Một số nét văn hoá dân tộc Mường áp dụng trong dạy học phần Ngữ văn địa phương... Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường: ..."Một cành đổ về đất Sạp Nên mường Sạp.. Rượu cần của người Mườ
Trang 106/10/24 1
Trang 2Một số nét văn hoá dân tộc Mường áp dụng
trong dạy học phần Ngữ văn địa phương
Trang 4Sử thi: Đẻ đất đẻ nước ( TiÕng M êng: Te tấc te đác )
Trang 5Theo tác giả Đặng Văn Lung, cho đến thời điểm năm 1988, có khoảng trên
bình là 8000 câu, bản dài nhất là 16000 câu, bản ngắn nhất là 3500 câu Văn bản được biên soạn công phu nhất là văn bản của Vương Anh, Hoang Anh Nhân, Đặng Văn Lung sưu tập (Đặng Văn Lung giới thiệu và khảo dị), nxb KHXH, 1988 Chúng tôi xin giơi thiệu
văn bản này.
Trang 6Toàn văn bản có độ dài 4629 câu, được chia làm 26 rằng (chương, khúc), bao gồm: 1- Mở đầu; 2- Đẻ đất; 3- Đẻ nước; 4- Đẻ cây si; 5-
Đẻ mường; 6 -Đẻ người; 7- Đẻ năm tháng; 8-
Đẻ Dịt Dàng; 9- Đẻ Lang Tá Cài; 10 -Đẻ Lang Cun Cần; 11- làm nhà ở; 12- Tìm lửa nước; 13- Tìm lúa, tìm cơm; 14- Đẻ rượu cần; 15- Tìm lợn gà, trâu bò; 16 -Lang Cun Cần lấy vợ; 17- Đẻ trống đồng và chia ruộng đất; 18- Tìm cây Chu; 19- Chặt cây Chu, kéo Chu; 20- Làm nhà chu; 21- Đốt nhà chu; 22- Săn con Moong lồ; 23- Đánh cá điên, quạ điên; 24 -Đánh ma ruộng; 25- Đánh ma May, ma lang; 26- Đưa nhà vua về Đồng chì Tam quan Kẻ chợ.
Trang 7Thuở ấy, khi đất trời còn hỗn mang, bỗng "mưa dầm mưa dãi" nước ngập mênh mông, 50 ngày sau mới rút hết Tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành cao trọc trời, biến thành ông Thu Tha, Bà Thu Thiên Hai Thần truyền lệnh làm ra Đất, Trời và Vạn vật Sau đó, nắng dữ dội suốt 12 năm liền, mặt đất xơ xác Thần Pồng Pêu ao ước một trận mưa lớn Tức thì mưa to gió lớn suốt chín, mười ngày đêm; hạt mưa to bằng quả bưởi, nước lại ngập bao la Bẩy tháng sau nước rút cạn, có một cây si khổng lồ mọc lên tua tủa
1919 cành Trời sai con Sâu Gang khoét ruỗng ruột cây si
Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường:
"Một cành đổ về đất Sạp
Nên mường Sạp.
Một cành đổ về đất Giạp Nên mường Giạp.
Trang 8Phục dựng và hiện thực hóa sử thi Đẻ đất đẻ nước trong lễ kỉ niệm 125 năm thành lập tỉnh Hoà Bình
Trang 92.Tục ngữ, ca dao
2.1 Ca dao
- Yêu nhau chẳng quản khó nghèo
Non cam cũng nuốt, già bèo cũng ăn
- Yêu nhau không lấy được nhau
Đi qua cửa ngõ ruột đau quằn quằn
Về nhà cơm chẳng buồn ăn
Nước chẳng buồn uống băn khoăn trong lòng
Trang 102.2 Tục ngữ
- Tục ngữ về địa danh và đặc sản:
Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động.
Rau dớn mường Kha ăn ngon hơn
Trang 11II.Văn hoá dân gian
Trang 121 Nhà ở
Người Mường ở nhà sàn đây là kiểu kiến trúc cổ truyền Nhà sàn truyền thống thường được lợp bằng cỏ gianh
Trang 131 Nhà ở
Người Mường ở nhà sàn đây là kiểu kiến trúc cổ truyền Nhà sàn truyền thống thường được lợp bằng cỏ gianh
Trang 142 Ẩm thực
Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ…
Trang 152 Ẩm thực
Trang 16Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và
uống trong các cuộc vui tập thể.
Trang 173.Trang phục
Trang 194 Lễ hội
Thường vào mùa xuân, ở các vùng Mường bắt đầu tổ chức lễ hội, không chỉ để vui chơi mà còn là dịp để bà con thỉnh cầu ước nguyện với trời đất, thần thánh, tổ tiên cho mưa thuận, gió hòa,
mùa màng tươi tốt.Qua các lễ hội
người ta gửi gắm hy vọng vào một
mùa bội thu, một năm mới ấm no, hạnh phúc, bình yên cho cả bản mường
Trang 20Lễ hội cồng chiêng:
Cồng chiêng tham gia hầu hết vào mọi sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng như hội Sắc bùa, lễ cưới, lễ tang, cuộc đi săn, kéo gỗ, mừng nhà
mới, hội xuống đồng, khi thiên tai
Trang 22Lễ khai hạ
Lễ khai hạ (7/ 1 âm lịch) (7/ 1 âm lịch) xóm Cao
( xã Cao Răm – Lương Sơn)
Trang 24Múa sạp
Trang 25Các thiếu nữ Mường đang hát dân ca Mường
Trang 266 Tín ngưỡng
Trang 27thờ cúng tổ tiên
Trang 28Cưới xin
Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia
đình chuẩn bị lễ cưới Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các
bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin
cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti
du) Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng
ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín Trong lễ đón dâu,
cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước Cô dâu mang về nhà chồng thường
là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và
hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác
Trang 29Chuẩn bị cho lễ đón dâu
Trang 30Đoàn đi đón dâu
Trang 31Mâm cỗ cưới
Trang 32Ma chay
Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài
phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống
gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất.
Trang 33Ma chay
Trang 347.Trò chơi dân gian
Trang 35Bắn nỏ:
môn thể thao tiêu biểu cho tinh thần thượng võ của đồng bào dân tộc
Trang 36Đánh mảng
cho các cô gái Mường
Trang 37Đẩy gậy
không chỉ dừng lại ở trò chơi mang tính không chỉ dừng lại ở trò chơi mang tính
chất thông thường, môn này đã được đưa vào thi đấu trong các giải thể thao.
Trang 38Ném còn:
Đối với dân tộc Mường ném còn là trò chơi hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân.
Trang 39III Một số lỗi phát âm, chính tả thường gặp của học sinh THCS tỉnh Hoà
Bình nói chung và trường THCS Cao Răm –
Lương Sơn nói riêng.
Trang 423.Cấu trúc cú pháp
- Thường hay đảo lộn trật tự cú pháp thông
thường
Ví dụ: Hôm nay, trời nắng thật đẹp
thành trời nắng đẹp thật đấy, hôm nay ấy
Vải thưa che mắt thánh ( rắn)
Em bị giun sủa ( quấy)
Trang 434.Thanh điệu
- đồng nhất thanh sắc với thanh
ngã ( trong văn bản nói)
Trang 44CHÚC QUÝ THẦY, CÔ HẠNH
PHÚC THÀNH ĐẠT XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN
Trang 45- KÐo co
- NÐm cßn