1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CNTT cho người lãnh đạo

33 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 552,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển kỹ năng tập trung có thể thực hiện theo nhiều dạng khác nhau và được hỗ trợ bằng nhiều hình thức học tập khác nhau như trò chơi, chia sẻ kinh nghiệm trong công việc,

Trang 1

Học để biết:

Học để biết được xem là phương tiện và là mục đích cho sự tồn tại của con người Con người phải học

để tìm hiểu thế giới xung quanh, để sống và phát triển tính cách, kỹ năng nghề nghiệp và để giao tiếp với mọi người Học là để có được niềm vui từ sự hiểu biết, kiến thức đạt được và khám phá những điều mới lạ Cách học này sẽ khuyến khích sự ham học hỏi, tính sắc bén trong nhìn nhận và đánh giá sự việc để từ đó con người có thể tự tin phán đoán về thế giới xung quanh

Học để biết là học cách tăng khả năng suy nghĩ, kỹ năng ghi nhớ và tập trung Suy nghĩ là điều mà

trẻ em được học từ cha mẹ và thầy cô Quá trình này phải bao gồm suy nghĩ trừu tượng và giải quyết vấn đề thực tế mà giáo dục và nghiên cứu cần kết hợp trong quá trình dạy và học Quá trình suy nghĩ kéo dài trọn đời và được tăng cường thêm qua vốn sống của từng người Khi công việc của con người luôn thay đổi, không lặp đi lặp lại, kỹ năng suy nghĩ của họ càng phải thích ứng và linh động hơn Ngay từ thời thơ ấu, trẻ em đã phải học cách tập trung - vào một vật hoặc vào một người nào đó Quá trình phát triển kỹ năng tập trung có thể thực hiện theo nhiều dạng khác nhau và được hỗ trợ bằng nhiều hình thức học tập khác nhau như trò chơi, chia sẻ kinh nghiệm trong công việc, du lịch, các hoạt động khoa học thực dụng, v.v

Sự phát triển kỹ năng ghi nhớ là một công cụ tuyệt vời để khắc phục sự lấn át ồ ạt của những dòng thông tin từ báo chí truyền thông Thật là nguy hiểm khi kết luận rằng con người không cần phải phát triển kỹ năng ghi nhớ vì đã có sẵn những nguồn lưu trữ và cung cấp thông tin khi cần Trong một số trường hợp cần sự thiết lập hệ thống kết nối giữa các thông tin, sự kiện có vẻ ít liên quan đến nhau, trí nhớ của con người đã thể hiện được tính ưu việt hơn nhiều so với máy tính Khả năng kết nối các hồi ức này sẽ trở thành một chu trình tự động khi được trau dồi thường xuyên

Bốn mục tiêu của Giáo dục

theo UNESCO

Học để biết Học để làm sống chung Học để khẳng định Học để

Nguồn: http://www.unesco.org/delors/fourpil.htm

Trang 2

Học để làm:

Học để làm có liên quan mật thiết đến vấn đề đào tạo và phát triển nghề nghiệp Do đó, nền giáo

dục của chúng ta nên được điều chỉnh để trang bị cho mọi người khả năng cần thiết nhằm phục vụ

cho công việc trong tương lai Học để làm ngày nay không còn mang ý nghĩa đơn giản là đào tạo con

người để thực hiện một công việc chân tay cụ thể nào đó trong quá trình sản xuất Do đó, việc đào tạo phải có sự cải cách hơn là chỉ đơn thuần trở thành một công cụ để phổ biến những kiến thức được học vào công việc thường ngày

Ngày nay khái niệm “năng lực cá nhân” trở nên phổ biến Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật rõ ràng đã thay đổi những kỹ năng nghề nghiệp mà quá trình sản xuất mới đòi hỏi Với việc máy móc ngày càng trở nên thông minh hơn, những công việc tay chân đơn thuần đã và đang được thay thế bằng những công việc trí óc như điều hành, giám sát, bảo trì, thiết kế và tổ chức

Nền kinh tế hiện đại cần những kỹ năng mới thiên về giao tiếp nhiều hơn là chỉ kiến thức cơ bản Điều này tạo cơ hội công bằng để phát triển nghề nghiệp và hoàn thiện bản thân cho mọi đối tượng của giáo dục Giáo dục nên được phát triển theo khuynh hướng đào tạo kiến thức kết hợp với phát triển các kỹ năng cần thiết như giao tiếp, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, lãnh đạo, tinh thần đồng đội, v.v

Học để chung sống:

Qua nghiên cứu, giáo dục nên có hai cách tiếp cận sau Từ thời thơ ấu, giáo dục nên chú trọng đến quá trình tìm hiểu và khám phá những người xung quanh ở những giai đoạn đầu Ở giai đoạn thứ hai của giáo dục và của quá trình học tập lâu dài, giáo dục nên chú trọng đến việc khuyến khích sự tham gia vào quá trình học của một số dự án phổ biến Đây là một cách khá hiệu quả nhằm tránh mâu thuẫn hoặc giải quyết những mâu thuẫn có thể xảy ra

Khám phá những người xung quanh

Một trong những nhiệm vụ của giáo dục là vừa dạy học sinh sinh viên về sự đa dạng của con người, vừa giúp cho họ nhận thức về sự tương đồng và phụ thuộc lẫn nhau của con người Từ thời thơ ấu, trường học nên nắm bắt tất cả các cơ hội nhằm thực hiện được hai hướng tiếp cận này Một số môn học có thể áp dụng theo hai hướng này là địa lý loài người trong giáo dục phổ thông, ngoại ngữ và

văn học

Bên cạnh đó, cho dù giáo dục được cung cấp bởi gia đình, cộng đồng hay nhà trường, trẻ em cũng nên được dạy cách để hiểu được những phản ứng của người khác bằng cách cách quan sát, đánh giá sự việc qua cách nhìn của chúng Một khi tinh thần đồng cảm này được khuyến khích trong trường học, nó sẽ có một hiệu ứng tích cực trên thái độ và hành vi của trẻ trong suốt cuộc đời chúng Giáo dục tập trung hướng con người đến những mục tiêu chung Khi con người làm việc cùng nhau trong các dự án, những khác biệt và mâu thuẫn giữa cá nhân thường có khuynh hướng giảm dần, đôi khi còn biến mất Do đó, giáo dục chính quy nên phải dành thời gian và cơ hội trong chương trình để giới thiệu đến giới trẻ những dự án hợp tác từ ngày đầu học tập như một phần của những hoạt động thể thao và xã hội của họ

Trang 3

Học để khẳng định:

Theo Unesco từ những ngày đầu tiên, mục tiêu của giáo dục là đóng góp vào sự phát triển toàn diện của con người – về tinh thần và thể lực, trí tuệ, sự nhạy cảm, và cảm nhận nghệ thuật Mọi người nên được trang bị một nền giáo dục mà có thể phát triển khả năng nhận thức đánh giá và lập luận độc lập, giúp họ có thể sáng suốt đưa ra những quyết định đúng đắn nhất trong nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống

Bài báo cáo Học để khẳng định đưa ra những nhận định sau: ‘ mục tiêu của phát triển là sự hoàn

thiện toàn diện của một con người, sự thể hiện đầy đủ của tính cách, sự đa dạng của hành vi ứng xử và những cam kết – của một cá nhân, một thành viên của gia đình và cộng đồng, một cư dân và một nhà sản xuất, nhà phát minh của kỹ thuật và một người mơ mộng đầy sáng tạo’ Quá trình phát triển của con người từ khi sinh ra là một quá trình biện chứng dựa trên sự tự nhận biết bản thân và trên mối quan hệ với những người khác Như một công cụ của việc đào tạo nên tính cách, giáo dục nên là vừa một quá trình cá nhân hóa cao độ vừa là một kinh nghiệm xã hội mang tính tương tác cao

Trong phần mở đầu, bản báo cáo Học để khẳng định (1972) thể hiện nỗi lo sợ thế giới sẽ dần mất đi

“tính người” do sự tiến bộ chóng mặt của công nghệ Một trong những thông điệp chính của nó là giáo dục nên tạo điều kiện cho mỗi người ‘có khả năng tự giải quyết các vấn đề của riêng họ, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm về những gì họ làm’… Việc mất dần “tính người” của xã hội này có thể còn gia tăng trong thế kỷ 21 Thay vì giáo dục trẻ chỉ thích ứng với bối cảnh xã hội hiện tại, thử thách của giáo dục là bảo đảm mọi người luôn có những nguồn lực cá nhân và những công cụ trí tuệ cần thiết để tìm hiểu thế giới và cư xử như một con người công bằng và có trách nhiệm Hơn bao giờ hết, nhiệm vụ cần thiết của giáo dục là bảo đảm cho tất cả mọi người đều có thể tự do suy nghĩ, phán đoán, biểu lộ cảm xúc và tưởng tượng để phát triển được tài năng cũng như kiểm soát được cuộc sống của họ ở mức độ cao nhất

Trong một thế giới nơi mà sự đổi mới về kinh tế và xã hội là một trong những sức mạnh chính, sự tưởng tượng và sáng tạo phải được đặt lên hàng đầu Sự tưởng tượng và sáng tạo là biểu hiện rõ ràng nhất của tự do con người, tuy nhiên chúng có thể bị đe dọa bởi sự thiết lập của một hệ thống cứng nhắc, không linh động trong hành vi ứng xử của con người Thế kỷ 21 sẽ cần nhiều dạng tài năng khác nhau hơn là những cá nhân thiên tài nổi trội mà trong bất cứ xã hội nào cũng cần Cả trẻ

em và thanh thiếu niên phải nên được tạo tất cả những cơ hội để tìm tòi, thể hiện và phát triển trong những lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, văn hóa và xã hội, với mục đích hoàn thiện những thành tựu đã đạt được từ những thế hệ trước Trong trường học, nghệ thuật và văn chương cũng nên được xem trọng hơn để phát huy tính văn hóa và truyền thống

Trang 4

Koichiro Matsura

Tổng Giám Đốc UNESCO (Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc)

“Công nghệ thông tin và giao tiếp (ICT) được coi là công cụ để giúp

sự phát triển của con người

Sự phát triển của xã hội tri thức tùy thuộc vào sự hình thành các

kiến thức mới và được truyền bá qua giáo dục và đào tạo nhờ vào

công cụ ICT truyền tải

Sức mạnh của ICT có thể đóng góp hữu hiệu vào việc thực hiện các

mục đích phát triển của thiên niên kỷ.”

(Phát biểu tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Thế Giới về Xã Hội Thông Tin tại

Geneva 2003)

Trang 5

Một vài ý tưởng cho mô hình dạy và học thế kỷ 21

Steve Jobs – Nhà sáng lập hãng Apple

n Phương tiện của thế kỷ qua là trang in

n Phương tiện của thời nay là CNTT và truyền

thông và người học sáng tạo bằng phương

tiện này.

n Khi học viên tự mình sáng tạo là quá trình

học đang diễn ra và người thầy là người hỗ

trợ và thúc đẩy quá trình đó.

HỌC = SÁNG TẠO

Steve Jobs – Nhà sáng lập hãng Apple

thông và người học sáng tạo bằng phương

tiện này.

học đang diễn ra và người thầy là người hỗ

trợ và thúc đẩy quá trình đó.

HỌC = SÁNG TẠO

Linda D Hammond – nhà giáo dục, giáo sư đại học

Standford, chuyên gia về đào tạo

n Tất cả học sinh sẽ có máy tính không dây nối mạng với thế giới

n Công nghệ mới sẽ giúp cho học sinh trở thành công dân của thế giới

n Người thầy sẽ giúp học sinh tìm các nguồn lực giải quyết vấn đề trên mạng

n Môi trường học tập tự nhiên và thoải mái vì nó được xây dựng trên ý tưởng học là quá trình tự nhiên.

Người thầy – Người huấn luyệnLinda D Hammond – nhà giáo dục, giáo sư đại học

Standford, chuyên gia về đào tạo

n Tất cả học sinh sẽ có máy tính không dây nối mạng với thế giới

n Công nghệ mới sẽ giúp cho học sinh trở thành công dân của thế giới

n Người thầy sẽ giúp học sinh tìm các nguồn lực giải quyết vấn đề trên mạng

n Môi trường học tập tự nhiên và thoải mái vì nó được xây dựng trên ý tưởng học là quá trình tự nhiên.

Người thầy – Người huấn luyện

HỢP TÁC VÀ CỘNG ĐỒNG TOÀN CẦU

Maria Cantwell

n Vấn đề thực ra không phải là công nghệ mà là bản chất

tương tác của giáo dục.

n Khi tương tác với thông tin, học sinh sẽ nhớ đến thông

tin đó nhiều hơn.

n Học sinh có thể hỏi thầy bất cứ lúc nào thay vì chỉ có

vài tiết trong tuần.

n Công nghệ và giáo dục giúp con người xây dựng chiếc

cầu hiểu biết và cảm thông giữa các nền văn hóa khác

nhau.

HỢP TÁC VÀ CỘNG ĐỒNG TOÀN CẦU

Maria Cantwell

n Vấn đề thực ra không phải là công nghệ mà là bản chất

tương tác của giáo dục.

n Khi tương tác với thông tin, học sinh sẽ nhớ đến thông

tin đó nhiều hơn.

n Học sinh có thể hỏi thầy bất cứ lúc nào thay vì chỉ có

vài tiết trong tuần.

n Công nghệ và giáo dục giúp con người xây dựng chiếc

cầu hiểu biết và cảm thông giữa các nền văn hóa khác

nhau.

Trang 6

Phương pháp “Học theo Dự Án”

(Project Based Learning – PBL)

I Phương pháp “Học theo Dự Án” là gì?

Phương pháp “Học theo dự án” (PBL) là mô hình học tập khác với các hoạt động học tập truyền thống qua những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy giáo viên làm trung tâm Theo đó, các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy học viên làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại Mục tiêu của một dự án (được định nghĩa là việc nghiên cứu có chiều sâu về một chủ đề học tập) là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra

Trong các lớp học sử dụng cách học theo dự án, học viên cộng tác với các bạn trong lớp trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những vấn đề và cuối cùng trình bày công việc mình đã làm trước những cử tọa ngoài nhóm Bước cuối cùng có thể là một buổi thuyết trình sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một vở kịch, một bản báo cáo viết tay, một trang web hoặc một sản phẩm được tạo ra

PBL không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà còn khám phá các chương trình này, yêu cầu học viên phải đặt câu hỏi, tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp PBL là một cấu trúc học tập có thể thay đổi môi trường học từ “giáo viên nói” thành “học viên làm việc”

II Các lợi ích cho học viên từ phương pháp PBL:

ª Tính liên quan: PBL tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút học viên vào những dự án phức tạp trong

thực tế và học viên sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kỹ năng và kiến thức của mình Nội dung chương trình học sẽ ý nghĩa hơn nhiều vì nó dựa trên việc học hỏi từ thực tế và học viên có thể tìm thấy hứng thú trong việc học

ª Tính thách thức: PBL khuyến khích học viên giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính thực

tế Qua đó, học viên phải khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách có khoa học

ª Gây hứng thú: PBL ghi nhận rằng phương pháp học có ý nghĩa thúc đẩy mong muốn học tập

của học viên, phát huy khả năng làm việc và mong muốn được nhìn nhận, đánh giá của học viên Khi học viên có cơ hội kiểm soát được quá trình học của chính mình, giá trị của việc học đối với học viên cũng tăng lên Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp sẽ làm tăng hứng thú học tập của các học viên

ª Tính liên ngành: PBL yêu cầu học viên sử dụng thông tin của những môn học khác nhau để giải

quyết vấn đề Trong hầu hết các dự án của phương pháp PBL, học viên phải làm những bài tập liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan

ª Tính xác thực: PBL yêu cầu học viên tiếp thu tri thức theo cách học của người lớn là học và ứng

dụng tri thức

ª Tính cộng tác: PBL thúc đẩy sự cộng tác giữa các học viên và giáo viên và giữa các học viên với

nhau Đôi khi sự cộng tác còn được mở rộng ra các thành viên của cộng đồng

ª Sự thích thú: Học viên rất thích phương pháp học theo dự án Nhiều giáo viên sử dụng PBL cho

biết các học viên rất mong được đến trường học, “học mà chơi, chơi mà học”

Trang 7

III Quá trình thực hiện PBL:

wXác định một vấn đề/ dự án phù hợp với học viên

w Liên kết vấn đề với thế giới/ môi trường xung quanh của học viên

w Xây dựng các chủ đề xung quanh vấn đề/dự án

w Tạo cho học viên cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học tập để giải quyết vấn đề

w Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập

w Yêu cầu tất cả học viên trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình Học theo xu hướng mô phỏng lại các tình huống thực tế đòi hỏi sự tham gia tích cực của học viên trong việc giải quyết vấn đề, tư duy và đưa ý kiến phản hồi Yêu cầu ban đầu đặt ra là học viên phải kiểm soát được việc học của mình và tìm ra những thông tin chính xác, phù hợp cho vấn đế/ dự án từ những nguồn kiến thức phong phú

IV Vai trò của người dạy và người học trong PBL:

a) Vai trò của giáo viên trong PBL:

Vai trò của giáo viên trong lớp học PBL rất khác biệt so với vai trò mà hầu hết các giáo viên đã quen thuộc Trong lớp học truyền thống, giáo viên nắm giữ tất cả những kiến thức, và rồi truyền tải đến học viên Sự giao tiếp, trao đổi thông tin trong lớp học truyền thống chỉ mang tính một chiều

Với phương pháp PBL, giáo viên không còn điều khiển tư duy học viên nữa Vai trò của giáo viên

lúc này là một người hướng dẫn, người huấn luyện, người tư vấn và bạn cùng học Giáo viên

PBL phải tập trung hơn vào việc làm mẫu và hướng dẫn học viên, tạo cơ hội để học viên phát huy hết khả năng học tập và tiếp cận với thông tin Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự hợp tác, đẩy mạnh tinh thần đồng đội giữa các học viên

b) Vai trò của học viên trong PBL:

PBL tạo ra nhiều cơ hội học tập liên ngành Học viên áp dụng và kết hợp nội dung thuộc các lĩnh vực, chủ đề khác nhau vào những thời điểm xác thực trong quá trình học tập thay vì trong một môi trường tách biệt và không có tính thử thách Hầu hết những vấn đề trong thực tế đều mang tính cố hữu, liên ngành Điều đó cho thấy giá trị của cách dạy giải quyết vấn đề trong bối cảnh liên ngành và cung cấp cho học viên những công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề Trong các lớp học PBL, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm nhỏ học viên trong lớp, đôi khi cả lớp và đôi khi chỉ bởi cá nhân một học viên Mục tiêu chính của dự án là để tìm câu trả lời về chủ đề do học viên, giáo viên hoặc giáo viên cùng học viên đặt ra Khi học viên nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, các học viên sẽ quyết định cách thức giải quyết những vấn đề được đưa ra

(Nguồn: Partners in Learning, Microsoft)

Trang 8

VI Thực hành dự án:

“Một người vì mọi người, mọi người vì một người.”

(Nguồn: www.udel.edu/ pbl/MARC2005/PBL at University of Delaware )

Trang 9

Phương pháp “Người học là trung tâm”

(Learner-Centered)

I Phương pháp “Người học là Trung Tâm” là gì?

Phương pháp “Người học là Trung Tâm” đặt học viên vào vị trí trung tâm của giáo dục Phương pháp này bắt đầu với việc tìm hiểu các môi trường giáo dục liên quan mà học viên xuất phát Sau đó giáo viên hướng dẫn tiếp tục đánh giá tiến độ học của học viên so với mục tiêu học Bằng cách giúp người học đạt được các kỹ năng cơ bản để học tập, phương pháp này cũng tạo nên nền tảng cho việc học suốt đời Do đó, học viên phải có trách nhiệm với việc học của bản thân trong khi giáo viên có đóng vai trò hướng dẫn học viên trong quá trình học Cách này mang tính chất cá nhân, linh hoạt, dựa trên năng lực, làm phong phú phương pháp giáo dục và không bị bó hẹp bởi yếu tố không gian và thời gian

Phương pháp “Người học là Trung Tâm” ủng hộ môi trường dạy và học tập trung vào học viên Giáo viên cố gắng tối đa hóa hiệu quả học tập, khả năng lĩnh hội kiến thức, nâng cao các kỹ năng và phát triển năng lực cá nhân và chuyên môn nhằm đáp ứng các câu hỏi và quan tâm của học viên hoặc cùng với học viên tìm ra giải đáp cho những vấn đề khó khăn Các giáo viên áp dụng phương pháp này sử dụng nhiều công cụ và phương pháp hướng dẫn cũng như sự linh động trong việc sắp xếp thời gian và địa điểm Môi trường học tạo điều kiện để người học khám phá ý nghĩa và nội dung kiến thức thông qua khả năng tự tìm hiểu và giao tiếp với mọi người

II Ích lợi của phương pháp “Người học là trung tâm”

w Học qua phương pháp “học để khám phá” và “học để làm giàu” kiến thức trong học tập và ngoài xã hội

w Loại bỏ cách dạy và học “giáo viên nói, học sinh nghe” Khuyến khích sự sáng tạo từ giáo viên và người học đến mức tối đa

w Tăng cường sự trao đổi, học hỏi qua lại, tạo môi trường học thích thú, động viên giữa giáo viên và người học

w Bảo đảm sự tham gia nhiệt tình, chủ động và đầy đủ của người học trong suốt quá trình khám phá, tìm tòi

w Học sinh có cơ hội tiếp xúc, trình bày và hoàn thành những ý kiến sáng tạo, sáng kiến độc đáo

Trang 10

III Các yếu tố liên quan đến phương pháp “Người học là Trung Tâm”

ª Bối cảnh học: Việc học chịu tác động của các yếu tố môi trường bao gồm: văn hóa, kỹ thuật và

các phương pháp dạy

Giáo viên đóng vai trò tương tác chính giữa học viên và môi trường học Những ảnh hưởng văn hóa và cộng đồng trên học viên có thể tạo nhiều tác động liên quan mang tính giáo dục như động

cơ học, định hướng đối với việc học và các cách tư duy Kỹ thuật và phương pháp dạy phải phù hợp với trình độ kiến thức sẵn có, khả năng nhận biết và các chiến lược tư duy và học của học viên

ª Các ảnh hưởng đối với việc học: Việc học chịu ảnh hưởng bởi các mối quan hệ giao tiếp với

mọi người xung quanh

Việc học có thể nâng cao khi người học có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với người khác Các môi trường học cho phép tạo ra các mối tương tác xã hội, tôn trọng tính đa dạng, khuyến khích lối tư duy linh hoạt và khả năng sống trong cộng đồng Qua việc tiếp xúc và hợp tác với giáo viên hướng dẫn, cá nhân người học sẽ có cơ hội lĩnh hội nhận thức và tư duy phản ánh, từ đó phát triển trình độ hiểu biết và hoàn thiện bản thân

ª Bản chất của quá trình học: Việc học một chủ đề phức tạp đạt hiệu quả nhất khi trải qua quá

trình chủ động xây dựng và đúc kết từ lượng thông tin và kinh nghiệm đạt được

Có nhiều quy trình học khác nhau, chẳng hạn như học máy móc hình thành nên thói quen hay học từ việc tổng hợp nhiều kiến thức hoặc kỹ năng nhận thức và phương pháp học Người học thành công là người năng động, có mục đích, có tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm bản thân trong tự học

ª Mục đích của quá trình học: Bản chất chiến lược của việc học đòi hỏi học viên phải biết định

hướng mục tiêu Để nắm vững các tri thức, kỹ năng và đạt được các chiến lược tư duy cần thiết cho việc học cả đời, học viên phải tạo ra các mục tiêu cho bản thân và theo đuổi các mục tiêu đó Khởi đầu, các mục tiêu ngắn và việc học có thể còn sơ sài trong một phạm vi nào đó, nhưng qua thời gian, mức độ hiểu biết của học viên có thể được xác định thông qua quá trình tự tìm hiểu, trao đổi và tích lũy các tri thức cần thiết

(Nguồn: Partners in Learning, Microsoft )

Trang 11

Quy trình học của KOLB

David A Kolb (người Mỹ, 1939 - ) là tác giả của Phương Pháp Học Thực tiễn - Lấy trải nghiệm làm Nguồn của việc Học và sự Phát triển (Experiential Learning - Experience as the Source of Learning and Development, 1975) và là người sáng lập ra Phương pháp học đổi mới (The Kolb Learning Style Inventory,1975)

Mô hình Phương Pháp Học Thực Tiễn được tạo ra từ 4 yếu tố:

1 Kinh nghiệm

2 Đánh giá

3 Khái niệm

4 Thực hành

Bốn yếu tố này được trình bày trong quy trình học thực tiễn như sau:

Theo Kolb, quy trình học có thể bắt đầu bằng một trong bốn yếu tố trên, và nên được thực hiện như một vòng tròn liên tục Tuy nhiên, quá trình học thường được đề nghị thực hiện như sau: học viên thực hiện một hành động cụ thể và quan sát những tác động của hành động trong tình huống này Bước thứ hai là phân tích, đưa ra đánh giá cho các tác động này Tiếp theo, bước thứ

ba là thiết lập ra một nguyên tắc chung ứng dụng cho một số trường hợp cụ thể có liên quan Khi nguyên tắc chung được xác định, bước cuối cùng là áp dụng bằng hành động vào tình huống mới trong phạm vi tổng quát

Trong thực tế, nếu việc học diễn ra, quá trình có thể được xem là vòng tròn khép kín Hành động diễn ra trong một chuỗi các tình huống khác nhau và người học lúc này có thể dự đoán những kết quả có thể xảy ra của những hành động cụ thể

Kinh nghiệm

Khái niệm

Đánh giá Thực hành

Nguồn: http://iteslj.org/Articles/Kelly-Experiential/

Trang 12

Từ quy trình học trên, Kolb phát triển thành Phương pháp học đổi mới (The Kolb Learning Style Inventory) Đây là cách hiệu quả để khám phá phong cách học khác nhau của từng cá nhân

Cách học Đặc điểm Mô tả

Người phản ánh

(cảm nhận và

quan sát)

Học bằng cách quan sát người khác và sự vật xung quanh

Những người có phong cách học này có thể nhìn sự vật từ nhiều hướng khác nhau Họ thích quan sát nhiều hơn hành động, có xu hướng thu thập thông tin và sử dụng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề Họ rất giỏi nhìn những tình huống cụ thể dưới một số quan điểm khác nhau Những người này có các mối quan tâm xã hội tổng quát và thích thu thập thông tin Họ quan tâm đến con người, hay tưởng tượng, giàu cảm xúc, có xu hướng giỏi về các môn nghệ thuật Những người có phong cách học này thích làm việc theo nhóm, lắng nghe với thái độ cởi mở và đón nhận phản hồi

Người lý luận

Người phản ánh Người hoạt động

Người thực hiện

Trang 13

Người lý luận

(quan sát và suy

Người có phong cách thực hiện có thể giải quyết vấn đề và sẽ sử dụng những gì học được để tìm ra giải pháp cho những vấn đề thực tế Họ thích công việc kỹ thuật và ít quan tâm đến con người và các mối quan hệ giao tiếp Những người này giỏi tìm ra ứng dụng thực tiễn cho các ý tưởng và lý thuyết Họ có thể giải quyết vấn đề và ra quyết định bằng cách tìm ra giải pháp Phong cách học này tạo điều kiện phát triển những khả năng về công nghệ kỹ thuật Những người thực hiện thích thể nghiệm các ý tưởng mới, tái tạo và làm việc với các ứng dụng thực tiễn

Người hoạt động

(hành động và

cảm nhận)

Học bằng cách rút

ra từ kinh nghiệm mới

Những người này học dựa trên trực giác phán đoán hơn là lý luận logic Những người này hay sử dụng những phân tích của người khác và thích phương pháp thực tế dựa trên kinh nghiệm Họ bị lôi cuốn vào những thử thách, trải nghiệm mới và thực hiện các kế hoạch Những người mang phong cách này hay dựa trên thông tin từ người khác hơn là tiến hành phân tích của chính mình Phong cách này thông dụng và hữu ích trong những ai trò đòi hỏi hành động và sáng kiến Những người thích làm việc trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ Họ đặt ra mục tiêu và chủ động làm việc để tìm ra nhiều cách đạt được mục tiêu

Nguồn: http://www.businessballs.com/kobllearningstyles.htm

“Bạn không thể dạy một học viên mọi thứ nhưng bạn có thể giúp học viên đó tự tìm tòi hiểu biết bằng

chính khả năng của mình.”

Galileo Galilei (1564 – 1642)

(Nguồn: Quotes on Education, www.lhup.edu/dsimanek/eduquote.htm)

Trang 14

Quan điểm Dạy và Học theo Phương Đông và Phương Tây

Cách đây hơn 25 thế kỷ, Khổng Tử từng nói:

Tôi nghe, tôi quên

Tôi nhìn, tôi nhớ

Tôi làm, tôi hiểu

Ba câu nói đơn giản này nói lên một cách hùng hồn nhu cầu đối với việc học chủ động Quan điểm học phương Tây đã bổ sung và mở rộng quan điểm của Khổng Tử thành Luận Điểm

Phương Pháp Học Chủ Động (the Active Learning Credo):

Tôi nghe, tôi quên

Tôi nghe và nhìn, tôi nhớ chút ít

Tôi nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo luận, tôi bắt đầu hiểu

Tôi nghe, nhìn, thảo luận và thực hành, tôi bắt đầu học được kỹ năng và kiến thức

Tôi dạy cho người khác, tôi thành thạo

Những chuyên gia nghiên cứu về Phương Pháp Học Chủ Động đưa ra tỉ lệ mức độ tiếp thu trung bình từ các phương thức truyền đạt như sau:

Khổng Tử (520 TCN)

Tôi nghe Tôi quên

Tôi nhìn Tôi nhớ

Tôi làm Tôi hiểu

Quan điểm Phương Đông

Kh ổng Tử

(520 TCN )

Tôi nghe Tôi quên

Tôi nhìn Tôi nhớ

Tôi làm Tôi hiểu

Quan điểm Phương Đông

Nghe

Quan điểm phương Tây

quên Nghe và nhìn nhớ chút ít

Nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo luận bắt đầu hiểu

Dạy cho người khác Thành thạo

Nguồn: Silberman M (1998) Active Training San Francisco: Jossey-Bass / Pfeiffer

Dạy cho người khác Thành thạo

Nguồn: Silberman M (1998) Active Training San Francisco: Jossey-Bass / Pfeiffer

Trang 15

Theo sơ đồ trên, mức độ tiếp thu trong Dạy và Học hiệu quả nhất khi học viên có cơ hội truyền đạt, dạy lại cho các bạn cùng học hoặc những người có quan tâm trong khi nếu vẫn áp dụng theo cách dạy và học thuyết giảng theo truyền thống, mức độ tiếp thu của học viên chỉ dừng lại ở 5% Có một một số lý do người học có khuynh hướng quên những gì nghe được Một trong những lý

do liên quan là tốc độ giảng viên nói và tốc độ học viên lắng nghe Hầu hết giảng viên nói

khoảng 100 đến 200 từ/ phút Nhưng có bao nhiêu từ học viên nghe được, sau đó là tiếp thu? Điều này tùy thuộc vào cách họ lắng nghe Nếu thật sự tập trung, học viên có thể lắng nghe được tối đa khoảng 50 đến 100 từ/ phút hoặc một nửa những điều giáo viên nói Thậm chí, ngay cả khi nội dung bài giảng có thú vị, cũng khó tập trung một khoảng thời gian kéo dài Các nghiên cứu cho thấy học viên nghe (không suy nghĩ) với tốc độ 400 đến 500 chữ/phút Khi học viên lắng nghe trong một khoảng thời gian kéo dài một giáo viên nói chậm chậm 4 lần, họ có thể cảm thấy chán và đầu óc họ sẽ nghĩ vẩn vơ

Thật ra, một nghiên cứu chứng minh học viên tại những lớp học theo hình thức thuyết giảng thiếu chú ý khoảng 40% thời gian trong lớp (Theo Pollio, 1984) Hơn nữa, dù học viên nhớ được 70% những gì được nói trong 10 phút đầu, họ chỉ giữ nhớ được 20% những gì được được nói trong 10 phút cuối cùng (Theo McKeachie, 1986)

Theo nghiên cứu của David and Roger Johnson, những nhân vật nổi tíếng trong các hoạt động hợp tác giáo dục, với Karl Smith trong Johnson, Johnson and Smith, 1991: Một số vấn đề với hình thức thuyết giảng kéo dài được chỉ ra:

Ÿ Sự tập trung của khán giả giảm cứ sau mỗi phút

Ÿ Chỉ thú hút những người học có thiên hướng nghe

Ÿ Theo xu hướng lối học thông tin sự kiện ở mức độ thấp

Ÿ Giả định tất cả học viên cần thông tin giống nhau và tiếp thụ ở cùng tốc độ như nhau

Ÿ Lối học này thường không được mọi học viên ưa chuộng

Thuyết giảng

Đọc

Nghe nhìn

Mô tả, trình bày

Thảo luận nhóm

Trang 16

Để giảm bớt sự tra tấn của thuyết giảng, chuyên viên đào tạo hàng đầu, ông Bob Pike đề nghị

nên tạo cơ hội cho học viên cứ tám phút để tiếp thu những gì họ vừa mới nghe trước khi được thay

thế bằng một loạt thông tin tiếp theo Pike cũng chỉ ra rằng thêm hình ảnh vào bài học cải thiện được 14% đến 38% mức độ tiếp thụ (Theo Pike, 1994) Các nghiên cứu cũng cho thấy có một sự cải thiện đến 200% khi các từ vựng được dạy có sử dụng các dụng cụ trực quan Ngoài ra, thời gian cần để trình bày một khái niệm giảm đi 40% khi dụng cụ trực quan được sử dụng thêm vào bài giảng bằng lời Một hình ảnh có thể không đáng bằng một ngàn từ, nhưng nó hiệu quả hơn các từ ngữ gấp mấy lần Khi việc dạy có cả hai yếu tố nghe và nhìn, thông tin được củng cố bằng hai hệ thống truyền đạt Có một số học viên thích lối truyền đạt này so với lối truyền đạt khác Vì thế, bằng cách sử dụng cả hai phương thức, giảng viên có cơ hội đáp ứng nhu cầu của các loại học viên

Các nghiên cứu về cách não bộ hoạt động cho thấy não không chỉ nhận thông tin, mà còn xử lý thông tin, do đó chỉ và nghe và nhìn trong dạy và học thôi cũng chưa đủ Để xử lý thông tin hiệu quả, não thực hiện những phản xạ bên trong và bên ngoài Nếu người học thảo luận thông tin với bạn cùng học và nếu được tạo điều kiện nêu vấn đề, đặt câu hỏi và phản hồi, não có thể làm cho việc học trở nên tốt hơn

Việc học sẽ còn được nâng cao hơn nhiều nếu học viên được yêu cầu “thực hành” những việc sau:

1 Phát biểu thông tin bằng chính cách diễn đạt của học viên

2 Đưa ra những ví dụ minh họa

3 Nhận biết thông tin trong nhiều hình thức và tình huống

4 Thấy được sự nối kết giữa thông tin và các ý tưởng khác

5 Sử dụng thông tin bằng nhiều cách khác nhau

6 Dự đoán một số kết quả

7 Phát biểu mặt đối lập của thông tin

Bằng nhiều cách, theo khía cạnh nào đó, não bộ của chúng ta có nét giống như máy vi tính và chúng ta là người sử dụng Chiếc máy đó cần được “bật lên” để hoạt động, não của chúng ta cũng vậy Khi việc học thụ động, não sẽ không “mở” Máy tính cần phần mềm để xử lý dữ liệu được nhập vào Não của chúng ta cần nối kết những gì chúng ta được dạy với những gì chúng ta đã biết và cách chúng ta suy nghĩ Khi việc học thụ động, não không tạo ra các mối liên kết này đến phần mềm của não bộ Cuối cùng, máy tính không thể giữ lại được thông tin vừa được xử lý nếu không lưu lại Não cần kiểm tra thông tin, tóm tắt hoặc diễn giải với người khác để lưu trữ vào ngân hàng bộ nhớ Khi việc học thụ động, não không lưu được những gì đã trình bày

Trong bất kỳ trường hợp nào, việc học thật sự không phải là việc học thuộc lòng Hầu hết những

gì chúng ta học thuộc mất đi trong sau một khoảng thời gian Để giữ lại những gì đã được dạy, học viên phải nghiền ngẫm chúng Việc học không thể nuốt toàn bộ Giảng viên không thể làm công việc trí óc cho học viên bởi vì học viên phải ráp những gì học nghe và thấy để hình thành nên tổng thể ý nghĩa Không có cơ hội thảo luận, đặt câu hỏi, thực hành và thậm chí có thể là dạy cho người khác, việc học thật sự sẽ không diễn ra

(Nguồn: Active Training, Mel Silberman , Ph.D., Jossey-Bass/Pfeiffer)

Ngày đăng: 03/11/2014, 19:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình thức: Chọn hình thức phù hợp để thực hiện tốt cuộc giao tiếp. - CNTT cho người lãnh đạo
2. Hình thức: Chọn hình thức phù hợp để thực hiện tốt cuộc giao tiếp (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w