào tạo ra số lượng cán bộ khoa học kĩ thuật xấp xỉ 43 vạn người

- Tuy nhiên, công nghiệp hóa thời kì này vẫn còn nhiều hạn chế:

+ Cơ sở vật chất- kĩ thuật còn hết sức nghèo nàn lạc hậu Những ngành côngnghiệp then chốt còn nhỏ bé và chưa xây dựng đồng bộ, chưa đủ sức làm nền tảngvững chắc cho nền kinh tế quốc dân

+ Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mới chỉ bước đầu phát triển, nôngnghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội Đất nướcvẫn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế xãhội

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kì đổi mới :

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) với tinh thần

“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm khắc chỉ ra

Trang 3

những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hoá thời 1960-1985, mà trựctiếp là 10 năm, từ 1975 đến 1985:

- Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi vềxây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế… Do tưtưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta

đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết,mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

- Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư,thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từđầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về xây dựng côngnghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết căn bảnvấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Kết quả là đầu tưnhiều nhưng hiệu quả thấp

- Không thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết của Đại Hội lần thứ V như:nông nghiệp vẫn chưa thực sự coi lả mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục

vụ kịp thời nông nghệp và công nghiệp nhẹ

Từ việc chỉ ra những hạn chế của thời kì 1960-1985, kết hợp với phân tích mộtcách khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta đã nêu ra và ngày cànghoàn thiện những quan điểm mới, chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đạihóa đất nước:

Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóagắn với phát triển tri thức

Hai là công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững

Bốn là, coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 4

Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi vớithực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạngsinh học.

Để thực thi những quan điểm trên, ngày 24/10/2002 theo Quyết định số145/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, khu CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH chính thức được thành lập Với mục tiêu : chủ động tháo gỡ bao vây,cấm vận và nhanh chóng có các chính sách mở cửa, thu hút dòng chảy đầu tư nướcngoài để giải quyết nguy cơ ngày càng tụt hậu và tụt hậu xa hơn về trình độ công nghệtrong sản xuất so với các nước khu vực, đồng thời sự chuyển biến tích cực, đẩy nhanhtiến trình công nghiệp hóa, kích thích sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế, nâng caotừng bước đời sống nhân dân

KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 5

*** Quan điểm xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh

Đối với Khu CNC Tp Hồ Chí Minh, quan điểm về chủ trương, chiến lược xâydựng Khu CNC được thể hiện với các nội dung chủ yếu như sau:

1 Mang tính thực tiễn, khả thi và một chiến lược học hỏi toàn diện

a Tính Thực tiễn - Để đảm bảo tiếp cận thẳng nền khoa học công nghệ hiện đại, đặc

biệt là Công Nghệ Cao, đối với một nước chậm phát triển và chưa qua giai đoạn côngnghiệp hóa như nước ta, Khu Công Nghệ Cao Tp.Hồ Chí Minh phải có những bước đi

và cách làm phù hợp với thực tế, đó là:

- Phải thu hút các công ty Công Nghệ Cao nước ngoài, đặc biệt là những tậpđoàn có công nghệ nguồn vào đầu tư sản xuất Công Nghệ Cao để từ đó ta có điều kiệntiếp cận với sản xuất Công Nghệ Cao bằng cả một hệ thống: từ cán bộ quản lý, chuyênviên, kỹ thuật viên, đến công nhân lao động kỹ thuật, từ các dịch vụ kỹ thuật, cung ứng

cơ sở hạ tầng cho đến dịch vụ sinh hoạt Sau một thời gian không lâu ta sẽ hiểu biết

và có khả năng thây thế hoặc tổ chức sản xuất tương tự

- Từ tiếp cận sản xuất Công Nghệ Cao ta từng bước tiếp thu, học hỏi, ứng dụng,chuyển giao công nghệ song song với việc tự mình tổ chức các cơ sở nghiên cứu triểnkhai khoa học công nghệ dựa vào đội ngũ các nhà khoa học, các viện trường trongnước và thu hút các nhà khoa học Việt kiều hợp tác hoạt động trong Khu Công NghệCao, tại Trung tâm R&D với các phòng thí nghiệm thích hợp

b Tính Khả thi: Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh cần triển khai nhanh chóng tất

cả các nhiệm vụ do Chính phủ và Thành phố giao - thể hiện qua các quyết định đầu tưxây dựng GĐ I Khu Công Nghệ Cao Đảm bảo tính khả thi cũng có nghĩa là ngoài việcđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh và có chất lượng để phục vụ tốtnhất cho các nhà đầu tư Công Nghệ Cao và các hoạt động trong Khu, việc thu hútCông Nghệ Cao cần thiết khởi động bằng cách dựa vào nguồn lực công nghiệp CôngNghệ Cao từ các Công ty nước ngoài làm “bước đột phá” đầu tiên

c Chiến lược học hỏi toàn diện: Đây là một Chương trình hành động mang tính chiến

lược, kết hợp tiếp thu hiệu quả luồng tri thức, công nghệ, bí quyết từ bên ngoài, biến

“bước đột phá” đầu tiên từ các Công ty xuyên/đa quốc gia trong quá trình hình thành

Trang 6

thị trường sản phẩm Công Nghệ Cao, thành nguồn lực công nghệ nội sinh.

2 Đầu tư nhằm tăng cường năng lực khoa học công nghệ nội sinh là yêu cầu chiến lược lâu dài

Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh cần phải tạo ra một hình ảnh mới vàphương thức hoạt động mới bằng việc xây dựng những trung tâm nghiên cứu khoa họccông nghệ hiện đại và gắn với thị trường nhằm làm hạt nhân phát triển năng lực nộisinh, đồng thời đẩy mạnh phát triển đào tạo nhân lực với trình độ cao Mặc khác KhuCông Nghệ Cao cần phải sớm xây dựng những trung tâm ươm tạo doanh nghiệp CôngNghệ Cao làm cơ sở cho việc ứng dụng và triển khai những thành tựu khoa học mới,đồng thời thực hiện việc liên kết phối hợp hoạt động của các trung tâm này nhằm tạomột mối quan hệ tương ứng, hỗ trợ nhau trong hoạt động và phát triển.Cần phải huy động đội ngũ khoa học kỹ thuật trong nước kết hợp với lực lượng cácnhà khoa học Việt kiều đã từng tham gia làm việc tại các công ty lớn về khoa học côngnghệ trên thế giới - điều đó không những thu hút những kinh nghiệm về nghiên cứukhoa học công nghệ mà còn làm cầu nối liên kết cho các hoạt động của Khu CôngNghệ Cao với các tập đoàn, công ty trên thế giới và khả năng tiếp cận những thành tựukhoa học Công Nghệ Cao trên thế giới

*** Mô hình và các giai đoạn phát triển Khu Công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh

Mô hình Khu Công nghệ cao

- Khu kinh tế kỹ thuật đa chức năng (trong khu có nhiều loại hình hoạt động vàthay đổi tỷ trọng theo thời gian và bối cảnh): khu sản xuất Công Nghệ Cao khu nghiêncứu triển khai, đào tạo nguồn nhân lực, khu thương mại dịch vụ, khu cây xanh- cảnhquan, nghỉ ngơi, thư giãn…

Tạo dựng một mô hình phát triển hòa hợp giữa các tập đoàn đa quốc gia và cáccông ty trong nước

- Một không gian tri thức để sáng tạo khoa học, công nghệ

- Một không gian mở: gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu-triển khai Công NghệCao với sản xuất Công Nghệ Cao dịch vụ, ươm tạo Công Nghệ Cao và với thị trường,gắn hoạt động trong nước và nước ngoài

Trang 7

- Một tiểu đô thị, hạt nhân của một đô thị khoa học trong tương lai tại cửa ngõphía Đông của Thành phố.

Các giai đoạn phát triển

- Về ý tưởng

1 Xuất phát từ thực trạng, từ xu thế phát triển chung toàn cầu và từ tiềm năngcủa đất nước, tại Đại hội Đại biều toàn quốc Đảng Công Sản Việt Nam lần thứ VII đãxác định: “Xây dựng có trọng điểm một số hướng công nghệ hiện đại: điện tử và tinhọc, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các dạng năng lượng mới, công nghệchế biến tiên tiến; Hình thành một số ngành công nghiệp và dịch vụ có trình độ côngnghệ cao…Xây dựng một số tổ chức nghiên cứu – đào tạo - sản xuất tầm cỡ quốc giatrong một số lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra các mũi nhọn theo kịp trình độ quốc tế.”

2 Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh đã có ngay chủ trương khảo sát các khucông nghệ cao tại các nước Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật, Mỹ, và các lãnh thổ lân cậnngay từ năm 1992 để tìm hiểu kinh nghiệm hình thành, phát triển các khu công nghệcao Đồng thời tổ chức các Hội thảo khoa học để các nhà chuyên gia kinh tế, khoa học,công nghệ trao đổi rộng rãi về tính khả khi của đề án Ngày 05 tháng 4 năm 1993, ỦyBan Nhân Dân thành phố đã có quyết định số 490/QĐ-UB thành lập Tổ Nghiên cứu vàtriển khai đề án xây dựng Khu Công nghiệp kỹ thuật cao (CN KTC) tại thành phố HồChí Minh, do Đ/c Phạm Chánh Trực làm Tổ trưởng và các thành viên là các đồng chílãnh đạo các Sở, Ngành, Liên hiệp hội khoa học-kỹ thuật thành phố v.v

3 Viện Quy hoạch – Xây dựng Thành phố từ năm 1992 cũng bắt tay nghiêncứu quy hoạch chung khu công nghiệp kỹ thuật cao với sự tư vấn của các chuyên giađầu ngành về kiến trúc đô thị trong nước và các chuyên gia quốc tế về phát triển côngnghệ cao Sau khi cân nhắc nhiều phương án về địa điểm và quy mô, nhóm lập đồ án

đã trình quy hoạch chung cho Khu với các thiết kế quy hoạch trên khu đất 1.000 ha tạihuyện Thủ Đức (nay là Quận 9), liền kề với khu quy hoạch Đại học Quốc gia thànhphố Hồ Chí Minh, chính là nơi cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật cao cho Khutrong tương lai

4 Một cột mốc có ý nghĩa về tính pháp quy đầu tiên cho đề án là Thủ tướngChính phủ ra quyết định số 20/TTg vào ngày 16 tháng 01 năm 1993 về phê duyệt quy

Trang 8

hoạch tổng thể xây dựng thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, có thể hiện trên sơ đồ quyhoạch các khu chức năng thành phố địa điểm dự kiến xây dựng Khu Công nghiệp Kỹthuật cao tại Thủ Đức.

5 Ngày 01/03/1994, Thường trực Thành Ủy có thông báo số 18/TB-UB về đề

án thành lập Khu CN KTC, trong đó định hướng bước đầu là tập trung 3 ngành côngnghiệp mủi nhọn là: Điện tử - Tin học; Vật liệu mới; Vi sinh

6 Ngày 23 tháng 7 năm 1994, Ủy Ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư căn cứkết luận thẩm định của Hội đồng Thẩm định Nhà nước, đã trình đề án Khu Côngnghiệp Kỹ thuật cao cho Thủ tướng Chính phủ Và ngày 08 tháng 8 năm 1994, ThủTướng Chính Phủ có công văn chấp nhận chủ trương xây dựng khu công nghiệp kỹthuật cao tại thành phố Hồ Chí Minh

7 Đại hội toàn quốc Đảng lần thứ VIII và lần thứ IX khẳng định chủ trươngphát triển công nghệ cao “ Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới cơ khí chế tạo máy, để

có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định” “Đi thẳng vào công nghệ hiệnđại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, khônggây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động Chú trọng nhập khẩu công nghệmới, hiện đại, thích nghi công nghệ nhập khẩu, cải tiến từng bộ phận, tiến tới tạo ranhững công nghệ đặc thù Việt Nam Hiện đại hóa công nghệ trong quản lý Hoànthành xây dựng hai khu công nghệ cao ở gần Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, xâydựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm đạt trình độ tiên tiến của khu vực” Việckhởi động chuẩn bị đầu tư xây dựng một trung tâm sản xuất và nghiên cứu công nghệcao tại thành phố Hồ Chí Minh khởi sự chính thức với việc Ủy Ban Nhân Dân thànhphố phê duyệt dự án Quy hoạch chung Khu Công nghiệp Kỹ thuật cao TP Hồ ChíMinh ngày 19 tháng 01 năm 1995 qua Quyết định số 353/QĐ-UB-QLĐT Trong đóquy định rõ các nội dung đầu tư – xây dựng của đồ án về quy mô diện tích, ranh giới

cụ thể và các khu chức năng,

8 Dự án cũng được sự đồng thuận của Trung Ương: theo quyết định số519/TTg ngày 06 tháng 8 năm 1995 của Thủ Tướng Chính Phủ Võ Văn Kiệt về phêduyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996 –

Trang 9

2010, xác định Khu Công nghiệp Kỹ thuật cao thành phố Hồ Chí Minh thuộc danhsách 33 khu công nghiệp ưu tiên đầu tư đến năm 2000.

9 Ngày 04 tháng 11 năm 1998, Thủ Tướng Chính Phủ ra quyết định số989/QĐ-TTg về việc giao nhiệm vụ tiến hành chuẩn bị thành lập Khu Công nghệ caothành phố Hồ Chí Minh

10 Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao cho, Ủy Ban Nhân Dân thành phố đãđiều chỉnh quy hoạch chung Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh (quyết định

số 83/2002/QĐ-UB ngày 11 tháng 7 năm 2002) Quy hoạch 1/5000 được Bộ Xây dựngthẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong bộ hồ sơ Quy hoạch tổng thểKhu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 11 năm 2002

Tham gia công tác lập Quy hoạch chung về kiến trúc – xây dựng Khu Côngnghệ cao thành phố Hồ Chí Minh qua nhiều năm có các Đơn vị tư vấn trong và ngoàinước Xuyên suốt từ lúc đầu đến nay, Viện Quy hoạch thành phố đóng vai trò chủ yếutrong công tác này, ngoài ra có sự đóng góp nghiên cứu của: công ty kiến trúc EspaceArchitecture (Pháp), Công ty tư vấn kiến trúc - Đại học Kiến trúc thành phố Hồ ChíMinh, công ty tư vấn xây dựng Duffill Watt & Tse (New Zealand), Viện nghiên cứuchiến lược chính sách khoa học – công nghệ, Viện Những Vấn đầ phát triển (VIDS),công ty Tư vấn Xây dựng tổng hợp - Bộ Xây dựng (Nagecco), và một số đơn vịchuyên ngành như Đài Khí tượng - Thủy văn Nam bộ, Viện Môi trường –ĐH BáchKhoa, Đoàn Đo đạc bản đồ thành phố, Viện Kinh tế thành phố

Tháng 10 năm 2002, Ban Quản lý dự án Khu Công nghệ cao thành phố Hồ ChíMinh đã tổ chức Hội thảo thứ III về Quy hoạch tổng thể của Khu công nghệ cao tại HàNội với sự tham gia của các Bộ, Ngành TW và các chuyên gia kinh tế - kỹ thuật, kiếntrúc quy hoạch, Hội đồng Thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư đã tổ chức thẩmđịnh dự án Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh và trình Thủ tướng Chính phủngày 14 tháng 02 năm 2003 (Công văn số 20/TĐNN)

Quy hoạch tổng thể và Dự án đầu tư – xây dựng giai đọan I Khu Công nghệ caothành phố Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính Phủ chính thức phê duyệt qua quyếtđịnh số 95/2003/QĐ-TTg ngày 13 tháng 5 năm 2005 Theo đó, nội dung đầu tư – xâydựng giai đọan I – từ 2003 đến 2008 gồm 5 hạng mục chính

Trang 10

Giai đoạn thực thi

Theo theo Quyết định số 145/2002/QĐ-TTg ngày 24/10/2002 về việc thành lậpKhu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh thì Khu Công nghệ cao thành phố Hồ ChíMinh được xác định là một khu kinh tế - kỹ thuật đặc biệt, xây dựng và phát triểnnhằm tập trung thu hút đầu tư và huy động các nguồn lực, hình thành một lực lượngsản xuất hiện đại, kết hợp có hiệu quả giữa sản xuất kinh doanh với nghiên cứu, tiếpthu, chuyển giao, phát triển công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chocông nghiệp công nghệ cao

Dự án nằm trong hướng phát triển không gian đô thị chủ đạo của Tp Hồ ChíMinh và ở vị trí trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách trung tâm Thànhphố 15 km Tổng diện tích đầu tư – xây dựng của dự án được Ủy Ban Nhân Dân thànhphố xác định là 913,16 hecta nằm trên địa bàn 05 phường của Quận 9: Tân Phú, HiệpPhú, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B và Long Thạnh Mỹ

Trang 11

Trong tương lai, Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh được xây dựnghoàn chỉnh và nối kết với Khu Đại học Quốc gia tạo thành khu Khoa học công nghệĐông Bắc thành phố Cùng với Khu Đô thị mới Thủ Thiêm, Khu Thể dục thể thaoRạch Chiếc, khu Quần thể Lịch sử Văn hóa dân tôc và Khu Công nghiệp cảng Cát Lái,Khu vực này sẽ trở thành vùng phát triển đô thị hiện đại phía Đông thành phố Hồ ChíMinh

Hiện nay, công tác quy hoạch khu đang khẩn trương với quy hoạch chi tiết giaiđọan II – 600 ha còn lại và sẽ bổ sung hòan chỉnh đủ các khu chức năng của một KhuCông nghệ cao đa chức năng theo quy định của Quy chế Khu Công nghệ cao (banhành kèm theo Nghị định 99/2004/NĐ-CP) Chúng ta sẽ thấy sự họat động của khuthương mại hóa các kết quả nghiên cứu công nghệ mới, cung ứng dịch vụ cao cấp: Đôthị Internet, Khu Bảo thuế, Khu Nghiên cứu - Triển khai, Đào tạo và Ươm tạo, KhuHậu cần và công nghiệp hỗ trợ

Khu phía Nam giai đoạn II Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minhvới đặc điểm nhiều sông rạch, tiếp giáp với đường vành đai phía Đông, quy hoạchchung 1/5000 và quy hoạch chi tiết 1/2000 được thiết kế với các chùm nhà cao ốc hìnhdáng hiện đại, đáp ứng công năng sản xuất, nghiên cứu công nghệ cao mới, đồng thời

có các khu vực nhà ở chuyên gia, khu dịch vụ với nhà thấp tầng, xen kẽ các hồ, rạch,suối, cây xanh, hứơng về một không gian khoa học, sáng tạo, tạo môi trường tốt nhất

để tăng tốc các họat động chủ yếu của một khu công nghệ cao trưởng thành Đồ án này

đã được Ủy Ban Nhân Dân chỉ đạo lập thiết kế và Nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạchtổng thể cũng đã được Bộ Xây dựng thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh trong thời gian tới đây

Ngày đăng: 19/11/2014, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w