*Trong bệnh cúm, ngoài sổ mũi, ngạt mũi ra các triệu chứng toàn thể khá nặng: sốt cao, không đi lại được, không ăn uống được, nhức đầu dữ dội, nuốt đau, cơ thể cũng đau như dần, mặt bệnh
Trang 1Bài 12:
VIÊM MŨI CẤP TÍNH
I Viêm mũi cấp tính thông thường ở người lớn.
Viêm mũi cấp tính hay cảm mạo là một bệnh rất phổ biến, ít ai tránh được
bệnh này Bệnh có tính truyền nhiễm đặc biệt là vào những lúc thời tiết thay đổi, đang nóng chuyển sang lạnh Hiện nay vẫn chưa phân lập được vi trùng cảm mạo nhưng rất có thể nó thuộc về loại virut
Gần đây phát hiện có globulin miễn dịch IgA xuất tiết trong tiết dịch của mũi, chất này giúp niêm mạc mũi, xoang diệt tại chỗ vi trùng và virut
1 Triệu chứng.
Triệu chứng của cảm mạo không có gì lạ đối với chúng ta Thoạt tiên bệnh nhân bị ngứa mũi, hắt hơi, nặng đầu, mỏi chân tay, đau lưng Kế đó nước mũi bắt đầu chảy, lúc đầu trong và loãng, dần trở nên đặc như lòng trắng trứng Bệnh nhân ngạt mũi, nhức đầu, hơi sốt, người mệt mỏi
Khám mũi thấy niêm mạc sưng huyết đỏ, tiết ra nhiều chất nhờn Tiết nhờn dần trở nên đục, lẫn vởi mủ vàng, chất mũi làm hoen ố khăn tay Bệnh nhân vẫn có thể đi lại, ăn uống và làm việc, toàn thể trạng vẫn tốt
Ba bốn hôm sau, bệnh nhân bớt xì mũi, chất mũi cũng bớt vàng rồi ngưng chảy, mũi thông trở lại như cũ
Đó là diễn biến bình thường của cảm mạo nhưng ở một số ít bệnh nhân, bệnh diễn biến không được êm thấm như vậy
Biến chứng thường gặp là viêm xoang hàm, bệnh nhân tiếp tục xì mũi vàng đặc hoặc xanh ngày càng nhiều, kèm theo nhức đầu
Biến chứng thứ hai là viêm thanh quản hay phế quán, bệnh nhân khàn tiếng,
ho khạc ra đờm
Biến chứng thứ ba là viêm tai giữa như đau, chảy dịch ở tai
2 Chẩn đoán và phân loại.
*Bệnh viêm mũi cấp tính rất dễ nhầm với viêm mũi dị ứng và viêm mũi vận mạch Trong viêm mũi dị ứng, nước mũi luôn trong như lòng trắng trứng và có nhiều tế bào ái toan (éosinophile) Trong viêm mũi vận mạch, nước mũi cũng trong và loãng như nước lã nhưng không có tế bào ái toan
*Viêm mũi của các bệnh truyền nhiễm: một số bệnh truyền nhiễm thường hay
bắt đầu bằng viêm mũi hoặc kèm theo viêm mũi
*Trong bệnh cúm, ngoài sổ mũi, ngạt mũi ra các triệu chứng toàn thể khá nặng: sốt cao, không đi lại được, không ăn uống được, nhức đầu dữ dội, nuốt đau,
cơ thể cũng đau như dần, mặt bệnh nhân bị nhiễm trùng
*Trong bệnh sởi, triệu chứng long tiết ở mũi cũng có thường xuyên nhưng luôn có kèm theo đỏ mắt, chảy nước mắt và phát ban
Trang 2Trong bệnh bạch hầu, viêm mũi có thể thứ phát hoặc nguyên phát Trong thể thứ phát chẩn đoán dễ vì có giả mạc ở họng và ở mũi Trong thể nguyên phát, chẩn đoán khó hơn vì giả mạc ở sâu trong vòm mũi họng Vì vậy với một em bé bị viêm mũi kéo dài, người xanh xao, kém ăn, sốt nhẹ (38o ), phải quệt mũi lấy chất xuất tiết gửi đi tìm vi trùng bạch hầu
3 Điều trị:
Vì chưa rõ ngnyên nhân nên điều trị cảm mạo chỉ là điều trị triệu chứng Có rất nhiều loại thuốc sử dụng và mang lại những kết quả khả quan Thực ra cảm mạo là một bệnh để yên rồi tự nó cũng khỏi, chúng ta chỉ nên dùng thuốc khi nào bệnh kéo dài hoặc có biến chứng
Để chống ngạt mũi nên nhỏ êphêdrin 3% vào mũi ngày 4 lần, mỗi bên ba giọt, lúc nhỏ thuốc phải nằm ngửa để đầu thấp Chúng ta cũng có thể cho bệnh nhân hít hơi bạc hà, dầu chính đại, dầu cửu long hoặc xông cồn menthol theo công thức sau đây :
Menthol l0g
Cồn 90o khối lượng vừa đủ để hòa tan
Chống chảy nước mũi có thể tiêm hoặc cho uống atropin sáng l/2mg, chiều l/2mg
Chống nhức đầu nên cho bệnh nhân uống viên aspirin hoặc viên APC hay viên APE (aspirine phénacétine cafeine hay aspimle pyramidon éphédrine)
Muốn chống ho nên dùng sirô húng chanh (rau tần dày lá)
Có thể xông bằng lá hương nhu, tía tô, kinh giới, xả, lá chanh để giải cảm
Phòng bệnh: nên tránh xa những người đang bị cảm mạo Nên mặc áo ấm
ngực, ấm cổ, tránh ngồi ở nơi có luồng gió lạnh thổi qua Đối với những người thường hay bị cảm mạo nên đi khám mũi và điều trị những bệnh ở mũi như vẹo vách ngăn, cuốn mũi quá phát, V.A
.
II Viêm mũi dị ứng và viêm mũi vận mạch.
1 Viêm mũi dị ứng.
Viêm mũi dị ứng hay viêm mũi co thắt thường gặp ở nước ta vì vậy dưới đây sẽ nói nhiều về bệnh này
Niêm mạc mũi là xuất phát điểm của một loạt phản xạ như hắt hơi, chảy nước mũi, giãn mao mạch có nhiệm vụ bảo vệ đường hô hấp trên Ở những người bị dị ứng, sự điều chỉnh các phản xạ này bị rối loạn và xảy ra những phản ứng quá mức đưa cơ thể vào tình trạng bệnh lý
Dị ứng là một phản ứng của cơ thể chống lại những chất lạ đang xâm phạm
vào cơ thể Những chất lạ đó mang tên là kháng nguyên (antigène) và xâm nhập
vào cơ thể bằng đường hô hấp Khi cơ thể bị kháng nguyên tấn công, nó phản ứng
lại bằng cách tạo ra kháng thể (anticorps) để trung hòa kháng nguyên.
Trang 3Sự đấu tranh đầu tiên này không có triệu chứng lâm sàng nhưng trong máu của người bệnh có sinh ra kháng thể, như vậy bệnh nhân bị mẫn cảm (Sensibilisé) Đây là sự phản ứng của cơ thể đối với lần tấn công đầu tiên của kháng nguyên Từ đấy về sau nếu kháng nguyên ấy lại xâm nhập vào cơ thể lần nữa sẽ xảy ra sự đấu tranh kịch liệt giữa kháng thể và kháng nguyên, sinh ra chất histamin, serotonin Các chất này là nguồn gốc của các rối loạn thường thấy ở các bệnh dị ứng
Như vậy dị ứng là một bệnh toàn thân của cơ thể Viêm mũi dị ứng cũng chỉ là một hiện tượng cục bộ của bệnh toàn thân đó
Bệnh dị ứng chỉ có thể xảy ra khi có ba điều kiện sau đây:
- Thể địa: thể địa có tính chất gia truyền và đặc điểm của nó là sự thăng bằng bấp bênh giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm
- Sự thụ cảm của cơ thể vừa nói ở trên Khi kháng nguyên xâm nhập lần đầu tiên vào cơ thể, nó không gây ra triệu chứng lâm sàng của dị ứng vì cơ thể chưa mẫn cảm
- Kháng nguyên: những kháng nguyên do đường hô hấp là: phấn hoa, bột, mốc men, lông súc vật, bông độn gói, bụi xó bếp Những kháng nguyên do đường tiêu hóa là: sứa bể, tôm bể, mắm tôm, dứa, dâu tây, trứng gà, thịt bò… Những kháng nguyên vào bằng dường da là: sơn mài, hắc in, cao su Có những kháng nguyên ít được nghĩ đến như thuốc aspirin, sunfamit, streptomycin, penicilin, huyết thanh chống bạch hầu, huyết thanh chống uống ván
Ngoài những dị chất từ ngoài vào, không nên quên vai trò của những dị chất nội sinh prôtêin do sự chuyển hóa không hoàn toàn của prôtit trong cơ thể hoặc những độc tố vi trùng ở răng sâu, ở amydan viêm những dị chất này cũng có thể đóng vai trò kháng nguyên
a Triệu chứng:
Bệnh viêm mũi dị ứng có hai thể là thể có chu kỳ và thể không có chu kỳ
Viêm mũi dị ứng có chu kỳ: Bệnh xảy ra rất đột ngột vào đầu mùa lạnh hoặc
đầu mùa nóng (ở Châu Âu vào khoảng tháng năm dương lịch)
Đột nhiên bệnh nhân có cảm giác buồn (nhột) và cay trong mũi, lạnh ở trán và nhảy mũi (hắt hơi) từng tràng vài chục cái Đồng thời bệnh nhân bị cay mắt, đỏ mắt và chảy nước mắt Sau cơn hắt hơi nước mũi chảy nhiều làm ướt một lúc vài
ba cái khăn tay Nước mũi trong như nước lã và không làm hoen ố khăn tay
Bệnh nhân thấy nặng đầu, tay chân uể oải khòng làm việc được, tránh ánh sáng, tìm chỗ tối mà nằm Những cơn hắt hơi thường xảy ra vào buổi sáng khi mới thức dậy Trưa hay chiều cũng có thể có những cơn như vậy Tình trạng này kéo dài trong vài ngày đến một tuần lễ rồi đột nhiên biến mất dù có điều trị hay không Mỗi năm vào đúng thời kỳ đó bệnh lại tái diễn Có những người bị như vậy hàng chục năm
Nếu bệnh nhân đổi chỗ ở, ví dụ như sang Châu Aâu hoặc đi du lịch trên tàu biển thì bệnh biến mất nhưng khi trở về chỗ cũ thì bệnh lại tái diễn
Trang 4Soi mũi trong cơn hắt hơi chỉ thấy niêm mạc sung huyết, đỏ, tiết ra nhiều nước, sau cơn hắt hơi niêm mạc trở lại bình thường, bệnh nhân không ngạt mũi Đó là triệu chứng của những cơn viêm mũi dị ứng ngắn hạn
Nếu bệnh kéo dài nhiều ngày, nước mũi đặc lại biến thành tiết nhờn trong đó có nhiều tế bào ái toan (éosinophiles) Nước mũi có thể trong hoặc đục nhưng không làm hoen ố khăn tay Niêm mạc mũi bị phù nề và xám nhạt, cuốn mũi dưới phình ra một cách thường xuyên và mũi luôn bị ngạt
Cuốn giữa bị mọng nước và che kín cả ngách giữa (méat moyen)
Trong giai đoạn này, bệnh nhân thường bị đau trán, nhức đầu làm cho chúng
ta nghĩ đến viêm xoang, nhưng khi chụp X quang hoặc chọc xoang thì kbông có triệu chứng viêm
Trang 5Có một số bệnh nhân không bị đau đầu nhưng đêm đến có những cơn khó thở giống như hen hoặc những cơn ho co thắt
Ơû giai đoạn này niêm mạc chưa hoàn toàn thoái hóa, nếu điều trị tốt nó có khả năng phục hồi được
Mỗi năm bệnh xuất hiện nhiều đợt và ngày càng nặng hơn, kéo dài hơn Niêm mạc mũi dần bị thoái hóa và bị nhiễm trùng vì khả năng tự vệ của niêm mạc bị giảm sút Bệnh nhân xì mũi có mủ vàng thỉnh thoảng bị sốt nhẹ và nhức đầu, mũi
bị ngạt thường xuyên Khám mũi thấy cuốn giữa bị thoái hóa, to phình, xen lẫn pôlyp Đó là những u giả do phù nề dị ứng của niêm mạc trong đó có nhiều tế bào ái toan
Chụp X quang sẽ thấy các xoang bị mờ nhưng khi chọc dò thì không có mủ, đôi khi chỉ có nước vàng Thể này được gọi là viêm xoang dị ứng đơn thuần
Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ: Trong viêm mũi dị ứng không có chu kỳ,
các triệu chứng cũng giống như trên nhưng có hai đặc điểm khác, đó là: bệnh xuất hiện không theo thời tiết, mùa nóng cũng như lạnh lúc nào bệnh cũng có thể xảy
ra Những cơn hắt hơi mất dần tính kịch phát Mỗi cơn, bệnh nhân chỉ hắt hơi độ vài ba cái, nhưng triệu chứng nhạt mũi tăng nhiều và kéo dài Giữa hai cơn hắt hơi, lỗ mũi không hoàn toàn thông như trong thể có chu kỳ Niêm mạc mũi luôn phù nề
vì vậy nó dễ bị thoái hóa hơn thể trên Khám mũi thấy niêm mạc nhợt nhạt, khe giữa đầy pôlyp Chụp X quang sẽ thấy xoang hàm bị mờ
Tiên lượng của bệnh viêm mũi dị ứng không có gì nguy hiểm nhưng nếu tình trạng bệnh kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của người bệnh nhất là khi có nhức đầu ngạt mũi Hơn nữa dị ứng mũi có thể chuyển thành dị ứng phế quản (bệnh nhân hen)
b Chẩn đoán.
Cần phải hỏi tỉ mỉ về tiền sử của người bệnh mới có thể chẩn đoán chính xác được
Bệnh dị ứng có đặc điểm là xảy ra từng cơn nhưng tái diễn nhiều lần Phải hỏi rõ xem người bệnh hắt hơi vào lúc nào, trong điều kiện nào, hắt hơi vài cái hay hắt hơi từng hồi, từng tràng, mỗi ngày mấy cơn Hỏi bệnh nhân có hay bị hen, nổi mề đay, chàm, phù Quinck không Đó là những biểu hiện của thể địa dị ứng Hỏi thêm về tiền sử gia đình như cha mẹ, chú bác, anh em xem có ai bị những bệnh này không
Hỏi xem những thức ăn như trứng, dâu tây, cua bể, mực, tôm có gây dị ứng không
Hỏi nghề nghiệp và điều kiện làm việc của bệnh nhân Các nghề sau thường gây dị ứng: xay bột, sơn mài, sơn xì hóa học, bật bông, buôn giẻ rách, cưa gỗ, làm lông vũ…
Tìm tế bào ái toan trong nước mũi là phương pháp phổ biến để chẩn đoán Quệt nước mũi lên phiến kính rồi đem nhuộm sẽ thấy tế bào ái toan trong trường hợp dị ứng (trong trường hợp viêm cũng có tế bào ái toan nhưng ít hơn, tế bào ái
Trang 6toan trong máu lên đến 7% hoặc 10%) Trong chuyên khoa dị ứng người ta còn làm các các nghiệm pháp khác như chuyển dạng lymphô bào (ở người bình thường TTL lên đến 70%, ở người bị giảm miễn dịch dưới 70%), tìm khả năng cố định histamin của Parrot (ở người bình thường khả năng PHP là 30%, ở người bị dị ứng con số này xuống thấp), định lượng histamin trong nồng độ máu (nồng độ trung bình 10-30g/l huyết tương), làm điện di miễn dịch tìm globulin miễn dịch IgG, IgA, IgM…, thử nghiệm da (testscutanés) với nhiều loại kháng nguyên (bụi trong nhà, nấm, mốc, phấn hoa, lông súc vật …)
Chẩn đoán bệnh dị ứng tương đối dễ nhưng tìm được nguyên nhân gây ra dị ứng rất kho.ù Phải thử nghiệm với tất cả những chất khả nghi để xem chất nào là kháng nguyên gây bệnh
Trong thực tế chưa có phương tiện để làm việc này mà chỉ có thể điều trị thử (tratement d’épreuve) bằng các thuốc chống dị ứng Nếu bệnh dứt cơn thì đó là dị ứng, nếu bệnh không chuyển tức là không phải dị ứng
c Chẩn đoán phân biệt.
Loại trừ viêm mũi cấp thông thường (cảm): bệnh này không có cơn hắt hơi dữ dội và các nghiệm pháp dị ứng cho kết quả âm tính
Loại trừ bệnh chảy nước mũi (hydrorrhée nasale) trong đó nước mũi chảy liên tục, không có hắt hơi
Loại trừ viêm mũi quá phát, bệnh này cuốn mũi phình to, màu đỏ sẫm
Loại trừ viêm mũi vận mạch
2 Viêm mũi vận mạch (Rhinite vasomotrice).
Chúng ta dễ nhầm viêm mũi dị ứng với viêm mũi vận mạch Viêm mũi vận
mạch có những triệu chứng giống như viêm mũi dị ứng như ngứa mũi, hắt hơi từng tràng, cay mắt, chảy nước mũi, ngạt mũi Cơn hắt hơi xuất hiện một ngày vài lần, kéo dài nhiều năm, không lệ thuộc vào thời tiết Nước mũi bao giờ cũng trong Một số tác giả cho rằng hai bệnh này là một Theo ý chúng tôi thì nên tách ra làm hai vì viêm mũi vận mạch có nhưng điểm khác biệt nhau:
- Không tìm thấy kháng nguyên (những kháng nguyên kinh điển như bụi nhà, nấm, phấn hoa, lông xúc vật…) Bệnh nhân thường lên cơn hắt hơi khi bị kích thích bởi ánh sáng mặt trời, luồng gió, mũi cay nồng, xúc động mạnh hoặc không do kích thích nào cả
- Bệnh nhân ngạt mũi nhiều hơn hắt hơi, nước mũi chảy không nhiều, không chảy nước mắt
- Các xét nghiệm cận lâm sàng cho kết quả khác hẳn viem mũi dị ứng như: rất
ít tế bào ái toan trong nước mũi, tỷ lệ tế bào ái toan trong máu không tăng, tỷ lệ chuyển dạng lymphô bào bình thường, khả năng cố định histamin bình thường, định lượng histamin trong máu không tăng
- Sau cơn hắt hơi, bệnh nhân trở lại bình thường ngay lập tức, không bị nặng đầu, uể oải
Trang 7- Bệnh nhân thường bị rối loạn vận mạch ở những nơi khác như hiện tượøng căng ngứa tác ngón tay khi trời rét
Viêm mũi vận mạch là sự thể hiện cục bộ ở mũi của trạng thái thăng bằng bấp bênh giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm Khi điều trị phải ổn định và củng cố hệ thần kinh thực vật
a Điều trị:
Cần nắm vững những điểm sau:
- Bệnh nhân có thể địa dị ứng tức là bị bệnh toàn thân vì vậy những hiện tượng cục bộ ở mũi như gai vách ngăn, vẹo vách ngăn chỉ là những nguyên nhân phụ Các phẫu thuật ở mũi, vòm, họng trong dị ứng sẽ có ảùnh hưởng tốt trong việc điều trị nhưng không hoàn toàn giải quyết vấn đề
Trước khi điều trị dị ứng cần phải xem người bệnh có bị nhiễm trùng toàn thể không Nếu có, phải giải quyết vấn đề này bằng pênixilin, streptomyxin hoặc cloramphenicon Nếu trong người bệnh nhân có những ổ vi trùng như sâu răng, viêm amydan, nên giải quyết ngay
Điều trị dị ứng mũi gồm có ba phần: điều tri cơn bột phát, điều trị cục bộ và điều trị bệnh dị ứng
Điều trị cơn dị ứng bột phát: Khi bệnh bột phát có thể tra vào mũi một trong
những thứ thuốc sau đây: êphêdrln 3%, privin lo/oo, sanorin 0,50o/oo, pômát coctison hoăc dung dịch hydroctison 2,5% Cũng có thể cho bệnh nhân uống một trong những thứ thuốc sau:
- Cồn Benlađon 15 giọt
- Aspirin 1g cùng với quinin 0,20g
- Êphêdrin 3cg và gacđênal l0cg
- Adrênalin lo/oo 15 giọt với đường
- Thuốc chống histamin như: antihistamin, phenergan, multecgan, thiantelles, AH3 uống một hoặc hai viên 25mg
Cũng có thể chặn cơn bột phát bằng cách gây tê hạch bướm khẩu cái (ganglion sphéno-palatin) với thuốc Bônanh (Bonain)
Một số tác giả dùng khí dung (Aérosol) thuốc aleudrine 1% có kết quả tốt
Điều trị cục bộ: Điều trị cục bộ tức là giải quyết cái gai kích thích hoặc làm
giảm độ nhạy cảm của niêm mạc mũi
- Nếu vách ngăn bị vẹo hoặc có gai, mào thì phải làm phẫu thuật xén vách ngăn dưới niêm mạc theo lối Killian
- Nếu niêm mạc mũi quá nhạy cảm, nên bôi axit crômic 3% hoặc glyxerin pha tanin với độ đậm cao dần từ l% đến 10% hoặc kẽm sunfat từ 1% đến 5%, hoặc tiêm hydro coctison vào niêm mạc cuốn mũi dưới, mỗi lần 2ml, tiêm ba lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần lễ Nếu cuốn dưới bị vẩu có thể dùng kéo cong ấn nó về phía ngoài làm cho nó nằm sát vào ngách dưới
- Nếu cuốn dưới bị quá phát, có thể đốt bằng côte điện
Trang 8- Nếu đốt rồi vẫn còn ngạt mũi thì có thể xén bớt phần mềm của cuốn mũi dưới (không được cắt xương của cuốn mũi vì làm như vậy sẽ gây ra bệnh teo mũi) hoặc cắt bỏ hẳn cuốn giữa (cắt toàn bộ cuốn giữa không gây ra teo mũi)
Điều trị bệnh dị ứng:
Phương pháp giải mẫn cảm đặc hiệu (désensibilisation specifique): trước hết là tìm ra đúng kháng nguyên bằng cách làm phản ứng nội bì (cuti-réaction) hàng loạt với những chất khả nghi Khi biết được kháng nguyên, đem chất đó pha loãng với nước muối đẳng trương và tiêm vào da với độ đậm cao dần, ví dụ 1/10.000 dến 1/100
Phương pháp giải mẫn cảm không đặc hiệu (désensibilisation specifique): nếu không tìm được kháng nguyên, có thể dùng những thuốc sau:
- Natri hyposunfit 10% tiêm vào tĩnh mạch mỗi ngày l0ml
- Canxi gluconat 10% tiêm vào tĩnh mạch mỗi ngày l0ml
- Liệu pháp huyết bản thân (autohémothérapie) mỗi ngày một lần, lấy máu ở
tĩnh mạch rồi tiêm vào mông, bắt đầu từ 5ml tăng dần đến l0ml
- Vitamin C tiêm vào tĩnh mạch ngày lg
- A C T H, tiêm vào mông ngày 25 đơn vị quốc tế
- Coctison, uống ngày l00mg hoặc tiêm hydrococtison 2,5% vào cuốn mũi dưới mỗi lần lml, cách 3 ngày một lần; uống pretnisolon 5mg, ngày 3 viên
- Peptòn: uống 0,50g trước mỗi bữa cơm 30 phút
Vacxin tự thân sản xuất từ các vi khuẩn trong dịch của mũi xoang cho kết quả tốt khi dùng dưới dạng khí dung hoặc bơm phun
- Đông y hay dùng lá cà độc dược (datura) thái thành sợi nhỏ đem phơi khô rồi cuốn thành điếu thuốc cho bệnh nhân hút Mỗi khi lên cơn thì hút một điếu, phương phảp này chữa được cơn hen
Điều trị viêm mũi vận mạch:
Dùng các loại thuốc tăng cường giao cảm như: adrenalin, ephedrin hoặc thuốc ức chế phó giao cảm như atropin
Dùng thuốc tăng cường phó giao cảm: êserin, pilocarpin
Phẫu thuật cắt dây thần kinh Vidien ở hố chân bướm hàm hoặc ở trong hố mũi
b Phòng bệnh:
Phương pháp phòng bệnh tốt nhất là tránh kháng nguyên, nguyên nhân gây bệnh Đôi khi bệnh nhân có thể tự tìm ra được kháng nguyên Ví dụ có một bệnh nhân để ý thấy rằng mỗi khi ông ta xóa bảng đen và hít phải bụi phấn thì lên cơn hắt hơi sặc sụa, nhưng nếu dùng giẻ ướt để lau bảng thì không thấy cơn hắt hơi xuất hiện nữa
Với những người hay lên cơn dị ứng về mùa lạnh thì nên tránh mùa rét bằng cách đến sống ở vùng ấm áp Hoặc ngược lại đối với những người không chịu được khí hậu nóng ấm thì nên đến sống ở xứ ôn đới
Một biện pháp phồng bệnh khác là nên hợp lý hóa cách ăn uống và tập thể dục Những người bị dị ứng thường là những người có chế độ ăn uống không cân
Trang 9đối, hoặc quá nhiều chất bột, hoặc quá nhiều chất mỡ Phần lớn những người này
ít vận động, sợ gió, sợ rét, lúc nào cũng mặc thật nhiều áo, quấn khăn thật kín cổ
Làm như vậy là quá mức! Dĩ nhiên chúng ta không phơi mình trần ngoài gió mưa,
rét ướt nhưng cũng không nên như vậy mà cần phải tập cho thân thể chịu đựng được những thay đổi của thời tiết
III Viêm mũi cấp tính thông thường ở trẻ sơ sinh.
Viêm mũi cấp tính ở trẻ sơ sinh diễn biến đặc biệt vì hố mũi của trẻ sơ sinh hẹp, dễ bị tắc, trẻ không quen lối thở đằng miệng Viêm VA thường đi đôi với viêm mũi
1 Triệu chứng.
Khó thở: hai lỗ mũi của trẻ bị tắc vì sung huyết, tiết nhờn Bệnh nhân thở đường miệng khó khăn và có tiếng kêu khò khè Khi bé khóc hoặc giãy dụa có hiện tượng co kéo ở thượng vị và thượng ức
Khó bú: mỗi lần ngậm vú để bú bé lại bị ngạt thở, tím tái hoặc bỏ vú ra giãy dụa và khóc thét lên, hay đi tướt hoặc trớ (nôn) và gầy
Sốt: trẻ sốt vào khoảng 39o, ban ngày thì nằm lịm, ban đêm thì quấy khóc, mẹ phải bế luôn tay; đôi khi sốt cao và lên cơn co giật
Bệnh kéo dài năm, ba hôm thì bắt đầu thuyên giảm, mũi bớt chảy, thở thông, nhiệt độ trở lại bình thường nhưng triệu chứng ỉa chảy và nôn còn kéo thêm một hai hôm nữa
Bệnh này thường gây nhiều biến chứng như: viêm tai xương chũm cấp diễn với hội chứng nhiễm độc thần kinh, viêm phế quản, viêm phổi, apxe thành sau họng Triệu chứng sốt cũng có thể kéo dài, dần đưa đến rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, suy dinh dưỡng
2 Điều trị.
Trước hết phải thông hai lỗ mũi, mũi có thở thông thì sức đề kháng của niêm mạc mới phục hồi và trẻ mới bú được Hút tiết nhờn ở mũi bằng bơm tiêm, đầu có lắp một ống cao su nhỏ độ 3mm
Nhỏ vào mũi êphêdrin 1% hoặc thuốc acgyrôn 0,03g, adrênalin 1% 3g,
nước muối sinh lý 30ml Nhỏ mỗi bên 2 giọt 3 phút trước khi cho em bé bú Tuyệt đối không dùng thuốc có chất cocain và menthol cho hài nhi
Nếu cửa mũi bị nẻ có thể bôi vaselin chống nẻ
Kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh cảm mạo chỉ nên dùng nó khi nào có biến chứng như viêm tai, viêm phế quản
Vào mùa lạnh cần phải để trẻ vào trong phòng ấm áp, tránh gió lùa Tốt nhất là nên đun sôi thường xuyên trong phòng một xoong nước có pha các loại tinh dầu như cồn thuốc ơcalyptus hoặc tinh dầu sả để giữ sức nóng và độ ẩm cần thiết
Trang 103 Phòng bệnh.
Không nên để ngườí lạ bồng bế và hôn trẻ nhỏ
Ở vườn trẻ mỗi khi có trẻ bị cảm mạo phải cách ly bé ngay và nhỏ angyrôn 1% vào mũi, ngày 3 lần cho tất cả những em bé khác
Vào mùa lạnh nên lưu ý không để trẻ bị rét như ăn mặc phong phanh, đi chơi ban đêm
Nên nạo VA cho các trẻ hay bị cảm mạo thường kỳ
IV Viêm mũi đặc hiệu của trẻ nhỏ.
Bên cạnh bệnh viêm mũi cấp tính thông thường của trẻ nhỏ còn có những bệnh viêm mũi đặc hiệu như: viêm mũi lậu, viêm mũi giang mai, viêm mũi vàng chanh, viêm mũi hạch hầu
Trước kia những bệnh viêm mũi này đã từng làm chết hàng loạt trẻ sơ sinh ở những nhà hộ sinh hoặc bệnh viện Ngày nay với những tiến bộ về vệ sinh, sự bố trí chu đáo của phòng hài nhi, kháng sinh mạnh, bệnh viêm mũi không còn làm chết hàng loạt trẻ nữa mà chỉ còn những trường hợp riêng lẻ
1 Viêm mũi lậu.
Vi trùng lậu chuyển từ âm đạo sản phụ vào mũi và mắt của trẻ sơ sinh, gây viêm mắt, viêm mũi sau khi sinh
Bệnh bắt đầu độ ba bốn hôm sau khi em bé ra đời Hai lỗ mùi và môi trên sưng vù; mủ vàng, xanh và đặc chảy từ trong mũi ra Hai hố mũi hoàn toàn tắc tịt Nhiệt độ cao (39 - 40o ) Trẻ không bú được, gầy gò Hai mi mắt sưng mọng, không mở ra được, mủ rỉ ra từ hai khoé mắt, mảng tiếp hợp đỏù và phù nề Xét nghiệm mũ thấy có vi trùng lậu
Điều trị: Hút sạch mũi và nhỏpenixillin (l0.000đv trong 1ml) vào mũi cách 3
giờ một lần Tiêm penicilin(l00.000đv) vào mông
Phòng bệnh: Nhỏ bạc nitrat 1% vào mắt và mũi cho tất cả trẻ sơ sinh ngay khi
lọt lòng mẹ
2 Viêm mũi vàng chanh jannin.
Bệnh xuất hiện độ một tuần lễ sau khi trẻ ra đời Hố mũi bệnh nhân đầy giả mạc màu vàng sẫm, bám chặt vào niêm mạc và lan rộng ra cửa mũi trước, môi trên Đồng thời ở mũi chảy ra một thứ nước vàng và trong như sirô chanh Vài ngày sau niêm mạc mũi bị loét và nước mũi có lẫn máu Trẻ lâm vào tình trạng nhiễm độc nặng, nhiệt độ cao (hoặc thấp 36o), mặt xám chì, tinh thần đờ đẫn Trẻ thường chết vào ngày thứ tư của bệnh
Khi xét nghiệm nước mũi thường thấy có tụ cầu vàng staphylococus, đôi khi có liên cầu streptocus