1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm toán 7

17 295 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng các em học sinh lớp 7 phần lớn các em không làm được các bài toán cơ bản, bởi vì các em chưa nhận thấy được tầm quan trọng của các kiến thức m

Trang 1

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Nội dung đề tài

II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI Chương I Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

1 Cơ sở pháp lí

2 Cơ sở lí luận

3 Cơ sở thực tiễn

Chương II Thực trạng của đề tài nghiên cứu

1.Khái quát phạm vi

2.Thực trạng của đề tài nghiên cứu

3 Nguyên nhân của thực trạng

Chương III- Biện pháp chủ yếu thực hiện đề tài

1 Cơ sở đề xuất của pháp giải

2 Những giải pháp chủ yếu

3 Tổ chức triển khai thực hiện

III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1 Kết luận

2 Đề nghị

Trang1

Trang 2

ĐỀ TÀI : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN BẰNG CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH NẮM VỮNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC BÀI TOÁN CƠ BẢN

I./ PHẦN MỞ ĐẦU :

1 Lí do chọn đề tài :

- Nước ta hiện nay trên đà phát triển về mọi mặt đặc biệt là đang hòa nhập với nền kinh tế khoa học hiện đại Vì vậy một trong điều kiện hàng đầu để đất nước phát triển thì nền khoa học phải phát triển Cho nên đòi hỏi thế hệ trẻ phải có trình độ văn hóa vững chắc và có sự hiểu biết về khoa học của nước nhà Vì thế việc học tập tiếp thu kiến thức khoa học rất quan trọng đối với thế hệ trẻ

Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng các em học sinh lớp 7 phần lớn các em không làm được các bài toán cơ bản, bởi vì các em chưa nhận thấy được tầm quan trọng của các kiến thức mới, vận dụng để giải các bài tập cơ bản Xuất phát từ tình hình đó , qua những năm giảng dạy và học hỏi ở đồng nghiệp , tôi rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân

để có thể truyền dạy cho các em những kiến thức cơ bản để có thể giải quyết được vấn đề

khó khăn ở trên Chính vì vậy tôi mới chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng môn toán bằng

cách hướng dẫn học sinh nắm vững phương pháp giải các bài toán cơ bản”

2 Mục đích nghiên cứu:

Theo quan điểm giáo dục hiện nay “ chống học sinh ngồi nhầm lớp” , nâng cao chất lượng giáo dục giáo dục , mỗi học sinh khi bước vào cấp II phải tìm cho mình một phương pháp học tập thích hợp Vì môn toán là môn quan trọng hàng đầu , song với tính chất là một môn học khó và trừu tượng thường dẫn đến học sinh chán nản bỏ học Để học sinh có ý chí vươn lên , có niềm say mê với môn toán thì giáo viên dạy toán phải có lòng nhiệt tình, tận tụy với công việc , có phương pháp dạy thích hợp cho các đối tượng học sinh Đặc biệt là đối với học sinh yếu môn toán cần làm thế nào để lôi cuốn sự ham thích học toán Đó là mục tiêu nghiên cứu đề tài này

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu:

Đề tài được áp dụng cho học sinh lớp 7 và đặc biệt là các học sinh yếu, được thực hiện trong các giờ luyện tập , ôn tập , ôn thi

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tìm các biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh chú trọng vào việc củng cố kiến thức cơ bản, bổ sung những chỗ hỏng kiến thức cho học sinh từ đó học sinh dần dần hình thành kiến thức mới ,giúp các em có niềm say mê học tập tiến bộ , và biết áp dụng kiến thức trong học tập và cuộc sống

5 Phương pháp nghiên cứu:

Do việc nắm rõ tình trạng học tập của học sinh , nguyên nhân học yếu tôi đã sử dụng các phương pháp :

+ Trực tiếp trao đổi việc học tập của học sinh

Trang 3

+ Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình từng học sinh

- Phương pháp dạy học phát vấn

- Phương pháp trắc nghiệm

6 Nội dung đề tài.

Khảo sát nắm bắt đượcchất lượng học sinh biết được tình hình học sinh yếu môn toán rồi từ

đó đưa ra phương pháp : “Nâng cao chất lượng môn toán bằng cách hướng dẫn học sinh

nắm vững phương pháp giải các bài toán cơ bản”

Chương I cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

1 Cơ sở pháp lý :

Căn cứ vào chủ đề năm học :

- Tiếp tục đổi mới công tác quản lí và nâng cao hiệu quả giáo dục, tiếp tục thực hiện trường học thân thiện học sinh tích cực học tập và rèn kĩ năng sống ,đổi mới phương pháp giảng dạy , ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học

- Tiếp tục thực hiện chỉ thị về cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

- Căn cứ vào công văn số 1008/GD và ĐT về việc tổ chức cuộc vận động

“ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”

- Căn cứ vào bộ “ Chuẩn kiến thức kĩ năng môn toán THCS ” ban hành năm 2006

- Thực hiện dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng của bộ giáo dục ban hành năm 200-2011

- Căn cứ vào việc thực hiện chương trình mới của năm học 2011-2012: Đổi mới phương pháp dạy học bằng sử dụng bản đồ tư duy dạy học

- Từ đó tôi có những biện pháp dạy học thích hợp ,để thúc đẩy phong trào học tập cho các

em đầu cấp

2 Cơ sở lý luận:

- Công ước quốc tế về quyền trẻ em công nhận “Mọi trẻ em trong độ tuổi đi học đều phải đến trường” vì vậy mỗi người lớn và người làm cha mẹ ,làm thế nào để các em thấy được trách nhiệm và quyền lợi của mình mà các em tự giác thực hiện tốt ,đồng thời tạo điều kiện cho các em đi học đều

- Học là quá trình tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức vào cuộc sống

- Bác Hồ đã từng nói “ Một trong những con đường đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu là chúng ta phải làm thế nào diệt được giặc dốt” Vì vậy việc học rất quan trọng

- Đảng và nhà nước ta coi trọng giáo dục là quốc sách hàng đầu , phổ cập giáo dục trung học

cơ sở là mục tiêu trước mắt Nhà trường là nơi giáo dục tốt nhất cho học sinh , ở đây các em không chỉ tiếp thu kiến thức giúp ích cho cuộc sống ,mà còn giúp các em tránh được tệ nạn

xã hội ,hình thành nhân cách cho học sinh

3 Cơ sở thực tiễn

- Dạy học môn toán là nhằm mục đích cung cấp tri thức phổ thông , phát triển nhân cách học sinh Môn toán góp phần phát triển năng lực , trí tuệ , bồi dưỡng đức tính phẩm chất của người lao động như tính cẩn thận ,tính chính xác , tính kỷ luật , phê phán ,

- Môn học toán còn cung cấp cho học sinh những kĩ năng tính toán , vẽ hình , đọc và vẽ biểu đồ , đo đạt ước lượng , sử dụng những dụng cụ hiện đại như : Máy tính địện tử , máy vi tính ,

- Môn toán là một môn học rất quan trọng , đặc thù là một môn học khó ,kiến thức là một chuỗi kiến thức khép kín , Kiến thức trước liên quan đến kiến thức sau Kiến thức sau lại bổ

Trang 4

sung kiến thức trước.Nếu một học sinh bị hỏng một kiến thức nào đó thì dễ gây chán nãn trong việc học

- Mặt khác môn toán là cơ sở giúp cho các em học tốt các môn khác như : Lý ,hoa ,

sinh , chính vì vậy để nâng cao chất lượng học tập, giáo viên dạy môn toán phải làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng của môn toán trong cuộc sống Muốn nắm bắt được khoa học kỹ thuật ta phải học thật nhiều.Từ đó các em thấy học bây giờ là quan trọng nhất

Chương II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGUYÊN CỨU

1.Khái quát phạm vi :

Đề tài được áp dụng cho học sinh lớp 7 đặc biệt là các học sinh yếu, được thực hiện trong các giờ luyện tập , ôn tập , ôn thi

2.Thực trạng của đề tài

- Trong những năm gần đây, tình hình học sinh học yếu môn toán chiếm tỉ lệ khá cao Các

em cảm thấy chán nản khi học môn học này bởi nhiều lý do khác nhau Đây là vấn đề mà hầu như các giáo viên giảng dạy bộ môn toán đều quan tâm và trăn trở làm thế nào để chất lượng môn toán được nâng lên và làm thế nào để các em yêu thích môn học này

- Chúng ta đã biết môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, để học tốt bộ môn này đòi hỏi các em không những chăm học mà cần phải biết tư duy sáng tạo Do trường nằm ở một vùng có nền kinh tế tương đối khó khăn, cha mẹ các em chủ yếu làm nghề nông nên chưa có

sự quan tâm, giúp đỡ các em trong việc học Bên cạnh đó các em ngoài việc học trên lớp thì

về nhà các em phải phụ giúp gia đình trong công việc như làm ruộng, chăn bò vốn thời gian học của các em đã ít nay càng ít hơn Nhưng khi các em đầu tư cho việc học của mình thì nguồn tư liệu giúp các em trong công việc học tập cũng có nhiều hạn hẹp Thầy cô, bạn

bè ở xa nhà có những vấn đề khó khăn trong việc học, những vấn đề các em chưa hiểu, chưa rõ các em lại cũng không biết hỏi ai Vốn đã học yếu nay lại càng học yếu hơn Thực tế cho thấy qua khảo sát chất lượng môn toán ở khối 7 đầu năm cụ thể như sau:

3 ) Nguyên nhân th ực trạng :

Bản thân tôi tìm hiểu , phân tích thấy nguyên nhân là chất lượng học sinh học toán chưa cao

a)Nguyên nhân chủ quan:

- Do các em không chịu khó học bài và đọc bài nghiên cứu ở nhà khi đến trường các em không chú ý nghe giảng bài , hay làm việc riêng Kiến thức môn toán ở các lớp dưới học sinh bị hỏng nhiều Việc kèm cặp học sinh của giáo viên còn hạn chế

Trang 5

- Do thời gian của tiết dạy có hạn, đối tượng học sinh yếu kém lại đông Từ đó các em mất căn bản dẫn đến chán nãn việc học

- Phần lớn các em là lười học

b) Nguyên nhân khách quan :

- Đa số các em ở vùng nông thôn , nền kinh tế gia đình còn khó khăn ,các em phải phụ giúp kinh tế gia đình như chăn bò , cắt cỏ , chăm sóc em nhỏ ,…

- Phần lớn gia đình chưa quan tâm đúng mức đến việc học ở nhà của con em , nhiều gia đình khoán trắng việc học tập của con em cho nhà trường Ngoài giờ học ở trường gia đình không quản lí được việc ở nhà Nên các em chơi lưu lỏng không có ý thức tự học tập , từ đó dẫn đến chất lượng môn toán chưa cao

Chương III BIỆN PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIÊN ĐỀ TÀI

1.Cơ sở đề xuát các giải pháp :

- Mục tiêu của môn toán trường THCS phổ thông : Dạy học môn toán phaỉ nhằm mục đích là đào tạo con người mà xã hội cần.Mục tiêu của giáo dục THCS:

+ Làm cho học sinh nắm vững tri thức toán phổ thông cơ bản thiết thực

+ có kĩ năng thực hành

+ Hình thành ở học sinh các phẩm chất đạo đức và các năng lực cần

thiết Qua các năm giảng dạy toán khối 7 THCS tôi nhận thấy rằng:

+Học sinh gặp nhiều khó khăn khi giải một bài toán, cho dù đó là những bài toán đơn giản và tương tự như một bài toán mà giáo viên đã chữa cho học sinh tại lớp

+ Phần lớn không nhớ kiến thức cũ đã học các bài trước, nếu có nhớ kiến thức cũ thì các em không thể vận dụng kiến thức đó vào trong bài tập Vì lý do đó, tôi cần phải cho các em các phương pháp vận dụng vào việc giải bài tập

2) Những giải pháp chủ yếu:

Từ thực trạng nêu trên , kết hợp với kinh nghiệm dạy nhiều năm , bản thân tôi đề ra một

số giải pháp chủ yếu sau :

- Giáo viên phải xác định rõ mục đích, phương pháp dạy cho các đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu

- Giáo viên dạy cần chuẩn bị một tâm lí thoải mái , vui vẻ , cần phải nhẫn nại , cần quan sát ,tìm hiểu tâm lí và hoàn cảnh của các học sinh

- Giáo viên có thể dựa vào đặc trưng của môn toán mà đưa ra những phương pháp dạy học tích cực:

Dựa vào mục tiêu của môn toán :

- Ứng dụng kiến thức , kỹ năng kỹ xảo

- Củng cố kiến thức , kỹ năng kỹ xảo

- Kiểm tra kiến thức

Dựa vào nguồn gốc cung cấp kiến thức và tri giác thông tin :

- Phương pháp dùng lời

- phương phương pháp trực quan

Trang 6

- Phương pháp thực hành

Dựa vào đặc trưng học toán của từng học sinh giáo viên dạy cần:

- Giải thích minh họa

- Tái hiện

- Trình bày nêu vấn đề

- Tìm tòi từng phần

- nghiên cứu

Từ đó đưa ra các giải pháp :

a)Về tâm lí : Do chất lượng học sinh trong lớp không đồng đều ,phần lớn học

sinh yếu kém nhiều , nên các em thường có ý nghĩ mặc cảm , tự ti , chán nãn trong việc học , khi học trong lớp các em thường rụt rè , tỏ ra né tránh việc học.Nên giáo viên dạy cần phải

tế nhị dịu dàng khuyên bảo cho học sinh , khi học cần phải gây hứng thú, cảm giác thích học cho học sinh qua những bài toán thực tế đồng thời tuyên dương những học sinh học tập tiến

bộ , làm cho học sinh thấy được sự cần thiết của bộ môn toán

b)Về phương pháp

Giáo viên cần nắm rõ được từng đối tượng học sinh , phân loại học sinh:giỏi khá, trung bình , yếu kém từ đó có phương pháp dạy học tích cực

c) Về kiến thức: Dựa vào trình độ của học sinh , giáo viên dạy cần xác định rõ mục tiêu

cách truyền đạt kiến thức của mình

* Nhiệm vụ của giáo viên: :

- Giáo dục cho học sinh nắm được kiến thức cơ bản

- Hướng dẫn cách giải

- Đôn đốc các em học bài

- Làm bài tập về nhà

- Khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động thực hành để vận dụng kiến thức đã học vào giải bài tóan thực tế

- Giáo dục học sinh các đức tính tốt, học hỏi , chăm ngoan, phấn đấu trở được các thành tích trong học tập một cách tốt nhất

* Chuẩn của học sinh

- Kế Hoạch Học Tại Lớp:

Đặt thù của môn toán cần có một nền tản kiến thức cơ bản đến nâng cao Các kiến thực kết hợp chặt chẽ, có hệ thống logic và phải có phương pháp vận dụng kiến thức; kết hợp với kiến thức đã học thì các em phải sáng tạo, tìm ra nhiều bước giải, phương pháp giải khác nhau,

để tìm ra lời giải của một bài toán

- Để học tốt các em phải chuẩn bị bài, học thuộc các kiến thức của bài cũ

Trang 7

- Thực hiện các bài tập giáo viên cho trên lớp, dầu tư suy nghĩ, tư duy các câu hỏi của giáo viên

- Tập trung nghe giảng, hăng hái phát biểu, để hiểu rõ được trọng tâm của bài học

- Sau mỗi bài học và mỗi chương học sinh tự vẽ hình thành một bản đồ tư duy để nắm được kiến thức của bài hiểu nhớ kiến thức sâu hơn

- Rèn luyện tính kiên trì, nhẫn nại khi đầu tư suy nghĩ học và giải bài tập; rèn luyện kỹ năng giải toán từ các bài toán đơn giản cho đến các bài toán cao hơn

Ví dụ 1: Dạng baì nhân chia số hữu tỉ

Ở bài này thì kiến thức cần nhớ :

Với x =

b

a

, y =

d

c

ta có :

d b

c a d

c b

a y x

c b

d a c

d b

a d

c b

a y

x

:

12

7 đối với học sinh yếu thì giáo viên cần tạo sự chú ý như: (-2) viết dưới dạng phân số được không? Từ đó giáo viên gọi học sinh khá hơn giải thích nếu học sinh yếu không giải thích được

* Bài tập:

5

3 16

33 : 12

11

Giáo viên gọi học yếu nêu lên phương hướng giải (phép tính nào trước)? Ơ đây học sinh có

sự sai lệch khi xác định làm pháp gì trước; “nhân – chia trước”, cần cũng cố ngay cho các em

là làm các phép toán trong dấu ngoặc trước rồi lấy kết quả nhân với phân số cuối

* Bài tập:

5

4 : 7

4 3

1 5

4 : 7

3 3

2

Khi các em gặp bài này rất phân vân không biết làm như thế nào, vì đây là bài tóan tổng hợp

có đủ 4 phép toán

Giáo viên cho học sinh nhận xét từng phần trong biểu thức

5

4 : 7

3 3

2

và biểu thức

5

4

:

7

4

3

1

, các em có nhận xét gì về sự giống nhau và khác nhau?

Trang 8

Chắc chắn rằng hoc sinh yếu vẫn trả lời được là giống nhau là 2 biểu thức cùng chia cho

5 4

Từ đó giáo viên cho gọi học sinh nhắc lại tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng, khi đó ta có thể làm bài này như thế nào?

5

4 : 7

4 3

1 5

4 : 7

3 3

2

=

5

4 : 7

4 3

1 7

3 3

2

Giáo cho học sinh nhận xét về biểu thức trong ngoặc, các phân số như thế nào? Học sinh yếu trả lời được ngay có hai phân số cùng mẫu là 3 và hai phân số cùng mẫu là 7 Từ đó nhóm các phân số có cùng mẫu để tính và lấy kết quả đó chia cho

5 4

* Nhận xét :

Qua các ví dụ trên ta thấy đối với học sinh yếu thì các em không có khả năng nhận xét một cách tổng quát mà có thể nhận xét từng phần nhỏ; tiếp theo giáo viên hướng dẫn cho các em kết hợp kiến thức đã học, cách giải hợp lý, từng phần Hướng dẫn chậm để các em ghi nhớ các bước giải, bước đầu hình thành kỹ năng giải toán

Ví dụ 2: Lũy thừa số hữu tỉ

* Về kiến thức: các công thức lũy thừa thì giáo viên cho học sinh yếu nêu lại và ghi lên bảng

* Củng cố và vận dụng kiến thức vào giải bài tập:

Giáo viên cho nhiều ví dụ trên bảng; cho học thực hiện thảo luận nhóm để tính (trong đó mỗi nhóm đều có học sinh giỏi để có thể hội ý, trao đổi, thảo luận để tìm lời giải)

Mỗi bài tập trên bảng thì giáo viên gọi hai hoặc ba học sinh yếu vừa thảo luận ở nhóm cùng thảo luận giải 1ại bài toán trên bảng

* Nhận xét:

Tạo cho các em khắc sâu kiến thức vì đã qua hai lần thảo luận; thảo luận lần 1 thì trong nhóm có học sinh giỏi hướng dẫn cách giải; thảo luận lần 2 làm trên bảng chỉ có những học sinh yếu vừa nhớ lại các bước làm vừa trình bày bài giải đầy đủ ý

Khi tính giá trị biểu thức : A= -5,13:(5 5 1 1, 25 18 16

28 9  36)

GV nên cho học sinh hình thành sơ đồ tư duy :

Trang 9

Ví dụ 3: Hai tam giác bằng nhau

* Về kiến thức: học sinh nắm được các bước chứng minh hai tam giác bằng nhau

* Về kỹ năng giải bài tập:

Trường hợp: c.c.c

Hai cạnh tương ứng bằng nhau

Hai cạnh tương ứng bằng nhau Hai cạnh tương ứng bằng nhau

- Hình thành cho các em nhận biết được các cạnh tương ứng bằng nhau

(có các ký hiệu giống nhau); nếu các em không xác định được các cạnh tương ứng

bằng nhau thì không thể chứng minh được

* nếu hình hai tam giác nằm ở vị trì bất kỳ

Trang 10

Sau mỗi bài học giáo viên cho học sinh vẽ hình thành bản đồ tư duy chẳng hạn

Bản đồ tư duy bài trường hợp bằng nhau thứ nhất của tam giáccạnh–cạnh– cạnh

Trường hợp c.g.c

Cần khắc sâu l Định lý: “Nếu hai cạnh và góc xen giữa của tam giác này bằng hai

cạnh và góc xen giữa của tam giác kia thì hai tam giác đó bằng nhau.”

Điều quan trọng là trong hai tam giác các em xác định đúng góc xen giữa hai cạnh tương ứng để chứng minh

A

'

B

'

C

Ngày đăng: 30/10/2014, 04:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w