đề tài số 10 : “Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của CTCP ĐƯỢC 9 ĐIỂMCTCP là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nó góp phần phát triển nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. CTCP và pháp luật về CTCP đã có lịch sử phát triển từ lâu đời.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn cầu Hệ thống doanh nghiệp không ngừng được đổi mới và phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, loại hình công ty và hình thức sở hữu Trong đó, CTCP là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nó góp phần phát triển nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường CTCP và pháp luật về CTCP
đã có lịch sử phát triển từ lâu đời Tuy nhiên, ở Việt Nam thì do hoàn cảnh kinh tế
-xã hội nên CTCP và pháp luật về CTCP mới thực sự được người ta quan tâm nhiều
Là loại hình doanh nghiệp mang nhiều lợi thế về khả năng huy động vốn lớn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư Đặc biệt cùng với sự phát triển ngày càng sôi động của thị trường chứng khoán đã thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới cho CTCP, nhất là những nhà đầu tư với số lượng vốn nhỏ Điều này đã tạo ra những lợi thế về vốn cho CTCP những cũng vì thế mà phát sinh những nội dung cần được điều chỉnh sao cho phù hợp và đạt hiệu quả trong huy động vốn của CTCP Vốn lại là yếu tố quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp Khi một doanh nghiệp hạn chế về vốn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực công nghệ…và sẽ dẫn đến hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy Luật Doanh nghiệp 2005 cùng các văn pháp luật khác có liên quan với các quy định đã xây dựng nên một hành lang pháp lý cho hoạt đông về huy động vốn của CTCP khá cụ thể Nhận thấy được vấn đề đó, trong nội dụng bài tập học
kỳ của mình môn Luật thương mại 1 em xin mạnh dạn chọn đề tài số 10 : “Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của CTCP’’ qua đó để có cái nhìn pháp lý sâu sắc hơn về các quy định của pháp luật huy động vốn của CTCP Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót do hạn chế về kiến thức và kĩ năng lập luận Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG
I Khái quát về CTCP và câu trúc vốn của CTCP
1 Khái quát về CTCP:
Khoản 1 Điều 77 LDN 2005 đã đưa ra khái niệm về CTCP dưới dạng liệt kê các
dấu hiệu của CTCP như sau: “CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này"
Ngoài các dấu hiệu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành có thể rút ra một số đặc điểm của CTCP như sau:
- CTCP là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó
- CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Việc chuyển nhượng các phần vốn góp của cổ đông được thực hiện một cách tự
do Phần vốn của cổ đông có thể tự do chuyển nhượng thông qua việc chuyển quyền
sở hữu cổ phần (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) mà biểu hiện hình thức
là chuyển nhượng cổ phiếu Tính chuyển nhượng cổ phiếu mang lại cho nền kinh tế
sự vận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định của tài sản công ty
- CTCP có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như các quan hệ của công ty với các đối tác bên ngoài Sự linh hoạt được thể hiện ở việc chuyển nhượng vốn góp dễ ràng, đồng thời cũng thể hiện trong việc pháp luật quy định CTCP được huy động vốn
Trang 3thông qua nhiều hình thức hình thức khác nhau trong đó quan trọng nhất là phát hành
cổ phiếu và phát hành trái phiếu
- CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu (ĐHĐCĐ) và cơ chế quản lý (HĐQT)
2 Vốn và cấu trúc vốn của CTCP.
Vốn của doanh nghiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được sử dụng trong kinh doanh Vốn là cơ sở để CTCP tiến hành được các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vốn được coi là nhân tố đầu tiên khởi động toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh.Vốn của CTCP chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài
Câu trúc vốn của CTCP được pháp luật quy định là một trong những đặc điểm tạo nên bản chất pháp lý của loại hình công ty này Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn của CTCP là hết sức phức tạp, được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những phương diện khác nhau Căn cứ vào nguồn hình thành, cấu trúc vốn CTCP được chia thành vốn chủ sở hữu và vốn tín dụng
Vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh khả năng tài chính thực sự của công ty Vốn chủ sở hữu được hình thành từ nguồn đóng góp của cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm: vốn điều lệ, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới,
…Bộ phận chủ yếu của vốn chủ sở hữu là vốn điều lệ Vốn điều lệ trong công ty là vốn do tất cả các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ công ty
Vốn vay là khoản vốn mà CTCP đi vay bằng các hình thức khác như vay ngân hàng, vay của các tổ chức cá nhân bằng hợp đồng dân sự và phát hành trái phiếu Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế trong quá trình kinh doanh bao gồm các khoản chiếm dụng và nợ vay
II Pháp luật về huy động vốn của CTCP.
Trang 4Trong nền kinh tế thị trường các công ty không chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn tự có mà phải huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau Các chủ thể kinh doanh thường muốn có nguồn vốn lớn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, vì thế mà các doanh nghiệp phải thường xuyên huy động vốn Huy động vốn là việc tìm ra nguồn tiền để thực thi một ý tưởng hay một dự án nào đó
CTCP thường có thể huy động vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu, tăng vốn vay hoặc tăng cả hai loại vốn này Có thể kể đến một số hình thức huy động vốn cơ bản của CTCP đo là: huy động vốn bằng phát hành chứng khoán, huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng thuê mua, hợp đồng dân
sự Như vậy có thể thấy các hình thức huy động vốn của CTCP khá đa dang, phong phú mang nhiều lợi thế về khả năng huy động vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động, giảm chi phí huy động vốn do tiếp xúc trực tiếp với nhà đầu tư Đặc biệt trong CTCP khẳng định được sự lý tưởng trong mô hình kinh doanh của mình thông qua quyền huy động vốn bằng phát hành chứng khoán được quy định trong Khoản 3 Điều
77 LDN: “CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn” Như vây, trên thực tế CTCP có thể có nhiều cách huy động vốn khác nhau nhưng dưới góc
độ pháp lý và tìm hiểu thực tiễn thì hoạt động phát hành chứng khoán là phương thức huy động vốn quan trọng nhất của CTCP Cũng chính hình thức huy động vốn bằng phát hành chứng khoán đã tạo cho CTCP có khả năng huy động được một nguồn vốn lớn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nổi trộn hơn hẳn các loại hình doanh nghiệp khác Huy đông vốn bằng phát hành chứng khoán của CTCP bao gồm hai hình thức là phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu
1 Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu:
a) Cổ phiếu:
LDN 2005 đã dành hẳn một điều để quy định về cổ phiếu Theo Điều 85 LDN
2005 thì :“Cổ phiếu là chứng chỉ do CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên ”
Cổ phiếu chính là giấy tờ xác nhận quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông trong CTCP Trong CTCP cổ phần được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu nên cổ phiếu
Trang 5được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông Cổ phiếu có hai loại chính là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi (ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lai ) Mệnh giá và thị giá cổ phiếu là vấn đề thường được quan tâm đến khi tìm hiểu về huy động vốn của CTCP Số tiền ghi trên cổ phiếu được gọi là mệnh giá
cổ phiếu Theo thông tư 01/2001/UBCK thì cổ phiếu có mệnh giá thống nhất là 10.000đồng/cổ phiếu Mệnh giá và thị giá cổ phiếu thường không trùng nhau, chỉ khi CTCP mới thành lập thì cổ phiếu mới bán được với theo mệnh giá cổ phiếu Còn thị giá cổ phiếu lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tình hình kinh doanh, lợi tức thu được
b) Phân tích các quy định của pháp luật về huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu.
Huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu cũng là một trong những cách huy động vốn phổ biến nhất của CTCP Lợi ích của huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu so với phát hành trái phiếu hay các hình thức tín dụng khác là ở chỗ nếu như vốn vay thì bao giờ cũng phải trả lãi lẫn vốn, còn đối với cổ phiếu thì không phải trả lãi và CTCP
có thể ngừng trả cổ tức nếu gặp khó khăn về khả năng thanh toán Huy động vốn
thông qua phát hành cổ phiếu là hình thức huy động vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu của CTCP Phát hành cổ phiếu là một quyền năng đặc biệt của CTCP mà không một loại hình doanh nghiệp nào có Phát hành cổ phiếu có nghĩa là bán đi một phần quyền sở hữu công ty cho người mua cổ phần sẽ trở thành chủ sở hữu công ty Các cổ đông nắm giữ quyền sở hữu công ty tùy thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp của họ trên vốn điều lệ Nên khi có cổ phiếu mới được bán hết thì phần quyền sở hữu công ty của cổ đông bị giảm sút do có sự tăng lên của vốn điều lệ Điều này dẫn đến sự thay đổi vị thế của từng cổ đông, vì vậy có thể thay đổi cơ cấu quản lý và kiểm soát công ty Do vậy việc quyết định về số lượng cổ phiếu, loại cổ phiếu phát hành cũng như phương thức phát hành cần phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ Thế nên việc phát hành cổ phiếu chỉ được quy định duy nhất tại Điều 87 trong LDN 2005 nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với CTCP:
Trang 6Thứ nhất, Khoản 1 “HĐQT có quyền quyết định thời điểm, phương thức và
giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán” Theo quy định này
HĐQT của công ty đã được trao thêm quyền năng mới đó là quyền quyết định địa điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần Quyền năng này của HĐQT là rất cần thiết và quan trọng vì hơn ai hết họ chính là những người trực tiếp điều hành quản lý công ty Tuy nhiên quyền quyết định tổng số cổ phần đưa ra chào bán của CTCP lại
thuộc về ĐHĐCĐ quy định tại Điều 96: “Đại hội đồng cổ đông có các quyền và
nhiệm vụ sau đây: ; Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; ” Số lượng cổ phần được quyền chào bán quyết định những vấn đề
cơ bản liên quan trực tiếp tới doanh doanh nghiệp, và hơn nữa liên quan trực tiếp tới quyền lợi của những nhà đầu tư Số lượng cổ phần cho thấy khả năng về vốn của doanh nghiệp cũng như tiềm năng đầu tư của cổ đông Trên thực tế, việc chào bán cổ phần doanh nghiệp cũng như thông tin về tổng số lượng cổ phần được quyền chào bán luôn là những thông tin quan trọng hàng đầu Vì vậy quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán thuộc về ĐHĐCĐ là hợp lý vì điều này liên qua trực tiếp tới quyền lợi lợi họ trong công ty Nhưng điều luật vẫn chưa quy định cụ thể quyền quyết định đó như thế nào, mức tối đa tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán ra sao
Thứ hai, Khoản 1 Điều 87 cũng quy định “giá chào bán cổ phần không được
thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách cổ phần tại thời điểm gần nhất” Quy định này nhằm bảo vệ giá trị cổ phần cũ trong
trường hợp công ty chào bán thêm cổ phần Quy định này cũng cho thấy sự thống nhất đồng bộ giữa qui định của LCK 2006, vì theo quy định của pháp luật về chứng khoán, khi CTCP phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng, giá cổ phiếu bán ra ít nhất phải bằng giá cổ phiếu đang giao dịch tại thị trường Tuy nhiên Điểm a, b, c, d Khoản
1 Điều 87 LDN 2005 cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ như sau:
Trường hợp “cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ
đông sáng lập” Quy định này là hợp lý vì đây là lần đầu tiên chào bán cổ phần, thời
điểm này chưa xác định được giá trị thi trường của cổ phần Giá chào bán cổ phần lần
Trang 7đầu sẽ do HĐQT quyết định, giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng mệnh giá Quy định này phù hợp ngay cả trong trường hợp lựa chon phương thức chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng Điều này đảm bảo thành công cho lần đầu chào bán cổ phần
“Cổ phần chào bán cho tất cả các các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần hiện có của
họ ở công ty” Quy định này được hiểu rằng các cổ đông đã nắm giữ cổ phần của
doanh nghiệp sẽ được mua cổ phần theo tỉ lệ tương ứng với số cổ phần hiện có không tham chiếu giá thị trường tại thời điểm chào bán Trong trường hợp này giá bán cổ phần cho các cổ đông có thể sẽ thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán để đảm bảo quyền ưu tiên cho các cổ đông cũ của doanh nghiệp Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông cũng như đảm bảo sự ổn định về quản lý, sở hữu doanh nghiệp
“Cổ phần chào bán cho người mô giới hoặc người bảo lãnh sự ưu tiên về giá”.
Sự ưu tiên về giá bán cổ phần của đối tương này cũng có giới hạn nhất định LDN
2005 quy định “số chiết khấu hoặc tỉ lệ chiết khấu cụ thể được sự chấp thuận của cổ
đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có thể phải biểu quyết” Như vậy việc
quyết định quyền chiết khấu là bao nhiêu phụ thuộc vào việc chấp thuận của cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết điều đó thể hiện tính thống nhất ý chí của các cổ đông khi quy định giá bán của các cổ phần cho người môi giới hoặc người bảo lãnh Nhưng LDN 2005 chỉ bổ sung quy định về quyền biểu quyết của cổ đông trong trường hợp này lại bỏ quên cách tính giá chào bán cổ phần -một nội dung đã được quy định khá chi tiết và cụ thể tại LDN 1999 Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp khi xác định giá bán cổ phần cho người môi giới và bảo lãnh
“Các trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó do Điều lệ công ty quy định”
Thứ ba, về việc phát hành thêm cổ phần phổ thông – một nội dung hoàn toàn
mới trong LDN 2005 Khoản 2 điều 87 LDN 2005 quy định cụ thể hóa được thủ tục
và trình tự trong trường hợp chào bán cổ phần phổ thông cho các cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp Cụ thể, công ty phải thông báo bằng văn bản đến các cổ đông theo phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của họ Thông báo phải được đăng
Trang 8báo trong ba số liên tiếp trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thông báo Thông báo phải ghi đầy đủ các thông tin theo quy định đối với từng loại của cổ đông, tổng số cổ phần dự kiến phát hành và số cổ phần cổ đông được quyền mua; giá chào bán cổ phần; thời hạn đăng ký mua; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty Thời hạn xác định trong thông báo phải hợp lý đủ để cổ đông đăng ký mua được cổ phần Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua do công ty
phát hành Đặc biệt còn quy định “Cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ
phần của mình cho người khác”.
Quy định này lại một lần nữa đảm bảo quyền lợi của các cổ đông phổ thông trong công ty đồng thời đảm bảo ổn định cơ cấu sở hữu vốn và quyền quản lý của cổ đông phổ thông trong doanh nghiệp Ưu điểm của quy định này là cụ thể hóa được thủ tục và trình tự bán cổ phần phổ thông cho các cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp Tuy nhiên khoản 2 Điều 87 vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được giải quyết triệt để
và rõ ràng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp khi tiến hành chào bán cổ phần
và tạo tính đồng bộ thống nhất giữa các quy định của pháp LDN 2005 và LCK 2006
Cụ thể như sau:
Điểm c Khoản 2 Điều 87 quy định: “Cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác” Đây là quy định đảm bảo quyền lợi cho cổ đông Có thể nhận thấy rằng cổ đông phổ thông có hai quyền song: quyền “mua cổ phần” và quyền “chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần” pháp luật quy định là “người khác” dường như chưa rõ ràng và dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau “người khác” có thể là các CĐPT khác trong doanh nghiệp Nếu theo cách hiểu này, cần phải quy định thêm số cổ phần cổ đông đó được nhận quyền mua cũng phải theo tỉ lệ cổ phần hiện
có của họ trong doanh nghiệp Điều này sẽ đảm bảo tương đối không làm thay đổi, xáo trộn sự ổn định về cơ cấu vốn và quyền quản lý doanh nghiệp của cổ đông Người khác cũng có thể là các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi mà không sở hữu cổ phần phổ thông Vậy trong trường hợp này họ có được phép nhận quyền “quyền ưu tiên mua”
cổ phần do cổ đông phổ thông chuyển giao hay không? Và trong trường hợp pháp luật cho phép họ là đối tượng nhân quyền ưu tiên mua cổ phần từ cổ đông phổ thông thì
Trang 9mức độ và tỷ lệ tối đa họ đươc mua sẽ là bao nhiêu để không ảnh hưởng đến cấu trúc vốn có của CTCP?
Người khác cũng có thể đươc hiểu là những cá nhân, tổ chức bên ngoài doanh nghiệp được nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần phổ thông Nếu theo cách hiểu này, pháp luật cần có quy định cụ thể về cơ chế điều chỉnh quyền mua cổ phần với những đối tượng này để tránh bị thao túng bởi một số người có thiềm lực tài chính
Thứ tư, về việc xử lý số cổ phần còn lại sau đợt phát hành quy định tại Điểm d
Khoản 2 Điều 87 quy định: “Nếu phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về
công ty đúng hạn như thông báo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua Trường hợp số lượng cổ phần dự định phát hành không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì số cổ phần dự kiến phát hành còn lại sẽ do Hội đồng quản trị quản lý Hội đồng quản trị có thể phân phối số cổ phần đó cho cổ đông của công ty hoặc người khác theo cách thức hợp lý với điều kiện không thuận lợi hơn so với những điều kiện đã chào bán cho các
cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua trung tâm giao dịch chứng khoán.” LDN 2005 quy định, HĐQT là cơ
quan có quyền quản lý số cổ phần còn lại sau đợt phát hành HĐQT có thể phân phối
số cổ phần còn lại cho cổ đông công ty hoặc người khác theo cách thức hợp lý với điều kiện không thuận lợi hơn so với những điều kiện đã chào bán cho cổ đông, trừ trường hợp ĐHĐCĐ có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua trung tâm giao dịch chứng khoán
Thứ năm, về thanh toán cổ phần Cổ phần có thể đươc thanh toán bằng nhiều
loại tài sản khác do điều lệ công ty quy định Cổ phần phải được thanh toán đủ một
lần theo quy định tại Khoản 3 Điều 87 LDN 2005 “Cổ phần được coi là đã bán khi
được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty” Sau khi thanh toán đủ số cổ phần
đã mua, công đông có quyền yêu cầu công ty cấp cổ phiếu cho mình Tuy nhiên công
Trang 10ty cũng có quyền bán cổ phần mà không trao cổ phiếu Trường hợp này các thông tin
về cổ đông được nghi vào sổ đăng kí cổ đông đã đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ đông đó trong công ty Trường hợp có sai sót gì trong nội dung cổ phiếu, thì quyền và lợi ích của người sở hữu đó cũng không bi ảnh hưởng Chủ tịch HĐQT,
GĐ hoặc TGĐ phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra đối với công ty Trường hợp cổ phiếu bị mất, rách, bị cháy hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác thì cổ đông được công ty cấp lại cổ phiếu theo đề nghi của cổ đông đó (Khoản 4 Điều 87)
Thứ sáu, về trình tự và thủ tục phát hành cổ phiếu Khoản 6 Điều 87 LDN 2005
quy định khá rõ: “Điều kiện, phương thức và thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán Chính phủ quy định hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ” Như vậy có thể thấy, trình tự thử tục chào bán cổ phần riêng lẻ được các nhà làm luật quy định trong LDN 2005 và rải rác ở trong các văn bản pháp luậy khác Còn đối với chào bán cổ phần ra công chúng hay phát hành chứng khoán rộng rãi chịu sự điều chỉnh của LCK 2006 Ở đây có sự thống nhất tương đối giữa hai đạo luật cùng điều chỉnh hoạt đông phát hành cổ phiếu của CTCP Điều này rất phù hợp với các CTCP đang hoạt động tại Việt Nam Tuy nhiên đáng tiếc là, hiện nay ngoài LDN 2005 và một số văn bản pháp luật khác, chưa hề có một văn bản chính thức nào điều chỉnh về lĩnh vực phát hành cổ phiếu riêng lẻ trong CTCP Các điều kiện về phát hành cổ phiếu chủ yếu vẫn chỉ dựa vào các quy định chung ở Điều 87 LDN 2005 Còn trình tự thủ tục lại được áp dụng theo LCK và phát hành chứng khoán riêng lẻ, bao gồm hai bước là công bố thông tin và phân phối chứng khoán
LCK 2006 quy định về điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng rất chặt chẽ Bao gồm ba điều kiện chủ yếu , quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán
2006 như sau:
Thứ nhất về tiềm lực tài chính, doanh nghiệp muốn chào bán cổ phiếu ra công
chúng phải có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán cổ phiếu là từ