MỞ ĐẦU - Đối tượng nghiên cứu của Địa chất Thuỷ văn: Địa chất thuỷ văn là khoa học nghiên cứu nước dưới đất, cụ thể là nghiên cứu: + Nguồn gốc, sự phân bổ và sự vận động của nước trong
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÕA
KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: ĐỊA CHẤT THỦY VĂN (DÀNH CHO BẬC CAO ĐẲNG NGÀNH KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT)
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Đối tượng nghiên cứu của Địa chất Thuỷ văn: 4
Phương pháp nghiên cứu: 4
Chương 1: NƯỚC TRONG THIÊN NHIÊN 6
1.1 Vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên và trong lưu vực 6
1.2 Sự phân bố của nước trong thiên nhiên 8
Chương 2: TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC NƯỚC 17
2.1 Khái niệm: 17
2.2 Tính chất vật lý: 17
2.3 Tính chất hoá học của nước: 19
2.4 Dấu hiệu nhiễm bẩn của nước 23
2.5 Biểu diễn các kết quả phân tích thành phần hoá học của nước dưới đất 24
2.6 Những nguyên tắc kiểm tra kết quả phân tích nước: 27
Chương 3: CÁC LOẠI NƯỚC DƯỚI ĐẤT 29
3.1 Một số nước thượng tầng: 31
3.2 Nước ngầm 35
3.3 Nước tự lưu 39
3.4 Nước khe nứt 44
3.5 Nước CASTƠ: 46
3.6 Nước khoáng và nước chữa bệnh 48
Chương 4: CƠ SỞ ĐỘNG LỰC HỌC NƯỚC DƯỚI ĐẤT 50
4.1 Hình thức vận động của nước dưới đất trong đới bảo hòa 50
4.2 Định luật thấm của nước dưới đất 50
4.3 Xác định phương hướng và tốc độ vận động của nước dưới đất 56
4.4 Phương trình vận động ổn định của nước dưới đất trong tầng chứa nước đồng nhất 59
4.5 Phương trình vận động của nước vào công trình tập trung nước 65
CHƯƠNG 5 : CÁC DẠNG CÔNG TÁC CƠ BẢN TRONG ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 69
Trang 35.2 Công tác đo vẽ địa chất thủy văn 71
5.3 Khoan địa chất thủy văn 73
5.4 Công tác thí nghiệm địa chất thủy văn ngoài trời 80
5.5 Quan trắc động thái của nước dưới đất 93
5.6 Công tác nghiên cứu chất lượng nước 95
Chương 6: ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT THỦY VĂN –ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TRONG TÌM KIẾM THĂM DÕ KHOÁNG SÀNG 97
6.1 Những nhân tố địa chất thủy văn –địa chất công trình ảnh hưởng đến công trình khai tác 97
6.2 Mục đích, ý nghĩa của điều tra địa chất thủy văn –địa chất công trình trong tìm kiếm thăm dò khoáng sàng 99
6.3 Mối tương quan giữa điều tra địa chất với điều tra địa chất thủy văn –địa chất công trình 100
Chương 7: BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 102
7.1 Khái niệm bản đồ địa chất thủy văn 102
7.2 Nguyên tắc thành lập bản đồ địa chất thủy văn 104
7.3 Các giai đoạn trong công tác lập bản đồ địa chất thủy văn 106
7.4 Biểu diễn trên bản đồ địa chất thủy văn 106
Trang 4MỞ ĐẦU
- Đối tượng nghiên cứu của Địa chất Thuỷ văn:
Địa chất thuỷ văn là khoa học nghiên cứu nước dưới đất, cụ thể là nghiên cứu:
+ Nguồn gốc, sự phân bổ và sự vận động của nước trong các lớp đất đá
+ Nghiên cứu các tính chất vật lý, thành phần hoá học, vi khuẩn và khí của nước dưới đất
Nước dưới đất nằm trong các lớp đất đá và có liên hệ chặt chẽ với chúng nên địa chất thuỷ văn là một bộ phận của khoa học về Trái đất
- Nhiệm vụ: Nghiên cứu nước dưới đất để phục vụ các yêu cầu sau:
+ Giải quyết vấn đề địa chất thuỷ văn trong việc thi công các công trình, khái thác hầm
mỏ
+ Giải quyết vấn đề cung cấp nước tiêu dùng
+ Tìm nguồn nước khoáng, nước công nghiệp, tìm kiếm các mỏ khoáng sản có ích
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Lập bản đồ Địa chất thuỷ văn
+ Mô tả nguồn nước và quan sát địa chất thuỷ văn trong lỗ khoan, giếng và hầm lò
+ Các phương pháp phân tích và mô hình hoá trong phòng thí nghiệm
+ Các phương pháp địa vật lý, đặt biệt là phương pháp thăm dò điện nhằm phát hiện các tầng chứa nước
Trang 5Nước dưới đất vận động trong các lỗ hổng và khe nứt của đất đá không những
có tác dụng trực tiếp với chúng mà còn có liên quan mật thiết với nước bề mặt và nước khí quyển Vì vậy muốn nghiên cứu đầy đủ về nước dưới đất, đòi hỏi phải nắm được đặt điểm cấu tạo địa chất của vùng với tư cách là môi trường mà trong đó nước vận động, và phải năm được các quy luật vận động của nước bề mặt và nước khí quyển với
tư cách là nguồn bổ sung cho nước dưới đất
Trang 6Chương 1 NƯỚC TRONG THIÊN NHIÊN 1.1 Vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên và trong lưu vực
1.1.1 Vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên
Nước trên Trái đất phân bố không đều trong các quyển khác nhau: khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển
Nước trong các quyển luôn luôn chuyển động trong bản thân mỗi quyển và đồng thời luôn luôn có một lượng nước nhất định chuyển động từ quyển này sang quyển khác, tạo nên vòng tuần hoàn bất tận
Nhờ năng lượng bức xạ của mặt trời, nước từ thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển bốc hơi lên khí quyển Trong khí quyển hơi nước gặp lạnh ngưng tụ lại và rơi xuống Lượng mưa này một phần bốc hơi trở lại vào khí quyển, một phần ngấm xuống đất, một phần tạo thành những dòng chảy đổ ra biển Mức độ của quá trình tuần hoàn này tuỳ thuộc vào từng mùa và tuỳ thuộc vào các điều kiện địa lý tự nhiên (hình1)
Tổng thể tích nước trong Trái đất ước tính khoảng 1.8 tỷ km3 Lượng nước này được phân bố như sau:
- Từ mặt đất đến độ sâu 20 km (ranh giới Cônradda) có 570 triệu km3
- Từ độ sâu 20 km đến 35 km (ranh giới Môhô) có 500 triệu km3
Trong vỏ Trái đất nước tồn tại ở những dạng khác nhau và chiếm khoảng 42% toàn bộ nước của Trái đất Nước dưới đất là tác nhân trọng yếu làm dịch chuyển các nguyên tố hoá học trong vỏ Trái đất
Trong vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên, người ta đã tính toán cụ thể như thế này (những số liệu sau đây được tính trong 1 năm)
Trang 7- Tổng lượng mưa ngoài biển và đại dương là Xb = 411.600 km3
- Tổng lượng nước bốc hơi trong lục địa là Zđ = Xđ - Y = 132.020 km3
- Tổng lượng mưa trong lục địa là Xđ = 168.400 km3
- Tổng lượng nước sông chảy ra biển là Y= 36.380 km3
Phương trình cân bằng nước trên vỏ trái đất: Xb+Xđ = Zb + Zđ
Như vậy hàng năm có một lượng hơi nước là 36.380 km3 di chuyển từ biển, đại dương vào lục địa và từ lục địa, các dòng song đổ ra biển cũng một lượng như vậy Vậy đây là vòng tuần hoàn lớn của nước trong thiên nhiên
1.1.2 Tuần hoàn của nước trong lưu vực
Mỗi dòng chảy trên mặt đất đều có phạm vi cung cấp nước, gọi là lưu vực dòng chảy Đường phân chia lưu vực của hai dòng chảy được gọi là đường chia nước (đường phân thủy) Mỗi một dòng chảy đều có một lưu vực trên mặt và lưu vực dưới đất chúng có thể trùng hoặc không trùng nhau
Mưa rơi xuống mặt đất, một phần bốc hơi; một phần hình thành dòng chảy trên mặt dưới dạng sông, suối, lạch; một phần ngấm xuống cung cấp cho nước dưới đất; nước dưới đất lại chảy lộ ra cung cấp cho sông suối
Tính toán cân bằng nước trong lưu vực:
Tổng lượng nước thu được trong lưu vực: X+K+f
Tổng lượng nước mất đi trong lưu vực: Z+y+p
X-Tổng lượng nước mưa trong lưu vực,mm
K - Tổng lượng nước ở tầng ngầm cung cấp cho lưu vực,mm
Trang 8Tuy khí quyển có bề dày 2000km nhưng nước chủ yếu tồn tại gần mặt đất (trong tầng đối lưu): đến độ cao 3,5 km thì có 70% nước khí quyển, và đến 5 km thì có 90% nước Do đó các hiện tượng mây, mưa đều xảy ra ở nửa phần dưới của tầng đối lưu
Nước trong khí quyển luôn luôn biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác
và có liên hệ chặt chẽ với nước ở thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển Từ thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển nước bốc hơi lên cao gặp lạnh hơi nước ngưng tụ lại thành mưa, tuyết, mưa đá,… Người ta đã tính lượng nước trong khí quyển bằng 1/41 lượng mưa hang năm và “tuổi thọ” trung bình của phân tử nước trong khí quyển là 9 ngày
Sự vận động của nước trong khí quyển giữ một vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nhiệt độ giữa các vùng trên mặt
1.2.2 Nước trong thuỷ quyển
Thuỷ quyển bao gồm các dại dương, biển, hồ chiếm một diện tích là 361,45 triệu km2 hay 70,8% diện tích bề mặt Trái đất
Nước trong quyển này tồn tại dưới hai trạng thái:
3
Trang 9Lượng hơi nước cung cấp cho khí quyển chủ yếu là từ thuỷ quyển Thuỷ quyển
là môi trường sản sinh ra sự sống và ngày nay sự sống cũng không tách rời thuỷ quyển Nước chứa trong các tầng đất đá (nước dưới đất) phần lớn cũng do thuỷ quyển cung cấp Ngược lại thuỷ quyển cũng nhận nguồn bổ trợ từ các nguồn khác
Thuỷ quyển chiếm một lượng nước chủ yếu trong tổng số lượng nước có mặt trên trái đất và chi phối số lượng cũng như sự vận động của nước ở các quyển khác
1.2.3 Nước trong sinh quyển
Việc xác định nước trong quyển này rất phức tạp, bởi vì giới sinh vật có hang chục vạn chủng loại khác nhau sống trong những môi trường khác nhau
Người ta biết rằng:
- Trong cơ thể người có 70% nước
- Trong sinh vật sống miền khô ráo có 60% nước
- Trong sinh vật sống dưới nước có 90% nước
Như vậy, hơn 2/3 khối lượng của sinh vật sống trên trái đất là nước
Nước vô cùng quan trọng đối với sự sống: không có nước thì không có các quá trình sinh hoá được Nếu sinh vật mất 10% nước thì sẽ bị ngộ độc, mất 21% nước thì sẽ chết
Có một điều thú vị là thành phần hoá học của máu người và động vật gần giống với
Trang 10Bảng 2: Hàm lượng nguyên tố trong máu và trong nước biển
Ta thử đặt câu hỏi: máu người và động vật lập lại thành phần hoá học của môi trường
mà sự sống phát sinh, hay ngược lại, thành phần của môi trường (nước biển) lập lại thành phần của máu người và động vật?
1.2.4 Nước trong vỏ trái đất
1.2.4.1 Sự phân bố của nước trong vỏ Trái đất
Vỏ trái đất có bề dày trung bình ở lục địa là 35km, và dưới đáy đại dương là 4,7km
Tổng thể nước trong vỏ trái đất ước tính khoảng 1,8 tỷkm3 Lượng nước này phân bố như sau:
- Từ mặt đất đến độ sâu 20 km (ranh giới Cônrad) có 570 triệu km3
- Từ độ sâu 20km đến 35 km (ranh giới Môhô) có 500 triệu km3
Kamenxki chia vỏ trái đất làm hai tầng mà trong đó nước được chứa trng đó:
Tầng dưới:
Là các loại đá toàn khối chứa nước rất ít
Tầng trên: là tầng chứa nhiều nước, chủ yếu được chứa trong các khe nứt của đá hay
Trang 111.2.4.2 Các dạng của nước trong đất đá
* Nước dưới dạng hơi:
Hơi nước nằm trong đới thông khí lắp đầy các lỗ hổng và khe nứt
Hơi nước chuyển động từ nơi có sức căng hơi nước lớn đến nơi có sức căng hơi nước
nhỏ hơn Sức căng hơi nước lớn hay nhỏ là do lượng phân tử hơi nước nhiều hay ít
Lượng hơi nước tỷ lệ thuận với nhiệt độ không khí: nhiệt độ không khí càng cao thì
sức căng hơi nước càng lớn và ngược lại, nhiệt độ không khí càng thấp thì sức căng hơi nước càng bé Do đó vào mùa đông khi mặt đất lạnh hơn dưới sâu thì sẽ có dòng
hơi nước chuyển động từ dưới lên và ngược lại, vào mùa hè khi mặt đất nóng hơn dưới sâu thì có dòng hơi nước chuyển động xuống (ở đây ta chỉ nói phần trên cùng của vỏ Trái đất, nơi có nhiệt độ thay đổi theo từng mùa)
Hơi nước có thể chuyển sang thể lỏng khi nhiệt độ hạ thấp và lượng hơi nước quá bảo hòa Vì vậy, tại các vùng sa mạc, nơi lượng mưa hàng năm rất ít thì hơi nước đã là nguồn cung cấp cho nước ngầm
Nước liên kết chặt (nước hập phụ): các phân tử nước bám chặt trên bề mặt các hạt sét
Khi nước hấp phụ phủ kín hạt sét thì gọi là nước hấp phụ tối đa Bề dày của nước liên kết chặt bằng bằng đường kính một phân tử nước (2,76 O ) Nước này chỉ tách ra khỏi hạt thổ nhưỡng dưới tác dụng của nhiệt độ cao (t o > 100oC) hay dưới áp suất P > (3000- 5000) Kg/cm2
Trong cát, lượng nước hấp phụ không vượt quá 1-2%, và trong sét thì không vượt quá 10%
Nước liên kết yếu (nước màng mỏng): nó bao quang các hạt thổ nhưỡng và có bề dày
Trang 12nhưng nhỏ hơn so với nước hấp phụ Nước màng mỏng có bề dày khác nhau tùy thuộc vào lượng hơi nước trong đất đá và tùy thuộc vào kích thước của hạt: kích thước hạt càng bé thì bề dày màng mỏng càng lớn
Nước này có thể thách ra khỏi hạt thổ nhưỡng dưới tác áp suất P >65Kg/cm 2
Trong cát, lượng nước màng mỏng có từ 1-7%, trong á cát (9-13%), trong á sét 23%), trong sét (25-35%)
(15-Như vậy, nước liên kết chủ yếu nằm trong sét Do chúng không thể tồn tại dưới tác dụng nhiệt độ lớn và áp suất cao nên chúng không thể ở sâu hơn 5 km
* Nước mao dẫn:
(Hình)
Là nước nằm trong các ống mao dẫn dưới tác dụng của lực mao dẫn Các ống mao dẫn
có đường kính nhỏ hơn 1 mm, nếu là khe nứt thì kích thước khe nứt nhỏ hơn 0,25 mm Các ống này có hình thù và kích thước khác nhau tùy thuộc vào kích thước và sự sắp xếp của các hạt Người ta phân ra 3 loại nước mao dẫn: nước mao dẫn treo, nước mao dẫn gốc, và nước ở đới mao dẫn
- Nước mao dẫn treo là nước ở tầng trên không có liên hệ với nước ngầm, nước này hình thành trong các ống mao dẫn có đường kính phía trên và phía dưới không bằng nhau (Hình) Trường hợp này xảy ra khi phía dưới lớp cát chứa nước mao dẫn có lớp cát với kích thước hạt to hơn
- Nước mao dẫn góc tạo thành trong các góc lỗ hổng dưới tác dụng của lực mao dẫn
(Hình)
- Nước đới mao dẫn hình thành trực tiếp ngay phía trên gương nước ngầm Đới này thay đổi lên xuống theo sự thay đổi của gương nước ngầm (Hình)
* Nước trọng lực: nước chuyển động trong các lỗ hổng và khe nứt của đất đá dưới tác
dụng của lực hút trái đất gọi là nước trọng lực Nước trọng lực là đối tượng nghiên cứu của địa chất thủy văn
Trang 13* Nước ở thể rắn: Ở các miền ôn đới và hàn đới, vào mùa đông nhiệt độ không khí hạ
xuống thấp hơn 0 o C, nước trong các lỗ hổng và khe nứt của đất đá (phần gần mặt đất) chuyển sang trạng thái rắn
* Nước trong thành phần khoáng vật (nước liên kết hóa học):
Nước này chỉ tách ra khỏi khoáng vật ở nhiệt độ 80-400 0 C
- Nước kết tinh là nước tham gia vào thành phần khoáng vật dưới dạng các phân tử nước với số lượng nhất định
1.2.4.3 Nguồn gốc của nước dưới đất: để giải thích nguồn gốc của nước dưới đất
người ta đưa ra một số thuyết như sau:
* Thuyết thấm lọc: theo thuyết này thì khi nước mưa rơi xuống mặt đất hoặc nước bề
mặt ngấm vào các tầng đất đá để tạo thành các dạng khác nhau của nước dưới đất
Trang 14* Thuyết ngưng tụ: theo thuyết này thì hơi nước trong các khe nứt hay lỗ hổng của đất
đá ngưng tụ lại do sự hạ thấp của nhiệt độ Nước dưới đất hình thành do quá trình ngưng tụ khôn nhiều, song tại những miền ít mưa như sa mạc thì nước ngưng tụ giữ vai trò chủ yếu trong việc cung cấp cho nước ngầm
* Thuyết về nước nguyên sinh: theo thuyết này nước khoáng, đặt biệt là nước nóng,
nước phun khí được tạo thành trong quá trình ngưng tụ hơi nước từ magma thoát ra Nước này theo các đứt gẫy sâu đi lên mặt đất và xuất lộ dưới dạng các nguồn nước khoáng
Ngày nay, không phải tất cả các nhà Bác học đều thừa nhận thuyết ấy Nhiệt độ cao, thành phần hóa học phức tạp của một số nguồn nước khoáng chưa đủ chứng minh nguồn gốc của chúng là từ magma Cũng có thể chúng được hình thành từ hai phương thức sau:
- Nước khí quyển ngấm sâu vào lòng đất, ở đây nó được đốt nóng lên do nguồn địa nhiệt và tăng khả năng hòa tan các chất vào trong chúng
- Tại gần các lò magma trẻ, nước dưới đất có nguồn gốc khí quyển bị đốt nóng lên và tăng khả năng hòa tan các chất vào trong chúng nên làm thành phần trở nên phức tạp
Tính thấm nước là đặt trưng của đất đá cho nước thấm qua Mức độ thấm nước của đất
đá không quyết định bởi độ lỗ hổng ma chỉ phụ thuộc vào kích thước các khe lỗ Đất
đá có độ lỗ hổng lớn có thể không thấm nước, và ngược lại đất đá có độ lỗ hổng bé có thể thấm nước tốt
Trang 15- Thấm nước: trầm tích vụn trạng thái rời (cuội, sỏi, cát) và đá nứt nẻ nhiều
- Nửa thấm nước: á cát, hoàng thổ, than bùn, cát gắn kết yếu, đá bị nứt nẻ yếu, granit bị phong hóa
- Không thấm nước: đá dạng khối không bị nứt nẻ, sét
Độ thấm nước được đo bằng hệ số thấm lọc K Trong việc thành tạo nước trọng lực, đá
thấm nước được tạo nên lớp chứa nước, đá không thấm nước tạo nên lớp cách thủy
Gía trị trung bình của hệ sô K của một vài loại đất đá
* Độ chứa nước: là khả năng của đất đá thu nhận và giữ lại một lượng nước nhất định
Người ta chia ra 3 mức độ chứa nước:
- Chưa nước tốt (than bùn, á sét, và sét)
- Chứa nước kém (đá magma, đá phấn, đá kết xốp, cát hạt nhỏ, đất hoàng thổ)
- Không chứa nước (đá magma, đá trầm tích cấu tạo khối, cuội, sỏi, sạn trạng thái rời) Ứng với các dạng nước chứa trong đất đá, người ta phân biệt các độ chứa nước sau:
- Độ chứa nước mao dẫn, là khả năng của đất đá giữ trong lỗ mao dẫn một lượng nước nhất định
Trang 16- Độ chứa nước phân tử tối đa, là lượng nước hấp phụ cực đại được đất đá hút từ khí quyển kèm theo sự phóng nhiệt
- Khi toàn bộ lỗ hổng và khe nứt chứa đầy nước, ta có độ chứa nước bảo hòa
Cần phân biệt độ chứa nước và lớp chứa nước trong mặt cắt địa chất: đá có độ chứa nước cao không tạo nên lớp chứa nước mà tạo nên lớp cách thủy
* Lượng phóng thích nước: là hiệu số giữa độ chứa nước bảo hòa và độ chứa nước
phân tử tối đa, tức lượng nước trong đất đá có thể phóng thích ra dưới tác dụng của trọng lực
Đơn vị lượng phóng thích là g/cm 3 Lượng phóng thích nước được đặt trưng bởi hệ số phóng thích µn = Wbh - Wnf (%)
Wbh : độ chứa nước bảo hòa
Wnf : độ chứa nước phân tử tối đá
Lượng phóng thích nước của cát, cuội khoảng 27,4%, sét và than bùn thực tế không phóng thích nước Do đó, không thể khai thác nước trong các lớp than bùn, sét, và các loại đá khối khác
Lượng phóng thích nước giữ vai trò rất lớn trong việc hình thành các tầng chứa nước khác nhau
Trang 17Chương 2 TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NƯỚC DƯỚI ĐẤT 2.1 Khái niệm:
Nước dưới đất là những dung dịch chứa các khoáng vật hòa tan, các loại khí và cả những chất hữu cơ hòa tan cùng các loại vi khuẩn Do vậy, nước dưới đất có những đặc tính về lý học, hóa học khác với nước nguyên chất
2.2 Tính chất vật lý:
2.2.1 Nhiệt độ:
Tùy theo điều kiện tàn trữ mà nước dưới đất có nhiệt độ khác nhau dao động từ dưới
0oC đến trên 100 o C Như ta biết, càng xuống sâu nhiệt độ càng tăng: cứ 33m tăng 1 o C Theo nhiệt độ người ta phân ra:
Trang 18Người ta xác định đọ trong suốt như sau:
Đổ nước vào xilianh có chia độ Đặt xilanh lên mẫu chữ và mở vòi để nước chảy ra cho đến khi nào nhìn qua lớp nước có thể phân biệt rõ chữa in Độ cao cột nước còn lại
(biểu diễn bằng cm) thể hiện mức độ trong suốt của nước
Nước uống cần phải trong suốt Nếu bị vẫn đục bởi các chất hữu cơ thì không được sử dụng
2.2.3 Màu: nước dưới đất bị nhiễm màu do các chất hữu cơ hoặc các chất thải công
nghiệp Màu nâu đặc trưng cho nước ở các trầm tích mioxen, chứa than nâu Màu vàng gây ra bởi hợp chất mùn Bicacbonat kiềm và kiềm thổ (đặc biệt là Ca) làm cho nước
có màu xanh lá cây
Để xác định màu của nước người ta thường dùng các dung dịch chuẩn Đổ nước vào xi lanh, mặt ngoài xi lanh được che để tránh ánh sáng Khi quan sát người ta so sánh màu của nước thí nghiệm với màu của nước cất Cả hai xi lanh cùng đặt trên cùng nền trắng
2.2.4 Mùi:Mùi của nước thường liên quan tới sự hoạt động của vi khuẩn, hay sự có
mặt các chất hữu cơ Sự khác nhau về hình dạng của các vi khuẩn đó có thể gây ra cho nước có nhiều mùi khác nhau: mùi mốc, mùi chuột, mùi cá,…
Ngoài ra, mùi của nước còn chứng tỏ có nhiều khí có nguồn gốc sinh hoá (H2S có mùi
Trang 19Để xác định chính xác mùi của nước, người ta đun sôi nước lên khoảng 50 – 60 0 C Nước có thể có các mùi sau:
2.2.5 Vị: Vị của nước liên quan đến thành phần các chất hoà tan trong nước Ví dụ:
- Vị mặn gây ra do: NaCl
- Vị đắng chat do: Mg2SO4
- vị rỉ sắt hay vị mực gây ra do muối sắt
- Vị ngọt và mát thường do khí CO2 tự do
2.3 Tính chất hoá học của nước:
2.3.1 Thành phần hóa học của nước
Trong thành phần hoá học của nước dưới đất có hơn 60 nguyên tố trong bảng tuần hoàn Mendeleep Các nguyên tố này chứa trong nước dưới các dạng:
Ion: Na+, Ca2+, Mg2+, Fe2+, Cl-, HCO3-, SO42-,…
Phân tử: O , CO , H S, CH , N ,…
Trang 20Keo: H2SiO3, Fe(OH)3,…
Ngoài ra trong nước còn có các chất hữu cơ (humin, bittum, axit béo, phênôn,…)
Các chất chứa trong nước thiên nhiên được chia ra làm hai nhóm nguyên tố chính: đại nguyên tố và vi nguyên tố
Trong nhóm đại nguyên tố: gồm các nguyên tố có một số lượng chủ yếu quyết định độ khoáng hoá của nước như: Cl - , HCO3-, SO42, NO3-, Na+, Ca2, Fe2+, H2SiO3
Trong nhóm vi nguyên tố gồm các nguyên tố còn lại và các chất keo
Trong thực tế hiện nay người ta tập trung chú ý đến 6 ion: Na +
, Ca2+, Mg2+, Cl-, HCO3-,
SO42, bởi vì các ion này chứa trong nước dưới đất một lượng lớn và quyết định thành phần hoá học của chúng, các ion còn lại là những ion phụ kèm theo
2.3.2 Tổng độ khoáng hoá của nước:
Tổng lượng các chất hoà tan trong nước gọi là tổng lượng khoáng hoá, thường được biểu diễn bằng g/l (đô khi bằng g/kg-đối với nước nuối)
Tổng lượng khoáng hoá của nước ngọt không quá 1 g/l, nước uống không nên quá 0,5g/l, nước biển phần lớn là 35 g/l
Cách xác định tổng độ khoáng hoá như sau: lấy một lượng nước nhất định (500ml) chưng khô ở nhiệt độ 105-110 0 C, cân chất cặn đọng lại là được tổng độ khoáng hoá Thực tế tổng độ khoáng hoá xác định theo phương pháp này nhỏ hơn thực tế vì khi chưng khô có một số chất khí và chất dễ bốc hơi bay đi Phương pháp chính xác nhất là xác định hàm lượng của từng nguyên tố một rồi cộng lại Song phương pháp này rất phức tạp và tốn kém nên ít được dùng
Dựa trên tổng độ khoáng hoá, nước dưới đất được phân loại như sau:
Trang 21Sunfat-Clorua Chủ yếu là Clorua Clorua
2.3.3 Độ pH:
pH đặc trưng cho nồng độ ion Hydro trong nước, nó quyết định đặc điểm môi trường nước
Nước trung tính khi Ph = pOH= 7
Nước trong thiên nhiên là một dung dịch chứa nhiều chất hoà tan khác nhau Do đó, nồng độ H + có thể nhiều hơn hay ít hơn so với [OH -
] Nếu pH > 7, nước có tính kiềm
Nếu pH < 7, nước có tính axit
- Độ pH phụ thuộc vào hàm lượng của: H2CO3, CO2, H2S, các axit khác
- Khí CO2 có vai trò quan trọng trong việc làm tăng nồng độ H + trong nước:
Nếu nước bảo hoà CO2 thì [H+] có thể tăng lên 300 lần
- Các axit humin cũng làm tăng [H+]
- Nồng độ OH- tăng lên do Na2CO3:
Na2CO3 + H2O 2Na+ + HCO3- + OH
-2.3.4 Đặc tính ăn mòn của nước dưới đất:
Trang 22Tính chất này thể hiện rõ khi trong nước hiện diện nhiều Cacbonic tự do Sự ăn mòn Cancit trong nước chứa Cacbonic tự do diễn ra theo phương trình sau:
CaCO3 + CO2 + H2O Ca2+ + 2HCO3-
Nếu lượng CO 2 thừa sau phản ứng thì gọi là CO2 ăn mòn
Nếu lượng CO2 vừa đủ để hoà tan hết CaCO3 thì gọi là CO2 cân bằng
CO2 ăn mòn có tác dụng phá hoại bêtông và nhiều loại ximăng, hoà tan một số đá (nhất
là đá vôi)
2.3.5 Độ cứng của nước
Độ cứng của nước gây ra do các muối hoà tan của Canxi và Magiê
Người ta phân biệt 3 loại độ cứng sau:
- Tổng độ cứng: gây ra do sự có mặt của tất cả các muối Canxi và Magiê: Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2, MgCO3, CaSO4, MgSO4, CaCl2, MgCl2
- Độ cứng tạm thời gây ra do sự có mặt của các muối Bicacbonat Canxi hay Magiê
- Độ cứng vĩnh viễn gây ra do sự có mặt của các muối Canxi và Magiê còn lại
Ở Liên Xô độ cứng của nước được biểu thị bằng mg-đương luợng của Ca 2+
và Mg2+trong một lít nước Một mg-đl độ cứng ứng với hàm lượng 20,04 mg/l Ca 2+
hay 12,16 mg/l Mg2+
Phân loại nước theo độ cứng theo Alôkin như sau:
Trang 231 mg-đl = 2,804 độ Đức
Nước uống có thể dùng khi độ cứng 7-20mg-đl
2.4 Dấu hiệu nhiễm bẩn của nước
Khái niệm nhiễm bẩn được hiểu là khả năng làm cho nước không còn được sử dụng an toàn cho mục đích ăn uống hay công nghiệp Như vậy, khi đánh giá sự nhiễm bẩn của nước dưới đất chúng ta cần làm rõ tác nhân gây nhiễm bẩn và nguồn gốc của chúng là
từ đâu, có như vậy chúng ta mới tìm ra giải pháp ngăn chặn nhiễm bẩn Tác nhân gây nhiễm bẩn có thể là tác nhân hoá học (thành phần hoá học gây hại) và tác nhân sinh học (thành phần vi khuẩn), nguồn gốc các chất gây nhiễm bẩn nước dưới đất thường là
từ sự phân huỷ các chất hữu cơ
2.4.1 Nguồn gốc một số thành phần nguyên tố gây nhiễm bẩn nước
K + , Cl - : do sự hoà tan các vỉa muối hay thuỷ phân các đá silicat –nguồn gốc vô cơ Nhưng nếu chúng có nguồn gốc từ sự phân huỷ các chất hữu cơ thì đây là dấu hiệu của
sự nhiễm bẩn nước
SO 4 2- : nếu có nguồn gốc từ chất hữu cơ thì là dấu hiệu nhiễm bẩn nước SO42- từ chất thải công nghiệp hay sinh hoạt, nếu tồn tại trong môi trường kỵ khí sẽ bị phân huỷ theo phương trình:
2SO42- + 4C + 3H2O = H2S + HS + CO2 + 3HCO3
-H2S sinh ra từ phương trình trên gây nhiễm bẩn cho nước
Các hợp chất Nitơ (NH 4 + , NO 2 - , NO 3 - ): chúng được sinh ra chủ yếu từ hợp chất hữu
cơ Nếu nguồn gốc của chúng là vô cơ thì chúng không có hại, nhưng nếu nguồn gốc
là hữu cơ thì chúng là dấu hiệu nhiễm bẩn và có khả năng có mặt các vi khuẩn gây bệnh
NO3- không có hại đến sức khoẻ nhưng nếu trong môi trường khử thiếu Oxy thì đi kèm với NO 3- còn có NO2-, NH4+ gây hại đến sức khoẻ con người
Trang 24NO2- + O2 NO3-
Ngoài ra, sự xuất hiện các nguyên tố vi lượng cũng là dấu hiệu của sự nhiễm bẩn
2.4.2 Trạng thái vi khuẩn của nước dưới đất
Đánh giá mức độ vệ sinh nước ta cần xác định số lượng vi khuẩn (Becterium Coli) Nồng độ nhiễm bẩn vi khuẩn được đặc trưng bằng hệ số Côli Hệ số này biểu thị số lượng centimet khối nước chứa 1 vi khuẩn Coli
Đánh giá nước dựa trên hệ số coli như sau:
- Tốt nhất là nước không có vi trùng
- Nếu hệ số coli trên 50 thì nước tương đối sạch và an toàn
- Nếu hệ số coli từ 10 đến 50 thì nước nhiễm bẩn, song trong một số trường hợp nhất định có thể sử dụng được
- Nếu hệ số coli từ 1 đến 10 thì nước không đảm bảo về mặt vi khuẩn và không nên dùng để ăn uống
- Nếu hệ số coli nhỏ hơn 1, nước bị nhiễm bẩn mạnh không thể sử dụng nó vào mục đích ăn uống và sinh hoạt
Việc lấy mẫu để phân tích vi khuẩn và và cả quá trình phân tích là do cơ quan chuyên môn thực hiện
2.5 Biểu diễn các kết quả phân tích thành phần hoá học của nước dưới đất
2.5.1.Biểu diễn bằng số:
Trang 25- Khối lượng các chất hoà tan trong một lít nước Do lượng hoà tan của các chất thường
bé nên đơn vị được chọn là g/l, mg/l hoặc r (r = 1 microgam/l = 0,001 mg/l)
- Gam đương lượng hoặc miligam đương lượng các chất hoà tan trong 1 lít nước (viết tắt là g –đl/l hoặc mg –đl/l)
- Phần trăm đương lượng (% đl)
Để tính phần trăm đương lượng, người ta lấy tổng số mg –đl của tất cả các anion chứa trong một lít nước là 100% và tính phần trăm mg –đl của từng anion so với tổng số ấy Đối với cation cũng tương tự vậy
Biểu diễn các kết quả phân tích nước dưới đất dưới những dạng khác nhau
Dạng biểu diễn ion không phản ánh đầy đủ các tính chất của nước Dạng biểu diễn
mg-đl phản ánh bản chất hoá học của các chất tham gia vào thành phần hoá học của nước
Chú ý: tổng số mg-đl của anion bằng tổng số mg-đl của cation
Dạng biểu diễn phần trăm đương lượng nhằm để so sánh các loại nước có độ khoáng hoá khác nhau
2.5.2 Biểu diễn bằng công thức:
Trong số những công thức thông dụng nhất, người ta hay dùng công thức Cuôc-lốp và công thức thành phần muối để biểu diễn thành phần hoá học của nước dưới đất
* Công thức Cuốc-lốp:
Trang 26Đó là một phân số có tử số biểu diễn % đương lượng các anion được xếp theo thứ tự
giảm dần, còn mẫu số khi được xếp các cation cũng tương tự như vậy Chú ý: hàm
lượng các ion không nhỏ hơn 25% đl Bên trái phân số sắp xếp các chất khí đo bằng g/l
và tổng độ khoáng hoá của nước cũng đo bằng g/l đến một con số lẻ Bên phải phân số đặt nhiệt độ và pH của nước
Ví dụ: phân tích thành phần hoá học của một nguồn nước dưới đất với nhiệt độ 44 o C, thu được những số liệu sau, p H = 7.5
Cl SO HCO
M
10 33 57
20 4 37 3 46 0
Ta có thể đọc tên nước là nước Bicacbonat sunfat natri canxi
Chú ý: Ion >=10% đương lượng được đưa vào công thức nhưng goi tên đối với Ion >=25% Đọc tên Ion âm trước và Ion dương sau
* Công thức theo thành phần muối:
Công thức này khác công thức Cuốc lốp ở chỗ trong công thức đặt tất cả các cation và
Trang 275 10 30 55
3 2 4 17 20 3
Na
NO SO Cl
HCO
M
Nước theo công thức này có thể đọc là nước bicacbonat clorua Natri canxi
Chú ý: Khác với công thức Cuôclôp ở chổ công thức đặt tất cả các ion chính mà không phụ thuộc vào hàm lượng của chúng và không ghi nhiệt độ, lượng chất khí của nước Đọc tên ion có >=20% đương lượng
2.5.3 Biểu diễn bằng hình vẽ:
2.6 Những nguyên tắc kiểm tra kết quả phân tích nước:
100%
Trang 28Chúng ta có thể kiểm tra kết quả phân tích bằng cách lặp lại nhiều lần việc phân tích trong cùng một phòng thí nghiệm hay so sánh kết quả phân tích thành phần của nước ở một vài phòng phân tích khác nhau Song, trong những trường hợp này cần chú ý:
* Thành phần của nước thay đổi theo thời gian
* Phương pháp lấy và bảo quản mẫu nước bằng những phương pháp khác nhau sẽ cho những kết quả phân tích khác nhau
* Tổng các ion âm tính theo đương lượng bằng tổng các ion dương Nếu hiệu giữa tổng đương lượng ion âm và tổng đương lượng ion dương là nhỏ (1-3%) thì có thể xem kết quả phân tích này là hợp lý Song nếu hiệu số này là đáng kể thì có thể đã bỏ sót một ion nào đó khi phân tích hoặc thiếu chính xác trong quá trình phân tích Trong cả hai trường hợp này cần phải phân tích lại
* Độ chính xác của kết quả phân tích hoá học có thể đánh giá trên cơ sở những phần khô còn lại Phương pháp này có thể sử dụng cho các phương pháp phân tích toàn phần hay đơn giản (một trong các ion được tính toán dựa vào mối liên hệ giữa số lượng ion
âm và ion dương) Phương pháp này dựa trên cơ sở: những phần khô còn lại bằng tổng tất cả các chất hoà tan trong nước ở dạng ion và phân tử Khi tính tổng cần giảm số lượng ion HCO3- đi một nửa vì nó bị phân huỷ khi làm nước bay hơi Sự khác nhau giứa kết quả tính toán và kết quả xác định phần khô còn lại không vượt quá 10%
Trang 29* Theo thành phần hoá học, thì có bảng phân loại Sucarep (1934) và Alôkin (1946)
Trong chương này chúng ta sẽ phân loại nước theo điều kiện tàng trữ của Opsinicốp (1949)
Năm 1949, Opsinicốp chia tất cả nước dưới đất thành 3 loại cơ bản:
- Nước thượng tầng
- Nước ngầm
Trang 30- Nước cồn cát mọc
cỏ (hoang mạc)
- Nước trong các dải cát, đụn cát ở bờ biển
- Nước trong vỏ phong hóa của
đá nứt nẻ
- Nước tầng trên của khối đá Karto hóa
- Nước trong mái
nham
Nước tầng hoạt động
sinh của mạch nước nóng
Trang 31Nước ngầm - Nước bồi tích
- Nước sườn tích, lũ tích và trầm tích hồ
- Nước bồi tích cổ
- Nước trầm tích của
vỏ phong hóa
-Nước ngầm khe nứt
- Nước khe nứt dạng tầng của đá trầm tích
-Nước bồn tự lưu
- Nước dốc tự lưu
nóng chứa khí (có khi nước sôi) đi lên theo các đứt gãy kiến tạo
Sau đây, chúng ta xem xét đặc điểm cơ bản của từng loại nước:
3.1 Một số nước thượng tầng:
3.1.1 Nước thổ nhưỡng:
Là nước nằm trong lớp thổ nhưỡng (là lớp trên cùng của vỏ phong hoá, trong đó thường chứa ít nhiều mùn do cây cỏ bị phân giải thành) Loại nước này tồn tại dưới các dạng: nước liên kết, nước mao dẫn, hơi nước Tất cả chúng đều tạo nên độ ẩm của lớp thổ nhưỡng, song chỉ có nước mao dẫn là giúp cho cây phát triển
Khi có những cơn mưa rào thì trong lớp thổ nhưỡng còn có nước thấm lọc và nước chảy rò Chính những loại nước này gây ra hiện tượng rửa lủa lớp thổ nhưỡng Kết quả của quá trình rửa lủa là một số cation như K +
, Na+, Ca2+, Mg2+, Fe2+,…bị mang xuống sâu khỏi lớp thổ nhưỡng
3.1.2 Nước lầy:
* Khái niệm về lầy:
Trang 32Lầy là một vùng mặt đất có phần đất đá trên cùng thừa ẩm với sự tạo thành một lớp than bùn dầy (>30cm) và hệ thống rễ cây phát triển chỉ trong lớp than bùn ấy không đạt đến nền đá gốc phía dưới
Cần phân biệt lầy và vùng đất bị lầy hoá Vùng đất bị lầy hoá là vùng có lớp than bùn mỏng (<30cm) và hệ thống rễ cây đạt đến tầng đá gốc bên dưới Tuy nhiên cách chia như vậy chỉ mang tính ước lệ vì thực chất của lầy hoá là giai đoạn đầu của lầy
* Nguồn gốc của lầy:
Người ta có thể phân biệt hai loại nguồn gốc chính của lầy như sau:
- Lầy được xem như giai đoạn kết thúc trong sự phát triển của hồ
- Lầy xuất hiện do sự lầy hoá mặt đất
Khi gặp một điều kiện nào đó, hồ sẽ bị cạn nước đến mức nào đó thì các loại cây ưu nước phát sinh và phát triển Các tàn tích của chúng sẽ tạo nên lớp than bùn và biến hồ thành lầy
Hiện tượng lầy hoá có thể xuất hiện trong những vùng sau đây:
- Trong những vùng có lớp cách thuỷ nằm gần mặt đất Lớp cách thuỷ này ngăn không cho nước trên mặt thấm xuống sâu, do vậy làm cho phần đất trên lớp cách thuỷ này luôn luôn thừa ẩm, gây ra lầy hoá mặt đất ở đấy
- Tại những chỗ lộ nước (nguồn nước) có điều kiện phát triển lầy hoá phần bề mặt quanh nguồn nước
- Tài phần cuối của nón phóng vật: Phần cuối của nón phóng vật là nơi các hạt trầm tích proluvi có kích thước nhỏ hơn so với phần trên Vì vậy phần này trở thành nơi tích nước của trầm tích proluvi Nước này sẽ xuất lộ ra một cách từ từ gây ra thừa ẩm phía dưới nó
- Tại nhiều cửa sông, vùng đất bị lầy hoá dường như là phần không thể tách rời với vùng ấy Các điều kiện gây ra do sự lầy hoá có nhiều, chúng phụ thuộc vào địa hình,
Trang 333.1.3 Nước thượng tầng nằm trên thấu kính không thấm nước:
Nước thượng tầng là nước dưới đất nằm gần mặt đất nhất và phân bố trong đới thông khí (đới không bảo hoà nước) Do vậy, động thái của chúng dao động rất mãnh liệt theo điều kiện khí hậu Mùa khô chúng có thể hoàn toàn bị cạn khô
Nước thượng tầng thường nằm trên các lớp thấm nước yếu hoặc không thấm nước như
á sét, sét Các lớp không thấm nước này nằm giữa lớp thấm nước
Hình 1: Nước thượng tầng (phần ghi chú)
Nguồn cung cấp cho nước thượng tầng là nước khí quyển Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nước thượng tầng Trên các sườn dốc, nước mưa chủ yếu tạo thành các dòng chảy trên mặt, chỉ có một phần rất ít thấm xuống đất Do vậy, tại những nơi đó nước thượng tầng không có hoặc chúng tồn tại trong một thời gian ngắn
Ở các miền đồng cỏ hay trên các vùng phân thuỷ bằng phẳng hay trên các bậc thềm sông thì có những điều kiện thuận lợi để tạo nên nước thượng tầng
Nước thượng tầng thường có những đặc điểm sau:
Nước thượng tầng
Lớp không thấm nước
Trang 34- Diện phân bố bị hạn chế bởi kích thước của các thấu kính không thấm nước
- Sự dao động mảnh liệt của mặt nước, thành phần, trữ lượng của chúng thay đổi tuỳ thuộc vào khí hậu
- Rất dễ bị nhiềm bẩn bởi các loại nước khác như nước thổ nhưỡng, nước lầy,…
- Trong đa số trường hợp, nước thuộc loại này không thể làm nguồn cung cấp nước thường xuyên được
3.1.4 Nước trong các dải cát, đụn cát ở bờ biển
Trong các dải cát, đụn cát ven biển thường có những tầng nước ngọt Bề mặt thoáng của tầng nước lượn theo bề mặt của đụn cát Hình 2:
Hình 2: Sự phân bố của nước trong đụn cát
Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước này là nước khí quyển, một phần ít hơn là thấm từ những vùng cao lân cận
Các nguyên cứu đã xác định rằng trong những đụn cát và đảo cát như vậy, nước ngọt
sẽ được thay thế dần bởi nước mặn ở độ sâu nào đấy Ta có thể xác định được độ dày của lớp nước ngọt này, hình 3:
Hình 3: Độ dày lớp nước ngọt ở cồn cát
Trang 35Giả sử nước ngọt phân bố đến độ sâu H so với mặt nước biển và phần dâng lên của nước ngọt là h Do tỷ trọng của nước biển trung bình bằng 1,024, còn nước ngọt bằng
1, nên có thể viết chương trình như sau:
3.2 Nước ngầm
3.2.1 Khái niệm nước ngầm:
Nước ngầm là lớp nước đầu tiên kể từ mặt đất xuống Nó được tàng trữ trong lớp chứa nước mà phía dưới nó là lớp không chứa nước (sét, phiến sét,…) Phía trên của lớp nước ngầm không bị phủ bởi lớp cách thuỷ, do đó bề mặt của nước ngầm thì thoáng, không có áp lực Nước ngầm thường không phân bố trong toàn bộ lớp chứa nước
Hình4: Sự tàng trữ của nước ngầm
Trang 36Bề mặt của nước ngầm được gọi là gương hay mặt thoáng của nước ngầm Lớp đất chứa nước gọi là lớp chứa nước hay tầng chứa nước Lớp không thấm nước phía dưới tầng chứa nước là lớp cách thuỷ (sét, đá nguyên khối) Động thái của nước ngầm thay đổi theo điều kiện khí tượng thuỷ văn Tiếp liền với gương nước ngầm là lớp nước mao dẫn, trên lớp mao dẫn là đới thông khí
Gương nước ngầm thường nghiêng về phía địa hình thấp gần nhất (mương xói, khe nứt, thung lũng sông,…) Chỉ ở đồng bằng thì gương nước ngầm gần như là mặt phẳng nằm ngang Những nơi có gương nước ngầm là mặt phẳng gọi là bồn nước ngầm
Tuỳ thuộc vào đặc điểm cấu trúc địa chất mà nước ngầm có những dạng tàng trữ khác nhau.Người ta chia ra 3 dạng tàng trữ:
Trang 37Những dòng nước ngầm có lớp cách thuỷ phía dưới không bằng phẳng hoặc không nghiêng về một phía thì sẽ tạo nên hỗn hợp giữa dòng nước ngầm và bồn nước ngầm Hình 6:
Hình 6 Hỗn hợp dòng nước ngầm và bồn nước ngầm
Trên bản đồ địa chất thuỷ văn người ta biểu diễn mặt thoáng của nước ngầm bằng đường thuỷ đẳng cao Cách biểu diễn tương tự như đường đồng mức
3.2.2 Các loại nước ngầm chủ yếu:
Có thể chia ra làm 4 loại như sau:
Trang 38- Nước ngầm trầm tích băng hà,
- Nước ngầm ở vùng đồng cỏ, bán sa mạc, sa mạc
- Nước ngầm ở miền núi
ở đây chúng ta cần chú ý loại đầu tiên và cuối cùng
Nước ngầm bồi tích: nằm trong các lớp bồi tích, cát, cuội, Loại nước này quan sát thấy
ở đồng bằng hay ở các bậc thềm sông
Đặc điểm của nó là tốc độ chảy không lớn, độ dốc của mặt thoáng bé, và phân bố ở độ sâu từ 0 m đến 10 -12m Phần lớn nước ngầm bồi tích thuộc về nước ngọt và có thành phần là bicacbonat canxi Nguồn cung cấp của nước ngầm là nước khí quyển Đối với các bậc thềm sông miền núi thì ngoài nước khí quyển, nước ngầm còn nhận được lượng nước bề mặt chảy từ sườn thung lũng Loại nước ngầm này được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt
Nước ngầm ở miền núi: chủ yếu là nước sườn tích, lũ tích, nước khe nứt
Nước di chuyển mạnh Do bị chia cắt xâm thực sâu vào vỏ phong hoá và vào khe nứt chứa nhiều nước ngầm, nước ngầm lộ ra mặt đất khắp nơi dưới dạng nguồn nước xuống
3.2.3 Quan hệ giữa nước ngầm và nước bề mặt:
Nước ngầm thường có quan hệ thuỷ lực với nước bề mặt (sông, hồ, ao,…) Các thung lũng sông có thể được cấu tạo bởi bồi tích mà thành phần là cát, sỏi, cuội Quan hệ giữa nước ngầm và nước bề mặt có thể khác nhau tuỳ thuộc vào đặc tính của các đường đẳng áp cao
Hình 7: Ba dạng quan hệ thuỷ lực giữa nước ngầm và nước sông (theo P.P tôp)
Trang 39
A –Nước ngầm thoát ra sông; B –Sông cung cấp cho nước ngầm; C –Trên bờ trái sông cung cấp cho nước ngầm và trên bờ phải nước ngầm cung cấp cho sông
Ở khí hậu khô ráo thường sông cung cấp cho nước ngầm (hình 7B) Còn trong trường hợp thứ 7C thì tuỳ thuộc vào lớp cách thuỷ phía dưới của nước ngầm mà một phần sông do nước ngầm cung cấp, phần còn lại nước sông cung cấp cho nước ngầm, trong hình 7C lớp cách thuỷ bên dưới nằm nghiêng từ trái sang phải
Do có quan hệ thuỷ lực với nước sông nên gương nước ngầm ở đới quen bờ luôn thay đổi độ sâu tuỷ thuộc vào mực nước sông, hình 8
Hình 8: vị trí của gương nước ngầm ở đới quen bờ phụ thuộc vào mực nước sông
3.3 Nước tự lưu
3.3.1 Định nghĩa
Nước tự lưu là nước dưới đất có áp lực và tàng trữ trong lớp chứa nước nằm giữa hai lớp vật liệu không thấm nước (hình 9) Khí có lỗ khoan được đặt vào tầng chứa nước tự lưu thì nước này dưới áp lực của mình sẽ dâng lên cao khỏi mái tầng
Trang 40Hình 9: lát cắt bể nước tự lưu (theo A.M Ôpsinicôp)
A –Phạm vi phân bố nước tự lưu: a –vùng cung cấp; b –vùng áp lực; c –vùng thoát nước
B –Phạm vi phân bố nước ngầm: H1 –Áp lực dương; H2 –Áp lực âm
M –Bề dày vỉa áp lực
Phần lớn nước tự lưu tàng trữ trong phạm vi các cấu trúc địa chất tương đối lớn, cấu tạo bởi các loại đá có tuổi trước Đệ tứ Tuy nhiên có một vài nơi, chúng nằm trong trầm tích Đệ tứ Cũng thường thấy nước tự lưu phân bố tại các đới phá huỷ kiến tạo
Trong miền áp lực (miền chứa) độ cao mà nước có thể dâng lên nằm cao hơn
nóc tầng chứa nước.Khoảng cách từ nóc tầng chứa nước tới độ cao ấy gọi là cột nước