1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN CÁC DI SẢN VĂN HÓA NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

83 573 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêu khắc và nghệ thuật ướp xác,… Tới cách n

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN

CÁC DI SẢN VĂN HÓA NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

(Tài liệu dùng cho sinh viên khoa Ngữ văn, Chuyên ngành: Văn hóa học và Việt Nam học)

Biên soạn: Nguyễn Ngọc Chinh

(Lưu hành nội bộ)

Đà Nẵng, tháng 12 năm 2015

Trang 2

2

MỤC LỤC

Chương 2 Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc

với di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

28

Chương 3 Những di sản mang tính chất toàn cầu 53

Trang 3

3

Tên học phần CÁC DI SẢN VĂN HÓA NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

Số tín chỉ: 02 (15 tiết lí thuyết, 10 tiết thảo luận, 5 tiết bài tập, thực hành)

Khoa phụ trách: Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN

Mã số học phần: 317012

Dạy cho các ngành: Văn hóa học, Việt Nam học

1 Mô tả học phần

Cá di sản văn hóa nổi tiếng thế giới là một môn khoa học văn hóa – lịch sử

cung cấp cho sinh viên những kiến thức tổng quát về các nền văn minh nhân loại

và các di sản văn hóa nổi tiếng thế giới Đây là học phần cơ sở được thiết kế dành cho sinh viên các chuyên ngành: văn hóa học và Việt Nam học Tùy theo thiết kế chương trình của mỗi chuyên ngành, môn học này có thể là môn học bắt buộc hoặc tự chọn; có thể bố trí ở bất kỳ học kỳ nào (từ học kỳ 1 đến học kỳ 8) trong chương trình đào tạo

Môn học tập trung vào việc giúp sinh viên có tư duy khoa học, có khả năng liên hệ với thực tiễn và củng cố thêm vốn kiến thức về văn hóa, lịch sử và văn minh thế giới

2 Điều kiện tiên quyết: Không

3 Mục tiêu môn học

3.1 Mục tiêu chung

Học xong môn học này, sinh viên có được:

* Về kiến thức

- Nắm được các kiến thức về các nền văn minh nhân loại

- Có được những hiểu biết khái quát về lịch sử phát triển của nhân loại

- Có được các hiểu biết khái quát về các di sản thế giới, Công ước Di sản thế giới, bảo tồn các di sản văn hóa

- Nắm được những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa nổi tiếng thế giới

* Kĩ năng

- Nâng cao ý thức bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới

- Vận dụng những kiến thức đã học để tuyền truyền và quảng bá giá trị các

di sản văn hóa và kiến thức hỗ trợ cần thiết

- Hình thành thói quen lựa chọn và sử dụng các biện pháp bảo tồn các di sản văn hóa của nhân loại

Trang 4

4

3.2 Mục tiêu khác

- Góp phần rèn luyện khả năng thuyết trình, xử lí tình huống

- Góp phần phát triển kĩ năng cộng tác, kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả

- Góp phần trau dồi, phát triển năng lực đánh giá và tự đánh giá

- Góp phần phát triển kĩ năng tư duy sáng tạo

4 Nội dung chi tiết môn học và hình thức dạy học

4.1 Nội dung cụ thể

Chương 1 Những nền văn minh nhân loại (khái quát)

1.1 Nền văn minh sông Nil

1.2 Nền văn minh Hy Lạp

1.3 Nền văn minh La Mã

1.4 Nền văn minh Ấn Độ

1.5 Nền văn minh Trung Hoa

1.6 Nền văn minh Trung Mỹ và Nam Mỹ

Chương 2 Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc

(UNESCO) với di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới

2.1 Tổ chức UNESCO

2.1.1.Mục đích tôn chỉ và chức năng của UNESCO

2.1.2 Cơ cấu hoạt động của UNESCO

2.2.3 Các tiêu chí để công nhận các di sản văn hoá và thiên nhiên

2.3 Trình tự và thủ tục của việc đề cử và công nhận Di sản

Chương 3 Những di sản nổi tiếng thế giới mang tính toàn cầu

3.1 Hoá thạch – biên niên sử cuộc sống

3.2 Các nhà thờ của đức tin mới

3.3 Cung điện, lâu đài, tượng đài - một biểu hiện của quyền lực và lối sống vương giả của các vị hoàng đế

Chương 4 Những di sản của các nước

4.1 Ai Cập (1974)

4.2 Anh (1984)

4.3 Achentina (1978)

4.4 Australia (1974)

Trang 6

Số tiết thực hành

Số tiết thảo luận

Số tiết bài tập

Tài liệu tham khảo cần thiết

Chương 1 Những nền

Tài liệu số [1], [2], [3], [4], [5]

Chương 2 Tổ chức

giáo dục, khoa học và

văn hóa của Liên hợp

quốc (UNESCO) với di

sản văn hoá và thiên

nhiên thế giới

Tài liệu số [1], [2], [3], [4], [5]

Chương 4 Các di sản

Tài liệu số [1], [2], [3], [4], [5]

5 Tài liệu tham khảo

5.1 Tài liệu chính: Bài giảng của giảng viên

5.2 Tài liệu tham khảo

[1] Hoàng Minh Thảo (1999), Almanach Những nền văn minh thế giới, Nhà

xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội

[2] Một vòng quanh các nước (2005), Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội

[3] Nguyễn Thu Phương, Các nền văn minh cổ trên thế giới và Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin

[4] Ngô Minh Oanh (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới (Tài liệu học tập và

ôn thi), Nxb Giáo dục, 1999

[5] Nguyễn Phụng Hoàng (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục,

1999

Trang 7

Biên soạn

Nguyễn Ngọc Chinh

Trang 8

8

Lời nói đầu

Tập bài giảng cho học phần “Các di sản văn hóa nổi tiếng thế giới” là tập

bài giảng bao gồm 4 chương được giảng dạy bao gồm lý thuyết, thảo luận và làm bài tập trong 30 tiết (2 tín chỉ), gồm:

Chuương 1: Những nền văn minh thế giới - 3 tiết;

Chương 2: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc với

di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới - 3 tiết;

Chương 3: Những di sản mang tính chất toàn cầu - 3 tiết;

Chương 4: Những di sản của các nước - 3 tiết;

Thảo luận - 10 tiết và bài tập thực hành – 5 tiết

Mỗi bài, ngoài phần lý thuyết, còn có phần bài tập nhằm củng cố kiến thức

đã học

Đây là tập bài giảng được biên tập giảng dạy sinh viên ngành Tiếng Việt

và Văn hóa học khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng Trong quá trình biên tập chắc hẳn còn những thiếu sót và sẽ được hiệu chỉnh trong những lần tiếp theo

Người biên soạn

PGS.TS Nguyễn Ngọc Chinh

Trang 9

9

Chương 1 NHỮNG NỀN VĂN MINH NHÂN LOẠI

1 1 Nền văn minh sông Nile

1.1.1 Địa lý, cư dân và lịch sử Ai cập cổ đại

Ai Cập cổ đại, hay nền văn minh sông Nin, gắn liền với cư dân sống bên hai bờ sông Nin tại Ai Cập Dòng sông Nin dài khoảng 6500 km, có bảy nhánh

đổ ra Địa Trung Hải, đã tạo ra nơi sản sinh ra một trong các nền văn minh sớm nhất thế giới Phần hạ lưu sông Nin rộng lớn, giống như hình tam giác dài 700

km, hai bên bờ sông rộng từ 10 km đến 50 km tạo thành một vùng sinh thái ngập nước và bán ngập nước - một đồng bằng phì nhiêu với động thực vật đa dạng và đông đúc

Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 9, nước lũ sông Nin dâng lên làm tràn ngập

cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng phù sa khổng lồ, màu mỡ Các loại thực vật chủ yếu như: đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen,… sinh sôi nảy nở quanh năm Ai Cập cũng có một quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc điểm đồng bằng-sa mạc như voi, hươu cao cổ, sư tử, trâu, bò, cá sấu, các loài

cá, chim,…

Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất Các ngành nghề như đánh bắt cá, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đều phát triển ngay từ 3.000 năm trước Công nguyên Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêu khắc và nghệ thuật ướp xác,…

Tới cách ngày nay khoảng 6000 năm, con người ở đây đã biết sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng Công cụ bằng đồng giúp con người ở đây chuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông, thoát khỏi cuộc sống săn bắn, hái lượm

và sớm bước vào xã hội văn minh Chính vì vậy mà cách đây hơn 2000 năm trước, một nhà sử học Hy Lạp là Hêrôđôt tới thăm Ai Cập đã có một nhận xét rất hay là

“Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”

Về mặt dân cư, những cư dân cổ nhất ở lưu vực sông Nin là những thổ dân Châu Phi hình thành trên cơ sở hỗn hợp nhiều bộ lạc Sau này, một số bộ tộc Hamit (Hamites) từ Tây Á xâm nhập hạ lưu sông Nin Trải qua một quá trình hỗn hợp lâu dài giữa người Hamit và thổ dân Châu Phi đã hình thành ra những tộc người Ai Cập cổ đại

1.1.2 Thành tựu về văn học, tôn giáo và nghệ thuật của Ai cập cổ đại

Trang 10

10

1.1.3 Thành tựu về khoa học tự nhiên của Ai cập cổ đại

1.2 Nền văn minh Hy Lạp

1.2.1 Đặc điểm địa lý, cư dân và lịch sử hình thành

Địa điểm xuất phát phát triển của nền văn minh Hy Lạp là đồng

bằng Thessalia màu mỡ, rộng lớn ở vùng bắc Hy Lạp cùng với các đồng bằng Attike, Beotia ở trung Hy Lạp và bán đảo Peloponnese ở phía nam Hy Lạp Tại đây nghề trồng trọt và chăn nuôi phát triển rất sớm Địa hình Hy Lạp có nhiều đồi núi xen kẽ, chia cắt các đồng bằng, tạo thành các tiểu vùng Các bờ biển phía đông Hy Lạp là nơi tấp nập tàu thuyền

Lãnh thổ nền văn minh Hy Lạp thời kỳ đầu bao gồm Hy Lạp ngày nay và các đảo thuộc biển Aegaeum và vùng Tây Tiểu Á Địa lý Hy Lạp đa dạng kết hợp với khí hậu tốt, cận nhiệt đới, vào mùa đông ít tuyết Khí hậu Hy Lạp mưa nhiều vào mùa đông sang mùa xuân rất thuận lợi cho trồng trọt

Hy Lạp có nhiều khoáng sản như sắt (ở Sparte), đồng (ở đảo Kypros), vàng (ở Thrace - Θράκη) vàbạc (ở Attike) Đó là điều kiện thuận lợi cho thủ công nghiệp phát triển khá sớm

Những điều kiện địa lý, tự nhiên rất thuận lợi cho các ngành nghề như thương mại, thủ công nghiệp và một nền nông nghiệp tuy không giàu có nhưng đủ đảm bảo các nhu cầu của cư dân trong vùng

Hy Lạp nằm ở vị trí thuận lợi, án ngữ trên con đường giao lưu của các dòng

di cư trong lịch sử cổ đại của các dòng người từ châu Phi lên, từ Trung Á sang,

từ châu Âu xuống Cư dân Hy Lạp gọi vùng đất của mình là Acaios rồi Ddanaos, đến khi La Mã xuất hiện thì gọi là Henlat và người Hy Lạp được gọi là Hellen

Tuy nền văn minh Hy Lạp xuất hiện muộn hơn nền văn minh Ai Cập cổ đại nhưng nhờ tiếp thu được nhiều giá trị từ Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại và phát triển lên, nâng lên tầm khái quát, nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã có rất nhiều đóng góp giá trị

1.2.2 Những thành tựu văn học, sử học, triết học

1.2.3 Những thành tựu về nghệ thuật, khoa học tự nhiên

1.3 Nền văn minh La Mã cổ đại

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, cư dân và lịch sử

Bán đảo Ý dài và hẹp vươn ra Địa Trung Hải, với dãy Alpes về phía Bắc ngăn cách với châu Âu Bán đảo Ý trong trên bản đồ như một chiếc ủng, bao bọc

ba mặt là biển, phía Nam bán đảo là đảo Sicilia, phía Tây là

Trang 11

Nền văn minh La Mã là nơi khá sớm có con người cư trú, có thể khẳng định vào loại sớm nhất với lục địa châu Âu Bán đảo Ý là nơi hội tụ của các nền văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải, Bắc Phi Mặc dù sự cực thịnh của nền văn minh La Mã không được các nhà nghiên cứu đánh giá sớm hơn các nền văn minh lân cận, như nền văn minh Ai Cập cổ đại hay nền văn minh Tây Á nhưng lại phát triển rực rỡ và cực thịnh Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được

gọi là Italiot, trong đó bộ phận sống trên đồng bằng latium là người

gốc Latinh (Latin), ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa và gốc Hy Lạp

Lịch sử của La Mã có thể được chia ra thành ba thời kỳ chính như sau:

Thời kỳ cổ đại Estrusque, Từ thế kỷ thứ 8 đến hết thế kỷ thứ 4 TCN: Ở

thời kỳ này, xã hội La Mã còn manh mún, các chủ đất chưa thống nhất và phân chia tranh giành ảnh hưởng và cân bằng lẫn nhau Kinh tế dựa vào nông nghiệp

là chủ yếu, lãnh thổ La Mã chủ yếu tập trung tại miền Nam Ý ngày nay

Thời kỳ Cộng hòa La Mã, (từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 1 TCN): Thời

kỳ này hình thành một nhà nước cộng hòa tại Roma mà về sau ảnh hưởng rất lớn đến đường lối chính trị của nhiều quốc gia Tây Phương, và cho đến ngày nay vẫn còn giá trị

Thời kỳ Đế quốc La Mã (Từ thế kỷ thứ 1 TCN đến năm 476): Đó là

thời kỳ phát triển rực rỡ của La Mã bằng việc bành trướng lãnh thổ, Đế quốc La

Mã có lãnh thổ hầu như toàn bộ khu vực Địa Trung Hải Lần lượt các vùng lãnh thổ như, Hy Lạp (146 TCN), cùng với lãnh thổ Tiểu

Á, Syria, Phoenicia, Palestine và Ai Cập bị sát nhập vào Đế quốc La Mã Trong thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã phát triển cực thịnh, lãnh thổ rộng lớn, các đô thị của La Mã được xây dựng và để lại cho đến ngày nay, như Londinium, (London ngày nay), Lucdium, (Lyon ngày nay), Köln, Strasburg, Viên

Nhưng từ thế kỷ thứ 2, Đế quốc La Mã có nhiều tranh giành quyền lực và suy yếu Đến thế kỷ thứ 4, nhiều cư dân bên ngoài xâm nhập và Đế quốc La Mã

bị chia hai: Tây La Mã và Đông La Mã (gọi là Đế chế Byzantine) Tây La Mã bị sụp đổ vào năm 476; và Đế quốc Đông La Mã bị sụp đổ vào năm 1453

1.3.2 Thành tựu nổi bật của văn minh La mã cổ đại

Trang 12

12

1.3.3 Ra đời, nội dung giáo lý và ảnh hưởng của Ki tô ở La Mã cổ đại

1.3.4 Sự hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại

1.3.5 Trình độ phát triển và chinh phục tự nhiên, tổ chwusc nhà nước của người phương Tây cổ đại

1.4 Nền văn minh Ấn Độ

1.4.1 Cơ sở hình thành

Nền văn minh Ấn Độ là một nền văn minh nổi tiếng và thuộc về những

nền văn minh cổ nhất thế giới Nền văn minh Ấn Độ thời cổ đại bao gồm cả vùng đất ở các nước như: Ấn Độ, Pakistan, Nêpan,Bangladesh ngày nay

Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác Ở phía bắc, bán đảo

bị chắn bởi dãy núi Hymalaya Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở tây-bắc Ấn Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độ dương Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông

Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn

Nền văn minh ở lưu vực sông Indus (3.000-1.800 Tr C.N.) đã thấm đượm những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho Ấn Độ

Người dân xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông

Ấn là những người Dravidian Ngày nay những người Dravidian chủ yếu cư trú ở miền nambán đảo Ấn Độ Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aryan tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn Sau này, trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Ả Rập Saudi, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu, nhiều chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa phong phú đã tạo nên nền văn minh Ấn Độ

Nền văn minh cổ xưa trên lưu vực sông Ấn (3.000-1.800 TCN)

Các nhà khảo cổ đã tìm ra cái nôi đầu tiên của Ấn Độ tại lưu vực sông Ấn Tại đây người ta tìm thấy những pho tượng một người đàn ông trong tư thế suy tưởng gợi đến môn phái yoga Rất nhiều hiện vật được tìm thấy ở khu vực Harappa và Mohenjo có niên đại từ 3.000 dến 1.800 trước công nguyên Những tìm tòi gần đây hé mở phần nào về sự lan tỏa của nền văn minh lưu vực sông Ấnrộng lớn về miền Bắc và miền Tây xa xôi cùng với cư dân lưu vực sông

Ấn lại có quan hệ gần gũi với văn hóa Dravidian, từng phồn thịnh từ rất lâu ở miền Nam Ấn Độ trước khi người Aryan đặt chân đến

Trang 13

13

Nền văn minh Vệ Đà (1.600-thế kỷ I TCN)

Ở vào khoảng thời gian 100 đến 1.600 TCN, một chi của dòng

họ Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo-Aryan, di cư đến Ấn Độ Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như Indra, thần mưa và sấm, thần Agni (lửa) và Varuma, chúa tể của các sông biển và mùa màng Những bài ngợi

ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Vệ Đà Lâu đời nhất là tập Rigveda (1.500-1.200 Tr C.N.) Đặc điểm của Kinh Veda là hướng con

người đến tư tưởng cao cả, văn phong đẹp đẽ và bước chuyển những nghi thức từ bên ngoài vào kinh nghiệm nội tại Thời kỳ này chính là thời kỳ có thuyết nói rằng cùng với nó là sự ra đời Đức Phật

Vào năm 326 TCN Alexandros người Macedonia vượt sông Indus và đánh thắng một trận quyết định và rút về Cuộc xâm lăng của ông đã để lại dấu ấn của thế giớiHy Lạp, nâng văn hóa Ấn Độ lên một tầm cao mới

Vào năm 320 TCN Chandragup-ta Maurya (hoàng đế Maurya) thống nhất trở lại toàn bộ các bộ lạc rời rạc và thành lập chế độ tập quyền, kinh đô được đặt tại Pataliputra (bang Bihar ngày nay)

Đế chế Gupta: Thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Ấn Độ thuộc vào thời

kỳ triều đại Gupta Thời kỳ này có nhiều thành tựu nổi bật về văn hóa trồng trọt Thời kỳ này nền văn minh Ấn Độ đã để lại cho nhân loại một khối lượng các di sản khổng lồ

Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ

cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những

kí hiệu đồ họa Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở

Ấn Độ lại xuất hiện chữSanskrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn

Độ và Đông Nam Á sau này Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại

là Mahabharata và Ramayana Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ Bản trường ca này nói về một cuộcchiến tranh giữa các con cháu Bharata Bản trường ca này có thể coi là một bộ "bách khoa toàn thư" phản ánh mọi mặt

về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ,

mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita(con của nữ thần mẹ đất) Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á Riêmkê ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng

từ Ramayana

Trang 14

14

Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu

1.4.2 Nghệ thuật

Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo

Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp Các công trình kiến trúc Ấn Độ giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ 7 - 11 Tiêu biểu cho các công trình Ấn Độ giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỉ 13 và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ 17

1.4.3 Khoa học tự nhiên

Về Thiên văn, người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm

12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày (Như vậy năm bình thường có 360 ngày) Cứ sau

5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận

Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ

số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.)

Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan

hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác Pi = 3,1416

Về Vật lí, người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử Thế kỉ 5 TCN,

có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết " trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó"

Y học cũng khá phát triển Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách

chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi Họ

để lại hai quyển sách là "Y học toát yếu" và "Luận khảo về trị liệu"

1.4.4 Tư tưởng, tôn giáo

Trang 15

15

Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo

Jaina và đạo Sikh Đạo Bàlamôn mà sau này là Ấn Độ giáo ra đời vào khoảng thế

kỉ 15 TCN, trong hoàn cảnh đang có sự bất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và

đạo này chứng minh cho sự hợp lí của tình trạng bất bình đẳng đó Đạo Phật ra

đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ 1 TCN do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Phật lịch, họ cho là đây là năm Đức Phật nhập niết bàn (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên Chúa) Giáo lí cơ bản của

đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điều), vô ngã, duyên khởi Đạo Jaina cũng xuất hiện

vào khoảng thế kỉ 6 TCN Cùng thời với Phật giáo Đạo này chủ trương bất sát

sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh Đạo Sikh xuất hiện

ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ 15 Giáo lý của đạo Sikh là sự dung hòa và kết hợp giáo lí của Ấn Độ giáo và giáo lí của Hồi giáo Tín đồ đạo Sikh tập trung rất đông

ở Punjab và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjab Đạo Sikh là đạo sinh ra cuối cùng trên đất Ấn Độ

1.5 Nền văn minh Trung Quốc

Văn hóa Trung Quốc là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất và phức tạp nhất trên thế giới Các vùng mà văn hóa Trung Quốc thống trị trải dài trên một khu vực địa lý rộng lớn ở miền Đông châu Á với các phong tục và truyền thống rất nhiều điểm khác nhau giữa các thị trấn, thành phố và tỉnh

1.5.1 Điều kiện hình thành (tự nhiên, dân cư, và lịch sử)

Điều kiện tự nhiên: Lãnh thổ Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên,khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp Trung Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, nhưng có hai con sông quan trọng nhất là sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (hay sông Dương Tử) Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc

Dân tộc: Trung Quốc có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay (Dân núi Hoa sông Hạ) Trung Quốc ngày nay có khoảng 100 dân tộc, và 5 dân tộc có dân số đông nhất: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng

Trang 16

16

Lịch sử: Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500.000 năm Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời

Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng Ngũ Đế (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông và Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế) Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ

Nền văn minh Trung Hoa cổ gắn liền với vùng lục địa Đông Á rộng lớn Cách đây khoảng 50 vạn năm, ở vùng Chu Khẩu Điếm (về phía Tây Nam thành phố Bắc Kinh ngày nay) đã có con người sinh sống, được gọi là người vượn Bắc

Kinh (Peking Man) Đó chính là những bầy đoàn người nguyên thủy dùng cành

cây gậy gộc và các công cụ đá thô sơ để săn bắt, hái lượm và tự vệ Người vượn Bắc Kinh đã biết dùng lửa

Trải qua hàng chục vạn năm, những cư dân nguyên thủy vùng này đã phát triển và ngày một đông đúc Họ đã hình thành các bộ lạc lớn và bành trướng lãnh thổ, biết chăn nuôi và trồng trọt và cư trú trên một vùng rộng lớn của lục địa châu

Á Trên vùng đồng bằng rộng lớn Hoa Bắc, tổ tiên xưa của người Trung Hoa sống thành những làng xóm ven sông, trong những túp lều tường đất, mái tranh Tôn giáo-nghệ thuật cũng bắt đầu hình thành từ những cụm cư dân này Các nhà khảo

cổ học khám phá và xác định hai nền văn hóa là Ngưỡng Thiều thuộc Hà Nam

và Long Sơn thuộc Sơn Đông Trung Quốc cách ngày nay vào khoảng từ 7.000 năm Những di vật tìm thấy ở hai nền văn hóa này, bên cạnh các dụng cụ sản xuất, sinh hoạt còn có các sản phẩm gốm được làm từ một loại đất mà đồ gốm

5.000-có màu đen và 5.000-có các hoa văn hình học, hình động thực vật được tạo dáng thanh thoát và có độ bền chắc

Thời kỳ văn minh sông Hoàng Hà

Theo truyền thuyết, vào khoảng từ 3.000 đến 4.000 năm trước đây, vùng phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc, dọc theo thượng nguồn của con sông Hoàng

Hà có một quần thể dân cư sinh sống và đã đạt được một trình độ văn hóa khá cao, Văn minh sông Hoàng Hà hay văn minh Hoa Hạ Những cư dân này sống định cư dưới chânnúi Hoa nên tiếng Trung Quốc gọi là Hoa Hạ (người sống dưới núi Hoa) Cũng theo truyền thuyết, người Hoa Hạ đã có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội

Trang 17

221 TCN Sau đó nhà Hán thống nhất Trung Quốc thành lập vương triều Hán tồn tại gần 400 năm

1.5.2 Thành tựu chủ yếu

Chữ viết: Đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi

là chữ Tiểu triện

Văn học: Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí Kinh Thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng

Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc Trong hàng ngàn tác giả có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị

Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại

Am, Tây du kí củaNgô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết

có giá trị nhất

Sử học: Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử Nhiều nước thời Xuân-Thu đã đặt các quan chép sử Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân Thu Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc

1.5.3 Khoa học tự nhiên và kĩ thuật:

Toán học: Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm

Trang 18

18

về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông Thời Đông Hán,

đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số âm, số dương Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi đó

Thiên văn học: Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần đúng của 120

vì sao Từ đó họ đặt ralịch Can-Chi Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động đất Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ XIII

Y, dược học: Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là

bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa Thời nhà Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân Cuốn sách này được dịch ra chữ Latin và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc

Kĩ thuật: Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa

đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa

Từ thế kỉ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng

1.5.4 Thành tựu Hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc:

Hội hoạ: Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ

Điêu khắc: Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán (pho tượng cao nhất thế giới), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay

Kiến trúc: Công trình nổi tiếng thế giới như: Vạn Lý Trường Thành (dài

6700 km), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh

1.5.5 Triết học, tư tưởng:

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của

Trang 19

- Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới:

Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm), Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấ

n (núi), Đoài (hồ) Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất

- Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội

Nho giáo: Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật", Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo

Đạo giáo: Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh Theo Lão Tử, "Đạo" là

cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất Quy luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là "Đức" Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại "đạo trời", từ đó sinh tư tưởng

an phận, lánh đời Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm "Thái thượng lão quân" Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh

Pháp gia: Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương "pháp trị", coi nhẹ "lễ trị" Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng,

dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều: Pháp: đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quý tộc hay dân đen Thế: Muốn thực thi

Trang 20

20

pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia sẻ cho kẻ khác Thuật: đó là thuật dùng người Thuật có 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên Thưởng phạt thì chủ trương "ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quý tộc hay dân đen", trọng thưởng, trọng phạt

Mặc gia : Người đề xướng là Mặc Tử (Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN) Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và nghĩa Mặc

Tử còn là người chủ trương " thủ thực hư danh" (lấy thực đặt tên) Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể

Trang phục : Các tầng lớp khác nhau trong xã hội vào những thời kỳ khác nhau theo những xu hướng phục trang khác nhau, màu vàng thường được dành riêng cho hoàng đế Lịch sử phục trang Trung Quốc trải hàng trăm năm với những cải cách đa dạng và đầy màu sắc nhất Trong triều đại nhà Thanh, triều đại huy hoàng cuối cùng của Trung Quốc, đã xảy ra những thay đổi về trang phục đột ngột

và ấn tượng, quần áo của thời đại trước nhà Thanh được gọi là Hán phục hoặc trang phục Trung Hoa truyền thống nhà Hán Nhiều biểu tượng như phượng hoàng được sử dụng cho mục đích trang trí cũng như kinh tế

Sự đa dạng áp đảo khổng lồ của ẩm thực Trung Quốc chủ yếu đến từ việc các hoàng đế triều đại tổ chức những bữa tiệc với 100 món mỗi bữa ăn Vô số các nhân viên nhà bếp hoàng gia và phi tần cùng tham gia vào quá trình chuẩn bị thức

ăn Theo thời gian, nhiều món ăn trở thành một phần văn hóa hàng ngày của người dân Một số các nhà hàng cao cấp nhất có những công thức nấu ăn gần với thời

kỳ triều đại các vua chúa gồm nhà hàng Phòng Sơn ở Công viên Bắc Hải tại Bắc Kinh và Pavilion Oriole Có thể cho rằng, tất cả các chi nhánh Hồng Kông dù theo phong cách ẩm thực hoặc thậm chí là phong cách Mỹ thì theo một cách nào đó vẫn có nguồn gốc từ văn hóa các triều đại Trung Hoa

1.6 Nền văn minh Trung Mỹ và Nam Mỹ

1.6.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử ra đời

Nền văn minh Maya là nền văn minh cổ đặc sắc bên cạnh nền văn minh

Andes, được xây dựng bởi người Maya, một bộ tộc thổ dân châu Mỹ mà từ 2000 năm trước đây đã từng sinh sống ở bán đảo Yucatán của Trung Mỹ, thuộc đông nam Mexico, Bắc Guatemala và Honduras ngày nay

Trang 21

21

Nền văn minh Maya đạt một trình độ cao không những về lĩnh vực xây dựng nhà nước mà còn phát triển rực rỡ cả lĩnh vực kiến trúc, toán học, thiên văn học và tính toán thời gian

Căn cứ vào các di vật khám phá ngày càng phong phú, người ta xác định được rằng vào khoảng thế kỷ thứ 1 các quốc gia cổ đại của người Maya đã được thành lập Phần lớn các quốc gia người Maya bị diệt vong do nhiều lý do ở vào khoảng thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 10 Duy chỉ có quốc gia thành thị trên bán đảo Yucatán, thuộc Mexico tiếp tục tồn tại cho đến khi thực dân Tây Ban Nha đến xâm chiếm vùng này vào thế kỷ 16 Hậu quả của cuộc xâm lăng đã tàn phá rất nhiều các di sản của người Maya

Nền kinh tế của người Maya chủ yếu dựa vào nông nghiệp và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như khí hậu Các sản phẩm trồng trọt của người Maya chủ yếu là ngô, đậu, cà chua, bí đỏ, ca cao Người Maya cũng lấy chăn nuôi làm sản phẩm chính sau trồng trọt Họ chăn nuôi các loại động vật như, chó, gà, hươu, nai, chim, ong mật Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của người Maya cũng đạt đến một trình độ rất cao Ngoài ra, người Maya còn biết làm muối với những khu vực rộng lớn và độc đáo

Những bằng chứng về văn minh Maya có các thành phố nổi tiếng Tikal, Palenque, Copán và Kalakmul, cũng như Dos Pilas, Uaxactun,Altun

Ha, Bonampak và rất nhiều vị trí khác trong vùng Họ chứng minh cho thấy một trình độ cao về nông nghiệp, các trung tâm đô thị sầm uất của nhiều quốc gia đô thị độc lập Rất nhiều các công trình tôn giáo kiểu kim tự tháp nổi tiếng của họ được xây dựng trong các trung tâm quyền lực của người Maya Rất nhiều các tác

phẩm chạm khắc trên phiến đá còn lại ngày nay (người Maya gọi là tetun, hoặc

Trang 22

22

là cây-đá), khắc chữ tượng hình mô tả về sự cai trị theo phả hệ, các chiến thắng

của cuộc chiến, và các thành tựu khác

Người Maya đã có quá trình buôn bán lâu dài ở Trung Mỹ và có lẽ còn xa hơn nữa Những sản vật được buôn bán trao đổi chính làcacao, muối và đá vỏ chai

(obsidian)

1.6.3 Suy tàn của Maya

Vào khoảng thế kỷ thứ 8 và 9, nền văn minh Maya bắt đầu suy tàn, với rất nhiều các thành phố ở các vùng đất thấp bị bỏ hoang Các cuộc chiến tranh đã nhanh chóng vắt kiệt nguồn lực và con người Maya, cộng với khí hậu thay đổi, dẫn đến hạn hán và kết hợp nhiều lý do mà dẫn đến sự suy vong của văn minh Maya Các khảo cổ đã chứng minh các yếu tố như xung đột, đói kém và các cuộc nổi dậy từ trung tâm quyền lực và ở các vùng đất thấp Những chứng cứ mà các nhà khoa học chứng minh được rằng vào thế kỷ thứ 9 ở đây có một biến động gây hạn hán tồi tệ nhất trong 7000 năm mới xảy ra một lần này đã góp phần làm suy kiệt văn minh Maya Tuy nhiên đó không phải là nguyên nhân duy nhất cho sự suy tàn của văn minh Maya

1.6.4 Sự xâm lược của Tây Ban Nha

Tây Ban Nha xâm lược Yucatán bắt đầu năm 1511 và sau 170 năm thì hoàn thành việc chinh phục Người Maya không có các lãnh tụ tập trung như người Inca ở Peru, nhưng họ lại sống tập trung đông đảo trong một quốc gia,

mà một số kháng cự mãnh liệt sự thống trị của người ngoại quốc Tuy vậy, vùng đất này không có nhiều vàng hay bạc để thu hút sự quyết tâm và quan tâm của thực dân Tây Ban Nha như trung tâm México hay Peru Quốc gia sau này của Maya, Vương quốc Itza, không chịu sự quấy nhiễu của Tây Ban Nha đến tận 1697

Nhiều người còn cho rằng nền văn minh này bị các nước láng giềng xâm lấn tiêu diệt Nhưng chưa có ai chứng minh được điều này

Thành tựu văn hóa của người Maya

1.6.5 Xã hội và thể chế của người Maya

Chính trị điển hình của người Maya là các vương quốc nhỏ

(ajawil, ajawlel, ajawlil) đứng đầu bởi truyền thống cha truyền con nối – ajaw, sau này là k’uhul ajaw Cả hai điều khoản viết trong Colonial thời kỳ đầu, bao

gồm Papeles de Paxbolón xem bất kỳ nơi nào đồng nghĩa với các điều khoản đã

có của Aztec với Tây Ban Nha về chủ quyền lãnh thổ và sự thống trị tối cao của

họ - tlahtoani (Tloloanni) vàtlahtocayotl Thông thường thì các vương quốc

không lớn hơn thủ đô, mà chỉ vài ba thị trấn vừa, nhưng ở đó lại là những vương quốc vĩ đại, có tầm cai trị lãnh thổ rộng lớn và bảo trợ các thể chế nhỏ hơn trong

Trang 23

23

tầm quốc gia Mỗi một vương quốc có tên của nó không nhất thiết tương quan đến bất kỳ vùng lãnh thổ của họ Sự đồng nhất là các đơn vị chính thể liên hệ với cùng một triều đại thống trị

1.6.6 Tôn giáo của người Maya

Tương tự như người Aztec và Inca, là nhưng phát triển muộn hơn, người Maya tin tưởng vào mộtchu kỳ tự nhiên của thời gian Những nghi thức và nghi

lễ là những sự kết hợp tỷ mỉ của chu kỳ vũ trụ/Trái Đất, thành một đối tượng nghiên cứu quan sát và ghi chép như một cuốn lịch riêng biệt Các thầy pháp Maya

có nhiệm vụ phân tích các chu kỳ này và đưa ra những tiên đoán cho tương lai hoặc cơ sở của quá khứ trên những con số tương quan của tất cả các loại lịch của

họ

Rất nhiều tín ngưỡng truyền thống của người Maya cho đến nay làm lúng túng các nhà khoa học, nhưng lại được hiểu biết của người Maya, giống như rất nhiều xã hội cân đại, họ tin rằng vũ trụ có ba (3) mặt phẳng chính, địa ngục, thiên đường và trần gian Địa ngục của người Maya là ở trong khoảng đi xuyên qua các hang động và bên dưới mặt đất, nó được cai quản bởi một vị thần Maya cao niên của sự chết và thối rữa Mặt Trời và Itzamna, cả hai đều là vị thần cao niên ăn sâu vào tiềm thức Maya, là các vị thần của thiên đường Bầu trời đêm có ý chỉ một cửa sổ cho thấy tất cả các siêu nhiên đi đến Người Maya định hình các chòm sao của thần linh và nơi ở, mà tục ngữ truyền khẩu về sự biến động theo mùa, tin tưởng rằng sự giao cắt của tất cả thế giới là bầu trời đêm

Thần của người Maya không riêng biệt, như trong các quan niệm của người Hy Lạp Thần của người Maya cùng một diện mạo do họ hợp nhất vào với nhau trên mọi nẻo đường mà không có giới hạn Đó chắc chắn là một thế lực siêu phàm trong quan niệm tín ngưỡng của người Maya Đặc tính "tốt" và "xấu" không phải là điều cố định trong các thần của Maya, không chỉ có một mặt "tốt" tuyệt đối Cái nào không thích hợp trong suốt một mùa có thể làm nên một sự bắt đầu chu kỳ mới trong quan niệm của tín ngưỡng Maya và không cố định

1.6.7 Chữ viết của người Maya

Chữ viết xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà, Ai Cập và Ấn Độ vào khoảng 3.000 năm TCN Tuy nhiên những ký tự hoàn chỉnh đầu tiên, một chuỗi các dấu hiệu rõ ràng kể lại một câu chuyện, vẫn chưa có mặt ở châu Mỹ cho đến tận năm 400-300 TCN

Mới đây các nhà khảo cổ học khám phá ra một hệ thống chữ viết kiểu chữ tượng hình của ngườiZapotecs ở thung lũng Oaxaca, phía nam miền Trung

Trang 24

24

Mexico Hầu hết chữ viết sớm của người Maya chỉ xuất hiện trong khoảng

150-250

Hệ thống chữ viết Maya là một chuỗi của các ký hiệu âm và dấu tốc ký

Nó được xác định như những ký hiệu tốc ký hay hệ thống chữ viết dưới dạng biểu trưng, mà các ký hiệu biểu thị một từ có chủ đích Chúng là một hệ thống chữ viết duy nhất của tiền thời kỳ Tân Thế Giới của Colombo dùng để trình bày một thứ ngôn ngữ của dân địa phương Trong tổng thể, hệ thống chữ viết của người Maya có hơn 1000 kí hiệu khác nhau, mặc dù có một vài các ký hiệu có thay đổi cách viết và ý nghĩa từ, nhưng rất nhiều bản viết thể hiện rất ít khác nhau ở các địa điểm khác nhau

1.6.8 Kiến trúc xây dựng

Kim tự tháp của người Maya Độc đáo và hiếm có đó là nhận xét về kiến trúc của người Maya, giống như kiến trúc Hy Lạp cổ đại và kiến trúc La Mã, kiến trúc của người Maya có hàng nghìn năm tuổi, rất đa dạng và tuyệt đẹp cho những xây dựng kiểu kim tự tháp có bậc ở khắp lãnh thổ Nam Mỹ

Với người Maya, hang động cũng là một phần quan trọng của họ Trong

số những hang động, phải kể đến hang Jolja, bên trong hang Naj Tunich, hang

Candelaria và hang của Phù thủy (Cave of the Witch) Ở đây chính là các hang

thần thoại nguyên thủy của những người Maya Một vài hang động hiện nay vẫn được sử dụng cho người Maya hiện đại ở đảo Chiapas

Nó gợi cho chúng ta thấy, bên trong sự kết hợp của lịch đếm chiều dài

Maya, mỗi 52 năm, hoặc chu kỳ, các đền đài và kim tự tháp được sửa chữa và xây

dựng lại Nó nói rằng ngay bây giờ phải xây dựng là thức dục một sự cai trị mới hoặc cho vấn đề chế độ, giống như sự tương phản tuần tự như trong chu kỳ của lịch Tuy nhiên, quy trình xây dựng lại trên đỉnh của công trình cũ là một việc làm bình thường Rất nhiều phải kể, North Acropolis ở Tikal được xem như là tổng thể của 1.500 năm của sự biến đổi kiến trúc

Thông qua sự nghiên cứu của số lượng lớn yếu tố đặc sắc và kiểu dáng độc đáo, những di sản còn lại của kiến trúc Maya có một tầm quan trọng để mở ra tầm hiểu biết về quá trình phát triển của Văn minh Maya

1.6.9 Nghệ thuật Maya

Nhiều người xem nghệ thuật Maya ở Kỷ nguyên Kinh Điển của họ (khoảng

từ năm 200 đến 900) là rất tinh xảo và đẹp nhất của Tân Thế Giới cổ Những tác phẩm chạm khắc và nghệ thuật đắp nổi bằng vữa tường ở Palenque và những tượng của Copán đáng ngưỡng mộ, phô bày dáng vẻ tinh tế, yêu kiều, chính xác

Trang 25

1.6.10 Công nghệ của người Maya

Nền văn minh Maya có nhiều thành tựu trong lĩnh vực kĩ thuật công nghệ Những thời kỳ đầu, thuộc thời đại đồ đá, người Maya đã sử dụng và chế tác thành

thạo các dụng cụ cắt gọt từ đá núi lửa (obsidian), về sau người Maya đã biết

đến kim loại khá sớm Một vấn đề đã được giải thích khá sáng tỏ về các con đường lớn tại sao không được xây dựng ở đây, đó là do ở châu Mỹ không có các loại gia súc như bò, ngựa hay la để phục vụ cho việc kéo xe

Một kỹ thuật nổi trội của người Maya là biết sử dụng và chế biến cao su

đã lưu hóa vào các dụng cụ và thể thao hàng ngày Người Maya gây kinh ngạc cho những người Tây Ban Nha thời kỳ đầu ở các trò chơi bằng bóng cao su và sức khỏe của dân da đỏ rất tốt Những sân chơi bóng của người Maya khổng lồ và có

số lượng người tham gia và đến xem cổ vũ rất lớn, một sinh hoạt có tính cộng đồng rất cao Người Maya biết sử dụng cao su bọc lót cho các dụng cụ có tay cầm như, dao, vũ khí và biết làm ra những đôi giày từ cao su không thấm nước

Người Maya biết nắm chắc kỹ thuật làm muối và sử dụng chúng như những hàng hóa để trao đổi với các cư dân khác trong vùng Những di chỉ làm muối khổng lồ đã được khám phá

Việc xây các kim tự tháp của người Maya được tính toán rất chính xác theo các quan niệm vũ trụ và các loại lịch của họ, họ ghi chép và tính toán khá chính xác các chu kỳ thiên nhiên tại đây và có các biện pháp để đối phó Họ sử dụng các thiết kế về thời gian và tạo ra những chiếc "đồng hồ" các dạng để xác định thời gian

Cùng phát triển với các nền văn minh Trung Mỹ khác, người Maya sử

dụng hệ đếm nhị thập phân(vigesimal) và hệ ngũ phân (xem chữ số Maya) Hệ

ngũ phân trên cơ sở so sánh với số ngón tay của một bàn tay, còn nhị thập phân

là toàn bộ số ngón tay và ngón chân Trong tiếng Quiche, từ chỉ số 20 là huvinak,

có nghĩa là "toàn thân" Ngoài ra, người Maya đã phát triển khái niệm "số 0" vào năm 357, sớm hơn châu Âu khoảng gần 900 năm Văn bản cổ cho thấy, những

Trang 26

26

người Maya, có nhu cầu công việc cộng vào hàng trăm triệu và số ngày lớn đòi hỏi phải có phương cách chính xác để thực hiện chúng Kết quả tính toán về thiên văn học theo một không gian và thời gian dài là cực kỳ chính xác; bản đồ về sự vận động của Mặt Trăng và các hành tinh là ngang bằng hoặc vượt xa các văn minh khác quan sát vũ trụ bằng mắt thường

Lịch Mya

Người Maya xác định chính xác độ dài của một năm gồm 365 ngày, thời gian Trái Đất quay hết một vòng quanh Mặt Trời, chính xác hơn rất nhiều lịch được châu Âu sử dụng vào thời đó (lịch Gregory) Có giả thiết cho rằng người Maya đã kế thừa cách tính lịch từ các nền văn minh cổ Zapotecs (ở Mont Alban)

và Olmecs (ở La venta và Tres Zapotes).[1] Tuy thế, người Maya lại không sử dụng

độ dài tính toán thời gian một năm vào lịch của họ Người Maya sử dụng lịch (gọi

là lịch Maya) trên cơ sở năm Mặt Trời với 365 ngày Một năm Mặt Trời được chia thành 18 tháng, mỗi tháng có 20 ngày (dùng hệ đếm cơ số 20), năm ngày còn lại được đưa vào cuối năm Các ngày trong tháng được ghi bằng số thứ tự từ 0 đến

19 trước tên tháng (0 đến 4 cho tháng thiếu, cuối năm có 5 ngày) Theo lịch này, các năm nối tiếp nhau không ngừng, không có năm nhuận Như vậy kết quả là lịch sẽ bị sai lệch lùi về một ngày trong vòng 4 năm Khi so sánh với lịch Julius, dùng ở châu Âu từ thời Đế quốc La Mã cho đến tận thế kỷ 16, thì độ sai số cho một ngày là mỗi 128 năm; với lịch Gregory hiện đại, thì sai số sấp xỉ một ngày mỗi 3.257 năm

Lịch của thầy bói

Ngày xưa, những người da đỏ Quiche, Ixil và Mam vẫn dùng lịch Maya truyền thống với một năm có 260 ngày để dự đoán tương lai Để giải thích vì sao

bộ lịch lại gồm 260 ngày, người ta đã phỏng vấn nhiều thầy bói

ở Chichicastenango và Momstenango và phát hiện ra rằng: Việc chọn độ dài của năm nay không phải do ngẫu nhiên mà là do phù hợp với thời gian mang thai của con người Hệ đếm 20 cho phép chia một năm 260 ngày thành 13 tháng, mỗi tháng 20 ngày, kết hợp với một trong 20 tên gọi các con vật, các lực lượng tự nhiên, các quan niệm hay khái niệm mà ý nghĩa không còn lưu truyền đến ngày nay

Câu hỏi ôn tập Chương 1

1 Hãy nêu những đặc điểm chủ yếu về địa lý, cư dân, lịch sử, các thành tựu của nền văn minh Ai cập cổ đại và Lưỡng hà cổ đại

Trang 27

6 Hãy nêu những đặc điểm chủ yếu về địa lý, cư dân, lịch sử, các thành tựu

của nền văn minh Trung Mỹ và Nam Mỹ

Trang 28

28

Chương 2

TỔ CHỨC GIÁO DỤC, KHOA HỌC VÀ VĂN HÓA CỦA

LIÊN HỢP QUỐC (UNESCO) VỚI DI SẢN VĂN HÓA

VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

2.1 Tổ chức UNESCO

2.1.1 Mục đích tôn chỉ và chức năng của UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, viết

tắt UNESCO (tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural

Organization) là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hiệp quốc,

hoạt động với mục đích “thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự

do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo” (trích Công ước thành lập UNESCO)

UNESCO hiện có 195 quốc gia thành viên và 9 quan sát viên Trụ sở chính đặt tạiParis, Pháp, với hơn 50 văn phòng và vài viện hay trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới Hầu hết các văn phòng của UNESCO làm việc với 3 nước hoặc nhiều hơn trong cùng khu vực

Một số các dự án nổi bật của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…

UNESCO có 3 chức năng hoạt động chính phục vụ cho mục đích của tổ chức, bao gồm:

1 Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi; khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn ngữ và hình ảnh;

2 Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa bằng cách:

 Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của từng nước;

 Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ hoặc bất cứ sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội;

 Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhi toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do;

Trang 29

29

3 Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách:

 Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học, khuyến nghị với các nước hữu quan về các Công ước quốc tế cần thiết;

 Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí óc, trao đổi quốc tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa kể cả trao đổi sách báo, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm và mọi tư liệu có ích;

 Tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc tiếp xúc với các xuất bản phẩm của mỗi nước thông qua các phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp

2.1.2 Cơ cấu họat động của UNESCO

UNESCO được tổ chức với một Đại hội đồng, một Hội đồng chấp hành và một Ban Thư ký Đại hội đồng gồm các đại diện của các nước thành viên UNESCO (mỗi nước thành viên được chọn cử 5 đại biểu) Hội đồng chấp hành gồm các ủy viên được Đại hội đồng bầu ra trong số các đại biểu được các nước thành viên ứng cử; mỗi ủy viên của Hội đồng chấp hành đại diện cho Chính phủ nước mình Ban Thư Ký UNESCO gồm có Tổng Giám đốc và số nhân viên được thừa nhận là cần thiết Tổng Giám đốc do Hội đồng chấp hành đề nghị và Đại hội đồng bầu cử (nhiệm kỳ 6 năm) với những điều kiện được Đại hội đồng chấp nhận Tổng Giám đốc là viên chức cao nhất của UNESCO

Hiện UNESCO có 195 quốc gia là thành viên Các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc có quyền gia nhập UNESCO; còn các quốc gia khác có thể được chấp nhận nếu được Hội đồng chấp hành giới thiệu và được Đại hội đồng biểu quyết với đa số hai phần ba thành viên có mặt tán thành

Các quốc gia thành viên thường thành lập một tổ chức đại diện cho UNESCO ở nước mình, tùy điều kiện cụ thể Phổ biến hiện nay là Ủy ban quốc gia UNESCO, trong đó có đại diện của Chính phủ và của các ngành Giáo dục, Khoa học, Văn hóa và Thông tin Tuy có đại diện tại từng quốc gia, phương châm hoạt động của UNESCO là không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các quốc gia

Ủy ban quốc gia UNESCO làm nhiệm vụ cố vấn cho đoàn đại biểu nước mình ở Đại hội đồng và cho Chính phủ trong các vấn đề liên quan đến UNESCO Ủy ban này thường gồm đại diện các Vụ, Cục, các Bộ, các cơ quan và tổ chức khác quan tâm đến các vấn đề giáo dục, khoa học, văn hóa và thông tin, các nhân vật độc lập tiêu biểu cho các giới liên quan Nó cũng có thể bao gồm Ban chấp hành thường trực, các cơ quan phối hợp, các tiểu bang và các cơ quan phụ cần thiết khác

Trang 30

30

2.1.3 Chương trình hoạt động

Các chương trình của UNESCO

Chương trình cải cách giáo dục cho phát triển khu vực châu Á và Thái Bình Dương (Asia and Pacific Programme of Educational Innovation for Development

- APEID): Tăng cường năng lực của các nước thành viên nhằm xây dựng và áp

dụng cải cách giáo dục cho phát triển kinh tế xã hội và con người bền vững

APEID được phát động như một chương trình liên quốc gia của UNESCO vào năm 1973 với nhiệm vụ là tăng cường năng lực của các nước thành viên nhằm xây dựng và áp dụngcải cách giáo dục để đạt được mục tiêu phát triển quốc gia

Mục tiêu chính của APEID là:

(i) khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động đổi mới nhằm nâng cao tính công bằng và chất lượng giáo dục,

(ii) tăng cường năng lực của các nước thành viên trong việc thực hiện các hoạt động cải cách ở tất cả các lĩnh vực chương trình, và

(iii) khuyến khích hợp tác kỹ thuật liên quốc gia và chia sẻ những kinh nghiệm cải cách thành công trong các lĩnh vực như phát triển chương trình, giáo dục và đạo kỹ thuật và nghề và giáo dục đại học

Một lĩnh vực trọng tâm đặc biệt là Giáo dục cho phát triển bền vững (ESD), nỗ

lực nhằm tạo ra một thế giới mà ở đó mọi người đều có cơ hội được hưởng lợi từ giáo dục và học hỏi những giá trị, hành vi và cách sống cần thiết cho một tương lai bền vững và cho cải cách xã hội tích cực Bộ phận ESD trong APEID đang điều phối một hoạt động trong khu vực góp phần vào Thập kỷ giáo dục cho phát triển bền vững mà UNESCO đang là đầu mối toàn cầu

Một lĩnh vực xuyên suốt khác trong APEID là chương trình ICT trong giáo dục

Chương trình này được đề xuất nhằm đáp lại sự nhất trí của các nước thành viên UNESCO tại Hội nghị chung lần thứ 31 là cần phải hành động để khai thác công nghệ thông tin liên lạc (ICT), nhằm cải thiện cơ hội tiếp cận và chất lượng giáo dục, cũng như hỗ trợ các hoạt động khoa học và đẩy mạnh văn hóa địa phương Chương trình ICT trong giáo dục dựa trên cơ sở cho rằng việc sử dụng hợp lý và sáng tạo ICT trong giáo dục có thể giúp giảm bớt những bất công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục, có thể cải thiện chất lượng dạy và học, khuyến khích sự sáng tạo, tư duy mang tính phê bình và học cách học Chương trình chủ yếu được hỗ trợ bởi Quỹ tín thác Nhật Bản với sự tài trợ bổ sung của khu vực tư nhân

Trang 31

31

Chương trình giáo dục cho mọi người khu vực châu Á và Thái Bình Dương

(Asia and Pacific Programme of Education for All- APPEAL): Đẩy mạnh xóa

mù chữ, giáo dục tiểu học và giáo dục thường xuyên

Chương trình giáo dục cho mọi người khu vực châu Á và Thái Bình Dương (The Asia and Pacific Programme of Education for All – APPEAL) là một chương trình

hợp tác khu vực được thiết kế nhằm đẩy mạnh xóa mù chữ, chăm sóc và giáo dục mầm non (ECCE), giáo dục tiểu học và giáo dục thường xuyên như những bộ

phận cấu thành giáo dục cơ bản và học tập suốt đời theo nguyên lý phương pháp tiếp cận giáo dục dựa trên quyền con người Các chiến lược của APPEAL nhấn mạnh lồng ghép giới, sự tham gia của cộng đồng, hòa nhập, xây dựng mạng lưới,

sử dụng ICT hợp lý và cải cách các phương pháp tiếp cận chính quy và không chính quy trong giáo dục, đặc biệt là đối với các nhóm thiệt thòi APPEAL khuyến

khích giáo dục đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (MLE) như một công cụ mạnh

giúp nâng cao chất lượng giáo dục cũng như giúp tạo cầu nối hiệu quả cho những người nói tiếng dân tộc đến với xã hội rộng hơn

Khi thực hiện các chương trình của mình, ưu tiên việc tiếp cận với các nhóm thiệt thòi và yếu thế: phụ nữ và trẻ em gái, người nghèo, dân tộc thiểu số và người khuyết tật

Đã xây dựng mạng lưới trong hoạt động của APPEAL ở những lĩnh vực cụ thể

Các mạng lưới này bao gồm ARTC (về chống mù chữ và giáo dục thường xuyên), GENIA (về giới) vàEENET (về giáo dục hòa nhập)

Thông tin liên lạc: Xây dựng xã hội tri thức hòa nhập thông qua thông tin liên

lạc

Theo chiến lược và khuyến nghị trong Báo cáo thế giới của UNESCO “Hướng tới

xã hội tri thức”, Bộ phận thông tin liên lạc giúp các nước khuyến khích ý tưởng

tự do, phổ cập thông tin và tự do thể hiện Bộ phận hỗ trợ cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin và phương tiện thông tin đại chúng, dịch vụ, đào tạo cán bộ chuyên môn

về thông tin và phương tiện thông tin đại chúng Các điểm giao lưu trong cộng đồng, đài tiếng nói và truyền hình cộng đồng sử dụng ICT để tăng cường cơ hội tiếp cận của cộng đồng nông thôn với thông tin và tri thức cũng như cải thiện sự

Trang 32

32

đóng góp của họ vào việc xây dựng xã hội tri thức Khuyến khích tự do thể hiện,

Bộ phận thông tin liên lạc phối hợp với chuyên gia giáo dục và cán bộ thư viện trong việc thực hiện các chương trình về thông tin và phương tiện thông tin đại chúng, giúp tăng quyền cho thanh niên với những kỹ năng cần thiết để tham gia vào xã hội tri thức Với sự sẵn có của ICT, kiến thức truyền thống có trong các văn bản cũ không chỉ được bảo tồn mà còn được phân phối rộng rãi hơn với những hình thức mới

Bộ phận chính sách và cải cách giáo dục: Hỗ trợ nghiên cứu hoạt động để cung

cấp thông tin xây dựng chính sách quốc gia và xây dựng năng lực phát triển và

Bộ phận chính sách và cải cách giáo dục chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu định hướng chính sách, cung cấp thông tin và tư vấn cho chính phủ các nước về chính sách và cải cách giáo dục Các hoạt động thực hiện theo phương pháp có sự tham gia bao gồm: phối hợp/thực hiện nghiên cứu

về các chủ đề liên quan đến chính sách; tổ chức các hội thảo đào tạo/tập huấn và sản xuất tài liệu giúp tăng cường năng lực thể chế để xây dựng và thực hiện chính sách tốt hơn ở cấp trung ương và địa phương; và cung cấp các dịch vụ tư vấn kỹ thuật về phân tích, cải cách và quản lý nguồn lực giáo dục cho các chính phủ và đối tác phát triển Bộ phận chính sách và cải cách giáo dục giúp huy động nguồn lực cho giáo dục trên toàn khu vực và tăng tối đa việc sử dụng thông qua phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Liên hiệp quốc, các ngân hàng phát triển và nhà tài trợ song phương

Bộ phận chú trọng đến việc nâng cao năng lực của ngành giáo dục Bộ phận cung

Trang 33

33

cấp hỗ trợ về lập kế hoạch chiến lược, xây dựng chương trình, đào tạo giáo viên, giám sát và đánh giá Bộ phận xây dựng các tài liệu tuyên truyền và công cụ giáo dục cho các bộ, trường, trung tâm học tập cộng đồng và các cơ quan khác Bộ phận cũng nhân rộng thông tin và khuyến khích chia sẻ tri thức

Phòng sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính thành niên (Adolescent

Reproductive and Sexual Health - ARSH) là một phần trong hoạt động tổng thể

về HIV và AIDS của UNESCO Bangkok Phòng này hỗ trợ việc thúc đẩy, lập kế hoạch, thực hiện và triển khai các chương trình và chính sách sức khỏe sinh sản

và sức khỏe giới tính thành niên (ARSH); và đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn tuyên truyền dựa trên lòng tin cho Philippines (Thiên chúa giáo), Indonesia (Hồi giáo) và Thái Lan (Phật giáo)

Bộ phận khoa học xã hội và con người khu vực châu Á Thái Bình Dương (Regional Unit for Social and Human Sciences in Asia and the Pacific - RUSHSAP)

Cải cách xã hội để thực hiện công bằng và giá trị

Bộ phận khoa học xã hội và con người mong muốn phát triển kiến thức, chuẩn mực và hợp tác về tri thức, tạo điều kiện thuận lợi cho những cải cách xã hội mà

ở đó những giá trị về công bằng, tự do và giá trị con người có thể được nhận thức

RUSHSAP xây dựng và thúc đẩy các chính sách xã hội nhằm tăng cường hòa bình

và quyền con người với nhiều đối tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương với các chương trình ưu tiên về nguyên tắc đạo đức sinh học và nguyên tắc đạo đức của khoa học và công nghệ Điều này bao gồm giáo dục nguyên tắc đạo đức sinh học, thực hiện và xem xét chuẩn mực đạo đức quốc tế Chú ý đến những đối thoại mang tính triết học giữa các khu vực khác nhau nhằm tìm lại những giá trị đạo đức và văn hóa khi đối diện với sự hiện đại Các lĩnh vực trọng tâm của bộ phận này bao gồm an ninh con người và phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, di cư, nguyên tắc đạo đức môi trường, thanh niên, nghiên cứu và đào tạo

Văn hóa: Khuyến khích sáng tạo văn hóa và bảo vệ di sản thế giới

UNESCO là cơ quan của Liên hiệp quốc có nhiệm vụ cụ thể là khuyến khích sáng tạo và bảo vệ di sản văn hóa, thiên nhiên giàu có và đa dạng của thế giới Trong một khu vực châu Á Thái Bình Dương đang thay đổi nhanh chóng,

Trang 34

34

UNESCO có vai trò đặc biệt trong việc cải thiện những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa trong khi vẫn thúc đẩy phát triển xã hội và kinh tế bền vững dựa trên một chiến lược làm tăng tối đa di sản văn hóa và con người đặc trưng của mỗi cộng đồng

Trên toàn cầu, chương trình của Bộ phận văn hóa của UNESCO có ba mục tiêu chiến lược liên quan đến nhau:

- Hỗ trợ việc xây dựng, thông qua và thực hiện các công cụ đề ra chuẩn trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là bảo vệ di sản văn hóa

- Bảo vệ sự đa dạng văn hóa và khuyến khích việc có nhiều tiếng nói và đối thoại giữa các nền văn hóa và văn minh

- Tăng cường mối liên hệ giữa văn hóa và phát triển thông qua xây dựng năng lực và chia sẻ tri thức

dữ liệu của UNESCO và kết nối với nhiều công cụ tham khảo Thông qua Nhóm thông tin công chúng, thông điệp và kinh nghiệm chuyên môn của UNESCO đến được với đông đảo độc giả thông qua các phương tiện báo chữ và báo hình, hội nghị và triển lãm Bộ phận IKM cũng quản lý trang web của UNESCO Bangkok – nguồn tin tức chính về hoạt động Văn phòng khu vực: www.unescobkk.org

2.2 Quy trình công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO

2.2.1 Công ước di sản thế giới

Một Di sản thế giới do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp

Quốc (viết tắt là UNESCO – United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) công nhận là địa điểm hoặc những địa điểm có chung đặc điểm Các địa điểm này có thể là rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới (World Heritage Convention) đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận bởi những giá trị văn hóa hay ý nghĩa vật lý đặc biệt và quản lý bởi Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO Ủy ban này bao gồm 21 quốc gia tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước Di sản thế giới Tính đến nay, có 190 quốc gia

Trang 35

35

thành viên Chỉ có Bahamas, Liechtenstein, Nauru, Somalia, Nam Sudan, Đông Timor và Tuvalu không là thành viên của Công ước Đại hội đồng Quốc gia thành viên với nhiệm kỳ 4 năm một lần có nhiệm vụ thảo luận về việc quản lý các di sản thế giới đã được công nhận, đồng thời xem xét việc chấp nhận một di sản mới được đề cử từ các quốc gia thành viên

Chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung

Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ

Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó Chương trình này được thành lập

bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công

ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11

năm 1972

Tính đến năm 2014, có tất cả 1007 di sản được liệt kê, trong đó có 779 di sản

về văn hóa, 197 di sản về những khu thiên nhiên và 31 di sản thuộc cả hai loại

Các di sản đó hiện diện tại 160 quốc gia Ý là quốc gia có số lượng di sản thế giới được công nhận nhiều nhất với 50 di sản, tiếp theo là Trung Quốc có 47 di sản

và Tây Ban Nha với 44 di sản Tài liệu tham khảo tại trang web chính thức của UNESCO, mỗi một di sản thế giới được xác định bằng mã số kí hiệu riêng tạo thành một trang nhỏ riêng biệt, có những địa điểm trước đó đã từng được liệt kê

và đề cử danh sách nhưng thất bại Kết quả là, mã số ký hiệu đã vượt quá con số 1.200 mặc dù số lượng di sản thế giới trong danh sách là ít hơn

Tuy di sản thế giới vẫn là một phần của lãnh thổ quốc gia đó nhưng UNESCO xem xét nó trên mối quan tâm của cộng đồng quốc tế để bảo vệ chúng trước những tác động có thể gây ra

Năm 1954, chính phủ Ai Cập quyết định xây dựng đập Aswan (đập Aswan trên), một sự kiện sẽ khiến một thung lũng có chứa những kho báu vô giá của Ai Cập cổ đại như các ngôi đền Abu Simbel bị nhấn chìm trong biển nước UNESCO sau đó đã phát động một chiến dịch bảo vệ các di tích này trên toàn thế giới Abu Simbel và ngôi đền Philae đã được tháo rời, di chuyển đến một vị trí cao hơn, và xếp lại với nhau từng khối đá một, trong khi ngôi đền Dendur đã được chuyển đến thành phố New York còn các đền thờ của Debod đã được chuyển đến Madrid

Chi phí của dự án là 80 triệu USD, trong đó khoảng 40 triệu USD được vận động đóng góp từ 50 quốc gia Dự án được coi là một thành công, và là nền tảng cho các chiến dịch bảo vệ khác, như Venice và vùng đầm phá ở Ý, tàn tích Mohenjo-daro ở Pakistan, và đền Borobudur ở Indonesia UNESCO sau đó

Trang 36

dữ liệu và báo cáo định kỳ cho Ủy ban Di sản thế giới tổng quan về việc thực hiện của mỗi quốc gia tham gia Công ước Di sản Thế giới và một "bản chụp hình ảnh" điều kiện hiện tại của các Di sản thế giới đã được công nhận

Một văn bản duy nhất được thống nhất giữa tất cả các quốc gia tham gia, và Công ước liên quan đến bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã được thông qua bởi Đại hội đồng UNESCO vào ngày 16 tháng 11 năm 1972

2.2.2 Một số khái niệm

Di sản

Là các di sản thuộc Công viên địa chất bao gồm di sản thiên nhiên và di sản văn hóa Các di sản thiên nhiên trong đó chủ đạo là các di sản địa chất, bên cạnh

đó có giá trị đa dạng sinh học Các di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể

và di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:

Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu

tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau

mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ

có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học

Di sản thiên nhiên

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản thiên nhiên là:

Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động sáng tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học

Trang 37

37

Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn

Các địa điểm tự nhiên hoặc các vùng tự nhiên được phân định rõ ràng, có giá trị nổi bật toàn cầu về mặt khoa học, bảo tồn hoặc thẩm mỹ

Di sản hỗn hợp

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn

gọi là di sản kép, cảnh quan văn hóa thế giới để miêu tả các mối quan hệ tương

hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa và một tiêu chí về di sản thiên nhiên

2.2.3 Các tiêu chuẩn để công nhận các di sản văn hóa và thiên nhiên

2.2.3.1 Tiêu chuẩn

Để được ghi vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO, một tài sản phải đáp ứng các tiêu chuẩn về văn hoá hoặc thiên nhiên theo công ước về Di sản thế giới đã được Ủy ban về Di sản thế giới của UNESCO duyệt lại

Một di tích văn hóa phải xác thực, có ảnh hưởng sâu rộng hoặc có bằng chứng độc đáo đối với sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, hoặc di tích đó phải gắn liền với tư tưởng hay tín ngưỡng có ý nghĩa phổ biến, hoặc là điển hình nổi bật của một lối sống truyền thống đại diện cho một nền văn hóa nào đó

Một di chỉ thiên nhiên có thể điển hình cho một giai đoạn, các quá trình tiến hóa địa cầu, hoặc cho những biến đổi sinh thái học, hoặc bao gồm những vùng cư trú tự nhiên các Loài cực kỳ nguy cấp Di chỉ thiên nhiên có thể là một khung cảnh đẹp khác thường, một cảnh quan ngoạn mục, hoặc là một khu bảo tồn số lượng lớn các động vật hoang dã

Cho đến cuối năm 2004, có 6 tiêu chí cho di sản văn hóa và 4 tiêu chí cho di sản thiên nhiên Đến năm 2005, điều này đã được sửa đổi để chỉ có một bộ 10 tiêu chí, trong đó 6 tiêu chí đầu thuộc về di sản văn hóa, còn các tiêu chí 7 đến 10 thuộc về di sản thiên nhiên

2.2.3.2 Tiêu chuẩn văn hóa

(I) - là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người

(II) - Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô thị hoặc thiết kế cảnh quan

Trang 38

38

(III) - Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất

(IV) - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại

(V) - Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa, nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể đảo ngược được

(VI) - Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật toàn cầu (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác)

2.2.3.3 Tiêu chuẩn tự nhiên

(VII) - Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ

(VIII) - Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, hoặc các đặc điểm quan trọng

về địa chất hoặc địa lý tự nhiên

(IX) - Là những ví dụ tiêu biểu cho quá trình sinh thái và sinh học đang tiếp diễn trong quá trình tiến hoá và phát triển của các dạng địa hình, vùng nước ngọt, biển và ven biển và các quần xã động vật, thực vật

(X) - Là những nơi cư trú tự nhiên quan trọng nhất và tiêu biểu nhất, mang giá trị bảo tồn nguyên trạng sự đa dạng sinh học, trong đó có những môi trường sống chứa đựng những loài động vật hoặc thực vật đang bị đe dọa, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn

Trang 39

Những địa điểm mô tả ở mục (IX) phải bao gồm những thành phần của hệ sinh thái cần thiết cho sự bảo tồn của các loài, hay là sự nối tiếp các quá trình hoặc thành phần thiên nhiên cần được bảo tồn, Nhữg thành phần thay đổi tùy từng trường hợp như khu vực được bảo vệ của một thác nước phải bao gồm toàn bộ hoặc đại bộ phận khu vực cung cấp nước cho nó về phía thượng lưu hoặc một địa điểm ám tiêu san hô thì phải bao gồm các khu vực bảo vệ chống lại sự bồi lấp hay gây nhiễm mà các dòng sông đổ ra, các dòng đại dương có thể gây ảnh hưởng tới quá trình cung cấp dinh dưỡng cho ám tiêu san hô

Những địa điểm chứa đựng những loài bị đe dọa nhưng các loài được mô

tả trong tiêu chuẩn (X) phải khá rộng lớn, bao gồm những yếu tố về nơi trú ẩn cần thiết cho sự sống của các cá thể loài tồn tại

Trường hợp đối với các loài di cư, những vùng cư trú theo mùa cần thiết cho sự tồn tại các loài, bất kể chúng ở đâu tới phải được bảo vệ thích đáng Ủy ban Di sản thế giới phải đảm bảo bằng các biện pháp cần thiết để bảo vệ các loài suốt chu kỳ sống của chúng Việc này được thỏa thuận thông qua việc tham gia Công ước quốc tế hoặc dưới hình thức thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên

Mỗi địa điểm tự nhiên phải được đánh giá một cách tương đối, nghĩa là phải được so sánh với những địa điểm khác cùng loại, cả trong và ngoài quốc gia chủ quyền của địa danh đó, thuộc cùng một vùng địa lý sinh vật hay trên cùng một đường di trú

2.3 Quy trình công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO

2.3.1 Công ước 1972 của UNESCO (Trích)

… Chỉ cần sự ghi nhận băng văn bản của ông Tổng giám đốc Tổ chức Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá Tuy nhiên, sự rút lui lời tuyên bố sẽ chỉ

có tác dụng đối với sự đóng góp bắt buộc của nước đó từ thời điển của Đại hội đồng tiếp theo của các nước thành viên

4 Để cho Ủy ban có thể dự kiến được các công tác của mình một cách có hiệu quả, các nước tham gia Công ước này đã từng tuyên bố như theo phần 2 của Điều

Trang 40

40

này phải nộp các khoản đóng góp của họ một cách đều hoà, ít nhất hai năm một lần và các khoản đóng góp đó cũng không thể thấp hơn những đóng góp mà họ phải nộp nếu họ bị ràng buộc bởi những điều khoản của phần 1 Điều này

5 Bất kỳ nước nào tham gia Công ước mà chậm trễ trong việc nộp khoản đóng góp bắt buộc hay tự nguyện của mình trong những năm hiện tại hoặc năm vừa qua, thì không có quyền ứng cử vào Ủy ban di sản thế giới, điều khoản này không

áp dụng khi bầu cử lần thứ nhất Nhiệm kỳ của một nước tham gia Công ước như vậy sẽ kết thúc vào lúc bắt đầu cuộc bầu cử vào dự kiến ở Điều 8, phần 1 của Công ước này

Điều 17:

Các quốc gia tham gia Công ước này sẽ xem xét hay tạo thuận lợi cho việc thành lập các hội quốc gia công hay tư có mục đích khuyến khích những sự hào phóng

có lợi cho việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên được định nghĩa trong các Điều

1 và 2 của Công ước này

Điều 18:

Các quốc gia tham gia Công ước này sẽ hỗ trợ các chiến dịch quốc tế quyên góp được tổ chức để ủng hộ quỹ di sản thế giới dưới sự bảo trợ của Tổ chức Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá Các quốc gia này sẽ tạo thuận lợi cho các cuộc lạc quyên của các tổ chức nêu tên trong phần 3, Điều 15 nhằm mục đích đó

V CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ THỂ THỨC CỦA VIỆN TRỢ QUỐC TẾ

Điều 19:

Bất kỳ nước nào tham gia Công ước này đều có quyền xin viện trợ quốc tế có lợi cho các tài sản của di sản văn hoá hoặc tự nhiên có giá trị quốc tế đặc biệt nằm trên lãnh thổ của mình Nước đó phải kèm theo vào đơn xin của mình những yếu

tố thông tin và những tài liệu nêu ra trong Điều 21 mà nước đó hiện có và Ủy ban cần có để ra quyết định

Điều 20:

Với những hạn chế của các điều khoản của phần 2 Điều 13, của đoạn c Điều 22

và của Điều 23, sự viện trợ quốc tế dự kiến bởi Công ước này chỉ có thể cấp cho những tài sản của di sản văn hoá và tự nhiên mà Ủy ban di sản thế giới đã hoặc đang quyết định ghi vào một trong hai bản danh sách thuộc phần 2 và 4 của Điều

11

Điều 21:

1 Ủy ban di sản thế giới xác định thể thức xem xét các đơn xin viện trợ quốc tế

mà nó phải cấp và nêu rõ những yếu tố cần phải ghi rõ trong tờ đơn, đơn nào cần phải miêu tả công việc dự định làm, các công trình cần thiết, ước tính chi phí, tính

Ngày đăng: 10/08/2016, 05:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Ngô Minh Oanh (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới (Tài liệu học tập và ôn thi), Nxb Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[5] Nguyễn Phụng Hoàng (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[1] Hoàng Minh Thảo (1999), Almanach Những nền văn minh thế giới, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác
[2] Một vòng quanh các nước (2005), Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác
[3] Nguyễn Thu Phương, Các nền văn minh cổ trên thế giới và Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.2. Hình thức tổ chức dạy học: - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN CÁC DI SẢN VĂN HÓA NỔI TIẾNG THẾ GIỚI
4.2. Hình thức tổ chức dạy học: (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w