Giáo trình giáo dục học
Trang 1lý luận chung về giáo dục học
1 Giáo dục học là một khoa học
1.1 Giáo dục học là một hiện tượng xã hội đặc biệt
1.1.1 Hiện tượng giáo dục
Con người sinh đẻ, trưởng thành đều diễn ra trong xã hội, thực hiện các mối quan hệ xã hội nhất định
Con người muốn tồn tại, phát triển không những chỉ tham gia vào các quan hệ xã hội
mà còn tham gia vào lao động để tạo ra nguồn sống và của cải thế giới xung quanh, dần dần tích luỹ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động để chinh phục thiên nhiên
Từ đó làm nảy sinh nhu cầu:
1.1.2 Chức năng của giáo dục
Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội và được tổ chức đặc biệt cho thầy, giáo dục có 2 chức năng quan trọng:
- Đời sống tinh thần và vật chất đạt trình độ hiện đại, trong đó mọi người có đời sống chính trị, văn hoá, đạo đức có ý thức xã hội, có hành vi cá nhân đảm bảo tốt các mối quan
hệ xã hội đối với tổ quốc và cả cuộc sống lao động, sinh hoạt đời thường của mỗi cá nhân
Trang 2Như vậy, rõ ràng là giáo dục đào tạo tham gia, góp phần có tính quyết định vào việc
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là thúc đẩy nền kinh tế xã hội Đó là chức năng kinh tế của giáo dục Giáo dục được nhận thức như là một đòn bẩy cho sự phát triển kinh
tế, xã hội
1.1.3 Tính chất của giáo dục
a Tính phổ biến và vĩnh hằng: Điều này nói lên rằng ở đâu có con người thì ở đó có
giáo dục, nó diễn ra trong toàn bộ cuộc đời của mỗi con người Giáo dục phát triển gắn bó cùng với loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người
b Tính lịch sử: ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội loài người giáo dục cũng chịu sự
quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phát triển của mỗi giai
đoạn trên tiến trình vươn tới đỉnh cao, mặt khác nó cũng tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử
c Tính giai cấp: Sự phân chia xã hội thành giai cấp đã làm cho xã hội mang tính giai
cấp Giáo dục được sử dụng như một công cụ của giai cấp cầm quyền để duy trì bảo vệ quyền lợi của mình thông qua mục đích - nội dung - phương pháp giáo dục
d Tính dân tộc: Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có một truyền thống lịch sử, có nền
văn hoá riêng Giáo dục ở mỗi nước phản ánh trình độ phát triển của lịch sử nước đó và có những nét độc đáo bản sắc riêng thể hiện trong N - P và trong sản phẩm giáo dục của mình
1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của giáo dục học nghề nghiệp
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của GDH và GDHNN
Mỗi một khoa học đều có:
- Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống khái niệm
- Phạm trù và phương pháp nghiên cứu
Giáo dục học là một khoa học có đối tượng nghiên cứu là quá trình giáo dục với tư cách
là một quá trình xã hội hình thành và phát triển nhân cách con người, tổ chức chỉ đạo một cách có ý thức và mục đích
Cụ thể là nghiên cứu để xác định bản chất quy luật giáo dục các mối quan hệ có tính quy luật trong quá trình giáo dục Xác định những con đường phù hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
và phát triển nhân cách con người được đào tạo
Trong bốn thập kỷ vừa qua ở nhiều nước đã xuất hiện cơ sở khoa học và giáo dục học nghề nghiệp, đã xuất bản nhiều tài liệu và giáo dục học nghề nghiệp, như vậy giáo dục học nghề nghiệp đã phát triển thành một khoa học độc lập và nghiên cứu, phát hiện các mối quan hệ có tính quy luật (các quy luật riêng) là xuất hiện đặc trưng riêng, có khách thể nghiên cứu của nó là phạm vi xã hội "giáo dục nghề nghiệp" Giáo dục học nghề nghiệp đã thừa hưởng những tư tưởng và kinh nghiệm của giáo dục mói chung và bộ phận nói riêng này và quan hệ giữa chúng như các đặc thù, cái riêng với cái chung
Trang 3Quá trình giáo dục
Giáo dục học nghề nghiệp Quá trình lao động
(Nghề) Thuật ngữ "Giáo dục nghề nghiệp" nghĩa rộng: bao hàm mọi bậc đạo tạo;
nghĩa hẹp: chỉ đào tạo nghề Tóm lại, giáo dục học nghề nghiệp có đối tượng nghiên cứu là quá trình giáo dục đào tạo nghề nghiệp, nghiên cứu các quy luật, các mối quan hệ trong quá trình này từ việc xác
định:
M - N - P - PT - TC - ĐK - HĐ - KQ
1.2.2 Nhiệm vụ của giáo dục học nghề nghiệp
Nhiệm vụ: nghiên cứu các quy luật của quá trình giáo dục nghề nghiệp và sự xâm nhập giữa giáo dục học nghề nghiệp với các khoa học khác Từ đó đưa ra các hướng dẫn có cơ sở khoa học để cải biến thực tiễn xã hội
Cụ thể giáo dục học nghề nghiệp thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích thực tế giáo dục nghề nghiệp, phát triển mâu thuẫn của nó để tìm ra các mối quan hệ bản chất và có tính quy luật của quá trình giáo dục học nghề nghiệp với mục đích xây dựng nên một "Mô hình lý thuyết" giúp ích cho nghiên cứu và giảng dạy, cải biến thực tiễn về giáo dục - đào tạo trong giáo dục học nghề nghiệp hiện nay
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa M - N - P - PT - TC - HĐ từ đó vạch ra con đường thực hiện mục đích giáo dục, đưa ra các định hướng, hướng dẫn có cơ sở khoa học để tổ chức quá trình giáo dục học nghề nghiệp:
Ví dụ như việc xác định mục đích, nội dung dạy học và những nhiệm vụ cụ thể (cả tầm vĩ mô và vi mô)
- Nghiên cứu hoạt động của giáo dục nghề nghiệp bao gồm hoạt động của giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo, đồng thời nghiên cứu cả người được giáo dục, nghiên cứu những
đặc điểm yêu cầu của nhà giáo dục và người được giáo dục, mối quan hệ giữa người được giáo dục và người giáo dục: Hoạt động của các cơ sở đào tạo, qua đó đưa ra chỉ dẫn cụ thể cho các hoạt động giáo dục đào tạo ở phạm vi trường
1.2.3 Hệ thống khoa học giáo dục nghề nghiệp và mối liên hệ với các khoa học khác
a Hệ thống khoa học giáo dục nghề nghiệp:
Căn cứ vào cấu trúc năng lực chuyên môn và phẩm chất cũng như mặt nghiệp vụ sư phạm của người đào tạo về phương diện sư phạm cần thiết và đưa vào đào tạo cho họ các môn học sau đây:
- Lý luận chung của giáo dục học nghề nghiệp (Đại cương)
Đối tượng của môn học này là nghiên cứu bản chất, các quy luật cơ bản của quy luật giáo dục, cụ thể là cơ sở của mục đích và chính sách giáo dục học nghề nghiệp
Trang 4- Lý luận giáo dục: Nghiên cứu bản chất các quy luật giáo dục của quá trình giáo dục, nội dung, nguyên tắc, phương pháp hình thức và cách đánh giá kết quả về mặt giáo dục phẩm chất nhân cách người được đào tạo
- Lý luận dạy học: Nghiên cứu bản chất và các quy luật của quá trình dạy học thiết kế nội dung chương trình đào tạo nghề, các nguyên tắc phương pháp, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và việc đánh giá kết quả học tập của người học
- Lý luận quản lý giáo dục đào tạo nghề nghiệp: Nghiên cứu các vấn đề về tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở các bậc đào tạo khác nhau, trong đó cốt lõi là các vấn đề quản lý nội bộ nhà trường, đặc biệt là quá trình sư phạm trong nhà trường
- Phương pháp giảng dạy môn học: Con đường tích hợp các modul kiến thức đã dẫn đến
sự hình thành một loại môn học mới này Hiện nay còn nhiều khó khăn trong việc biên soạn phương pháp dạy cho từng môn trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp bởi tính đa dạng của nó Để từng bước tiến tới việc biên soạn phương pháp dạy cho từng môn học, ngày nay mới chỉ bắt đầu việc biên soạn ra tài liệu "Lý luận phương pháp giảng dạy môn học" nhằm giúp giáo viên kỹ thuật dựa trên cơ sở đó xây dựng nên những phương pháp dạy học cho môn học của mình đang trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp
Sắp tới còn có thể phải biên chế thêm những môn học khác như so sánh giáo dục học nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
b Mối liên hệ giáo dục học nghề nghiệp với các khoa học khác
- Với triết học Mác - Lênin: Giáo dục lấy triết học Mác - Lênin làm cơ sở cho phương pháp lý luận của mình (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) như bản chất của con người, phát triển nhân cách, lý luận nhận thức ngành của triết học Mác - Lênin như: xã hội học, đạo đức học, mỹ học đều có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu giáo dục học nghề nghiệp
- Với sinh lý học: Được coi như là cơ sở khoa học tự nhiên của giáo dục học (hoạt động thần kinh cao cấp, cơ chế hình thành động hình về sự tác động lẫn nhau giữa các hệ thống tín hiệu)
- Với tâm lý học: Giáo dục dựa trên các thành quả hoạt động tâm lý ở các lứa tuổi khác nhau và sự biến đổi các hoạt động đó dưới tác động của giáo dục đào tạo về các quy luật hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động
- Với các khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật cùng với sự tiến bộ của nó có ý nghĩa quan trọng và tác động mạnh mẽ tới việc xây dựng mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, điều kiện của quá trình giáo dục nghề nghiệp
Phương pháp nghiên cứu trong giáo dục là cách thức, con đường mà nhà khoa học áp dụng để khám phá bản chất và quy luật của quá trình giáo dục vận dụng chúng cải tạo quá trình giáo dục - đào tạo
Các phương pháp được chia thành 3 nhóm sau đây:
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 5+ Phương pháp thu nhập thông tin lý luận từ các nguồn tài liệu: văn kiện, các chuyên khảo, các tạp chí khoa học đem phân tích, tổng hợp, phân loại, đánh giá, trừu tượng hoá, hệ thống hoá để tạo ra lý thuyết mới phục vụ cho giáo dục và đào tạo
+ Phương pháp nghiên cứu những sự kiện phức tạp thực hiện bằng con đường đề xuất và chứng minh giả thuyết đề đề xuất hay thành lập quan niệm, thuyết mới
+ Phương pháp nghiên cứu những hiện tượng giáo dục phức tạp trong thực tế giáo dục để xây dựng nên mô hình chứa đựng bản chất và quy luật của các hiện tượng giáo dục (Mô hình giả định)
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Quan sát thực tiễn: Trực tiếp xem xét các hiện tượng giáo dục theo một chương trình chủ động nhằm phát hiện những biến đổi, phát triển của những điều kiện cụ thể, từ đó tìm ra quy luật vận động của đối tượng
+ Điều tra toàn diện và có hệ thống các đối tượng giáo dục trên một diện để xác
định và quy luật phát triển của chúng
+ Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của thầy trò để phát hiện trình độ nhận thức, phương pháp, chất lượng hoạt động của họ nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng quá trình giáo dục
+ Thực hiện giáo dục
+ Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
+ Phương pháp chuyên gia: Để đánh giá sản phẩm giáo dục tìm ra bản chất, đưa ra giải pháp tối ưu cho sự kiện giáo dục nào đó
* Nhóm phương pháp toán học
Phương pháp toán học cũng được sử dụng rộng rãi với hai mục đích:
+ Sử dụng lý thuyết toán học, phương pháp logic toán học để xây dựng các lý thuyết giáo dục nhằm đảm bảo quá trình suy diễn triệt để nhất quán
+ Dùng toán học thống kê để xử lý các tài liệu thu nhập từ các phương pháp khác nhau để cho ra những số liệu khái quát chính xác, tin cậy về đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được lựa chọn và sử dụng tuỳ theo mục đích, nội dung và
đặc điểm của từng đối tượng Trong một đề tài được nghiên cứu người ta thường sử dụng nhiều phương pháp mang tính tích hợp để đạt được mục tiêu nghiên cứu nguồn tài liệu đọc thêm
Câu hỏi ôn tập bài 1
1 Hiện tượng giáo dục là gì? Cho ví dụ trong thực tế
2 Hãy nêu nội dung các chức năng của giáo dục
3 Giáo dục có mấy tính chất? Nêu nội dung của nó
4 Giáo dục nghiên cứu gì? Nhiệm vụ của giáo dục học
5 Trong nghiên cứu giáo dục học nghề nghiệp có những nhóm phương pháp gì?
Trang 62 Những khái niệm và phạm trù cơ bản của giáo dục học và giáo dục học nghề nghiệp
2.1 Giáo dục
* Về bản chất: Giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức kinh nghiệm của
lịch sử xã hội qua các thế hệ loài người
* Về hoạt động: Giáo dục là một quá trình tác động của xã hội và nhà giáo dục đến các
đối tượng giáo dục để hình thành nhân cách cho họ
* Về mặt phạm vi: Khái niệm bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
- Quá trình xã hội hoá con người: Quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan, có ý thức và không có ý thức trong mối quan hệ xã hội
- Giáo dục xã hội: Đó là tác động của xã hội tới lực lượng xã hội tới người được giáo dục để hình thành nhân cách cho con người
- Quá trình sư phạm: ở cấp độ này giáo dục bao gồm quá trình dạy và học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
+ Giáo dục theo nghĩa hẹp: Bao gồm những sự tác động của nhà giáo dục lên nhân cách con người được giáo dục nhằm hình thành phẩm chất đạo đức theo tiêu chuẩn nhất
định
+ Giáo dục theo nghĩa rộng: Là quá trình có mục đích, có tổ chức và có hệ thống nhằm hình thành nhân cách, nó bao gồm toàn bộ quá trình giáo dục với tất cả các mặt tổ chức và tác động của nó
2.2 Tự giáo dục
Tự giáo dục trước hết là sự cố gắng và sẵn sàng thực hiện mục đích giáo dục, tự giác tiếp thu sự giáo dục đào tạo và các tiêu chuẩn đạo đức nhằm có được các thước đo cho sự nhận xét, đánh giá và cuối cùng là sự sẵn sàng tự phê bình
2.3 Giáo dưỡng
Khái niệm giáo dưỡng dùng để chỉ phạm trù tác động giáo dục
Giáo dưỡng được hiểu như là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức nhất
định đã được khái quát hoá trong các ngành khoa học tự nhiên xã hội, các khoa học kỹ thuật và tư duy con người, các kỹ năng kỹ xảo và năng lực nhận thức để hình thành nhân cách nghề nghiệp Quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc dạy học
2.4 Dạy học
Được hiểu là hoạt động có tổ chức bao gồm hai hoạt động dạy và học Hai hoạt động này diễn ra trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong một quá trình thống nhất Dưới sự tổ chức của thầy trò hoạt động tích cực tiếp thu kiến thức, kỹ năng, thái độ phát triển trí tuệ Các khái niệm cơ bản của giáo dục và giáo dục nghề nghiệp thường xuyên thay đổi và phát triển, vì vậy phải tiếp thu hoàn thiện
Trang 73 Giáo dục trên bước đường đổi mới
Sau khi có nghị quyết HNTW 4 (khoá 7) và nghị quyết HNTW 2 (khoá 8) ngành giáo dục đã nhanh chóng triển khai các nghị quyết này thông qua đổi mới cách nghĩ và cách làm giáo dục Giáo dục đào tạo phải tiến hành đổi mới trước hết là MTĐT và mặt xã hội cũng như nhân cách người được đào tạo, đổi mới cấu trúc hệ thống và cơ chế vận hành thích hợp, cải tiến tổ chức quá trình sư phạm để nâng cao chất lượng hiệu quả của các hoạt
động sư phạm, đáp ứng những nhu cầu của kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới
Dựa trên quan điểm coi giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, mục tiêu chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo đến năm 2000 là xây dựng một nền giáo dục đào tạo với những đặc trưng sau:
- Nền giáo dục vì dân trí: Có chất lượng về văn hoá, đạo đức và chuyên môn với mức phổ cập tiểu học trong cả nước, phổ cập trung học cơ sở cho những vùng dân cư có kinh tế
và giao lưu khó khăn, phổ cập phổ thông trung học tại các vùng kinh tế phát triển, tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu cho mọi người có nguyện vọng theo học các cấp bậc và ngành học
- Nền giáo dục vì nhân lực: Đảm bảo đủ chất lượng số lượng nhân lực cho nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong cả nước và từng vùng lãnh thổ, đồng thời tạo cơ hội và việc làm nghề nghiệp tiến thân cho mọi người trong xã hội
- Nền giáo dục vì nhân tài: Tạo nên những tài năng về khoa học công nghệ, văn hoá, nghệ thuật quản lý kinh tế xã hội, có khả năng đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của
đất nước
- Nền giáo dục có sức thu hút nguồn đầu tư của nhà nước và xã hội Nền giáo dục hiện nay và trong tương lai phải đảm bảo được những nhiệm vụ quan trọng và những thách thức mới để đáp ứng những lợi ích chung của quốc gia, tạo ra được lực lượng lao động chất lượng cao, muốn đạt được việc đó riêng nguồn đầu tư của nhà nước không thể đáp ứng đầy
đủ mà cần huy động mọi đầu tư khác để làm cho nguồn tài chính đủ mạnh cho giáo dục
đào tạo
- Nền giáo dục liên thông rộng rãi với thế giới: Tạo khả năng tiếp nhận và chọn lọc để vận dụng vào nước ta các thành tựu tiên tiến về giáo dục đào tạo của thế giới để tiến lên cùng sự tiến bộ chung về giáo dục toàn cầu
Các mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo có thể được khái quát theo ba hướng cơ bản sau:
+ Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
+ Mở rộng quy mô và số lượng giáo dục đào tạo
Và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo cần được thực hiện qua các hướng hành động chủ yếu sau đây:
+ Xây dựng nhận thức mới về giáo dục đào tạo trong xã hội đang đổi mới
+ Chọn lọc hình thành một bộ phận giáo dục có trình độ cao để mở đầu chuyển hóa chất lượng toàn hệ thống
+ Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục đào tạo
Trang 8+ Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo
+ Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
+ Cải tiến việc hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo
Các định hướng nêu trên phải được thể hiện qua một kế hoạch hành động tổng thể dài hạn nhằm mục tiêu chung, nhằm đưa hệ thống giáo dục - đào tạo nước ta lên một trạng thái mới phù hợp với yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội cũng như hoà nhập vào xu thế hiện
đại của thế giới về giáo dục đầu thế kỷ 21
Câu hỏi ôn tập
1 Hãy nêu nội dung của các khái niệm: giáo dưỡng, giáo dục, tự giáo dục và dạy học
2 Nêu những đặc điểm cơ bản của chiến lược giáo dục Việt Nam?
Trang 9Giáo dục vμ sự phát triển nhân cách
Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của tuổi trẻ, của học sinh không thể tách rời với quá trình giáo dục Đồng thời quá trình giáo dục có hiệu quả phải tác động phù hợp với quy luật phát triển của người học trong đó quan trọng nhất là phù hợp với những đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển nhân cách học sinh Các nhà giáo dục lỗi lạc như J.A.Konicxky, J.J.Rouscan, I.G Pestalozi đã là những người phê phán kịch liệt nền giáo dục, đồng thời chính các ông đã đòi hỏi mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng giáo dục Cũng chính từ đó khoa học giáo dục đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu những quy luật, những đặc điểm phát triển của trẻ em, của học sinh coi đó là một cơ sở quan trọng của khoa học sư phạm
Những thành tựu ngày nay của tâm lý học nhân cách, tâm lý học lứa tuổi và sư phạm của khoa học giáo dục cũng như kinh nghiệm thực tiễn đòi hỏi quá trình giáo dục phải thống nhất biện chứng với quá trình phát triển nhân cách người học Muốn vậy người làm công tác giáo dục cần nắm một số quan điểm cơ bản về bản chất của nhân cách và sự phát triển nhân cách con người
1 Sự phát triển nhân cách con người
1.1 Khái niệm về con người nhân cách
Hiện nay trong dân gian cũng như trong học thuật có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về bản chất nhân cách con người
1.1.1 Một số quan điểm sai về bản chất con người
- Quan điểm tiền định: coi bản chất và số phận của mỗi con người đó được quy định trước khi con người đó ra đời Nó được thể hiện với nhiều màu sắc khác nhau Do Thượng
Đế định sẵn: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính", "thông minh vốn sẵn tính trời", "mới hay muôn sợ tại trời", "do kiếp trước", do mả ông cha để lại được hưởng "phúc" hay chịu "hoạ" Những quan điểm trên đây là những quan điểm khác nhau làm cho con người không tin tưởng vào chính bản thân mình và chỉ chờ mong vào trời đất quỷ thần, số phận hoặc "cũng lắm điều nhắm mắt đưa chân" nó nhủ con người không giúp ta tự tin, dũng cảm tái tạo tự nhiên, đấu tranh xã hội cải tạo chính bản thân mình
Thuyết di truyền quyết định tất cả thực chất cũng là quan điểm tiền định
Thuyết phân tâm học do S.Frend nêu ra từ đầu thế kỷ này, nay vẫn rất thịnh hành ở phương Tây Có người vẫn dùng thuyết này để giải thích những hiện tượng xã hội và hành
vi con người chủ yếu quy định bởi những bản năng vô thức, đặc biệt là bản năng tình dục Thuyết này giải thích mọi hành vi của con người đều do sự thôi thúc của bản năng Dù trong con người có ý thức về đời sống thường ngày của bản thân (cái tôi) (cái siêu tôi) nhưng tất cả những cái đó đều bất lực trước cái bản năng vô cùng sôi sục mãnh liệt (cái nó), nó thúc đẩy con người đến những đam mê vô thức, những hành động bản năng Thực
Trang 10chất thuyết này chỉ đi sâu phân tích những bản năng sinh vật ở con người và khuếch đại lên, tuyệt đối hoá đi, không thấy được bản chất xã hội con người Như vậy nó đã hạ thấp con người, bênh vực khuyến khích những hành vi phi xã hội, nó coi giáo dục chỉ thể hiện tiếp tục những cái sẵn có của bản năng và hướng cho những cái đó (thăng hoa) lên, chứ không thể hình thành, phát triển những năng lực, phẩm chất mới từ xã hội đưa lại cho con người
Thuyết hành vi (chủ nghĩa hành vi) cũng được hình thành từ đầu thế kỷ này ở châu Âu
và Mĩ Ngày nay, thuyết này cũng đang được thịnh hành ở Mĩ và nhiều nước tư bản ở Việt Nam từ khi Mĩ xâm lược thuyết hành vi chủ nghĩa thực dụng cũng được thâm nhập vào: thuyết này cho rằng không cần quan tâm đến bản chất xã hội, đến tâm lý, ý thức, đời sống tâm hồn của con người mà chỉ cần biết: cho một kích thích (S) phản ứng (R) như thế nào Phản ứng nào có lợi thì tiếp tục củng cố duy trì Những người đề ra thuyết này không những nghiên cứu thực nghiệm ở động vật (chuột, bồ câu, khỉ ) để giải thích hành vi người mà còn áp dụng kết quả nghiên cứu của công thức S - R ở động vật mang vào xã hội (huấn luyện công nhân, quân đội, giáo dục trẻ em ) Thuyết này là một trong những cơ sở cho chủ nghĩa thực dụng của Mĩ Thực chất đó là cách triệt để khai thác khả năng lao động của người công nhân Mĩ, cũng triệt để kích thích và củng cố những hành vi chấp hành mù quáng của binh lính Mĩ Nó nhằm sử dụng con người như những công cụ, tiếp thu những mệnh lệnh nhanh nhất, phản ứng chính xác nhất, có lợi nhất cho nhà tư sản Còn đời sống tâm hồn của con người chỉ là cái hộp đen không cần biết đến Cái đó chủ yếu trông vào sự chăm sóc của nhà thờ
Ngày nay, một số học giả phương Tây đã nêu ra thuyết "Frend" mới và "chủ nghĩa hành vi mới" nhưng cũng chỉ là trình bày mềm dẻo hơn, tinh vi hơn còn bản chất cũng chưa thay đổi
Thuyết "môi trường quyết định" cho rằng trẻ em sinh ra như một tờ "giấy trắng", mọi tác động của môi trường sẽ ghi lên tờ "giấy trắng" một cách máy móc, thuyết này có vẻ tiến bộ hơn nhưng thực chất coi con người như một thực thể thụ động, tiếp thu máy móc mọi thụ động của hoàn cảnh: như vậy là hoàn cảnh xã hội của mỗi người đã định sẵn bản chất của con người tốt hay xấu đều tại "hoàn cảnh", tại "môi trường" cả Đúng là hoàn cảnh, môi trường rất quan trọng, nhất là đối với trẻ em nhưng môi trường chung chung không thể tự nó quyết định tất cả Cùng một gia đình, một nhóm người nhưng người ta phát triển rất khác nhau đó thôi Quan điểm đó rõ ràng không thấy tính biện chứng giữa hoạt
động của cá nhân với tác động của hoàn cảnh, không thấy tính tích cực lựa chọn, tính năng
động của con người trong việc cải tạo hoàn cảnh vượt lên trên hoàn cảnh để tự rèn luyện mình
Chúng ta còn bắt gặp nhiều quan điểm sai lệch khác nữa, cũng có những nhược điểm như quan điểm nêu trên
1.1.2 Quan điểm Macxit
Trang 11Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng Macxit, trên những thành quả của khoa học nghiên cứu con người, ngày nay chúng ta có thể nêu lên những quan điểm đúng đắn hơn về bản chất nhân cách của con người, nhằm hiểu con người một cách đầy đủ, đúng đắn hơn để có thể giáo dục con người một cách có cơ sở tin cậy
Con người là một thực thể tự nhiên
Trước hết chúng ta thấy rõ con người là một thực thể tự nhiên, có nguồn gốc phát triển lâu dài trong lịch sử tiến hoá động vật lên trong những điều kiện đặc biệt và đạt tới trình độ phát triển cao nhất trong giới tự nhiên Con người đã trở thành "Chúa tể muôn loài" nhưng với tư cách là thực thể tự nhiên, con người đã tuân theo các quy luật sinh vật mang theo các
đặc điểm di truyền về hình thái - giải phẫu - sinh lý của thế hệ trước, có đặc điểm riêng về giải phẫu sinh lý, hoạt động thần kinh, có nhu cầu sinh vật, những phản xạ, bản năng Nhưng con người đồng thời là thực thể xã hội và đối với một người bình thường thì ngay cả những hành vi có tính sinh vật, bản năng cũng được ý thức, cũng có tính xã hội, bị quy
định bởi "cái xã hội"
Con người là một thực thể x∙ hội
Quan điểm Macxit nhấn mạnh rằng bản chất tự nhiên của con người chỉ tồn tại với con người xã hội nhờ đặc điểm tự nhiên của loài người phát triển đến trình độ cao mà có năng lực hoạt động lao động Và chính "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người và như thế đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao
động đã sáng tạo ra con người
Lao động là một quá trình không ngừng đòi hỏi con người phải nâng cao năng lực của mình (từ bàn tay, cơ bắp đến trí óc) để tác động vào tự nhiên ngày một hiệu quả hơn, đồng thời đó cũng là quá trình hình thành phát triển các mối quan hệ xã hội giữa người và người ngày càng phát triển, chính quá trình đó hình thành lên nhân cách con người K.Maxr đã chỉ rõ: Bản chất con người không phải cái trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội
Đối với sự phát triển sinh học cá thể, điều này càng rõ Đứa trẻ ra đời không thể tự sống
và phát triển Nó phải nhờ sự chăm sóc nuôi dạy của những người lớn mới có thể biết cười, biết nói, mới có hành vi người, trở thành người Đó là quá trình đứa trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử của loài người đã đúc kết lại trở thành con người của xã hội đương thời (chứ không phải lặp lại lịch sử phát triển của các thế hệ cha ông) Chính nhờ bản chất xã hội đó mà loài người không ngừng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, hoàn thiện bản thân mình để tiến lên mãi (Động vật chỉ hiện thực hoá chương trình di truyền đã định sẵn trong gien và thích nghi với hoàn cảnh Do đó không thể có phương thức phát triển như của loài người)
Vẫn là một con người nhưng khi đại diện cho loài thì con người là một cá thể, khi là thành viên của xã hội thì con người là một cá nhân, khi là chủ thể hoạt động thì con người
là một nhân cách
Trang 12Từ một con người tự nhiên để phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt những tác động, những chi phối của những yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội
1.2 Khái niệm về sự phát triển nhân cách
Như trên đã trình bày, nhân cách không sẵn có mà nó được nảy sinh, hình thành, phát triển trong cuộc đời mỗi con người
Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần Sự phát triển
về thể chất là sự phát triển sinh học, là sự trưởng thành về cơ bắp, thần kinh và các cơ quan nội tạng theo quy luật tự nhiên Sự phát triển về tinh thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức theo quy luật tâm lý và quy luật xã hội trên cơ sở lĩnh hội nền văn minh nhân loại Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo quy luật phát triển tâm, sinh
lý lứa tuổi đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho nhau, là bước phát triển nhảy vọt tiến lên của từng cá nhân về tài năng và phẩm hạnh phù hợp với lịch sử xã hội và thời đại Sự phát triển đó tạo nên nhân cách con người
Sự phát triển của nhân cách thể hiện ở mức độ năng lực ngày càng cao, ở bề rộng và tính bền vững của xu hướng, ở tính cách ngày càng phong phú và có dấu ấn độc đáo của riêng mình
Sự phát triển nhân cách con người là một trong những vấn đề rất phức tạp của khoa học giáo dục Nó chịu sự tác động và là kết quả tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, bên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan, tự phát và có ý thức Dựa trên những thành tựu mới của tâm lý học và giáo dục học Macxit, có thể và cần phải nêu một số điểm dưới đây:
- Đứa trẻ ra đời đã là một con người nhưng nó phải được sống trong xã hội loài người, tiếp thu những kinh nghiệm xã hội lịch sử của loài người mới phát triển thành một nhân cách
- Sơ sinh học của bản thân đứa trẻ là tiền đề, tiềm năng của sự phát triển nhân cách
- Mối quan hệ của trẻ với môi trường tự nhiên và xã hội là điều kiện của sự phát triển nhân cách Nhưng đó không phải là môi trường chung chung mà là quan hệ của mỗi chủ thể với những đối tượng nhất định của môi trường, những cái mà hoạt động của chủ thể nhằm vào, những cái lôi cuốn hấp dẫn chủ thể hoạt động đó
- Hoạt động và quan hệ giao tiếp của mỗi cá nhân nhằm tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến của loài người là phương thức và động lực của sự phát triển nhân cách
- Giáo dục là nhân tố chủ đạo trong quá trình phát triển nhân cách thế hệ trẻ
2 Vai trò của di truyền và môi trường trong sự phát triển nhân cách
2.1 Vai trò của di truyền
Đứa trẻ ngay từ lúc sinh ra đã kế thừa những phẩm chất sinh vật của các thể hệ cha ông,
nó mang dấu ấn đặc trưng của nòi giống, đó là hiện tượng di truyền Các đặc điểm sinh học (thông tin sinh học) của mỗi con người và cả sinh vật nói chung được ghi lại thành một
Trang 13chương trình độc đáo gọi là mã di truyền, gien là vật mang mã di truyền của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Nhờ di truyền mà đặc điểm của loài được giữ lại, được phát triển
và hoàn thiện theo con đường tiến hoá tự nhiên
Di truyền học đã chứng minh rằng các thế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể, về các loại hình thần kinh, về chức năng hoạt động của chúng tạo thành sức sống tự nhiên của con người Sức sống tự nhiên là những tiền đề vật chất và có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách
Tất cả đều thừa nhận rằng ở mỗi con người có thể có một khả năng bẩm sinh nào đó Nếu khả năng này phù hợp với một loại hoạt động thì nó giúp con người thực hiện công việc ấy một cách dễ dàng, nhanh chóng và có hiệu quả Hơn thế nữa, ở những người đặc biệt còn có khả năng khiếu, tài năng bẩm sinh biểu hiện dưới dạng mầm mống tư chất, nếu biết phát hiện và bồi dưỡng thì họ có thể trở thành nhân tài có ích cho đất nước
Tuy nhiên, quá trình phát triển về mặt phẩm chất xã hội thì con người bắt đầu từ số không Các thuộc tính tâm lý phức tạp như ý thức, thế giới quan, tình cảm, niềm tin đạo
đức không có trong một chương trình di truyền nào cả ở đây hoàn cảnh sống, hoạt động, giao tiếp của cá nhân và giáo dục có vai trò quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đó của nhân cách
Do vậy, cần phải đánh giá đúng vai trò của yếu tố sinh học, vừa thấy vị trí quan trọng của nó, vừa không tuyệt đối hoá nó, để tránh những sai lầm trong nhận thức, cũng như trong tổ chức các hoạt động giáo dục
2.2 Vai trò của môi trường
Bên cạnh những yếu tố sinh học, con người trong quá trình phát triển để trở thành nhân cách còn chịu sự tác động của môi trường sống Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả các điều kiện tự nhiên xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, hoạt động và phát triển nhân cách Cả hai loại môi trường: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Môi trường tự nhiên là điều kiện địa lý - sinh thái Môi trường sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất Vị trí địa lý tự nhiên và môi trường và môi trường địa lý kinh tế tốt tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và hoạt động của người
Môi trường xã hội là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau và giữa các cá nhân với tập thể
Gia đình là môi trường sống đầu tiên của đứa trẻ Gia đình là nơi sinh ra và cũng là nơi giáo dục đứa trẻ, cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên Mức sống, trình độ học vấn, đời sống văn hóa, thói quen, nền nếp sống của gia đình, mối quan hệ tình cảm của các thành viên, tính mẫu mực của người lớn và phương pháp giáo dục gia đình có ảnh hưởng hàng ngày, hàng giờ đến đứa trẻ
Tập thể trẻ em, trong đó là những nhóm bạn bè, lớp học, đội thiếu niên có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ em Tập thể với tư cách là cộng đồng xã hội đặc biệt được tổ chức ở trình độ cao đã tạo điều kiện tốt cho trẻ em hoạt động và giao lưu
Trang 14Trong sinh hoạt tập thể, trẻ em chọn lọc những gì phù hợp với sở trường, xu hướng, năng lực của mình để hoạt động và chịu những tác động có ý thức và không ý thức từ bên ngoài
mà lớn lên Các nhà giáo dục rất coi trọng tập thể, coi tập thể vừa là môi trường vừa là phương tiện để giáo dục trẻ em
Tuy nhiên những nhóm bạn bè tự phát cũng có ảnh hưởng lớn đến trẻ em Bạn tốt, trẻ
em được dìu dắt giúp đỡ, bạn bè xấu có ảnh hưởng không tốt đối với trẻ em "Chọn bạn mà chơi" là câu châm ngôn rất đúng mà cha ông ta đã răn dạy
Môi trường rộng hơn là cả xã hội với thể chế chính trị, luật pháp, hệ tư tưởng, trình độ dân trí, truyền thống văn hoá dân tộc và các quan hệ xã hội khác có ảnh hưởng rất nhiều
đến sự phát triển của trẻ em Trình độ sản xuất, chế độ chính trị quy định cả chiều hướng
và nội dung của nền giáo dục xã hội và cũng quy định cả chiều hướng phát triển của từng cá nhân
Các mối quan hệ xã hội phức tạp ảnh hưởng theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực đến trẻ em, đó chính là quá trình xã hội hoá con người Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đến với cá nhân còn tuỳ thuộc vào lập trường quan điểm của cá nhân, tùy thuộc vào xu hướng, năng lực của cá nhân, bởi vì ở chừng mực nhất định con người còn tham gia vào cải tạo môi trường Đúng như K.Marx đã chỉ ra: "Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức đó"
3 Giáo dục và sự phát triển nhân cách
3.1 Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh chỉ được diễn ra trong quá trình các em tích cực tham gia các loại hình hoạt động và các mối quan hệ muôn hình muôn vẻ trong xã hội, nhằm chiếm lĩnh các kinh nghiệm trong xã hội, các giá trị văn hoá của loài người Giáo dục học sinh chính là đưa các em gia nhập vào các quan hệ xã hội mới tổ chức cuộc sống, tổ chức và hướng dẫn các loại hình hoạt động và giao lưu của học sinh, bao gồm cả việc chọn lựa các đối tượng hoạt động và quy định các chuẩn mực giao lưu Kích thích và
điều chỉnh các phương thức hoạt động và giao lưu của các em
Quá trình giáo dục gồm cả tác động của các yếu tố sinh họccũng như tác động của các yếu tố xã hội, cả tác động của hoạt động tổ chức và lãnh đạo của nhà giáo dục cũng như tác
động của hoạt động và giao lưu của học sinh Quá trình giáo dục đó được kết hợp chặt chẽ với quá trình xã hội được diễn ra không chỉ ở nhà trường mà ở cả gia đình, cơ sở sản xuất xã hội
Với quan niệm như vậy, qúa trình giáo dục là hình thái cơ bản và chủ yếu của sự phát triển nhân cách học sinh Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ phát triển, bỏ qua những mò mẫm không cần thiết trong cuộc đời một con người
Trong các loại giáo dục: giáo dục gia đình, xã hội và nhà trường thì giáo dục nhà trường là quan trọng nhất
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo, có nội dung chương trình chọn lọc, có phương pháp phù hợp với mọi lứa tuổi, có các
Trang 15phương tiện kỹ thuật đặc thù phục vụ cho giáo dục Mục đích giáo dục nhà trường phù hợp với yêu cầu xã hội và thời đại Giáo dục nhà trường bằng kiến thức và phương pháp khoa học, bằng tổ chức các hoạt động, giao lưu trong thực tiễn, làm cho nhân cách học sinh được hình thành Giáo dục tạo nên bộ mặt tâm lý của cá nhân phù hợp với những tiêu chuẩn và giá trị xã hội và thời đại
Giáo dục gia đình được tiến hành trong cả cuộc đời một con người Với đặc điểm chủ yếu là mối quan hệ hôn nhân và huyết thống, giáo dục gia đình được xây dựng trên cơ sở tình cảm bền chặt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của môĩ con người Ngày nay giáo dục học đã thừa nhận nề nếp gia phong, truyền thống gia đình như một yếu tố giáo dục cực
kỳ quan trọng không thể coi thường
Giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội phải với thể chế chính trị, pháp luật, với truyền thống văn hoá, đạo đức được thực hiện qua hệ thống tổ chức nhà nước, qua bộ máy tuyên truyền của hệ thống thông tin đại chúng, qua dư luận xã hội, qua hoạt động giáo dục của các đoàn thể quần chúng góp phần quan trọng cho sự phát triển nhân cách Gia đình, nhà trường và xã hội là 3 lực lượng giáo dục to lớn, nếu được phối hợp chặt chẽ, cùng thống nhất một mục đích, một yêu cầu và cùng một phương thức giáo dục sẽ
đem lại kết quả giáo dục tốt đẹp
Giáo dục ngoài việc bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người còn có thể giúp sửa chữa những lệch lạc trong ý thức đạo đức và hành vi của con người (giáo dục lại) và hơn thế nữa giáo dục còn có thể giúp khắc phục cả những khuyết tật của cơ thể, tinh thần
do bẩm sinh hoặc rủi ro bệnh tật (giáo dục người có tật, thiểu năng bẩm sinh) giúp con người hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng
Giáo dục còn bao gồm cả tự giáo dục, tự giáo dục là bước tiếp theo những quyết định kết quả của toàn bộ sự nghiệp giáo dục Tự giáo dục, tự tu dưỡng là hoạt động có ý thức là giai đoạn phát triển cao của nhân cách
Như vậy giáo dục là nhân tố chủ yếu trong quá trình phát triển nhân cách Một nền giáo dục mạnh, được tổ chức tốt, bằng cách hình thức hoạt động và giao lưu phong phú và đa dạng, với những phương pháp khoa học có thể làm cho con người đạt tới sự phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại
Tóm lại, sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện về thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan và khách quan Nhân cách con người là tổ hợp những phẩm chất xã hội Sự phát triển của nhân cách được thực hiện dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan hệ xã hội mà con người sống, hoạt động và giao lưu Giáo dục với tư cách là một hoạt động đặc biệt có vai trò chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định trong sự phát triển nhân cách, một nhân cách tốt đẹp không thể phát triển ngoài giáo dục
3.2 Giáo dục và các giai đoạn phát triển nhân cách của học sinh theo lứa tuổi
3.2.1 Một vài nét về thời kỳ trước tuổi học
ở thời kỳ này người ta thường đưa ra giai đoạn cơ bản:
Trang 16* Tuổi sơ sinh (từ 0 đến 1 tuổi) là thời kỳ đứa trẻ rất non yếu, sống và phát triển được phải nhờ vào sự chăm sóc quan hệ trực tiếp của người lớn Nhờ sự nuôi dậy của người lớn chỉ sau 2 - 3 tháng đứa trẻ đã biết "hóng chuyện", nhoẻn cười, "phức cảm hớn hở", đó là dấu hiệu sơ khai của cảm xúc người đã hình thành ở đứa trẻ qua giao tiếp trực tiếp với người lớn Rồi ít lâu sau đứa trẻ biết chăm chú nhìn ngắm những đồ vật xung quanh (một quả bóng bay treo lơ lửng, một tàu lá lơ lửng đung đưa ) trẻ tỏ ra thích thú mỗi khi được
bế đi chơi cho nhìn ngắm sự vật xung quanh, đó chính là "nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài" đã nảy nở, là mầm mống của nhu cầu và khả năng nhận thức ở đứa trẻ
Hiện tượng biết lẫy, biết ngồi, biết bò, biết đi, bập bẹ nói là những mốc phát triển quan trọng cả về thể chất và tâm lý của đứa trẻ
ở giai đoạn này phải tác động giáo dục quan trọng nhất là sự chăm sóc trực tiếp của người lớn, đặc biệt của người mẹ với đứa trẻ, cho bú, vỗ về âu yếm, ru, nựng, bế đi rong chơi
Tuổi vườn trẻ (từ 1 - 3 tuổi) là thời kỳ trẻ thích tự mình chơi với đồ chơi, một bước quan hệ gián tiếp hơn với người lớn Chủ yếu trẻ chơi bên cạnh nhau, nhờ tiếp xúc với đồ chơi trẻ tiến hành các thao tác rung, lắc, sờ, nắm, đập, ném, leo trèo mà tò mò hiểu biết
về đồ vật, hiện tượng xung quanh, tích luỹ được kinh nghiệm cư xử với thế giới đồ vật xung quanh theo kiểu người hiện đại Cũng nhờ đó đứa trẻ phát triển cảm giác, biểu tượng, trí nhớ, óc tưởng tượng, ngôn ngữ, óc tò mò tìm tòi
Nhiệm vụ giáo dục quan trọng của thời kỳ này là tạo cho trẻ nhiều đồ chơi chứa đựng nội dung tâm lý phù hợp, hấp dẫn trẻ và tổ chức hướng dẫn, trẻ biết chơi với đồ chơi Chính bằng quá trình đó mà phát triển cơ thể và các chức năng sinh lý, tâm lý đứa trẻ
Tuổi mẫu giáo (3 - 5 tuổi) là thời kỳ phát triển mạnh mẽ tất cả các chức năng tâm lý, hình thành nên những cơ sở đầu tiên của một nhân cách Bước phát triển về chất là đứa trẻ
có ý thức về "cái tôi", biết hành động tự ý, biết phân biệt hành động của nó và của người khác Vì vậy việc giáo dục tính tình, giáo dục những hành vi theo chuẩn mực xã hội là rất quan trọng Thông qua các trò chơi với bạn, trẻ có thể tiếp thu các phương thức, hành vi chuẩn mực đạo đức một cách thích thú
Vì vậy, ở tuổi này phải cho trẻ đến lớp mẫu giáo để được giáo dục toàn diện, có tổ chức
là hết sức cần thiết Việc chuẩn bị cho trẻ tâm lý sẵn sàng đi học, khả năng học tập và biết giao tiếp trong hoàn cảnh mới khi vào lớp một trường phổ thông là những nhiệm vụ giáo dục quan trọng của giai đoạn này
3.2.2 Tuổi nhi đồng (6 - 10 tuổi)
Là giai đoạn phát triển nhân cách mạnh mẽ và hài hoà tăng nhanh về số lượng kiến thức và chất lượng của các chức năng tâm lý ở đứa trẻ Hoạt động học tập ở trường phổ thông là hoạt động chủ đạo có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của sự phát triển nhân cách của giai đoạn này Việc biết chữ, được tiếp thu kiến thức về tự nhiên, xã hội một cách
có hệ thống không chỉ làm cho tâm hồn đứa trẻ mở rộng, phong phú mà quan trọng hơn là
đứa trẻ biết cách tư duy khoa học và sống có văn hoá, phát triển ý thức về xã hội và về bản
Trang 17thân mình Đây là giai đoạn tạo cơ sở, nền tảng cho toàn bộ sự phát triển nhân cách về sau này Vì vậy nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và vai trò người giáo viên đặc biệt quan trọng đối với trẻ ở giai đoạn này
3.2.3 Tuổi thiếu niên (11 - 15 tuổi)
Là giai đoạn phát triển mất cân bằng cả mặt sinh lý lẫn tâm lý, là bước quá độ từ trẻ em lên người lớn, thời kỳ có những chuyển biến độc đáo, phức tạp Đây là thời kỳ gặp nhiều khó khăn trong công tác giáo dục nên nhiều người gọi là giai đoạn "khủng hoảng", "bất trị"
Sự phát triển sinh lý và tâm lý ở giai đoạn này có những chuyển biến về chất:
- Sự phát triển cơ thể, nhất là hiện tượng kinh nguyệt ở nữ, những dấu hiệu sinh dục ở nam đã khiến các em tò mò chú ý đến sự biến đổi trong bản thân mình, phát triển ý thức về bản thân và cảm giác trưởng thành của cơ thể, ý thức về sự khác biệt giới tính và xa cách
"xung khắc" giữa hai giới
- ý thức về bản thân, cảm giác trưởng thành làm nẩy sinh xu hướng vươn lên người lớn, nhu cầu tự khẳng định, lòng tự trọng phát triển mạnh, lòng tự ái cao, do đó khi bị xúc phạm trẻ ở tuổi này phản ứng rất mạnh Mọi tác động bên ngoài vào cá nhân không nhẹ nhàng thoảng qua như ở tuổi nhi đồng mà thông qua "bộ máy điều chỉnh" của tự ý thức cá nhân
để chấp nhận hay phủ nhận, khuếch đại hay triệt tiêu các tác động đó
- Sự mâu thuẫn giữa khát vọng vươn lên người lớn, nhu cầu tự khẳng định mình và năng lực với kinh nghiệm còn non kém, vị trí xã hội chưa được thừa nhận đã khiến cho thiếu niên có trạng thái căng thẳng, thiếu niên tự tìm cách thể hiện mình, khẳng định mình, thoả mãn nhu cầu giao tiếp trong nhóm bạn bè cùng tuổi Do đó hoạt động và giao lưu trong nhóm, trong tập thể có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của thiếu niên
Chính từ những đặc điểm trên mà các nhà giáo dục rất coi trọng những nguyên tắc yêu cầu cao và tôn trọng nhân cách thiếu niên, giáo dục trong tập thể và bằng tập thể, giáo dục chung và giáo dục cá biệt, chú ý giáo dục
3.2.4 Giai đoạn đầu thanh niên (15 - 18 tuổi)
Sự mất cân đối ở tuổi thiếu niên đã trở lại cân bằng hài hoà ở giai đoạn này: cơ thể phát triển cân đối, nở nang (nhất là ở nữ tạo nên vẻ đẹp hài hoà) Sự phát triển về nhận thức, tình cảm, ý chí, tự ý thức cân bằng hơn ở tuổi thiếu niên Đặc điểm nổi bật ở tuổi này là:
- Nguyện vọng có nghề nghiệp, một vị trí xã hội xứng đáng phù hợp với bản thân mình Những ước mơ thường đẹp đẽ, cao xa, mơ mộng rồi dần dần trở về với thực tế ở đây chứa
đựng biết bao hứng thú, hoài bão, các niềm vui, nỗi buồn và thất vọng, hy vọng
- Vấn đề quan điểm sống, lối sống là mối quan tâm thường xuyên, nhiều khi rất gay gắt, căng thẳng với tuổi này Sự đấu tranh, xác lập niềm tin, thế giới quan đã phân hoá ra nhiều kiểu loại phát triển khác nhau: một số hứng thú say sưa đối với KHKT, nghệ thuật,
số khác đi vào lao động, hoạt động chính trị, xã hội bằng cuộc sống tự lập của mình, một
Trang 18số lao vào kiếm nhiều tiền bằng mọi cách và ăn chơi cho thoả thích, có một số mất phương hướng, bâng khuâng, chờ đợi, buồn chán
- Quan hệ với bạn khác giới và lòng khao khát về tình yêu nam nữ có ý nghĩa quan trọng đến đời sống tâm hồn của lứa tuổi này, đồng thời tình bạn cùng giới cũng được phát triển đẹp nhất và có chiều sâu, bền vững
- Cảm giác về sự trưởng thành của cơ thể, sự ý thức về vị trí xã hội của bản thân, tự ý thức, tự đánh giá đều phát triển mạnh Đó là cơ sở cho một đời sống nội tâm phong phú đa dạng và phức tạp của tuổi này Đó cũng là cơ sở cho sự tự tu dưỡng, tự giáo dục, tự hoàn thiện ở tuổi này
Từ những đặc điểm trên ta thấy vấn đề giáo dục nhân cách ở lứa tuổi này cần chú ý đến những vấn đề: giáo dục hướng nghiệp, giáo dục lao động nghề nghiệp, hình thành niềm tin, thế giới quan và lối sống lành mạnh, giáo dục tình đồng chí, tình bạn, tình yêu đúng đắn Cần coi trọng tổ chức các hoạt động tập thể trong các nhóm có cả nam và nữ, đồng thời hết sức coi trọng vấn đề tự rèn luyện, tự giáo dục
3.2.5 Một số đặc điểm học sinh học nghề
Học sinh học nghề phần lớn tuổi từ 16 - 20, do đó họ có những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên mới lớn nói ở phần trên Tuy nhiên đối tượng học sinh học nghề đa dạng, phức tạp hơn nhiều
a Độ tuổi phức tạp trong một trường, một lớp có thể có học sinh từ 16 đến hơn 30 tuổi Tuỳ trường, từng nghề đào tạo mà có tỉ lệ lứa tuổi nào nhiều hơn Với độ tuổi chênh lệch như thế, vấn đề phân tách đặc điểm các nhóm lứa tuổi để đối xử sư phạm cho phù hợp là
điều rất cần thiết
b Tỷ lệ nữ sinh trong các trường nghề còn thấp và phân bố không đều, nhìn chung tỷ lệ nữ sinh học nghề chiếm 25% Tuy nhiên có trường nhiều nữ (cắt may, du lịch, thương nghiệp ) có trường không có nữ sinh hoặc rất ít (công nhân tầu cuốc, thi công cơ giới, lái
xe, lái tầu ), có trường tỷ lệ nữ khá đông nhưng phân bố vào lớp các nghề rất khác nhau
Đây cũng là một đặc điểm cần chú ý trong tổ chức tập thể học sinh
c Trình độ học vấn của học sinh khi vào trường nghề cũng chênh lệch nhiều Từ đó vấn
đề phân bố và đào tạo nghề cho phù hợp và chú ý chọn nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục phù hợp với từng đối tượng là điều cần quan tâm
d Hoàn cảnh xã hội trước khi vào trường nghề cũng là một đặc điểm phức tạp cần tìm hiểu, nắm vững mới giáo dục học sinh được sát hợp:
- Mới tốt nghiệp trường phổ thông vào trường nghề ngay
- ở nhà thi lại 2 - 3 năm rồi mới vào trường nghề
- ở nhà đi làm 1 - 3 năm rồi mới vào trường nghề
Trong số học sinh học nghề còn có cả một số thanh niên có tiền án tiền sự
Những đặc điểm trên cùng với hoàn cảnh xuất thân khác nhau: từ gia đình cán bộ, công nhân viên trong ngành, ngoài ngành từ nông thôn, miền núi hay gia đình làm nghề tự do
Trang 19đều là những vấn đề cần tính đến, phân tích chúng để hiểu rõ đối tượng, có sự đối xử sư phạm phù hợp
Tác phong công nghiệp ở học sinh hầu như chưa có, hầu hết chưa qua lao động công nghiệp, lại quen làm việc sinh hoạt trong môi trường sản xuất nhỏ nên ở học sinh có thói quen tự do tuỳ tiện, luộm thuộm, lề mề, coi thường nội quy sinh hoạt tập thể, quy trình, quy phạm sản xuất
Đặc biệt trong việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen lao động kỹ thuật phải bắt
đầu huấn luyện từ đầu, từ những cái sơ đẳng nhất
Đây là điều phải đặc biệt chú ý để rèn luyện cho các em có tác phong công nghiệp trong suốt quá trình học ở trường nhất là giai đoạn thực hành nghề, thực tập sản xuất
- Nếp sống có văn hoá, đạo đức là một trong những điều cần quan tâm xây dựng cho học sinh học nghề Do những đặc điểm như trên đã nêu và tâm trạng cho rằng mình là thợ tức là lao động "trâu bò", "công nhân công nheo" nên học sinh coi nhẹ việc tu dưỡng đạo
đức lối sống có văn hoá, cư xử văn minh lịch sự mà thường sống "buông thả", "xô bồ" (ăn nhậu, chơi bời nghiện hút, uống rượu, cờ bạc )
Vấn đề quan hệ nam nữ, tình yêu, kế hoạch hoá gia đình cũng cần giáo dục Cần phải làm cho họ ý thức được rằng mình là thanh niên của giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo xã hội, giai cấp tiêu biểu cho nền đạo đức mới, lối sống mới văn minh nhất Do đó phải rèn luyện mình cho xứng đáng
Nhu cầu và phương pháp tự học tập, rèn luyện vươn lên là mặt yếu của học sinh học nghề Đa số học sinh có tâm lý trung bình chủ nghĩa, chỉ cố gắng khi bị thúc ép, chỉ lo đạt
điểm số, có bằng tốt nghiệp Số thực sự tự giác say sưa tìm tòi học tập một cách hứng thú thường xuyên để tự nâng cao trình độ, tự hoàn thiện nhân cách của mình còn rất ít Nhưng
đây lại chính là một yêu cầu cơ bản của con người trong xã hội hiện đại (không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt, thích họp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của xã hội không ngừng đổi mới)
Nói tóm lại, từ một học sinh phổ thông với địa vị "ăn theo" khi vào trường nghề phải giáo dục cho các em tâm lý, vị trí của người lao động, có ý thức tự lập tự chủ, rèn luyện cho các em tư cách, năng lực, đạo đức, nếp sống của người công nhân hiện đại Đó là sự cải biến, hình thành nhân cách một cách cơ bản, sâu sắc ở người học sinh học nghề, để trở thành người lao động kỹ thuật có nghề nghiệp theo yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động xã hội Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đòi hỏi học sinh học nghề khi ra
Trang 20trường phải có khả năng cạnh tranh, chấp nhận sự sàng lọc, phải không ngừng vươn lên hoàn thiện những phẩm chất năng lực của mình trong lao động nghề nghiệp
3 Hãy nêu những đặc điểm cơ bản của mỗi giai đoạn phát triển nhân cách của trẻ em
và những vấn đề giáo dục cần quan tâm đối với mỗi giai đoạn
4 Nêu những đặc điểm nhân cách của học sinh học nghề và những vấn đề lưu ý về giáo dục
Trang 21Mục đích giáo dục vμ hệ thống giáo dục
Quốc dân
* Mục tiêu bài học: học xong người học nắm được và nhận biết được:
+ Khái niệm mục đích giáo dục và các cấp mục tiêu trong giáo dục
+ Mẫu người cần được giáo dục đào tạo theo NQ HNTƯ 2 (khoá 8)
+ Hệ thống giáo dục Quốc dân của NCHXHCN Việt Nam
+ Các loại hình trường lớp trong giáo dục đào tạo
1 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên lý giáo dục
1.1 Mục đích giáo dục
1.1.1 Khái niệm và mục đích giáo dục (MĐGD)
a Định nghĩa: Mục đích giáo dục là mô hình về nhân cách người được giáo dục - đào tạo, trong đó chứa đựng những nét đặc trưng cơ bản và những nét cá tính phong phú riêng biệt, và hệ thống các định hướng phát triển những sức mạnh vật chất và tinh thần của người
được giáo dục - đào tạo
b Cơ sở để xây dựng nên MĐGD
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ + Nhu cầu của đất nước và thời đại đối với nhân cách người được đào tạo
+ Xu thế phát triển giáo dục - đào tạo từng nước và thế giới
+ Khả năng thực hiện của hệ thống giáo dục Quốc dân
+ Điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội, kinh nghiệm, truyền thống dân tộc và khả năng của xã hội có thể thực hiện, đáp ứng mục đích giáo dục
c Các cấp mục tiêu trong giáo dục - đào tạo:
+ MĐGD tổng quát: mẫu người lý tưởng trong từng giai đoạn CMXH nhất định (do giai cấp thống trị xác định)
+ MĐGD thành phần: mục tiêu đào tạo của từng Bộ, ngành xác định cho từng bậc học, cấp học: bậc giáo dục phổ thông, bậc đại học, bậc giáo dục chuyên nghiệp - dạy nghề
+ MĐGD chuyên ngành: ví dụ: Cơ khí, Điện xí nghiệp, Điện tử, Mỏ - Địa chất + MĐGD môn học: Môn cơ lý thuyết, Điện kỹ thuật, Kỹ thuật may
+ MĐGD bài học: bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ chứa đựng trong bài học
1.1.2 Mục đích giáo dục Việt Nam (1996 - 2000)
Mẫu người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay (thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước) là con người lao động có nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, hiện đại trên nền truyền thống dân tộc
Trang 22Sơ đồ cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân
(Ban hành trong NĐ 90CP, ngày 24/11/1993)
4 Giáo dục Đại học và Sau đại học
Đào tạo tiến
(2 năm)
Đào tạo Đại
học (4-6 năm)
Giai đoạn 2
Cao đẳng (3 năm)
THCN (3 - 4 năm)
Đào tạo nghề (1 - 2 )
3 Giáo dục chuyên
Trung học cơ sở (4 năm)
Đào tạo nghề (≤ 1 năm)
Tiểu học (5 năm)
Mẫu giáo (3 năm)
1 Giáo dục mầm non
2 Giáo dục phổ thông
Trang 23* Đặc điểm lớn nhất của những loại trường lớp này như sau:
Có thể có hỗ trợ của nhà nước
4 Tư thục Tư nhân Ta nhân có trách nhiệm
quản lý, điều hành
Có thể có hỗ trợ của nhà nước
* Hệ thống GDQD bao gồm 10 văn bằng và 2 chứng chỉ:
- 10 văn bằng đó sẽ được thực hiện như sau:
+ Bằng Tiểu học (văn bằng đầu tiên của hệ thống văn bằng) thế giấy chứng nhận hết cấp 1 hiện nay
+ Bằng Trung học cơ sở thay thế Bằng phổ thông cơ sở hiện nay
+ Bằng Tú tài thay thế Bằng phổ thông Trung học hiện nay (nhưng trước mắt chưa ghi tên chuyên ban vì còn đang thí điểm)
+ Bằng nghề (đào tạo nghề sau trung học cơ sở) (có ghi rõ tên nghề), như hiện nay
+ Bằng trung học nghề (có ghi rõ tên nghề) thay thế cho bằng dạy nghề trung học hiện nay
+ Bằng Cao đẳng (có ghi tên ngành học), như hiện nay;
+ Bằng cử nhân (có ghi rõ tên ngành học), nói chung thay thế bằng đại học hiện nay Tuy nhiên vẫn được giữ chung tên gọi truyền thỗng của bằng đại học như kỹ sư, bác
- 2 chứng chỉ nêu trong nghị định là:
+ Chứng chỉ nghề (đào tạo nghề sau tiểu học hoặc đào tạo nghề ngắn hạn, có ghi rõ tên nghề học và thời gian học) như hiện nay
+ Chứng chỉ Đại học đại cương (có ghi rõ tên nhóm ngành) như hiện nay
+ Ngoài 2 chứng chỉ nêu trong nghị định, còn có những chứng chỉ khác ở các bậc, cấp học (được quy định của Bộ giáo dục và đào tạo)