1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tư vấn tâm lý căn bản

296 3,3K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thiết thực của cuốn sách còn được thể hiện rất rõ trongtất cả các loại hình tư vấn tâm lý được đề cập ở trong sách, như tưvấn tâm lý về sức khỏe tâm thần, các dạng bệnh lý, trong

Trang 1

TƯ VẤN TÂM LÝ CĂN BẢN

LỜI GIỚI THIỆU

Tôi rất vui lòng viết lời giới thiệu cho cuốn sách TƯ VẤN TÂM

LÝ CĂN BẢN của Nguyễn Thơ Sinh Tôi với Sinh quen nhau trênmạng điện tử: biết tôi ở trong Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục ViệtNam (ở dưới gọi là Hội), Sinh gởi email cho tôi; tôi nhận thấy anhquan tâm đến Tâm lý học và Giáo dục học nước nhà và chúng tôi đã

có nhiều cuộc trao đổi với nhau Như vậy là cuộc làm quen có chủđích, chứ không phải ngẫu nhiên: hai người đều có lòng nhiệt tâmvới nền khoa học này của nước nhà Cuối năm 2005 đầu năm 2006,Hội có cuộc Hội thảo về Tư vấn tâm lý tổ chức ở thành phố Hồ ChíMinh Tôi báo tin này và mời Sinh về tham dự, anh nhận lời với cảmột báo cáo Khoa học dài đến hơn 20 trang giấy khổ A4

… Sau đó tôi bảo anh: Nếu đúng là vấn đề anh quan tâm, vànếu có điều kiện, anh nên viết một cuốn sách về tư vấn tâm lý Kếtquả đến quá nhanh, hôm nay mới giữa tháng 8 năm 2006, tức làtrong có vài tháng, cuốn sách đã viết xong, dày tới gần 300 trang.Theo tôi, đây là một cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Việt về tư vấntâm lý Tất nhiên, mới là đề cập đến những vấn đề cơ bản Nhưngcũng có thể nói ngay rằng chữ “cơ bản” ở đây không phải chỉ là cácvấn đề lý luận cơ bản mà phần lớn lại là các (hay một số) vấn đềthực hành cơ bản - đúng là cái chúng ta đang cần, cần biết cả lýthuyết cơ bản nhưng rất cần biết những điều chỉ dẫn tiến hành côngviệc tư vấn, từ mở đầu đến kết thúc một cuộc (có thể nhiều buổi) tưvấn tâm lý

Thật vậy, các bạn thấy tác giả đã trình bày sự vận dụng mộtloạt học thuyết (lý thuyết) tâm lý vào công việc tư vấn tâm lý: từ

Trang 2

học thuyết Freud rồi Anna Freud (con gái của Freud); thuyết tâm lýhọc phân cách của Adler, Roger, thuyết hiện sinh của May và Frankltrong tâm lý học; tiếp theo là tâm lý học hành vi, tâm lý học hìnhthái, thuyết nhận thức trị liệu, thuyết hệ thống gia đình của Bower,v.v Phần nhiều các lí thuyết này đã được giới thiệu ở ta, nhưng đều

ở tâm lý học đại cương, lịch sử tâm lý học, nhập môn tâm lý học.Còn ở đây mỗi thuyết chỉ trình bày rất tóm tắt, có khi chỉ trong vàidòng, phần lớn dành nói về lý thuyết này tiến hành công việc tư vấntâm lý như thế nào? Cuốn sách này thật sự có ý nghĩa rất thiết thựccho những nhà tư vấn tâm lý, và cả các cán bộ giảng dạy, nghiêncứu tâm lý xem cũng rất bổ ích

Ý nghĩa thiết thực của cuốn sách còn được thể hiện rất rõ trongtất cả các loại hình tư vấn tâm lý được đề cập ở trong sách, như tưvấn tâm lý về sức khỏe tâm thần, các dạng bệnh lý, trong đó cóStress khác: các vấn đề này ngày càng đi vào công nghiệp và hiệnđại càng nảy sinh nhiều; tư vấn hôn nhân mà hiện nay đang chiếm

tỷ trọng hàng đầu trong các cuộc tư vấn tâm lý ở ta; tư vấn gia đìnhcũng là một phạm vi ngày càng bức xúc hơn; tư vấn nghề nghiệp,

tư vấn học đường… là những lĩnh vực rất cần quan tâm và phải mauchóng tăng cường Các bạn còn thấy có cả tư vấn tâm lý cho người

bị ma tuý nên làm những gì Đúng là những cái chúng ta đang cần

Trong tất cả các loại hình tư vấn tâm lí được đề cập trong cuốnsách này đều nêu rất cụ thể các công việc mà người tư vấn phảilàm Tôi đặc biệt thích thú với các mục giới thiệu kỹ năng tư vấnnhư:

− Kỹ năng thuyết phục,

− Kỹ năng đồng cảm,

− Kỹ năng chia sẻ,

Trang 3

gì, rõ ràng, rành mạch Tất nhiên, từ chỗ đọc đến chỗ hiểu, tiếp thu

và vận dụng… nhất là vào từng trường hợp cụ thể, còn nhiều chuyệnphức tạp đòi hỏi người tư vấn phải rất linh hoạt, uyển chuyển, sángtạo… cho đến việc chấm dứt cuộc tư vấn cũng vậy, cuốn sách cũngbày cách làm rất cụ thể, rất chi tiết

Đọc cuốn sách này, chúng ta còn có dịp làm quen với một sốthông tin về tư vấn tâm lý ở Mỹ, tuy còn sơ sài nhưng cũng thấyđược chủ trương thúc đẩy công tác này là phù hợp với yêu cầu đàotạo cán bộ tư vấn tâm lý ngày càng cao, chúng ta còn thiếu quánhiều, có lẽ tính đến nay từ mọi nguồn số cán bộ này ở ta chỉ đếmđược hàng chục (ở Mỹ đã lên đến hàng vạn và còn phân ngành Tưvấn tâm lý chuyên sâu), như trong sách cho hay Đặc biệt, sách nàycòn cung cấp cho ta một vốn thuật ngữ Anh − Việt với khoảng 300

từ, với khoảng cách rất cần cho những ai tư vấn tâm lý

Tóm lại, đây là một cuốn sách đọc rất dễ hiểu, cụ thể, nhiềuđiều có thể đem áp dụng vào công việc rất thiết thực bổ ích

Nhân dịp này tôi nhiệt liệt chúc mừng và bày tỏ lời cảm ơnThạc sĩ Nguyễn Thơ Sinh đã có tác phẩm đóng góp xây dựng và

Trang 4

phát triển khoa học Tâm lý nước nhà, nhấn mạnh hướng ứng dụng,thực hành, phục vụ con người, phục vụ xã hội.

Chúc tác giả có những thành công mới trong nghiên cứu vàhành nghề Tâm lý học Mong anh tiếp tục hợp tác nhiều hơn với cácbạn đồng nghiệp trong nước Anh thật xứng đáng với câu “Tôi tựhào là người Việt Nam” mà anh đã lấy câu đó làm tiêu đề trong máyđiện tử của mình

Hà Nội 16.8.2006

GS.TSKH PHẠM MINH HẠC

Chủ tịch Hội các khoa học Tâm lý − Giáo dục Việt Nam

PHẦN MỘT LỊCH SỬ NGÀNH TƯ VẤN VÀ NỀN TẢNG BAN ĐẦU

Chương 1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ XU HƯỚNG CỦA NGÀNH TƯ VẤN

1 Dẫn nhập

Tư vấn, không giống những ngành phục vụ sức khoẻ tâm thầnkhác ở chỗ, tư vấn bao gồm chức năng giúp thân chủ phát triển khảnăng thăng tiến của bản thân và chức năng trị liệu ở mức độ rối loạn

hệ thống tư duy

Tư vấn viên làm việc với cá nhân, nhóm, gia đình, hoặc những

tổ chức với những nan đề ngắn hạn và những nan đề lâu dài Côngtác tư vấn nhằm vào mục tiêu giáo dục (education) mang tính năngphát triển đời sống lành mạnh, ngăn ngừa tệ nạn và điều trị những

Trang 5

rối loạn do thiếu khung tư duy trưởng thành, nên ngành này đãđóng một vai trò quan trọng tích cực với an toàn và phát triển của

xã hội

Tư vấn trong những bước khởi đầu lịch sử của ngành không có

tổ chức bài bản mà thường là những tập hợp rời rạc, thiếu đồng bộ.Theo thời gian, ngành này không ngừng lớn mạnh và tự hoàn thiệnthêm Tuy thế, nhiều người nhầm lẫn tư vấn với những loại hìnhgiúp đỡ và hướng dẫn khác Vì thế, tư vấn là một công việc đã mangtrong nó nhiều danh xưng và cả những hiểu lầm không nhỏ, thành

ra người trong nghề và cả dư luận xã hội vẫn có vài ngộ nhận lẫn vềchức năng công tác nghiệp vụ

Có chút kiến thức về lịch sử của ngành tư vấn sẽ giúp tư vấnviên hiểu kỹ hơn về ngành nghề mà họ đảm trách

2 Định nghĩa ngành Tư vấn

Nói theo truyền thống, tư vấn viên – là người lắng nghe vàgiúp đỡ người khác giải quyết một nan đề Tuy nhiên, nhiều chứcnăng và danh xưng đã gây nên những hiểu lầm khi danh từ tư vấnviên được gắn với những sản phẩm, dịch vụ, dẫn đến những lẫn lộnvẫn thường nghe thấy như: tư vấn tài chính, tư vấn hôn nhân, tưvấn tiêu dùng, tư vấn pháp luật, tư vấn du lịch, tư vấn mua sắm…

Tư vấn, tại các nước phát triển, bắt nguồn từ hệ thống hướngdẫn, (guidance systems) và ngược hẳn với tâm lý liệu pháp(psychotherapy) Đấy là chuyện cũ Hôm may, tư vấn gần như cómặt ở khắp nơi, được sử dụng trong những trung tâm có chức nănglâm sàng và chức năng giáo dục sức khoẻ công cộng, các trung tâm

tư nhân và có sự hỗ trợ của Chính phủ, các hội đoàn, các tổ chứckinh doanh có lãi, các trung tâm tôn giáo, hội từ thiện…

Trang 6

Ngành này không chỉ chú trọng đến quá trình thăng tiến vàphát triển lối sống lành mạnh, mà còn góp phần trong trị liệu vớisức khoẻ tâm thần Để hiểu rõ hơn về chức năng tư vấn, thiết nghĩhiểu biết về hệ thống hướng dẫn trong nhà trường (guidance) vàtâm lý liệu pháp (psychotherapy) sẽ giúp chúng ta hiểu được vềngành tư vấn một cách sáng tỏ hơn.

Hướng dẫn giáo dục trong học đường (Guidance): Là một

quá trình giúp đỡ người trẻ chọn ra một giải pháp thích hợp cho mộtvấn đề cần được giải quyết bằng cách đề nghị những việc cần làmrất cụ thể Tính thiết yếu này đã đi vào hoạt động tư vấn qua ngảtìm ra quyết định cụ thể cho một vấn đề Tuy nhiên, cách giúp tronghướng dẫn rất khác với cách giúp trong tư vấn Điểm khác biệt cănbản ở đây: hướng dẫn cho lời khuyên, còn tư vấn chỉ mang tính đềnghị và gợi ý một giải pháp cho thân chủ

Nói khác đi, hướng dẫn giúp người khác tìm ra một chọn lựa cụthể thích hợp bằng cách người được giúp đỡ sẽ nghe theo đề nghịcủa người khuyên Tư vấn, khác hơn và nhiệm vụ của nó là giúpthân chủ tạo ra một sự thay đổi bằng chính khả năng của họ

Hướng dẫn, thường gặp trong môi trường học đường (ở các

nước phương Tây phát triển), khi người trưởng thành làm công táchướng dẫn, giúp trẻ em chọn lựa giải pháp như chọn nghề, chọnmôn học Quan hệ giữa hai bên là một quan hệ không đối xứng Ởđây, người có kinh nghiệm sẽ truyền đạt kinh nghiệm cho ngườithiếu kinh nghiệm Rất giống như trường hợp vai trò của cha mẹ,người lớn trong gia đình hướng dẫn con cái những việc cần phải làm

Vì thế, hướng dẫn là một hình thái giúp đỡ không bao giờ cũ

đi, nó cũng không biến mất trong lịch sử phát triển văn minh củacon người Bất cứ ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng cần đến quá trình

Trang 7

chọn giải pháp cho những nan đề Vì thế con người vẫn cần đến giúp

đỡ Từ lâu là ngành có xuất thân từ hướng dẫn, nên nó chịu ảnhhưởng từ hướng dẫn rất nhiều Giống như hướng dẫn không bao giờ

cũ đi, tư vấn trong bối cảnh hôm nay đáp ứng những nhu cầu thiếtyếu của mọi người cũng không bao giờ trở thành già cỗi

Tâm lý trị liệu (psychotherapy): Khác với tư vấn thông

thường, tâm lý trị liệu (còn gọi là tâm lý liệu pháp) được áp dụng vớinhững trường hợp nghiêm trọng hơn, liên quan đến những lĩnh vựcnội tâm, xung đột tư duy, trạng thái tâm thần, mà mục đích nhắmđến là chữa lành hoặc làm giảm nhẹ những rối loạn thiên về thái cựclâm sàng

Tâm lý trị liệu tập trung nhiều vào những vấn đề nhức nhốicủa quá khứ, những hành vi bệnh lý cần can thiệp bởi nhữngphương pháp chữa trị như thuốc men, chăm sóc y tế… Sự can thiệpcủa chuyên viên như bác sĩ là cần thiết Kỹ thuật chuyên môn củachuyên viên tâm lý trị liệu cao, song họ thường không chú trọngnhiều đến việc tìm hiểu và khám phá cảm xúc, tư duy, và hành vicủa thân chủ - họ thường thiên về những triệu chứng (symptoms)của thân chủ

Bác sĩ tâm thần học (psychiatrist) và tâm lý gia lâm sàng(clinical psychologist) thường là những người có nhiều gắn bó vớitâm lý trị liệu

Tuy nhiên, nhiều học thuyết trong tư vấn có nguồn gốc từ tâm

lý học, nên ứng dụng của chúng có thể được sử dụng cả trong môitường tư vấn lẫn môi trường tâm lý trị liệu

Hai tiêu chuẩn đặc trưng giúp phân biệt sự khác nhau giữa tưvấn và tâm lý trị liệu là:

Trang 8

1 Thời gian kéo dài của quá trình giúp đỡ Với tâm lý trị liệu,thời gian kéo dài hơn (20 - 40 cuộc hẹn, xấp xỉ từ 6 tháng đến 2năm), tập trung vào việc thay đổi lại hệ thống tư duy, vốn dẫn đếnnhững rối loạn cá tính Tư vấn cần ít thời gian hơn (8 đến 12 cuộchẹn, dưới sáu tháng), tập trung vào quá trình xử lý một vấn đềmang tính tức thời trong sinh hoạt.

2 Địa điểm: tâm lý trị liệu xảy ra trong điều kiện nội trú (ởbệnh viện có đội ngũ y tá, (bác sĩ chuyên môn), và tư vấn là ở môitrường ngoại trú

Tư vấn (counseling): Là một ngành chuyên môn vẫn đang gây

những bàn cãi về một định nghĩa chuẩn của nó Tuy nhiên vài điểmsau đây sẽ giúp cho trong quá trình tìm đến một định nghĩa đầy đủ,dựa theo Gladding (2000)

- Tư vấn là một nghề chuyên nghiệp, đòi hỏi phải có đào tạobài bản, có trường lớp

- Tư vấn tập trung vào trợ giúp về vấn đề sống lành mạnh,thăng tiến đời sống quan hệ cá nhân, nghề nghiệp, và những quantâm thuộc lĩnh vực bệnh lý tinh thần

- Tư vấn áp dụng với người có khả năng xử lý tốt và cả nhữngngười có vấn đề về rồi loạn tâm thần dạng nhẹ

- Tư vấn phải dựa trên hệ thống lý thuyết về tư vấn

- Tư vấn là một quá trình phát triển trên bình diện ngăn ngừa(prevention) và can thiệp (intervention)

Tư vấn bao gồm nhiều chuyên môn (specialty) khác nhau đểđáp ứng nhu cầu đa dạng của thân chủ

3 Lịch sử ngành Tư vấn

Trang 9

Dựa vào lịch sử hiện có, ngành Tư vấn ở các nước phát triển làmột ngành tương đối trẻ Trước những năm 1900, tư vấn chủ yếu làcho ý kiến, tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi nhân đạocăn bản cho những người kém may mắn trong thời kỳ Cách mạngCông nghiệp (Industrial Revolution).

Ban đầu, nó được dành riêng cho người trẻ, liên quan đếnnhững chương trình hướng nghiệp và những bài học đạo đức cănbản, như làm điều đúng, sống tốt, tránh điều sai, xa lánh điều xấu

Tư vấn thời gian đầu chủ yếu là cung cấp thông tin và hướng dẫngiáo dục

Cần biết, tư vấn và hoạt động của nó là một quá trình(process) bao gồm những thao tác căn bản cần thiết, vì thế luôn cónhững thay đổi, tự điều chỉnh, nhằm thích nghi với những yêu cầncăn bản của đời sống xã hội vốn luôn có những phát sinh biếnchuyển không ngừng

Năm 19007, Jesse B Davis là người đầu tiên thiết lập một cơ

sở hướng dẫn có hệ thống ở tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ FrankParson, người cho xuất bản cuốn Chọn Nghề (1909), một năm saukhi ông qua đời Cứ thế, tư vấn từ từ phát triển, trở thành một nghề

có mặt khắp nơi, đóng góp những công việc thầm lặng của mình,cống hiến cho xã hội những hy sinh âm thầm trong công việc giúp

đỡ những con người mệt mỏi và quá tải về mặt đời sống tinh thần

Riêng ở Việt Nam, chưa có một thông tin cụ thể nào về điểmkhởi đầu hoạt động chính thức của ngành Tư vấn Lịch sử phát triểncủa ngành Tư vấn ở Việt Nam chưa có một tài liệu nào công bố rõràng về từng bước, từng giai đoạn

Ngày 18 tháng 2 năm 2006, Hội thảo khoa học quốc gia: Tưvấn tâm lý - giáo dục lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển đã

Trang 10

được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Đây có thể nói là một hoạtđộng tích cực, rất có ý nghĩa đối với những yêu cầu cơ bản, rất bứcxúc của đời sống xã hội hiện nay Tất cả có hơn 60 bài tham luậnđược gửi về đã trình bày rất nhiều ý kiến sôi động, phản ánh đượcnhu cầu cấp bách của tư vấn trong bối cảnh bức tranh toàn cảnh.

Dựa vào báo cáo của Hội thảo khoa học quốc gia (2006), tưvấn tâm lý - giáo dục đã được thực hiện trong nhiều năm gần đây,trên các địa bàn, đặc biệt là ở các thành phố (Đinh Phương Duy,2006) Rồi con số các trung tâm tư vấn cứ lớn dần lên và việc cómột cuộc hội thảo cấp quốc gia như thế có thể nói là một bước nhảyvọt rất đáng khích lệ

Một điều đáng chú ý, tư vấn (hay còn gọi là tư vấn tâm lý) làmột ngành phục vụ, đối tượng chủ yếu là con người trong bối cảnhphát triển của xã hội Ngành Tư vấn luôn có mặt, bám sát với nhữngthay đổi và phát triển trên mọi bình diện của tất cả những hoạtđộng của xã hội

Đơn cử, theo kết quả nghiên cứu của TS.Trần Thị Giồng, Th.S

Đỗ Văn Bình và 11 đồng nghiệp, ở thành phố Hồ Chí Minh (2003) cóhơn 50 cơ sở tư vấn tâm lý, hoạt động trên các lĩnh vực: Tình yêu -hôn nhân - gia đình, trẻ em và cha mẹ trong gia đình, sức khỏe,HIV/AIDS, hướng nghiệp, trong đó hơn 60% do cơ quan Nhà nướchay ban ngành thành lập, phần còn lại do các hội, tư nhân, tổ chứctôn giáo… Điều này đã phản ánh được một thực tế: nhu cầu tư vấn

là một nhu cầu rất thực của xã hội Việt Nam ta

Đây chỉ là một ví dụ lấy từ thực tiền được báo cáo Còn chuyện

tư vấn ngoài luồng hoặc tư vấn nghiệp dư luôn tồn tại trong xã hội

là điều tất yếu Vì tính chuyên môn cao của tư vấn, trong lúc điềukiện đào tạo đội ngũ tư vấn chưa được phát triển ở Việt Nam, tình

Trang 11

trạng tư vấn mạnh ai nấy làm tất nhiên là khó tránh khỏi Nhưngkhông mấy ai nhận thức được rằng, tư vấn nếu làm sai, đôi khi gâyhại nhiều hơn làm lợi, có thể gây ra những tác hại hệ lụy lâu dài.

TS Đinh Phương Duy (2006) đã nêu lên những câu hỏi nóngbỏng trong hội thảo là:

- Chuyên viên tư vấn và tham vấn có cần được đào tạo bài bảnhay chỉ cần có kinh nghiệm hay một tấm lòng vì người khác?

- Có cần xây dựng một hệ thống lý luận riêng cho tư vấn,tham vấn tâm lý ở Việt Nam?

Đặc biệt với tổng kết của PGS, TS Bùi Ngọc Oánh (2006),những vấn đề được nêu ra đã tạo nên hướng suy nghĩ cho công tác

tư vấn nước nhà:

1 Xây dựng lý luận về công tác tư vấn, khái niệm tư vấn,tham vấn, tâm lý trị liệu… và sự phối hợp giữa các hình thức trên

2 Quy trình cơ bản của một ca tư vấn

3 Xây dựng các chương trình đào tạo chuyên viên tư vấn

- Xây dựng các quy định về hoạt động tư vấn

- Xây dựng các quy chế, quy định về việc thành lập các trungtâm tư vấn

- Biên soạn các tài liệu, giáo trình, tài liệu về tư vấn

- Nghiên cứu việc quảng bá tuyên truyền cho hoạt động tưvấn

- Nghiên cứu việc định hướng, dự báo kế hoạch phát triển hoạtđộng tư vấn trong tương lai, đặc biệt là tư vấn học đường

Cho đến nay, ở Việt Nam hiện vẫn chưa có hệ thống đào tạo

và có bằng cấp (mang tính đồng bộ) và cấp giấp phép trong lĩnh vực

Trang 12

hoạt động tư vấn Điều này cũng dễ hiểu, nhất là khi so sánh vớicác nước âu Mỹ Điển hình như ở Hoa Kỳ, mãi đến những năm giữathập ký 70 họ mới có hệ thống đào tạo có bằng cấp hoạt động củatiểu bang.

Virginia là tiểu bang đầu tiên (1976) bắt buộc phải có giấyphép hành nghề tư vấn Đến năm 1981, ở Hoa Kỳ mới chính thức cómột hệ thống tiêu chuẩn đào tạo chuyên viên tư vấn có bài bản.Điều này cho phép chúng ta lạc quan khi nhận định rằng ở ViệtNam, vấn đề tổ chức và sắp xếp để tư vấn trở thành một ngànhchuyên nghiệp chỉ là vấn đề nhanh hay chậm của thời gian

4 Những thử thách và xu hướng hiện thời của ngành Tư vấn

Tư vấn là ngành không ngừng phát triển và tự điều chỉnh đểphù hợp với yêu cầu của xã hội Hơn lúc nào hết, xã hội đang đốidiện với những thay đổi lớn lao, như tiến trình toàn cầu hóa, bùng

nổ các dịch vụ tư nhân, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đóng góp

và ảnh hưởng của kỹ nghệ thông tin, đời sống công nghiệp hóa, và

cả những vấn đề đạo đức và nhân sinh quan nóng bỏng khác của xãhội, vốn khó phán đoán trước, chẳng hạn như đô thị hóa, dân số,sức khỏe, lương bổng, và những nhu cầu khác ngày càng cao của xãhội…

Theo GS, TS Phạm Minh Hạc, Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lýgiáo dục Việt Nam: “Giáo dục là phạm trù đi liền với lịch sử tồn tại

và phát triển của loài người, tâm lý nói riêng, tinh thần nói chung làtiêu chí đặc trưng của từng con người và toàn nhân loại Ngày nay,nhất là mấy thập kỷ cuối thế kỷ trước giáo dục và tâm lí con người

Trang 13

được coi là hạ tầng xã hội - hai yếu tố cực kỳ quan trọng góp phầntạo nên sự tiến bộ xã hội”.

Như thế, đội ngũ tư vấn viên có thể nói đã nhìn ra được vai tròcủa mình trong công cuộc xây dựng đất nước và xã hội Nhất là khi

GS, TS Phạm Minh Hạc vạch ra: "Tư vấn tâm lý - giáo dục ở nước ta

có sứ mệnh vẻ vang là động viên mọi người và toàn xã hội, tạo nênmột vốn xã hội - vốn người tốt cùng nhau đoàn kết, bảo đảm ansinh xã hội, ổn định xã hội, góp phần tiếp tục đổi mới đất nước, tạodựng nên một đất nước độc lập, phồn vinh, mọi người được hưởngcác quyền của con người, của mọi công dân."

5 Kết luận

Với trách nhiệm của một tư vấn viên; chúng ta, những conngười góp phần sức lực khiêm tốn của mình nhưng rất có ý nghĩavới xã hội Chỉ khi tìm được ý nghĩa cao cả của công việc hàng ngày

mà mình đang tìm, tư vấn vấn mới có thể bám trụ được với nghềthầm lặng đầy khó khăn này Hy vọng mỗi chúng ta sẽ làm tốt, làmđúng, để xã hội càng ngày càng thêm tin tưởng nhiều hơn vào đónggóp và tinh thần phục vụ của chúng ta - qua chất lượng huy chươngvàng của nghiệp vụ tư vấn với xã hội

Xã hội luôn luôn có những vấn đề đặc trưng muôn thuở Conngười là một sinh thể có liên đới mật thiết trong bức tranh tổng thểquan hệ trong xã hội Không ai sống một mình được Hành vi củamột người luôn có ảnh hưởng đến người khác Tất nhiên hành vi tiêucực sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực Hành vi là kết quả của tư duy vàcảm xúc

Tư vấn viên là người giúp đỡ thân chủ tìm ra chìa khóa trongứng xử lành mạnh, tìm đến những hành vi lành mạnh nhất Chúng

Trang 14

ta được mời gọi vào tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, trongnghiệp vụ tư vấn của mình, ở một thời điểm đất nước đang đối diệnvới những thay đổi rất lớn trong bức tranh toàn cảnh của xã hộitoàn cầu.

vụ tư vấn sẽ chẳng đem lại bất cứ một tiến bộ khả quan nào

Không chỉ hạn chế tác dụng hữu ích của tư vấn, một tư vấnviên yếu nghiệp vụ có thể sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng, vềlâu dài cho thân chủ Vì thế với người muốn bước vào nghề tư vấncần suy nghĩ xem nghề này có thật sự là chọn lựa đúng đắn chomình? Riêng với những tư vấn viên đã bước vào nghề, việc duy trì

để giữ mình mãi là một tư vấn viên có hiệu quả là một trong những

sứ mệnh đòi hỏi của nghề

Để trở thành một tư vấn viên tốt, thiết nghĩ mình phải rõ ràngvới bản thân của mình Theo TS Trần Thị Giồng (2006): “Chúng takhông thể cho những gì mình không có” Cũng thế, tư vấn viênkhông thể giúp cho thân chủ một cách có hiệu quả nếu họ khôngchuẩn bị và được đào tạo cẩn thận

1 Nhân cách và vốn sống của một tư vấn viên

Trang 15

Tư vấn là một nghề đòi hỏi phải thành tâm và có tấm lòng cao

cả Nó thu hút những tâm hồn biết quan tâm, tâm tình cởi mở, thânthiện và nhạy cảm với nhu cầu giúp đỡ con người (Myrick, 1997).Tuy nhiên động cơ và duyên may đến với nghề này của nhiều tư vấnviên đang hành nghề trong xã hội rất khác nhau Những ai muốngắn bó cuộc đời mình với công tác tư vấn phải tự hỏi nếu họ có đủ

tố chất và đam mê; đủ vững mạnh để đối diện với thử thách rấtthực tế của nghề này

Tóm lại, để trở thành một tư vấn viên tốt, những yêu cầu sauđây thường được nhắc đến, theo Gladding (2000):

- Nhân cách và vốn sống

- Giáo dục căn bản của tư vấn viên

- Học thuyết áp dụng và kiến thức về hệ thống tư duy được sửdụng trong công tác tư vấn

- Khả năng tham gia vào những hoạt động liên quan đến côngtác tư vấn (như tham gia hội thảo, diễn đàn, là ủng hộ viên đắc lựccho ngành, tham gia đào tạo thế hệ tư vấn viên mới, và khôngngừng tiếp tục bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ) - không ngừng tiếptục học hỏi

Theo Carkhuff (1969) tư vấn viên và quá trình tư vấn có ảnhhưởng mạnh mẽ đến một cá nhân, vì thế nếu tư vấn không hiệuquả, tất sẽ có ảnh hưởng tai hại lâu dài đến thân chủ

Gladding (2000) đã nói đến nhân cách của một tư vấn viên.Theo ông, chúng ta nên nhắm đến những tiêu chí căn bản từ một tưvấn viên: (1) Trưởng thành (2) Biết thông cảm (3) Cởi mở (4)Thành thực (5) Điềm đạm, không dễ nổi nóng

Trang 16

Tất nhiên không phải ai cũng có những đức tính này Vì thế tưvấn không phải là nghề giành cho tất cả mọi người.

2 Những động cơ tiêu cực lôi kéo người ta vào nghề Tư vấn

Nhiều người muốn trở thành tư vấn viên với động cơ khônglành mạnh Họ không hẳn là người xấu, tuy nhiên quyết định đi vàonghề của họ có ảnh hưởng tiêu cực đến thân chủ và xã hội Witmer

và Young (1996) nêu ra những động cơ tiêu cực hoặc sai lệch củamột tư vấn viên đã mắc phải trong quá trình muốn trở thành một tưvấn viên:

- Có vấn đề trục trặc về mặt tình cảm Khi họ có những khúcmắc tình cảm chưa được giải quyết từ thời thơ ấu hay trong quákhứ

- Họ cô đơn và sống thiếu liên đới với xã hội Họ không có bạn

bè và thường mượn quá trình tư vấn như một thay thế cho nhu cầu

có bạn bè

- Tham vọng có quyền lực Họ là người không thành côngtrong cuộc sống (không nhất thiết phải chỉ có nhiều tiền mới là cóthành công), vì thế họ mong được kiểm soát người khác

- Có nhu cầu tình yêu Họ là những người quá yêu bản thân, cóthái độ tự hào thái quá, tin tưởng rằng mọi khó khăn đều có thể giảiquyết được bằng tình yêu và do chính khả năng của họ Đây là hộichứng muốn mình là anh hùng cứu vớt được cả thế giới

- Họ có thái độ vùng vằng, muốn chống đối cuộc đời một cáchgián tiếp Họ là người có vấn đề về quan hệ cá nhân nào đó, giải

Trang 17

quyết không thoả đáng, nay muốn đem ra để áp đặt lên thân chủtrong quá trình tư vấn.

- Tìm đến sự an nhàn Họ nghĩ rằng nghề tư vấn là nghề chỉngồi văn phòng nói chuyện và đếm tiền

- Tìm danh vọng Họ tin rằng, làm nghề Tư vấn được xếp vàomột danh mục nghề nghiệp quan trọng, cao quý, lịch sự

Hiểu sai như thế sẽ hoàn toàn thất hại Đơn giản vì trở thành

tư vấn nên sẽ không đáp ứng được những khát khao của họ như vừanêu trên Trái lại, tác hại của sự thất vọng sẽ trở thành chất độc,phá huỷ cuộc sống chỉ vì họ có chọn lựa sai lầm Vì thế, tư vấn cầnđược coi như là một tiếng gọi (calling) nhiều hơn là một hứa hẹn vậtchất, địa vị, hay cho những phần thưởng tinh thần, xã hội

Trước khi quyết định chọn vào nghề Tư vấn, nhiều bạn trẻ đãbăn khoăn nếu như mình có đủ những điều kiện tố chất để vàonghề Thật khó xác định cụ thể được điều này Song, một điều cănbản là bạn có đặt tiêu chí muốn giúp người khác làm tiêu chí hàngđầu hay không? Nếu bạn chọn nó vì nghề này cũng hay hay, lúc ấybạn nên cân nhắc kỹ hơn

Con người luôn phát triển qua kinh nghiệm sống nên tư duythay đổi là lẽ tất nhiên Không hẳn là nhân cách (personality) củachúng ta là bất biến Nhân quan (personal view) và quan niệm vềquan hệ giữa người với người sẽ thay đổi khi chúng ta sống nhiềuhơn Tuy nhiên, nhân tố bẩm sinh muốn giúp người vẫn là điều đángquý nhất

Nếu hiểu ở một góc cạnh trong tinh thần nhân văn, chúng ta

có thể tin rằng cụ Nguyễn Du đã rất có lý khi nêu lên quan điểm củaông: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (Truyện Kiều) Nói thế, ta đủthấy tầm quan trọng của ý nghĩa nhân văn trong nghề tư vấn

Trang 18

Dưới đây là những đặc tính cần có của một tư vấn viên hiệuquả, dựa theo Foster (1996) và Guy (1987):

- Hiếu kỳ (curiosity and inquisitiveness): bộc lộ tinh thần quantâm một cách tự nhiên đối với người khác

- Khả năng biết lắng nghe (ability to listen): biết tập trungtheo dõi một cách sát sao, chú ý đến người khác Đây là một vốnquý hết sức cần thiết, vì nó kích thích thân chủ trong việc tham giatích cực vào quá trình tư vấn Thân chủ sẽ chán nản khi tư vấn viênkhông có khả năng lắng nghe tốt

- Tự nhiên với đối thoại (comfort with conversation): khả năngtạo sự cởi mở thoải mái, giúp thân chủ tự tin và giảm thiểu căngthẳng vốn ảnh hưởng đến chất lượng tư vấn

- Đồng cảm và hiểu biết (empathy and understanding): khảnăng liên hệ mình vào hoàn cảnh của người khác, ngay cả chuyệnthân chủ là người khác phái, khác văn hóa, khác biệt về điều kiệnsống, hoàn cảnh sống

- Hiểu biết về tình cảm (emotional insightfulness): khả năngkiềm chế bản thân, có thể đối diện một cách tự tin với những mức

độ cảm xúc khác nhau từ quá trình tư vấn, trưởng thành vững vàng

về mặt cảm xúc

- Phản tỉnh táo nội tâm (introspection): khả năng tĩnh tâm để

tự đánh giá bản thân, suy xét nội tâm, từ đó có thể tự phục thiện,hoàn thiện bản thân

- Khả năng biết quên mình (capacity for self-denial): nghĩ đếnlợi ích của người khác trước, ngay cả trường hợp lợi ích người khácảnh hưởng đến lợi ích của bản thân mình

Trang 19

- Không sa ngã trong tình cảm (tolerance of intimacy): khảnăng kiềm chế trong khi tư vấn với thân chủ khác phái, tránh nhữngcảm xúc thiên về nhục thể thiếu lành mạnh.

- An tâm với năng lực của thân chủ (comfort with power): khảnăng chấp nhận năng lực của thân chủ ở một giới hạn nào đó khikhông tiếp cận trực tiếp Tư vấn viên sẽ không lạm dụng vị trí củamình để lấn lướt, chỉ thị, hướng dẫn sai lệch

- Khả năng biết cười (ability to laugh): cần có tính khôi hàitrong những huống trạng éo le của cuộc sống, biết lạc quan vàkhông quá gò bó Ứng dụng tính khôi hài để giảm căng thẳng vàkhơi dậy tinh thần lạc quan trong cuộc sống

Ngoài ra, một tư vấn viên làm việc có hiệu quả cũng cần đếnnhững khả năng ứng dụng các khám phá khoa học kỹ thuật trongcông tác của mình Họ cần có kiến thức để duy trì cho mình một sựquân bình về tình cảm Chính sự cân bằng trong cuộc sống ấy sẽgiúp họ trở thành tư vấn viên làm việc tốt Cũng dễ hiểu, một tư vấnviên không có cuộc sống ổn định, anh ta sẽ không thể công tác tốttrong quá trình tư vấn với thân chủ Cormiers (1989) đề xuất nhữngtiêu chuẩn rất cần thiết của một tư vấn viên làm việc có hiệu quảnhư sau

- Năng lực thông minh (intellecture competence): khả năng vàtinh thần ham học hỏi, lối suy nghĩ nhanh chóng, nhạy bén, sángtạo

- Sức làm việc (energy): khả năng duy trì hoạt động một cáchnhanh nhẹn, tỉnh táo trong suốt các ca tư vấn và với cơ quan mìnhcông tác

- Khả năng co giãn (flexibility): có thể điều tiết và học hỏi khicông tác tư vấn yêu cầu

Trang 20

- Tinh thần động viên (support): khả năng giúp đỡ, động viênthân chủ trong việc họ tự quyết định và tin tưởng, hy vọng vào cuộcsống.

- Lòng thiện (goodwill): luôn muốn làm việc vì lợi ích của thânchủ, với tinh thần xây dựng, nhằm giúp thân chủ trong việc duy trìkhả năng độc lập

- Tinh thần cảnh giác (self-awareness): kiến thức về bản thân,bao gồm thái độ với cuộc sống, nghề nghiệp, cảm xúc và khả năngphân biệt là kiểm soát được những nhân tố có ảnh hưởng tiêu cựctrên bản thân

Tất nhiên tư vấn viên còn cần có những đức tính khác, tuy nhỏ

bé hơn như trung thành với những tiêu chuẩn cơ bản của phép xửthế Song, đế trở thành một tư vấn viên có hiệu quả, bạn cần liêntục và không ngừng hoàn thiện bản thân Can đảm nhìn nhận nhữngmặt yếu kém để khắc phục Ý thức được những giới hạn của bảnthân cũng là một đặc trưng quan trọng của một tư vấn viên có tráchnhiệm Vì khi ta nhận thức được hạn chế, ta sẽ dễ dàng hơn trongtiến trình tự hoàn thiện, gạt bỏ những thiếu sót chủ quan hạn hẹpcủa mình

3 Duy trì để giữ mình là một tư vấn viên làm việc có hiệu quả

Một tư vấn viên luôn có những khó khăn đời thường như tất cảmọi người trong xã hội Họ có những trăn trở, đôi khi rất bức xúc vànan giải Cuộc sống của họ không hẳn là một cuộc sống bằngphẳng Họ cũng vật lộn với những vấn đề gay cấn như: bệnh tật:cuộc sống, nghề nghiệp, tình cảm, tài chính, gia đình…

Trang 21

Tất nhiên những nan đề này, khôi hài một chút, lại là chất liệugiúp một tư vấn viên xây dựng khả năng đồng cảm với thân chủ tốthơn Nói khác đi, kinh nghiệm song sẽ giúp họ đồng cảm hơn vớinhững nan đề trong cuộc đời của những thân chủ Nói thế, không cónghĩa là kinh nghiệm xử lý của tư vấn viên sẽ áp dụng được cho mọi

cá nhân khác Nên nhớ, kinh nghiệm của tư vấn viên chỉ mang tínhchia sẻ, tham khảo, hoàn toàn không phải là cơ sở cho lời khuyênhay cung cấp giải pháp cho thân chủ

Một tư vấn viên tốt luôn đón nhận những khó khăn trong cuộcsống như bài học kinh nghiệm Họ giữ vững lập trường, sống kháchquan và đối diện khó khăn với tinh thần trách nhiệm Với họ, thấtbại và thành công đều có tính giáo dục trong đó Vì thế họ có thểnhìn thấy, đồng cảm và giúp thân chủ tìm ra những giá trị tích cựctrong cuộc sống

Một bạn trẻ muốn trở thành một tư vấn viên, trước hết bạncần phải hiểu rõ bạn cần từ bỏ và đón nhận một cách có chọn lọc đểgiữ cho bản thân được trong sáng, trung lập

Với tư vấn viên, thân chủ hoàn toàn có lý do riêng của họ vềnhững hành vi và ứng xử Tư vấn viên có nhiệm vụ chí rõ ra nhữnghành vi và ứng xứ của thân chủ sẽ có những ảnh hưởng nào đếnngười khác Như thế, thân chủ sẽ nhìn thấy hành vi và ứng xử của

họ cần được thay đổi để họ biết chấp nhận bản thân họ và tiếp cậnvới người khác một cách có hiệu quả hơn

Để giữ cho mình luôn cân bằng, những biện pháp phòng ngừaxem ra rất cần thiết Tình trạng quá tải thường (overload) là mộtvấn đề phổ biến Tình trạng quá tải có thể hiểu rằng như những mệtmỏi về cả mặt tinh thần và thể xác Khi quá tải, tư vấn viên sẽkhông còn tỉnh táo và minh mẫn trong công tác nữa Để tránh tình

Trang 22

trạng này, tư vấn viên cần có những thú vui trong sáng lành mạnhkhác ngoài phạm vi nghề nghiệp của mình Tìm cho mình những giảitrí lành mạnh Các tác giả Bay và Pine (1980), Pines và Aronson(1989), Savicki và Cooley (1982), Watkins (1983) có vài gợi ý dướiđây giúp tư vấn viên tránh tình trạng quá tải:

- Quan hệ với những cá nhân khác (bạn bè, đồng nghiệp…) cóđời sống lành mạnh

- Công tác và quan hệ với những cơ quan tổ chức có tiêu chílàm việc tích cực

- Luôn giữ chừng mực tương đối với những học thuyết trong tưvấn mình áp dụng Tránh lún ngập quá sâu trong lý thuyết

- Tận dụng tập thể dục để giảm căng thẳng (chạy bộ, tậpyoga, dưỡng sinh…)

- Cố gắng điều tiết bản thân sao cho phù hợp với môi trườnggây ra căng thẳng, tránh những môi trường gây ra căng thẳng

- Tự đánh giá bản thân, nhằm tìm nguồn tác nhân gây ranhững căng thẳng, để có biện pháp thích hợp

- Thường xuyên đánh giá lại quan điểm nghiệp vụ, vai trònghiệp vụ, mong đợi của chính mình, niềm tin và triết lý của mìnhtrong quá trình theo nghề

- Tìm đến tư vấn viên khác, nếu có nhu cầu

- Giữ gìn khoảng cách, không nên liên hệ quá sâu với nan đềcủa thân chủ, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của tư vấnviên Tránh đem nan đề của thân chủ về nhà

- Luôn giữ thái độ lạc quan, yêu mến cuộc sống

Trang 23

Một tư vấn viên hiệu quả sẽ giữ cho hệ tình cảm của mìnhđược ổn định, cân bằng, và khách quan Họ cần cảnh giác và luônsống với những mặt mạnh và cả những hạn chế của mình một cáchthực tế Đó là lời khuyên của Auvenshine và Noffsinger (1984).

4 Đào tạo căn bản cho một tư vấn viên

Ta vẫn thấy nhiều tư vấn viên làm việc có hiệu quả mà khôngqua đào tạo trường lớp kiến thức về quá trình phát triển của conngười và kiến thức về tư vấn Để quyết định xem mức độ cần thiết

về đào tạo như thế nào là đủ, thiết nghĩ nên xem đến mức độ quan

hệ giữa hai người trong quá trình tư vấn

Tạm thời, ba cấp độ của quan hệ trợ giúp gồm: không chuyên

- bán chuyên nghiệp - chuyên nghiệp Mỗi cấp độ đòi hỏi một trình

độ đào tạo khác nhau

Với cấp độ chuyên nghiệp, ca tư vấn thường được hẹn trước,chủ yếu là tìm giải pháp cho nan đề Thân chủ trong tư vấn chuyênnghiệp rõ ràng mong đợi kết quả từ quá trình tư vấn

Với cấp độ không chuyên, ca tư vấn thường không có giờ hẹnnhất định, quan hệ tư vấn chỉ là quan hệ phụ, thân chủ thườngkhông có mong đợi kết quả cụ thể Nói chung tư vấn theo kiểu tiệnđâu làm đó

Cấp độ bán chuyên, các điểm vừa nêu trên nằm ở khoảnggiữa

Không chuyên: ở cấp độ không chuyên, người cung cấp tư

vấn thường là bạn bè, đồng nghiệp, những người không qua đào tạocăn bản trường lớp, những người thiện nguyện, hoặc những người

có lòng vì người khác Họ cũng có những kiến thức và kinh nghiệm

Trang 24

nhất định - nhưng thiếu hẳn kinh nghiệm tư vấn và kiến thức tưvấn Cần biết có kinh nghiệm sống và khả năng tư vấn là hai lĩnhvực rất khác nhau.

Bán chuyên nghiệp: Ở cấp độ này, người cung cấp tư vấn có

những kiến thức được huấn luyện về đặc điểm tính năng trong quan

hệ giữa con người Họ là những người làm việc như cảnh sát, y tá,thầy cô giáo, nam nữ tu sĩ… Họ thường làm việc như: một bộ phậnliên ngành, không hoạt động riêng biệt, hoặc độc lập như một tưvấn viên Họ thường làm việc trong những môi trường có liên hệ đếndịch vụ tư vấn, song họ làm việc dưới sự giám sát bởi chuyên viêncao hơn

Chuyên nghiệp: Ở cấp này, chuyên viên được đào tạo chuyên

môn về cả hướng dẫn đề phòng và can thiệp trị liệu Họ là nhữngngười có chuyên môn và học vị tùy theo chuyên ngành Họ là bác sĩtâm thần, tâm lý gia, chuyên viên tâm lý nhân viên cộng đồng, linhmục, sư ni… Thông thường trong quá trình đào tạo, những chuyêngia này trải qua thời gian thực tập sinh hoặc có kinh nghiệm thuthập được trong lĩnh vực chuyên môn của họ

Những chuyên môn riêng trong tư vấn

Mỗi chuyên ngành trong xã hội đều có riêng những chươngtrình đào tạo chuyên biệt Tư vấn là một ngành độc lập cũng cónhững đào tạo nhằm giúp các tư vấn viên trao đổi, liên lạc, và cộngtác trên bình diện phục vụ mục đích chung trong ngành Thường thì

tư vấn viên liên hệ nhiều nhất với bác sĩ tâm lý học, tâm lý gia, vànhân viên cộng đồng

Bác sĩ tâm thần học (psychiatrist): Là người có học vị bác sĩ,

họ trải qua đào tạo có thực tập trong bệnh viện tại khoa tâm thầnhọc Họ làm việc với những bệnh nhân có vấn đề tâm lý nghiêm

Trang 25

trọng Họ có quyền ghi toa thuốc và thực hiện những phương pháptrị liệu trong bệnh viện Thân chủ của họ được gọi là bệnh nhân ỞHoa Kỳ, họ phải có giấy phép hành nghề của quốc gia và tiểu bang.

Tâm lý gia (psychologist): Hay còn gọi nhà tâm lý, họ tốt

nghiệp với học vị tiến sĩ (Ph.D) Quá trình đào tạo với chương trìnhthực tập có thể ở nhưng trung tâm trị liệu, trường học, hay nhữngtrung tâm trị liệu ngoại trú Ở Hoa Kỳ, mỗi tiểu bang có những quychê riêng đối với việc cấp giấy phép hành nghề cao tâm lý gia.Trong quá trình đào tạo, chương trình học chú trọng đến những khốimôn học: khoa học cơ bản, đạo đức nghề nghiệp, nghiên cứu,phương pháp, thống kê, tâm lý thử nghiệm, sinh học trong hành vi,hành vi với tư duy – cảm xúc, hành vi từ xã hội, hành vi cá nhân,căn nguyên bệnh lý, những vấn đề liên quan

Nhân viên cộng đồng xã hội (social worker): Thường tốt

nghiệp cao học (Master's Degree), hoặc cử nhân (Bachelor) Họ thựctập chủ yếu ở những trung tâm cộng đồng xã hội Một số làm việctại những trung tâm của ban ngành trực thuộc nhà nước Phần cònlại, họ công tác như những tư vấn viên

Giáo dục bắt buộc trong tư vấn chuyên nghiệp

Để trở thành một tư vấn viên chuyên nghiệp, những sinh viên

ở Hoa Kỳ phải hoàn tất chương trình cao học 2 năm với ít nhất 48tín chỉ (semester hours) Nhân viên tư vấn sức khỏe tâm thần đượcyêu cầu hoàn thành 60 tín chỉ, cũng giống như các tư vấn chuyênmôn khác như, tư vấn hôn nhân gia đình, tư vấn cho người nghiện…

Theo ủy ban tiêu chuẩn đào tạo cho tư vấn và giáo dục Hoa Kỳ(CACREP, 1994), giáo dục đào tạo bắt buộc cho tư vấn viên baogồm:

Trang 26

1 Chương trình học cho cao học (master's degreee) tư vấn bắtbuộc gồm 8 khối môn học:

(1) Tiến trình phát triển của con người

(2) Căn bản về văn hóa và xã hội

(3) Quan hệ trong tư vấn

(4) Tư vấn cho nhóm

(5) Thúc đẩy lối sống lành mạnh và tư vấn nghề nghiệp

(6) Đánh giá chất lượng chương trình

(7) Nghiên cứu và thẩm định chương trình

(8) Căn bản chuyên nghiệp trong nghề Tư vấn

2 Thực tập (practicum) trong môi trường có giám sát trực tiếp

1 giờ trên tuần và 1.5 giờ với giáo sư, tổng cộng 100 giờ

3 Thực tập sinh (internship) yêu cầu 600 giờ dưới sự giám sátcủa chuyên viên, ngay sau khi hoàn tất thực tập 100 giờ(practicum), như nêu ở trên

4 Mỗi trường đại học cung cấp đào tạo tư vấn viên cần có ítnhất 3 giáo sư thường trực tại Ban tư vấn giáo dục khoa Tư vấn

5 Lý thuyết và hệ thống căn bản áp dụng bởi tư vấn viên

Học thuyết (theory), theo định nghĩa, là một mô hình, giảithích cặn kẽ nghiệp vụ và thao tác của một tư vấn viên trong quátrình đặt giả thiết về nguồn gốc của một vấn đề và từ đó có giảipháp cho vấn đề đó Nói chung học thuyết trong tư vấn sẽ giúp tưvấn viên liên hệ được nan đề của thân chủ trong bối cảnh đa diệncủa cuộc sống

Trang 27

Một tư vấn viên làm việc hiệu quả sẽ trang bị cho mình mộthọc thuyết cơ bản, như một sườn chính (main frame) trong quátrình đào tạo Sau đó, học thuyết sẽ trở thành kim chỉ nam và triết

lý nghiệp vụ cho công tác tư vấn sau này Học thuyết cũng sẽ giúp

tư vấn viên xác định được nhu cầu của thân chủ

Tương tự, một hệ thống khung tư duy căn bản (basic thinkingsystem) cũng không kém phần quan trọng Tư vấn viên cần tậptrung cho mình một hệ thống căn bản bao gồm những tư tưởng,nguyên tắc, và hành vi phù hợp với nghiệp vụ tư vấn Hệ thống tưduy căn bản này giúp tư vấn viên áp dụng hoàn cảnh cụ thể củathân chủ vào học thuyết mà tư vấn viên đã sử dụng, nhằm xâydựng những kế hoạch tư vấn mục tiêu và quá trình tư vấn cho thânchủ

Học thuyết được thành lập bởi những chuyên viên ưu việt,người đã xây dựng tư tưởng dựa trên kinh nghiệm làm việc của họ.Các nhà sáng lập học thuyết liên tục theo dõi tính thực tế và khả thicủa những tư tưởng mà họ sử dụng để xây dựng học thuyết củamình Tuy nhiên, những nhà học thuyết đều công nhận rằng không

có một học thuyết nào có thể áp dụng và đáp ứng được nhu cầu đadạng và phức tạp của thân chủ Tất nhiên có những học thuyết đượcxây dựng kỹ lưỡng và đầy đủ hơn những học thuyết khác

Tính chất đặc trưng của một học thuyết

Một học thuyết tốt bao gồm 5 đặc tính sau, theo Hansen,Stevic, và Waner (1986):

1 Rõ ràng, dễ hiểu và có thể trao đổi được với mọi người Đấy

là một tổng thể hợp nhất và không có các điểm mâu thuẫn trongcùng một học thuyết

Trang 28

2 Toàn diện, đặc tính này cho phép học thuyết có thể áp dụngđược vào tất cả những hiện tượng khả dĩ có thể xảy ra trong thựctế.

3 Thiết thực, có tính được khám phá, dựa trên mẫu thiết kếcủa học thuyết, áp dụng và thể nghiệm được

4 Cụ thể trong liên hệ với kết quả mong đợi, vì học thuyết chophép người sử dụng để tìm ra kết quả khá quan trong quá trình ápdụng Tính khả thi và ứng dụng của học thuyết

5 Hữu ích cho người sử dụng, cung cấp hướng dẫn cần thiếtcho người muốn kiểm nghiệm và áp dụng

Ngoài ra, một học thuyết tốt cần phải phù hợp với triết lý sống

và nhân sinh quan của một cá nhân Shertzer và Stone (1974) đềnghị một tư vấn viên nên thật sự thoải mái với một học thuyết nhưchuyện mặc quần áo vừa vặn Giống như quần áo, nó có thể sửađổi, cát xén sao cho thật vừa vặn Họ khuyến cáo tư vấn viên nên

sử dụng học thuyết một cách uyển chuyển, linh động

Auvenshine và Noffsirger (1984) cũng khuyên, một tư vấn viênlàm việc hiệu quả là người biết tổng hợp, chọn lọc, áp dụng nhiềuhọc thuyết khác nhau một cách thích hợp với những trường hợpkhác nhau, tuy nhiên cần tôn trọng những đường lối căn bản củanhững học thuyết đang được sử dụng

Tầm quan trọng của học thuyết

Học thuyết là nền tảng quan trọng cho tư vấn có hiệu quả Nómời gọi tư vấn viên trong việc tận dụng một cách có quan tâm vàsáng tạo ở khuôn khổ của học thuyết, giúp thăng tiến mối quan hệtrong tư vấn, phát triển hướng giải quyết và thông cảm giữa haibên

Trang 29

Học thuyết còn cung cấp phương tiện cho quan hệ hai bênđược nảy nở Nó cũng giúp để những nan đề của thân chủ được phơibày Nó còn giúp tư vấn viên trung thành với đạo đức nghiệp vụ vàxác định được vị trí của tư vấn viên trong bức tranh toàn cảnh,trong suốt quá trình tư vấn.

Học thuyết cũng giúp giải thích những gì đang xảy ra trongquan hệ tư vấn Vì thế, tư vấn viên có thể dự đoán, đánh giá, điềuchỉnh, nhằm tăng tính hiệu quả của kết quả tư vấn Học thuyết chophép ứng dụng khoa học được áp dụng trong tư vấn Nó cho phép

tư vấn viên quan sát Học thuyết cũng tạo cơ hội cho tư vấn viên ápdụng những tư tưởng mới của mình vào hệ thống tư tưởng của họcthuyết, tạo nên tính năng động trong sáng tạo Vì thế học thuyếtgiúp giải thích và đem lại sự hòa hợp giữa những gì tư vấn viênquan sát từ thực tế và hệ tư tưởng trong học thuyết

Nói khác đi, học thuyết giải thích tại sao về những thao tác củakhách hàng, vì thế trong quá trình giúp đỡ, tư vấn viên sẽ biết làmnhư thế nào khi trợ giúp thân chủ

Price và Boy (1983) đã nêu ra tại sao một học thuyết tốt sẽhữu ích cho một tư vấn viên:

1 Học thuyết giúp tư vấn viên liên hệ và nắm bắt được tính đadạng của những nan đề trong cuộc sống

2 Học thuyết yêu cầu tư vấn viên giám sát quan hệ trong tưvấn như một nhắc nhở bắt buộc

3 Học thuyết cung cấp tư vấn viên những hướng dẫn xử lýtình huống để họ có cơ sở đánh giá quá trình phát triển khả năngchuyên nghiệp của mình

Trang 30

4 Học thuyết giúp tư vấn viên nắm bắt dữ kiện, và vì thế cóthể biết trước loại dữ kiện nào cần tìm, chủ động hơn trong tácnghiệp.

5 Học thuyết giúp tư vấn viên làm việc hiệu quả hơn với thânchủ trong quá trình điều chỉnh những hành vi tiêu cực

6 Học thuyết giúp tư vấn viên đánh giá lối tiếp cận cũ và mớitrong quá trình tư duy Nói khác đi, một học thuyết tốt sẽ cung cấpnền tảng cho những lối tiếp cận mới với nan đề trong quá trình tưvấn

6 Học thuyết nguyên thủy và tổng hợp các học thuyết

Ban đầu, trong tư vấn, những học thuyết được sử đụng dướihình thái nguyên dạng, và tư vấn viên được yêu cầu phải trungthành với một học thuyết Tuy nhiên, càng gần về sau, ý tưởng vậndụng một cách có chọn lọc và áp dụng các học thuyết khác nhauđang trở nên càng phổ thông hơn

Lazareus và Beuler (1993) cho biết hiện nay ở Hoa Kỳ, từ 60

-70 phần trăm các tư vấn viên tự nhận họ thuộc phái tổng hợp họcthuyết (eclectism) Họ chủ trương sử dụng nhiều học thuyết và ápdụng nhiều kỹ năng khác nhau để áp dụng sao cho phù hợp với từngnhu cầu cá biệt của mỗi thân chủ Một điều cần lưu ý khi sử dụngnhững học thuyết khác nhau, tư vấn viên cần sử dụng học thuyếtsao cho gần gũi và phù hợp với khả năng tiếp nhận và sự lĩnh hộicủa thân chủ nhất

Một trở ngại lớn cho những tư vấn viên mới vào nghề làchuyện họ không nắm vững các thao tác của mỗi học thuyết Đểtránh tình trạng trên, tư vấn viên cần kiên nhẫn với một vài học

Trang 31

thuyết căn bản trước, sau đó từ từ triển khai áp dụng sang nhữnghọc thuyết khác.

7 Hệ thống khung tư duy trong tư vấn

Hệ thống khung tư duy (thinking system) trong tư vấn đượcquy định dựa trên hai cơ sở chính: (1) Tập trung vào tiêu chí của tưvấn là phát triển đời sống lành mạnh; (2) Mục tiêu của tư vấn là tậptrung vào can thiệp, trị liệu đối với rối loạn tâm lý và rối loạn chứcnăng

Để có hiệu quả, tư vấn viên cần đứng ở vị trí trung lập giữa hai

hệ khung tư tưởng trong tư vấn vừa kể ra Đây là việc rất cần, giốngnhư việc họ cần trung thành với một học thuyết (đã nêu ở phầntrên) Nói rõ hơn, hiệu quả tư vấn tùy thuộc vào mức độ tập trungcủa một tư vấn viên đối với quá trình áp dụng thao tác nghiệp vụvào hệ thống khung tư tưởng trong tư vấn - đảm bảo thường xuyêntính trung lập của mình - nghĩa là tránh có thành kiến với lối suynghĩ của người khác

Thiếu hệ thống khung tư duy tư vấn: Nhiều tư vấn viên

không đi theo một hệ thống khung tư duy trong tư vấn thường lạclối và hiệu quả tư vấn, chất lượng tư vấn cũng không cao Họ giốngngười cỡi ngựa chạy lang thang trên cánh đồng, không có địnhhướng

Hệ thống tư duy tư vấn phát triển / đời sống lành mạnh:

Tư vấn viên đi theo hệ thống tư duy này thường tin tưởng vào kinhnghiệm sống và sự phát triển của con người trong bối cảnh củanhững ứng xử và hành động Với họ, những nan đề trong cuộc sống

là vấn đề thuộc về mức độ phát triển của một giai đoạn trong tiếntrình phát triển của con người Và như thế, hành vi của cá nhân ở

Trang 32

một thời điểm có thể sẽ không phù hợp ở một thời điểm khác.Nhiệm vụ của tư vấn viên là giúp thân chủ có hành vi thích hợp vớigiai đoạn phát triển phù hợp với tuổi tác của cá nhân.

Vì thế, khi phỏng vấn lần đầu (initial interview), tư vấn viêncần xem xét nếu thân chủ đã phát triển đến giai đoạn nào và nhưthế những biện pháp ứng dụng sẽ phù hợp với giai đoạn phát triểncủa thân chủ

Với hệ thống tư duy nhắm đến phát triển thăng tiến đời sốnglành mạnh, tư vấn viên phải ý thức được rằng con người vốn sẵn cóbản năng tích cực Nhiệm vụ của họ là khơi dậy trong thân chủnhững nhân tố tích cực, khả năng sống tốt, và các mặt mạnh của

họ Như thế thân chủ sẽ có thêm niềm tin vào bản thân cũng nhưniềm tin vào cuộc sống Sau đó thân chủ sẽ tự tin hơn và có thể tựgiải quyết được những vấn đề của bản thân Nan đề không còn làđiều bí hiểm khó hiểu, song đó là vấn đề cần được khắc phục

Với hệ thống tư duy con người phát triển: Thân chủ đượchướng dẫn để hiểu rõ vấn đề trong hoàn cảnh hiện tại Họ đượccung cấp những kỹ năng cần thiết để xử lý những vấn đề đó Kếtquả nhắm tới là họ không chỉ giải quyết vướng mắc trong hiện tại,nhưng có cả khả năng đối phó với những vấn đề tương tự trongtương lai

Tóm lại, hệ thống tư duy tư vấn phát triển đời sống lành mạnhmang tính ngăn chặn đề phòng, mang tính giáo dục Tư vấn viêngiúp thân chủ hiểu được những mảng liên quan của đời sống conngười Thân chủ vì thế sẽ chủ động hơn nhiều trong quá trình tưvấn, nhất là khi họ xác định được tai trò hoàn cảnh của họ nằm ởđâu trong bức tranh toàn cảnh của cuộc sống

Trang 33

Hệ thống tư duy tư vấn theo mô hình y học / bệnh lý:

Đối ngược với hệ thống tư tưởng phát triển/ đời sống lành mạnh, hệthống mô hình y học/ bệnh lý yêu cầu thân chủ phải được điều trịdựa trên chẩn đoán lâm sàng (Dựa vào bảng phân loại: Diagnosticanh Statistical manual 4th edition DSM IV Đây là một cẩm nangchỉ rõ tiêu chuẩn chẩn đoán những rối loạn tâm thần

Nhiều học giả vẫn có nhiều ý kiến khác nhau mặc dù DSM IV

là một cẩm nang được sư dụng rất rộng rãi Theo họ, cuốn cẩmnang trên không dựa vào một học thuyết nào, chỉ nhắm vào nhữngchẩn đoán cá nhân, hoàn toàn bỏ qua những mảng quan hệ kháccủa đời sống con người, như văn hóa, xã hội, môi trường…

Một lợi thế của DSM IV là, nó cho phép tư vấn viên ghi nhậnmột cách cụ thể hiện trạng của thân chủ Nhất là lối chẩn đoán 5trục (axis) bao gồm những khu vực chức năng hoạt động và tên gọicủa rối loạn tâm thần của thân chủ, điều đó cho phép các chuyêngia khác nắm bắt được tình trạng hiện thời của một thân chủ mộtcách có hệ thống, mỗi khi họ có nhu cầu thảo luận và trao đổi vềbệnh án của thân chủ

Tư vấn theo hệ thống tư tưởng này dễ rơi vào tình trạng gàotên bệnh cho thân chủ Tất nhiên, một khi đã được chẩn đoán, nhất

là chẩn đoán về một rối loạn tâm lý nào đó, thân chủ sẽ chịu mộtảnh hưởng tâm lý khó tránh khỏi do việc mình đã bị/ được chẩnđoán và bị gán cho là có bệnh tâm thần Đây là điều hoàn toàn nêntránh, chỉ áp dụng khi thật cần thiết mà thôi

8 Tham gia những hoạt động liên quan đến tư vấn chuyên nghiệp

Trang 34

Trở thành tư vấn viên là một quá trình phát triển tiếp diễn gắnliền với đời sống và nghiệp vụ, không dừng lại sau khi tốt nghiệpkhóa đào tạo Được cấp chứng chỉ, đấy mới là khởi đầu của mộthành trình phấn đấu không ngừng trong nghề nghiệp Tư vấn viênbắt buộc phải tham gia những chương trình giáo dục tiếp diễn(continuing education) Thiết nghĩ một hệ thống như thế sẽ giúp tưvấn viên có được những đơn vị giờ học (tối thiểu để giúp cho nghềnày được bảo đảm cập nhật), từ những chương trình giáo dục tiếpdiễn Tư vấn viên cần được yêu cầu giám sát Việc này sẽ giúp tưvấn viên cập nhật hóa, đồng thời bảo đảm tính chuyên môn củangành Tư vấn cũng như tăng thêm chất lượng phục vụ cho thânchủ.

Giáo dục tiếp diễn: Một bắt buộc cho tất cả tư vấn viên hành

nghề ở Hoa Kỳ Lý do chính là vì ý tưởng và ứng dụng trong phươngpháp điều trị luôn thay đổi và biến hóa Tư vấn viên không chịu đọc,tham khảo, tham gia những chương trình hội thảo sẽ chóng bị lạchậu về mặt kiến thức chuyên môn Vì thế tham gia giáo dục tiếpdiễn sẽ giúp tư vấn viên nhạy bén với những bổ sung trong nghề vàhiệu quả hơn trong công tác; tránh tình trạng tụt hậu

Vai trò của giám sát: Là tiến trình người có kinh nghiệm

giám sát và giúp người ít kinh nghiệm hơn về những mặt liên quanđến hoạt động tư vấn Người giám sát không chỉ cung cấp nhữngchia sẻ mang tính giáo dục mà cả những kinh nghiệm rút ra từ thựctiễn công tác và cuộc sống Hầu hết những trường đại học cóchương trình đào tạo tư vấn tâm lý cần chú trọng đến công tác giámsát Đây là cách tốt nhất để đào tạo những thế hệ tư vấn tâm lý cóchuyên môn và kỹ năng vững vàng để phục vụ Các tư vấn viênđược cấp chứng chỉ cần nỗ lực và hăng hái trong việc nhận thực tậpsinh mới Đây cần được xem như là một nghĩa vụ cao cả chứ không

Trang 35

nên là một chọn lựa, càng không phải là một ơn huệ, giành chonhững thực tập sinh đang cần có thêm kinh nghiệm.

Ủng hộ viên: Là những hoạt động tư vấn viên giành thời gian

cho công cuộc tư vấn ở cấp địa phương cũng như cấp liên tỉnh, cấpquốc gia Điều này không chỉ có tác động tích cực cho ngành Tư vấn

mà còn có lợi ích cho xã hội nói chung Ủng hộ có nhiều hình thứcnhư: mua sách báo liên quan đến ngành, tham gia viết bài chia sẻkinh nghiệm của mình, đóng góp và tham gia các chương trình phúclợi công cộng, nhằm tạo một hình ảnh tích cực của dịch vụ tư vấnvới xã hội

9 Kết luận

Tóm lại, một tư vấn viên làm việc có hiệu quả là một nhân tốthen chốt trong công tác tư vấn Ngoài những đức tính thiên phúsẵn có, họ còn phải trang bị cho mình kiến thức và được đào tạo hẳnhoi Họ cần tiếp tục quá trình giáo dục và phát triển nghề nghiệp Tưvấn viên cần trang bị cho mình một học thuyết và sử dụng một hệthống tư vấn căn bản

Điều quan trọng nhất mà một tư vấn viên cần ghi nhớ là đàotạo công tác tư vấn không kết thúc sau khi tốt nghiệp và nhận việc.Trái lại, đấy chính là khởi đầu của một quá trình lao động nghiêmtúc với một nghề cao quý Tư vấn viên có kinh nghiệm cần giúp đỡgiám sát những thực tập viên, vì đây không phải là một việc làmdựa trên cơ sở thích thì làm

Tư vấn là một ngành giúp đỡ thật sự Người yêu nghề nhấtđịnh không thể ngồi im để thấy ngành phục vụ của mình không pháttriển Giám sát thực tập sinh là nghĩa vụ của tư vấn viên

Trang 36

Chương 3 ĐẠO ĐỨC VÀ TÍNH PHÁP LÝ TRONG TƯ VẤN

Theo TS.Trần Thị Giồng (2006): lĩnh vực công việc nào cũngđều có những đòi hỏi của đạo đức nghề nghiệp, làm việc với “conngười”, một sinh linh quý giá nhất, chúng ta lại càng phải trân trọngtối đa Để giúp cho những ai đang phải mang trách nhiệm giúp đỡnhững con người đang có vấn đề, nghĩa là họ đang ở trong giai đoạnmong manh yếu mềm, thì chúng ta lại cần sự hướng dẫn hơn cả

"Đạo đức trong Tư Vấn là Trị Liệu" chính là những điều giúp chúng

ta thực hiện công tác phục vụ “con người’”" một cách hữu hiệu?

Từ tinh thần đó, tư vấn viên cần suy nghĩ và lĩnh hội được cáichất nhân văn trong nghề, để từ đó mỗi khi tư vấn cho thân chủ, họcần nghiêm túc cân nhắc xem những trợ giúp của mình có thật sựđem lại lợi ích cho họ không? Đây không chỉ đơn thuần là nghiệp vụ

mà đó là trách nhiệm của chúng ta, những người đã tình nguyệnđến với nghề Tư vấn

2 Khái niệm về đạo đức trong tư vấn

Trang 37

Đối với một quan hệ tư vấn, tính đạo đức trong quá trình tưvấn là một điều quan trọng hàng đầu không thể thiếu được Nguyêntắc của tư vấn là trợ giúp và giải quyết một vấn đề Đây là điểmthen chốt không thể lơ là đối tới bất cứ một tư vấn viên nào Đểgiúp tư vấn viên có một khái niệm rõ hơn về tính đạo đức trong tưvấn, khái niệm tính đạo đức được giới thiệu dưới đây như một thamkhảo cần thiết.

Đạo đức (ethics): Trong tư vấn là thước đo quyết định xem

hành vi của tư vấn viên trong quá trình tư vấn có đúng, có tốt, cólàm sai, làm hại đến thân chủ hay không Nói khác đi, trong quan hệ

tư vấn tâm lý, người nhận dịch vụ tư vấn tâm lý có được đối xử côngbằng và hợp lý hay không? Họ có đạt được hiệu quả trị liệu haykhông?

Một tư vấn viên có kỹ năng và kiến thức chuyên môn, songanh ta không có tính đạo đức trong công việc Với một tư vấn viênnhư thế, chúng ta không thể không dừng lại để hỏi một câu: Anh ta

sẽ làm được gì chứ? Tính đạo đức trong tư vấn, một lần nữa, tinhthần của cụ Nguyễn Du trở nên rất cần thiết để chúng ta suy gẫm:Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (Truyện Kiều) Không có tâm, kỹthuật (tài) có khi gây ra tác hại khôn lường, vì thế cụ còn dạy thêm:

Có tài mà cậy chi tài Chữ tài liền với chữ tai một vần.

(Truyện Kiều)

Đạo đức trong tư vấn khác hơn đạo đức thông thường Tínhđạo đức trong tư vấn đi xa hơn Có thể nói, nó không chỉ ngừng lạikhông làm điều xấu cho thân chủ mà câu hỏi được đặt ra ở đây cho

tư vấn viên đã làm hết sức vì lợi ích của thân chủ hay chưa?

Trang 38

Tính bảo mật (confidentiality): Trước hết tư vấn viên phải

được xác định rõ tư vấn là một ngành dịch vụ rất đặc trưng Thôngtin được trao đổi giữa tư vấn viên và thân chủ là một vấn đề hết sức

tế nhị, và cần được giữ đến độ bảo mật tối đa trong những khuônkhổ cho phép TS.Trần Thị Giồng (2006) nhận định rằng, bí mật lànguyên tắc trong tư vấn

Tư vấn viên luôn đặt an toàn và lợi ích của thân chủ lên mứcquan trọng hàng đầu Thân chủ hoàn toàn có quyền được biết mọi

dự tính và kế hoạch ứng xử của tư vấn viên trong những tình huốngkhi luật pháp xảy ra và quyền lợi của thân chủ có mâu thuẫn, đốingược với yêu cầu của luật pháp

Trong trường hợp thân chủ phạm pháp, tư vấn viên phải tôntrọng quyền của thân chủ trước Không chần chừ, tư vấn viên phảithông báo cho thân chủ biết rằng giải pháp hữu hiệu nhất là cộngtác với cơ quan có trách nhiệm Điều này cần được xúc tiến trongtinh thần đầy trách nhiệm của tư vấn viên Tư vấn viên phải nêu caotinh thần tự giác Thân chủ cần được tư vấn viên giúp để nhận thứcđược tinh thần tôn trọng công lý Tư vấn viên cần làm cho thân chủnhìn rõ rằng tự giác là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân

Nguy hiểm đến tính mạng thân chủ và tính mạng người khác (risk and danger to self and others): Đôi khi thân chủ tiết lộ

những ý tưởng và kế hoạch hành động gây hại đến sức khỏe và tínhmạng của mình (và người khác), tư vấn viên có nhiệm vụ cất tiếngvới những cơ quan hữu trách Tốt nhất, ngay buổi đầu của quá trình

tư vấn (initial interview), tư vấn viên cần giải thích rõ đây là nhiệm

vụ nghề nghiệp, nhằm bảo vệ sức khỏe và tính mạng của thân chủ

và người khác

Trang 39

Quan hệ riêng tư (intimacy): Đôi lúc vấn đề trở nên thật tế

nhị và rắc rối khi tư vấn viên rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.Vấn đề càng trở nên gay cấn và căng thẳng hơn khi thân chủ và tưvấn viên đã có những liên hệ gần gũi, do quá trình tư vấn đã đượcxây dựng sau một khoảng thời gian nhất định nào đó Quan hệ tìnhcảm giữa tư vấn viên và thân chủ là một vi phạm đạo đức trong dịch

vụ tư vấn Vì nó có ảnh hưởng tiêu cực, thiếu lành mạnh đến hiệuquả tư vấn Đây là vấn đề được nghiêm cấm trong dịch vụ tư vấn ởHoa Kỳ

Với tư vấn nhóm (group works): Vấn đề đạo đức trong tư

vấn nhóm là một vấn đề rất tế nhị Vẫn biết khi tư vấn nhóm, việcgiữ cho thông tin và chia sẻ trong quá trình tư vấn ở một nhóm làmột điều gần như bất khả kháng Tuy nhiên, tư vấn viên trongtrường hợp tư vấn nhóm, tư vấn viên có thể rõ ràng trình bày ngaybuổi họp nhóm đầu tiên về vấn đề tế nhị này Hai người nói chuyệntrao đổi với nhau đôi khi đã khó giữ kín thông tin Với nhiều ngườitham gia, nội dung chuyển sẽ càng khó giữ Vấn đề nhiều người ởmột nhóm chia sẻ, trong quá trình tư vấn, nhất định khó tránh khóixác xuất cao hơn khi thông tin bị rò rỉ, lọt ra khỏi nhóm

Những hành vi thiếu tính đạo đức trong tư vấn xảy ra dướinhiều hình thức khác nhau Nói chung, ngoài xã hội có những khókhăn thử thách nào, đội ngũ tư vấn viên đều vấp phải những thửthách cám dỗ ấy Có người vượt qua được, có người không kiềm chếđược những yếu đuối cố hữu của bản thân, cuối cùng sa ngã, tựđánh mất mình

Tư vấn viên cũng là một con người như bao nhiêu cá nhânkhác Họ cũng có những nhu cầu, nguyện vọng, (và tham vọng).Hoàn cảnh cuộc sống đôi lúc vẫn bày ra những cám dỗ trước mặt tưvấn viên, chăng hạn như những rung cảm có thể chuyển sang vụ lợi

Trang 40

trong tình cảm Nhiều tư vấn viên có những hành vi gây ra bóng gió

xa gần của dư luận có hại Nhất là những những nguồn tin được sửdụng ngoài mục đích lương thiện, nhằm phục vụ cho những mưutoan phi đạo đức của những nhóm viên

Quan hệ sai tuyến (dual relationship): Là một vấn đề thuộc

lĩnh vực cần quan tâm Dịch vụ tư vấn là dịch vụ có tính quan hệ trịliệu (therapeutic relationship) Vì thế bất cứ quan hệ nào không dựatrên căn bản quan hệ trị liệu sẽ có ảnh hưởng đến chất lượng phục

vụ Tư vấn viên cần tránh những quan hệ ngoài tuyến như: trao đổihai chiều các dịch vụ, quan hệ tình cảm trái nguyên tắc (dù khôngphạm pháp) song lại phạm đến tính đạo đức nghề nghiệp Tư vấnviên sẽ không làm tư vấn cho người nhà, hay tư vấn cho thân chủ

có quan hệ làm ăn ngoài xã hội với người nhà của mình Tư vấn viênkhông được tư vấn cho bạn bè của mình

Nhiều hành vi phi đạo đức trong tư vấn tâm lý rất xấu và tồi

tệ Nhiều hành vi phạm lỗi nhẹ nhàng kín đáo hơn Dưới đây là mộtvài ví dụ của những hành vi phi đạo đức điển hình do Levenson(1986), Pope và Vetter (1992), và Swanson (1983) đã vạch ra:

- Vi phạm quyền kín đáo, lộ bí mật thông tin của thân chủ

- Nhận những ca tư vấn vượt ngoài khả năng tư vấn của mình

- Cẩu thả và vô trách nhiệm đối với thân chủ

- Quảng bá liều lĩnh, quáng cáo sai nội dung, tự đánh bóngchuyên môn của mình

- Gán ghép và chèo kéo thân chủ tin theo giá trị và triết lýsống riêng của tư vấn viên

- Cố tình tạo điều kiện để thân chủ phải lệ thuộc vào tư vấnviên

Ngày đăng: 03/11/2014, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w