Nghệ sĩ, nhà văn khi phản ánh hiện thực khách quan vào trang viết, vào tác phẩm của mình không thể không thể hiện một cách thờ ơ lạnh lùng mà thể hiện bằng cả tâm hồn.. - Trong Từ điển t
Trang 1LÊ TIẾN DŨNG
NHÀ VĂN VÀ PHONG CÁCH
TP HCM-2007
Trang 2Hội đồng khoa học cấp Trường :
1 PGS TS Huỳnh Như Phương
2 PGS TS Đoàn Lê Giang
3 TS Nguyễn Công Lý
4 PGS TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
5 TS Nguyễn Thị Loan
Đã đọc duyệt và thông qua
Trang 3MỤC LỤC
1.Nhà văn
1.1 Nhà văn trong lịch sử
1.2 Vậy nhà văn là ai ?
2 Phong cách nghệ thuật của nhà văn
2.1.Các quan niệm khác nhau
2.2 Phong cách nghệ thuật
2.3 Phong cách nghệ thuật của nhà văn và phong cách sống
2.4 Biểu hiện của phong cách nghệ thuật của nhà văn
2.5 Phong cách và các phạm trù khác của khoa nghiên cứu văn học
3 Phong cách một số nhà văn
3.1 Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
3.2 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
3.3 Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Trang 41 NHÀ VĂN:
1.1.Nhà văn trong lịch sử:
- Có văn học thì phải có người sáng tạo ra nó Đó là nhà văn Hay nói cách khác nhà văn là người sáng tạo ra các tác phẩm văn học Cũng như nói
họa sĩ là người sáng tạo ra các tác phẩm hội họa, nhạc sĩ là người sáng tạo ra các tác phẩm âm nhạc Những tên gọi khác nhau tùy vị trí của những người sáng tạo văn học như : thi nhân, văn nhân, thi sĩ, văn sĩ, đại văn hào, đại thi hào đều là những thuật ngữ để trỏ nhà văn, những nghệ sĩ ngôn từ
- Trong lịch sử văn học không phải lúc nào cũng có thể xác định nhà văn một cách cụ thể
+) Trong buổi đầu của văn học, nhà văn đó là một tập thể Bắt đầu ai đó
xướng lên một câu ca, một câu chuyện kể, rồi được lưu truyền và sửa chữa Tác giả tập thể đã làm nên bộ phận văn học đầu tiên của nhân loại : văn học dân gian Trong văn học dân gian có nụ cười và nước mắt, có nỗi buồn và niềm vui Nhưng đó là nỗi buồn, niềm vui, nụ cười, nước mắt của con người nói chung chứ không phải cái nhìn một cá nhân cụ thể nào đó Cho nên chưa nói đến phong cách cá nhân, cá tính sáng tạo, hay một nhà văn cụ thể trong văn học dân gian
+) Lại không ít tác phẩm văn học đã từng do một nhà văn cụ thể nào đó sáng tác Nhưng vì những lí do nào đó đã không ghi tên tác giả Những tác
phẩm nay được gọi là vô danh hay khuyết danh Văn học Việt Nam đã từng biết đến những tác phẩm khuyết danh khá nổi tiếng như Nhị độ mai, Phan Trần, Thạch Sanh, Trê Cóc
+) Cùng với chữ viết ra đời, tên tuổi của các nhà văn mới được ghi dấu thật sự lên tác phẩm của mình Lịch sử văn học đã ghi nhận nhà văn với tư cách một người sáng tác văn học chuyên nghiệp chỉ xuất hiện giai đoạn sau của văn học Các tên tuổi trong văn học Việt Nam chẳng hạn, vai trò nhà văn xuất hiện kèm theo một chức danh khác trong đời
1.2 Vậy nhà văn là ai ?
- Đã có không ít những công trình nghiên cứu công phu và nghiêm túc
nhằm trả lời câu hỏi nhà văn là ai Có ý kiến đã tuyệt đối hóa họ như thánh thần Người Hi Lạp cổ đại cho rằng nàng thơ cũng như các nữ thần nghệ thuật khác nhập vào ai thì người đó thành nhà thơ Thần thoại Ấn Độ lại khẳng định thần Brakhma đã từng dạy cho nhà thông thái Bratimuni biết làm thơ Cho đến ngay cả nhà triết học cổ đại Hi Lạp nổi tiếng là Platon vẫn cho rằng có được tài năng nghệ thuật là do thần trợ Và A S Pushkin, nhà thơ Nga vĩ đại ở thế kỉ
Trang 5XIX, được xem là “mặt trời của thi ca Nga” đã không ngần ngại tuyên bố rằng sáng tạo được là nhờ “trời đến gần ta”
Lại có quan niệm về nhà văn có phần đơn giản Rằng do chỗ mỗi người đều mang trong mình mầm móng nghệ sĩ nên cứ rèn luyện bền bỉ và lâu dài đều có thể thành nhà văn
Hình như ở cả hai cách hoặc là đơn giản hóa nhà văn, hoặc là thần thánh hóa nhà văn đều có thể gây cản trở để không lĩnh hội đầy đủ ý nghĩa của những con người trong ngành sáng tạo đặc biệt này
- Có thể nói nhà văn trước hết là một người có năng khiếu về văn học,
cũng như họa sĩ phải có năng khiếu về hội họa, nhạc sĩ phải có năng khiếu về âm nhạc Nếu không có năng khiếu văn học thì khó mà trở thành nhà văn được Ông Phạm Văn Đồng đã từng có ý kiến xác đáng về vấn đề này : "Làm văn nghệ phải có khiếu, có tài Tôi nghĩ hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt này, lĩnh vực văn học nghệ thuật mà không có tài, có khiếu, thì khó khăn lắm Làm các nghề khác, không có tài cũng có thể làm được việc Nếu không có
tài năng gì đặc biệt thì anh nên đi làm việc khác, chứ làm văn nghệ, khổ lắm"
+) Nói tới năng khiếu là nói tới khả năng đặc biệt về một lĩnh vực nào đó Năng khiếu văn học là khả năng đặc biệt về sáng tạo văn học Năng khiếu nhiều nhà văn bộc lộ từ rất sớm Chẳng hạn G Boccacio mới lên 6 tuổi đã sáng tác Bảy tuổi N.Nekrasov đã ứng tác được một bài thơ châm biếm Tám tuổi A Pushkin đã nghĩ ra một vở hài kịch Ở ta, từ nhỏ Mạc Đỉnh Chi đã được xem là một thần đồng trong thơ văn Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát sáu tuổi đều đã biết làm thơ Trần Đăng Khoa làm thơ từ khi bảy tuổi
+) Ngược lại không ít nhà văn khả năng văn học lại bộc lộ khá muộn
W Shakespeare sau khi đã trải qua nhiều nghề, ở tuổi 26 mới bắt đầu sáng tác
J Rousseau gần tuổi bốn mươi mới nghĩ rằng mình có thể trở thành nhà văn L Tolstoi cũng ở tuổi 40 mới hình thành con người văn học
- Năng khiếu văn học là gì?
+) Nói tới năng khiếu là nói tới một khả năng đặc biệt có ở một người nào đó về một lĩnh vực nào đó Có người có năng khiếu về toán, có người có năng khiếu về ngoại ngữ Lại có người có năng khiếu về tranh, về viết chữ, về thể thao, hay chỉ đơn giản là công nghệ nào đó Chính nhờ năng khiếu này mà con người ta có thể trở thành tài năng trên lĩnh vực mình có năng khiếu
+) Nhà văn có năng khiếu, tức là cũng có khả năng đặc biệt trong lĩnh vực văn học Loại năng khiếu đặc biệt này thường được bộc lộ trên các mặt sau đây :
Trang 6Thứ nhất, người có năng khiếu văn học cũng như năng khiếu nghệ thuật nói chung thường là những người rất nhạy cảm Nhà văn là người mà mọi chấn
động của xã hội, của con người anh ta đều nắm bắt được
Nhà phê bình Hoài Thanh, đã hình dung ra Nguyễn Du là “người lặng lẽ, ít nói, ít cười, ít cởi mở với đời nhưng tâm hồn thì lộng gió mười phương,
không chuyển động nào bên ngoài lại không vang sâu trong đó” (14; tr 237 )
Chính sự nhạy cảm này tác phẩm của ông nói được “những điều trong thấy mà đau đớn lòng” N A Gulaiev cũng nhận xét : “Điều làm cho người nghệ sĩ thực thụ có tài năng khác với người thường là sự mẫu cảm đặc biệt, tính xúc động về mặt cảm xúc cao Những tình cảm vui buồn chiếm lĩnh toàn bộ
con người anh ta" (4; tr 195)
Nghệ sĩ là một tâm hồn nhạy cảm với nỗi buồn vui cuộc đời Nghệ sĩ, nhà văn khi phản ánh hiện thực khách quan vào trang viết, vào tác phẩm của mình không thể không thể hiện một cách thờ ơ lạnh lùng mà thể hiện bằng cả tâm hồn Nhà thơ Tố Hữu đã viết rằng : "Bài thơ hay làm cho người ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người Quên rằng đó là tiếng nói của
ai, người ta thấy nó như tiếng ca từ lòng mình, như là của mình vậy” (6; tr 444)
Người nghệ sĩ khi thể hiện lên trang giấy, nhiều khi rút từ đời mình ra Nên mỗi câu mỗi chữ, đều phập phồng nhịp đập của trái tim nhà văn
Bà Trần Thị Sen, vợ nhà văn Nam Cao, kể lại, truyện ngắn Mua nhà của
Nam Cao là một chuyện xảy ra thực trong đời của nhà văn Lần đó, vợ nhà văn mua nhà của một người vợ chết, hay đánh bạc Nam Cao biết, rầy la mãi về chuyện này "Tính anh nhân hậu, rất thương người, nên xảy ra chuyện mua nhà
như vậy lòng anh ray rứt mãi" (Gặp gỡ bà Trần Thị Sen, vợ nhà văn Nam Cao, Tạp chí Văn học, số 5 1987, tr 138) Điều ray rứt này sau đã được thể hiện trong truyện ngắn Mua nhà của ông
Tiễn con đi bộ đội, bà mẹ nói : “Ừ thì con đi đi”, nếu là người bình thường, dễ dàng bỏ qua chữ “thì” Nhưng với sự mẫn cảm đặc biệt của trái tim thi sĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã nhận ra nỗi dùng dằng của lòng mẹ nơi một chữ thì chia ly này Ông viết:
Có phải là thưa mẹ Cho buổi con lên đường Giao con làm chiến sĩ Mẹ chỉ giữ chữ “thì”
Nối căn phòng mẹ ở Với chân trời con đi
Trang 7Nguyễn Khoa Điềm – Thưa mẹ con đi
Với trái tim giàu xúc động, nhà văn đã cất lên tiếng nói đúng lúc cần thiết nhất Và tình cảm của nhà văn càng chân thành, tha thiết bao nhiêu thì càng rung động người đọc bấy nhiêu Còn ở những trang viết thờ ơ, nhạt nhẽo,
dĩ nhiên là khó có thể tìm được tri âm
Thứ hai, nhà văn có một trí tưởng tượng phong phú
Tưởng tượng là một phẩm chất tất yếu của bất cứ con người nào Mác đã từng cho rằng sự khác nhau giữa một người kiến trúc sư và con ong là chỗ khi làm một cái nhà, bao giờ người kiến trúc sư cũng đã hình dung, tưởng tượng ra trước ở trong đầu Còn con ong thì làm tổ theo bản năng giống loài của nó Lênin cũng khẳng định : “Trong mọi sự khái quát dù đơn giản nhất trong một ý
niệm dù sơ đẳng nhất cũng có một mẫu của tưởng tượng” (Bút ký triết học)
Với nhà văn, tưởng tượng càng đặc biệt quan trọng Pautovsky cho rằng
“Tưởng tượng là cội nguồn sáng tạo của nghệ thuật, là vầng thái dương vĩnh
cửu và là chúa Trời của nó”, “là đất đai mang vàng bạc đến cho thơ văn” (13; tr.117) Còn Senysevsky xem “Cái chủ yếu trong tài năng nghệ thuật đó là cái được gọi là sự tưởng tượng sáng tạo” (Dẫn theo 8; tr 118) Pautovsky trong Bông hồng vàng đã kể lại rằng : “Một lân giữa đám bạn bè E Zola nói rằng
nhà văn không cần đến trí tưởng tượng Công việc nhất thiết chỉ được dựa trên sự quan sát chính xác Như ở ông Ở E Zola Maupassant có mặt lúc đó vặn lại : “Thế cái việc ông viết những cuốn tiểu thuyết lớn chỉ dựa trên những tin đăng báo và hàng tháng trời không bước ra khỏi nhà thì giải thích sao đây ?” Zola nín lặng Maupassant cầm lấy mũ và ra đi Việc bỏ về của ông có thể coi là một cử chỉ nhục mạ, nhưng ông không sợ điều đó Ông không cho phép ai, kể
cả Zola, phủ nhận trí tưởng tượng” (13; tr.176)
Nhà văn không thể sáng tạo được nếu không có tưởng tượng Nhờ có tưởng tượng mà Trần Đăng Khoa nhìn mặt trời và gió thổi như những con người
: "Ông mặt trời đạp xe qua đỉnh núi Cô gió chăn mây trên đồng" Tưởng tượng
đã giúp cho nhà văn Nguyễn Công Hoan viết ra "những chuyện bịa có thật" ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
Trí tưởng tượng giúp nhà văn xâm nhập vào cuộc sống xung quanh, đi sâu vào tâm hồn người khác, đặt ra trong óc mình bao tình huống có thể xảy ra dựa trên kinh nghiệm sống mà mình đã trải qua, đã chiêm nghiệm Từ đó mà tìm lời giải đáp hay gởi gắm khát vọng của mình nơi những con người và cảnh vật mà mình miêu tả Tưởng tượng giúp nhà văn nhập thân, hóa thân vào con
người sự kiện mà nhà văn xây dựng G Flaubert tâm sự khi viết Bà Bovary :
Trang 8người đang yêu Tôi cưỡi ngựa đi dạo trong vườn, sau bữa ăn, mùa thu, và tôi là những cành đầy lá vàng, là những chiếc lá, là gió, là tiếng nói và ánh nắng mặt trời, ở đó mỗi tế bào của thân thể tôi đều chìm ngập trong hạnh phúc tình yêu
(Dẫn theo 1; tr 284) Chính nhờ sự nhập thân này mà nhà văn có thể đưa đến
cho người đọc những nhân vật, hình tượng như nó đang tồn tại
Nhà văn chỉ có thể tưởng tượng được phải dựa trên cơ sở thực tế “Nếu
không có thực tế thì tưởng tượng cũng không thể tồn tại” (13; tr.178) B
Xuscov cũng cho rằng : “Ngay khi người nghệ sĩ bịa đặt và vẽ vời một điều gì đó mà anh ta cho là ở ngoài biên giới thực tại, thì anh ta chẳng qua cũng chỉ tái
tạo những bộ phận của cái chỉnh thể được gọi là thực tế” (18; tr 13) Bụt,
tiên trong văn học dân gian chẳng hạn, là những nhân vật hoang đường nhưng nó cũng có những cơ sở thực tế của nó không chỉ ở chỗ thể hiện những khát khao về lẽ phải, công bằng của con người mà chính ở những hình tượng ấy mang những nét của con người
Tưởng tượng nhà văn mang ý nghĩa thẩm mỹ Nói là tưởng tượng nhưng bao giờ cũng dựa trên niềm tin, chứ không nó sẽ thành trò chơi vô vị của trí óc :
Tố Hữu nói : "Văn chương là sáng tạo, là tưởng tượng, nhưng đừng nói dối, bịa đặt những điều mình không nghĩ, không cảm chân thật” (6; tr 425)
Khi Chế Lan Viên viết: “Cho tôi được làm sóng dưới thân tàu đưa tiễn Bác” thì chúng ta biết là tác giả tưởng tượng, vì câu chuyện Bác đã tìm đường
cứu nước đã lùi vào dĩ vãng, nhưng chúng ta vẫn xúc động, vì đó là cảm xúc chân thành của nhà thơ đối với Bác khi tìm đường cứu nước
Thứ ba : nhà văn có một khả năng quan sát tinh tế
Với một tâm hồn nhạy cảm, giàu trí tưởng tượng, nhà văn còn phải là người có khả năng quan sát tinh tế Tô Hoài từng cho rằng : “Không phải tôi riêng đề cao sự quan sát cần thiết hơn tư tưởng và từng trải Nhưng quả là muốn viết được phải biết lối quan sát để ấn sâu thêm trí nhớ, giúp cho sức
tưởng tượng” (5; tr.172) Pautovsky gọi khả năng quan sát ở nhà văn là “nghệ
thuật nhìn thế giới” Người có khả năng quan sát là nhìn ra ở những sự vật những điều mà người khác không thấy Nhà điện ảnh Dovzenco nói rằng “Hai người nhìn xuống, một người thấy vũng nước, người kia thấy những vì sao” là cũng để nói lên vai trò quan sát đối với sáng tạo
Nhờ khả năng quan sát tinh tế, mà Trần Đăng Khoa nhìn thấy ở loài
kiến có cả một thế giới riêng biệt với những đặc điểm riêng Bài thơ Đám ma bác Giun là sự cảm nhận đó:
Bác Giun đào đất suốt ngày
Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà
Trang 9Họhàng nhà Kiến kéo ra
Kiến Con đi trước, Kiến Già theo sau
Cầm hương Kiến Cụ bạc đầu
Khóc than Kiến Cánh khoác màu áo tang
Kiến Lửa đốt đuốc đỏ làng
Kiến Kim chống gậy, Kiến Càng nặng vai
Đám ma đưa đến là dài
Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà
Kiến Đen uống rượu trong nhà
Đầy trời Kiến Gió bay ra chia buồn
Trần Đăng Khoa – Đám ma Bác Giun
Trần Đăng Khoa biết lắng nghe và phân biệt, được tiếng lá rơi nghiêng
(Ngoài thềm rơi cái lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng ).Thấy được
nỗi đau ngày Bác mất đã biến cụ già thành trẻ nhỏ và trẻ nhỏ nghiêm trang
như cụ già (Trẻ con nghiêm trang như cụ già Cụ già khóc như trẻ nhỏ)
Quan sát giỏi là nhà văn phải thấy ra được những nét chính, những đặc điểm riêng của sự vật con người Một nhà văn Pháp nói rằng : “Một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới trông tưởng thế, nhưng trông kỹ thì cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau”
Không chỉ giỏi quan sát bên ngoài, nhà văn nhạy bén trong việc tự quan sát Họ lắng nghe những xúc động trong tâm hồn rồi thể hiện nói lên trang viết
Khi Hữu Thỉnh viết
Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch
là khi tác giả không chỉ hóa thân, mà còn lắng nghe được nỗi xúc động sâu xa của người vợ xa chồng Trong đó vừa cô đơn, vừa thủy chung và cũng rất đau xót
Chỉ có thể lắng nghe được tiếng nói bên trong mới quan sát bên ngoài tinh tế được Chỉ quan sát bên ngoài thì mới bộc lộ được thế giới bên trong của mình
Thứ tư, nhà văn cũng là người có trí nhớ tốt
Trí nhớ là phẩm chất chung của con người Nhờ có trí nhớ mà con người
ta ghi nhớ được những kinh nghiệm, những tri thức đã đạt được để tiến hành các hoạt động của mình Cũng nhờ có trí nhớ mà con người có thể tiến lên đạt
Trang 10Đối với nhà văn, trí nhớ đặc biệt quan trọng K G Paustovsky viết rằng : “Một trong những yếu tố cơ bản để viết văn là trí nhớ tốt” “Trí nhớ là cái rây
thần để cho cát bụi lọt qua nhưng giữ lại những vụn vàng” (13; tr.109, 222)
Nhiều nhà văn có trí nhớ rất đặc biệt Gaida thuộc lòng cả truyện dài
Chú bé đánh trống (Theo 13; tr.140) H Balzac nhớ rành rọt tên họ và cả tiểu
sử của hai nghìn nhân vật do ông xây dựng J W Goethe có thể nhắc lại rành rọt nội dung một tác phẩm định viết dở dang từ hơn ba mươi năm trước Nhờ có trí nhớ nhà văn sáng tác được M Gorky nói rằng : “Sáng tác chính là hoạt động của trí nhớ một cách căng thẳng đến mức rút ra trong vốn tri thức ấn
tượng của nhà văn những việc, những cảnh, những tình tiết nổi bật”
Trí nhớ của nhà văn chủ yếu ghi lại những ấn tượng, cảm xúc những việc, những cảnh, những người, những ấn tượng đọng lại trong nhà văn thành những kỷ niệm da diết, rồi một lúc nào đó mà vụt lên thành những hình tượng tác phẩm Hồi ức về con sông quê hương bỗng ùa dậy mãnh liệt giúp cho Tế
Hanh viết thành công bài thơ Nhớ con sông quê hương
Thứ năm, nhà văn là người có trí tuệ sắc bén
Đã không ít người xem có một trí tuệ sắc bén là có hại đối với sáng tạo nghệ thuật Nhưng thật sự đã là một nhà văn phải có năng lực trí tuệ Tầm tư tưởng cao sẽ là tầm nhìn của nhà văn về con người và cuộc đời Nhờ đó mà nhà văn có thể nhìn ra được những nét bản chất nhất của hiện thực, lý giải và cắt nghĩa được bản chất của nó
Nhà tư tưởng thường đi đôi với nhà văn Một mặt họ vừa phải là con người giàu xúc động, nhưng mặt khác trí tuệ phải sắc bén Tố Hữu đá có lần nói : “Đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ, đó là Hitmét Đốt cháy trí tuệ đến
thành trái tim, là Brêch đây rồi” (Tạp chí Văn học số 1.1973) Đó cũng là mối
quan hệ giữa tình cảm và lý trí trong bản thân con người nhà văn
Thứ sáu,sáng tạo văn học bao giò cũng ghi đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn Mỗi nhà văn có tài đều có một giọng văn riêng, không dễ gì lẫn
với ai Đọc văn Nguyễn Tuân ta thấy một lối văn cẩn trọng, tỉ mỉ mà pha chút khinh bạc Còn lời văn của Xuân Diệu bao giờ cũng ào ạt, mãnh liệt, tuôn trào cảm xúc Văn của Nam Cao đầy những triết luận lại pha chút đắng cay, chua xót M.B.Khravtsenco cho rằng: "Những người sành sõi về văn học có thể căn cứ vào những đặc điểm về giọng điệu của một đoạn văn tự sự nhất định mà họ chưa hề biết hoặc căn cứ vào mấy dòng của một bài thơ mới lạ để xác định tác giả của những tác phẩm ấy" Ở một chỗ khác, ông cho rằng: "Với tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp,
nó tạo ra hệ thống giọng điệu của tác phẩm" Vì thế mà qua lời văn nghệ thuật
Trang 11có thể nhận xét giọng văn của từng người, cho giọng văn của người này lạnh lùng, giọng văn của người kia đằm thắm trữ tình v.v Tác giả không tạo được giọng văn riêng thì khó mà trở thành nhà văn thực sự Đúng như A.Tsekhov đã nhận xét: "Nếu tác giả không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả Nếu anh ta không có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ"
Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm đồng thời sáng tạo ra lời văn của mình, tạo nên "hơi văn", văn khí" hay nói như bây giờ là tạo nên "giọng văn" của mình Cảm nhận được cá tính sáng tạo là một cơ sở quan trọng để hiểu nhà văn
Có năng khiếu là quan trọng, nhưng đó chỉ mới là yếu tố “cần” chứ chưa
“đủ” Từ năng khiếu đến tài năng nghệ thuật còn là một quá trình rèn luyện lâu dài và gian khổ của nhà văn Nhà văn phải tích lũy thêm vốn sống, vốn chính trị, vốn nghề nghiệp, vốn văn hóa Đó là những yếu tố hết sức cần thiết để trở thành một tài năng văn học Nhà văn chỉ trở thành một tài năng nghệ thuật thật sự khi tạo được cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP:
1 Nhà văn là ai?
2 Nhà văn có những phẩm chất gì?
3 Năng khiếu văn học là gì? Hãy phân tích năng khiếu của một nhà văn cu thể mà anh (chị) biết
Trang 122 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN
2.1 Các quan niệm khác nhau về phong cách nghệ thuật của nhà văn là gì ?
Có nhiều người hiểu phong cách khác nhau
-) Raxun Gamzatov trong cuốn Đaghestan của tôi, (NXB Cầu vồng,
Matxcova, 1984), mục Bút pháp đã cho rằng:
“Dù bài thơ thể hiện ý tứ dộc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp Không chỉ đơn là đẹp mà còn đẹp một cách riêng Đối với nhà thơ, tìm cho ra
bút pháp của mình và thấy được mình- nghĩa là trở thành nhà thơ” (Sđd, tr.166)
“Giờ đây, khi tôi đã ngoài 40 tuổi, tôi ngồi trước 40 cuốn sách của tôi, lật lật xem qua và thấy rằng trên cánh đồng gieo lúa mì của tôi đã có những
thứ cây từ cánh đồng lan sang, những thú cây mà tôi không gieo”(Sđd, tr.166)
-) Trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (NXB Tác
phẩm mới, H 1978) B Khrapchenco đã đưa ra nhiều định nghĩa về phong cách
tiêu biểu cho nhiều quan niệm khác nhau Chẳng hạn D Likhachev, A Grogorian, V Turbin, V Jirmunsky, V Kôvalev, L Novichenco, V Dneprov,
Ya Elsberg, R Yakobson Khrapchenco cho rằng các định nghĩa này xòe ra như một cái nan quạt mà một phía thì thừa nhận phong cách là một phạm trù lịch sử-thẩm mĩ rộng nhất, bao quát nhất, nhưng một phía khác lại coi phong cách như một đặc điểm riêng của từng tác phẩm văn học
Khrapchenco viết: “Hiện đang tồn tại một số lượng rất lớn những định nghĩa khác nhau về phong cách văn học Những định nghĩa này xoè ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù lịch sử – thẩm mỹ rộng nhất, bao quát nhất và sự nhìn nhận nó như những đặc điểm của những tác phẩm văn học riêng lẻ Nếu như chỉ giới hạn ở những ý kiến về vấn đề đó, những ý kiến chủ yếu được nêu lên vào thời gian gần đây thì phải thừa nhận rằng có rất nhiều sắc thái trong sự bất đồng ý kiến”
Cuối cùng, Khrapchenco cũng nêu lên định nghĩa khái quát: “Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả”
-) Phương Lựu đưa ra khái niệm về phong cách trong bộ sách Lý luận
văn học Sau đó ông viết lại trong sách Từ điển văn học, NXB KHXH
H.1984,tập II như sau:
“Phong cách là chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm mỹ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn Không phải bất cứ nhà văn nào cũng tất yếu có
Trang 13phong cách, mặc dù nói cho cùng nhà văn nào cũng có đặc điểm Song đặc điểm mờ nhạt chưa đủ, phải là chỗ thật độc đáo không thể thay thế được mới làm nên phong cách Chỉ cần lặp đi lặp lại đã gọi là đặc điểm, nhưng phong cách, tuy cũng đòi hỏi sự bền vững, không chấp nhận sự chóng phai mờ, nhưng
phải là sự lặp đi lặp lại một cách đổi mới”(Sđd, tr.214)
-) Trong Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992) các
tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên đã định nghĩa:
“Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất
tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật,nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm
riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc Phong cách khác phương pháp sáng tác ở sự thực hiện cụ thể trực tiếp của nó: các dấu hiệu phong cách
dường như nỗi lên trên bề mặt tác phẩm, như là một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác được của tất cả mọi yếu tố cơ bản của hình thức nghệ thuật Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và sắc thái thống nhất.Với ý nghĩ này người ta phân biệt các “phong cách lớn”, hay còn gọi là “phong cách thời đại”, các phong cách của các trào lưu và dòng văn học, phong cách dân tộc, phong cách cá nhân của
học dân tộc nào đó (Sđd, tr 1472)
- ) Ông Phan Ngọc trong cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
truyện Kiều, (NXB Thanh niên tái bản,2003), đã khẳng định : “Phong cách là
một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời
đại, một thể loại, một tác phẩm, hay một tác giả” (Sđd, tr.31)
Tóm lại, mỗi người đã đưa ra một khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn điểâm chung Đó là nét sáng tạo độc đáo mà ta sẽ phân tích ở mục sau
2.2 Phong cách nghệ thuật:
- Khái niệm phong cách có nguồn gốc từ thuật “stylos” (Hy lạp),
“stylus”(La Mã), “Style” (Pháp)…Lúc đầu thuật ngữ này được hiểu là “nét chữ”, “bút pháp” Sau đó mới có nghĩa là “phong cách”
Trang 14Phong cách nghệ thuật thường được hiểu theo hai nghĩa :
- Thứ nhất nói tới phong cách là nói tới đặc điểm sáng tạo, nói tới văn phong của mỗi nhà văn Theo nghĩa này nhà văn dù ít, dù nhiều đều có phong
cách
- Thứ hai nói tới phong cách là nói tới những nét riêng, độc đáo mới lạ nổi bật của nhà văn, giúp cho người đọc nhận ra diện mạo sáng tạo của nhà văn không lẫn với các nhà văn khác Nét riêng này tạo nên phẩm chất thẩm mĩ
nghệ thuật của nhà văn Nét riêng, độc đáo này phải “được lặp đi lặp lại”, tạo nên “tính ổn định” trong phong cách của nhà văn Mặt khác nét riêng đó cũng phải luôn luôn được đổi mới không lặp lại, không sáo mòn Do đó đòi hỏi phải có tính nghệ thuật cao Theo nghĩa này, thì không phải nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ những nhà văn thực sự có tài, thực sự có bản lĩnh nghệ thuật cao mới có phong cách
Ở đây chú ý biểu hiện của phong cách:
+) Mỗi nét phong cách phải một điểm độc đáo, mới lạ, không hề lẫn với
ai Ví dụ Xuân Diệu có một nét rất độc đáo là một khát vọng sống mãnh liệt, nồng nàn
+) Nhưng nét độc đáo phải ổn định, ở tác phẩm nào cũng có, thống nhất
Yếu tố giúp chúng ta nhận ra nét chủ yếu của phong cách nhà văn Chẳng han khát vọng sống vọng sống của Xuân Diệu ở tác phẩm nào cũng phải mãnh liệt, nồng nàn
+) Cái ổn định phải luôn luôn đổi mới Nghĩa là, cái ổn định trong nó
phải có cái mới, không lặp lại
+) Phong cách mang phẩm chất thẫm mĩ, nó phải mang tới cho người đọc
một sự hưởng thụ mĩ cảm cao
Như vậy, có thể nói phong cách của nhà văn là những đặc điểm tư tưởng nghệ thuật độc đáo của nhà văn có ý nghĩa thẩm mĩ và có tính chất ổn định tạo
ra diện mạo tính thần riêng của nhà văn đó
Ta có thể nói tới phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, của Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng Ở những nhà văn này đã có những đặc điểm nghệ thuật người đọc có thể hình dung ra được chân dung nghệ thuật của họ Hơn thế nữa, tiếp nhận sự độc đáo của họ như tiếp nhận một phẩm chất thẩm mĩ - nghệ thuật
2.3 Phong cách nghệ thuật của nhà văn và phong cách sống
- Phong cách nghệ thuật của nhà văn không đồng nghĩa với phong cách sống Phong cách nghệ thuật không phải là lối sống, là đặc điểm về thế giới quan, thói quen của nhà văn ở ngoài đời Nhưng nhân tố này là những nhân
Trang 15tố hình thành nên phong cách hoặc ảnh hưởng đến phong cách chứ không phải bản thân phong cách
- Lịch sử văn học nhân loại đã chứng minh nhiều nhà văn phong cách văn học rất khác với phong cách sống Đó là hai phạm trù khác nhau, có tác động lẫn nhau, chứ không thể nói là đồng nhất với nhau Trường hợp Vũ Trọng Phụng là một ví dụ tiêu biểu
2.4 Biểu hiện của phong cách nghệ thuật của nhà văn
Phong cách nghệ thuật của nhà văn chỉ được xem xét qua tác phẩm Nó bộc lộ trong toàn bộ các yếu tố của tác phẩm Nó bộc lộ từ việc dùng từ đặt câu cho tới việc xây dựng nhân vật, cách kể chuyện, từ việc lựa chọn các chi tiết cho tới việc tổ chức cốt truyện, từ hệ thống vấn đề cho tới nội dung tư tưởng của tác phẩm Ở phương diện nào nhà văn cũng có thể chứng tỏ dấu ấn cá tính sáng tạo của mình, tức là bộc lộ phong cách nghệ thuật
- Người ta có thể nói tới phong cách ở cái cảm xúc rào rạt, mạnh mẽ của Xuân Diệu mà cũng có thể nói tới phong cách dùng từ rất dụng công của Nguyễn Tuân Người ta có thể nói phong cách ở thể tài chính trị của thơ Tố Hữu hay ở cái "hồn thơ" ở các nhà Thơ mới như Hoài Thanh đã tổng kết :
"Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ
dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu ” (15;
tr 17 )
Có thể nói không một yếu tố nào trong tác phẩm lại không bộc lộ phong cách Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn là qua tác phẩm chứ không phải ở phong cách sống
Nhà văn tạo cho mình có phong cách tức là đã tạo cho mình một chỗ đứng trong văn học Nền văn học càng phát triển thì các phong cách càng đa dạng, phong phú Nền văn học càng yếu kém là nền văn học không có phong cách cá nhân Trong những thời đại văn học phát triển, có nhiều phong cách gần gũi nhau, mang dấu ấn thời đại “phong cách thời đại”
Phong cách thể hiển ở nhiều yếu tố của tác phẩm như đề tài, chủ đề, kết cấu, nhân vật, chi tiết, tình tiết, truyện, cốt truyện, ngôn từ, cách kể chuyện…Chẳng hạn như đề tài nổi bật của thơ Tố Hữu là trữ tình chính trị, còn đề khác không nổi bật như tình yêu Ngược lại Xuân Diệu mạnh về đề tài tình yêu, còn các đề tài không nổi bật được bao nhiêu
2.5 Phong cách và các phạm trù khác của khoa nghiên cứu văn học
Trang 162.5.1 Phong cách của tác phẩm văn học Như đã trình ở trườc, tác phẩm có bao nhiêu yếu tố thì có bấy nơi cho phong cách bộc lộ Những yếu tố tạo thành phong cách trong tác phẩm bao gồm: chủ đề, đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu… Phong cách là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức của tác phẩm
Phân biệt phong cách tác phẩm và thi pháp tác phẩm cũng có điểm khác nhau Phong cách là chỉ những đặc điểm độc đáo của nhà văn Còn thi pháp là
chỉ những nguyên tắc nghệ thuật của nhà văn đó Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc sáng tạo của một nhà văn, một thời đại văn học hay một thể loại văn học nào đó
Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định :
+) Như vậy thi pháp thực chất là hệ thống các nguyên tắc các phương tiện biểu hiện nghệ thuật chi phối, quy định sáng tạo của tác giả hay của thời đại văn học, thể loại văn học nào đó
+) Ở đây cần chú ý rằng đã nguyên tắc thì nguyên tắc đó phải trở thành hệ thống mới gọi là thi pháp
Có thể phân tích một số ví dụ để thấy rõ điều này Chẳng hạn một trong những đặc điểm quan trọng của thi pháp truyện cổ tích thần kỳ theo Nôvicôva là : “xung đột trong truyện bao giờ cũng được giải quyết nhờ sự giúp đỡ của các lực lượng thần kỳ, của những trợ thủ thần kỳ, còn nhân vật chính thì tư tuởng đối thụ động” Đặc điểm này tạo nên một nguyên tắc của truyện cổ tích thần kỳ mà không có ở thể loại khác Ví dụ như xung đột giữa anh trai cày và lão phú ông trong cây tre trăm đốt thì do “ông lão đầu tóc bạc phơ” đứng ra giải quyết Còn anh trai cày thì rất thụ động chỉ biết “khóc” Hành động tích cực duy nhất là hô “khắc nhập, khắc xuất” thì cũng là hành động do lực lượng thần kỳ trợ giúp Truyện hiện đại không giải quyết xung đột theo kiểu này Không ai lại đi chờ một lực lượng siêu nhiên nào đó
Nguyên tắc thời gian không định lượng và không định tính trong truyện cổ tích cũng là một đặc điểm thi pháp quan trọng Các thước đo thời gian cũng chưa được áp dụng trong truyện cổ tích Nhân vật truyện cổ tích không có tuổi Nào ai biết cô Tấm bao nhiêu tuổi, nào ai biết chàng hoàng tử, hay người đẹp ngủ trong lâu đài bao nhiêu tuổi Nếu ai đó sưu tầm truyện cổ mà kể rằng nàng công chúa hai mươi tuổi, rằng mụ phù thủy tuổi trạc bốn mươi thì sẽ thấy buồn cười Người ta chỉ có thể đoán biết họ qua tên gọi mà thôi Đấy là một mụ già, một ông lão, một cô gái, một chàng trai, một đứa trẻ Chứ không ai lại đi kể tuổi của nhân vật cổ tích
Thước đo thời gian cũng không mấy khi áp dụng để diễn tả độ lâu và khoảng cách giữa các sự kiện Chẳng hạn từ khi Tấm vào cung cho đến ngày
Trang 17về giỗ bố thời gian bao lâu không ai biết Tấm sống bao lâu với bà lão hàng nước thì gặp vua cũng không ai hay Cho nên trong cách kể của truyện cổ tích, chúng ta thấy rất nhiều trạng từ thời gian không xác định được sử dụng như :
một hôm, hôm ấy, bữa kia, ngày nọ, ít hôm sau, mấy hôm sau, một lần, lần nọ
Chỉ ở những truyện khoảng thời gian trở thành một yếu tố của cốt truyện không thể thiếu thì mới được xác định Chẳng hạn như lời phán truyền : công chúa
ngủ trong một trăm năm thì có người đến thức dậy, sau nửa đêm nàng Lọ Lem phải trở về, anh trai cày làm thuê cho lão nhà giàu ba năm, Lưu Nguyễn gặp
Tiên và sống với tiên giới bảy năm Các truyện vừa kể thời gian có vai trò như là một yếu tố xác định của cốt truyện, thiếu nó cốt truyện không lý giải được Còn ở các truyện khác nói chung thời gian ít xác định về mặt định lượng cũng như định tính
Cách kể dân gian khá quen thuộc của truyện cổ tích thường bắt đầu là
“ngày xửa, ngày xưa”, “ngày xưa” hay có vùng thì bắt đầu là “đời sơ, đời sắc” Chẳng hạn : “Ngày xưa có một anh chàng ngốc nghếch, đần độn ”
(Truyện Làm theo lời vợ dặn), “Xưa có một nhà hiếm hoi, sinh được một đứa con thì lại là một con cóc” (Truyện Lấy vợ cóc) Với cách kể này, truyện cổ
tích được quá khứ hóa, câu chuyện được đẩy lùi vào quá khứ xa xưa, tạo ra khoảng cách khá xa giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật, góp phần tạo nên tính chất cổ xưa của truyện Do đó khi đọc truyện cổ tích, nếu thấy được bắt đầu bằng “ngày xửa, ngày xưa” hay “xưa”, “ngày xưa” thì không nên xem đó như là một sáo ngữ, mà phải thấy đấy là một nét độc đáo của thi pháp truyện kể dân gian, nhằm tạo dựng, ước định tính chất cổ xưa của truyện, và vì thế mới gọi là “truyện cổ” Trong một số sách sưu tầm truyện cổ dân gian gần đây ở nhiều truyện người ta đã bỏ lối kể này, thay vào đó lối kể hiện đại hơn Về thực chất với lối kể đó đã đi xa đặc trưng thể loại, làm mất đi tính cổ xưa vốn có của truyện
- Thế thì tại sao không gọi là văn pháp mà gọi là thi pháp ? Có ý kiến đã giải thích : “Thuật ngữ khoa học bao giờ cũng mang tính chất ước lệ Chữ “thi”
ở đây chỉ toàn bộ văn học, dấu ấn của một thời xa xưa, khi không chỉ là thơ trữ
tình mà cả sử thi kịch đều viết bằng lời thơ” (Trần Đình Sử, Thi pháp Thơ Tố Hữu, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987, trang 10)
Còn phong cách cũng nghiên cứu các nguyên tắc nghệ thuật, nhưng chỉ chú ý đến những nguyên tác độc đáo mà thôi Chẳng hạn nghiên cứu Nguyễn
Minh Châu ta thấy thế giới nhân vật của ông là nhân vật dị thường Thế giơi đó
tao nên một nét phong cách của ông
Trang 182.5.2 Phong cách cá nhân được quy định bởi cá tính sáng tạo của nhà văn và hình tượng tác giả Hình tượng tác giả với tư cách là yếu tố chủ đạo quyết định phong cách nhà văn và phong cách tác phẩm văn học
2.5.3 Phong cách của trào lưu, trường phái và khuynh hướng văn học Ví dụ: phong cách của chủ nghĩa cổ điển, phong cách của chủ nghĩa lãng mạn…Ở
ta, phong cách tương đối phát triển như phong cách của phong trào Thơ mới, thơ chống Mỹ…
Bên cạnh đó, khái niệm phong cách dân tộc và phong cách thời đại cũng
cần được chú ý Trong văn học nước ngoài ta đã biết đến phong cách thời đại Phục hưng, phong cách thế kỷ Aùnh sáng, phong tộc dân tộc Nga…
2.5.4 Nghiên cứu phong cách theo phương pháp loại hình Vấn đề tính cộng đồng loại hình về phong cách trong văn học là vấn đề cần nghiên cứu
Một số loại hình phong cách trong văn học Việt Nam đã rõ Khẳng định loại hình về phong cách trong văn học Việt Nam; đồng thời nhấn mạnh tính độc đáo không lặp lại của từng phong cách cá nhân Nó thể hiện tính qui luật của sự ổn định và thay đổi về phong cách trong văn học Việt Nam hiện đại.Tiêu biểu cho phong cách vừa biến dổi, vừa ổn định là các nhà văn, nhà thơ như Huy Cận, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên…
*) Vào những năm bốn mươi của thế kỷ hai mươi, khi đọc thơ Huy Cận, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét rằng:“Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận” Hơn thế nữa, theo nhà phê bình, Huy Cận là người viết nên những vần thơ ão não, là người đã“khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm
trong cõi đất này”(15; tr 137)
Những năm sau Cách mạng khi “trời mỗi ngày lại sáng” (Tên một tập thơ của Huy Cận, 1958) hồn thơ Huy Cận không còn “sầu vạn kỉ” nữa, mà tươi lại với “bài thơ cuộc đời” Tuy vậy, hồn thơ ông vẫn nối mạch với thi cảm ngày xưa, vẫn trò chuyện với người xưa
*) Nguyễn Tuân đã trải qua nhiều thể loại như thơ, bút ký, truyện ngắn trào phúng Nhưng mãi đến đầu 1938 ông mới nhận thể tài của mình là truyện ngắn và đặc biệt là tuỳ bút, bút ký
-) Trước cách mạng tháng Tám, tác phẩm của ông tập trung vào ba đề tài
là chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp vang bóng một thời và đời sống truỵ lạc
+) Chủ nghĩa xê dịch chủ trương đi không mục đích, chỉ luôn luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát ly mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội Nguyễn Tuân tìm đến lý thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc Nhưng viết về chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân có dịp bày tỏ tấm lòng thiết tha với cảnh sắc và phong vị đất nước
Trang 19+) Nguyễn Tuân là người đi vẻ đẹp của quá khứ mà ông gọi là vang bóng một thời Đó là thời phong kiến đã qua, nhưng dư còn vang vọng Oâng không viết về tư tưởng và đạo đức cũ, mà mô tả vẻ đẹp riêng của thời xa xưa với những phong tục đẹp, những tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã
+)Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc Ở những tác phẩm này, người ta thấy có một nhân vật tôi hoang mang, bế tắc, tìm cách thoát ly trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện.Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục, niềm khát khao một thế giới tinh khiết, thanh cao được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật
- )Sau cách mạng tháng Tám, tác phẩm của tập trung miêu tả hình tượng nhân dân lao động và người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang Nhưng dưới ngòi bút đầy tài hoa của ông hiện lên không chỉ là những con người dũng cảm, mà còn là những con người tài hoa, nghệ sĩ
Nguyễn Tuân có một phong cách rất độc đáo và sâu sắc Phong cách ấy
có thể thâu tóm trong mấy chữ phóng túng, tài hoa và uyên bác Oâng xứng đáng
là một nhà văn lớn của dân tộc ở thể kỷ XX
*) Mười bảy tuổi, với tập Điêu tàn, Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một “niềm kinh dị” (Hoài Thanh) Từ đó cho đến cuối đời ông đã có nhiều tập thơ, bài thơ in dấu vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ như Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới( 1973), Hoa trước Lăng Người (1976) Hái theo mùa(1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình ( 1986)
Chế Lan Viên là một nhà thơ có phong cách Ông đã tạo được gương mặt riêng của thơ mình trong lịch sử văn học Đó là phong cách của một hồn thơ mang vẻ đẹp của trí tuệ, của chất suy tưởng Thơ ông đầy những triết luận, những chiêm nghiệm về người, về đời Có khi những triết luận ấy trở thành chất chính luận như trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ
Con đường thơ của Chế Lan Viên gắn liền với những buồn vui, thăng trầm của đất nước.Trước Cách mạng thơ ông đầy những buồn đau Đó là nỗi
buồn đau của một con người “làm bóng ma Hời sờ soạng đêm mơ” khóc cho
những Tháp Chàm đổ nát và hoang vắng, để đau cho một dân tộc bị tiêu diệt Đó cũng là nỗi buồn đau của một con người muốn trốn chạy khỏi cuộc đời để nương tựa vào “một tinh cầu giá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa” để quên
đi những ưu phiền, đau khổ, buồn lo mà không được
Những năm sau Cách mạng, hồn thơ Chế Lan Viên đã tươi lại với ánh
Trang 20cái tôi cá nhân để đến với biển lớn nhân, ông đã đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui và ông nhận ra mọi nơi trên mảnh đất của Tổ quốc đều cũng là quê hương, máu thịt của mình đang gọi mọi người đi tới
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP:
1 Phong cách nghệ thuật của nhà văn là gì?
2 Biểu hiện của phong cách nghệ thuật của nhà văn ?
3 Yếu tố thẩm mỹ trong phong cách nghệ thuật của nhà văn được thể hiện như thế nào? Cho một ví dụ minh hoạ
Trang 213 PHONG CÁCH CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN
Trang 223.1 Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
Nhà văn lớn, nhà thơ lớn bao giờ cũng khắc được chân dung riêng của mình vào lịch sử văn học Tố Hữu là một nhà thơ như thế Chân dung thơ Tố Hữu là chân dung một nhà thơ trữ tình chính trị hàng đầu của thơ ca Việt Nam với những nét phong cách độc đáo riêng
3.1.1 Có lẽ nét nổi bật trước hết của phong cách thơ Tố Hữu là vấn đề lí tưởng, vấn đề lẽ sống
Ngay từ khi vừa mới xuất hiện, khi mới viết những vần thơ đầu tiên của đời mình, Tố Hữu đã nói đến vấn đề lẽ sống Trong khi bao nhiêu nhà thơ cùng
thời với ông đang than gió, khóc mây hay tìm về một “tinh cầu giá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa” để lẩn tránh, để quên đi những ưu phiền, đau khổ với buồn lo của cuộc đời thì thơ Tố Hữu đã là thơ của một tâm hồn “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”
Tố Hữu nhận ra trong cảnh nước mất, nhà tan thời bấy giờ lẽ sống chỉ có
thể là con đường cách mạng :“Ta bước tới.Chỉ một đường: cách mạng” (Như những con tàu) Ông gọi giây phút nhận ra lẽ sống lớn đó là phút giây “mặt trời chân lí chói qua tim”, là phút giây của hương thơm và rộn rã tiếng ca :
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Từ ấy
Vì lẽ sống lớn ấy mà ông nguyện đem cả thơ mình, cả đời mình hiến dâng cho cách mạng, sống chết vì cách mạng :
Sống đã vì cách mạng, anh em ta
Chết cũng vì cách mạng, chẳng phiền hà!
Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng
Lòng khỏe nhẹ như anh dân quê sung sướng
Ngữa mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành
Trăng trối
Ông đưa lẽ sống lớn ấy chia sẻ với thế giới của những con nguời cùng khổ như lão đầy tớ, em bé đi ở, chị vú nuôi, cô gái giang hồ… Ông thắp lên trong lòng họ niềm hy vọng về môät ngày mai tươi sáng :
Ngày mai bao lớp đời dơ
Trang 23Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi, tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
Tiếng hát sông Hương
Lẽ sống, lí tưởng đã mang lại cho thơ Tố Hữu niềm tin, chất lãng mạn, lạc quan cách mạng
Sau này, khi đất nước độc lập, thơ Tố Hữu vẫn tiếp tục nói về lẽ sống, lí
tưởng Từ Việt Bắc cho đến Gió lộng, từ Ra trận cho đến Máu và hoa thơ ông
âm vang tiếng nói của lẽ sống lớn Có điều, nếu ngày xưa ông say sưa nói về lẽ sống của một thế hệ đi làm cách mạng thì bây giờ ông nói đến lẽ sống của dân tộc và thời đại Ông nói về cuộc chiến đấu của đất nước, của dân tộc cho lẽ phải, cho chân lí :
Nếu được làm hạt giống để mùa sau
Nếu lịch sử chọn ta làm điêåm tựa
Vui gì hơn làm người lính đi đầu
Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa
Chào xuân 67
Sống cho ta, sống cả cho người
Là trái tim, cũng là lẽ phải
Việt Nam ơi !
Người là ai ? Mà trở thành nhân loại
Với Đảng mùa xuân
3.1.2 Là tiếng thơ của lẽ sống, lí tưởng nên thơ Tố Hữu cũng đậm chất sử thi
Chất sử thi của thơ Tố Hữu được thể hiện trước hết ở cảm hứng Cảm hứng thơ
ông thường nghiêng về những vấn đề chung của dân tộc, đất nước Hồn thơ ông rung động với những đổi thay, thăng trầm của đất nước Ông làm thơ về đất nước ngày khởi nghĩa, ngày có giặc, ngày ra trận, ngày chiến thắng … Buồn vui thơ ông cũng là buồn vui của đất nước
Tố Hữu vui cùng niềm vui đất nước đổi thay :
Xuân ơi xuân em mới tới dăm năm
Mà đất nước đã tưng bừng ngày hội
Bài ca xuân 61
Tố Hữu đau xót, băn khoăn vì đất nước chia cắt :
Mười sáu năm rồi nửa ta máu ứa
Trang 24Tuổi 25
Thơ Tố Hữu ít nói về riêng tư Nếu có đề cập đến cũng trên cơ sở cái chung
của đất nước, của dân tộc Ông nói về trái tim tình yêu nhưng là tình yêu “anh dành
riêng cho Đảng phần nhiều”, “phần cho thơ” rồi mới đến “phần để em yêu” Có khi
ông nói về “ba con tôi đã ngủ lâu rồi” nhưng liền ngay đó lại nghĩ đến “còn bao nhiêu
chưa được ngủ trong nôi” và “miền Bắc thiên đường của các con tôi”… Có khi nào
niềm vui, nỗi buồn của thơ Tố Hữu lại không gắn với niềm vui, nỗi buồn của đất nước như thế Đó là những cảm hứng rất sử thi
Chất sử thi của thơ Tố Hữu còn được thể hiện khá rõ ở hệ thống nhân vạät của thơ ông Ông thường viết về những con người bình thường nhưng lại mang tầm vóc của dân tộc, của thời đại Đó là hình ảnh của những người mẹ, người vợ, những anh
giải phóng quân, chị dân công, em bé liên lạc…Họ là những người như mẹ Tơm “Sống
trong cát , chết vùi trong cát” nhưng lại mang tầm vóc của “ những trái tim như ngọc sáng ngời” Đó là những người như anh Trỗi chỉ là một người thợ điện bình thường
nhưng lại “có những phút làm nên lịch sử”, là con người của “chân lí sinh ra” Đó là những anh giải phóng quân “áo vải chân đất đi lùng giặc đánh” nhưng lại mang dáng dấp của những “Thạch Sanh thế kỉ hai mươi” Đó còn là hình ảnh của Bác Hồ với
chiếc áo nâu giản dị nhưng lại là biểu tượng của đất nước :
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non
Sáng tháng Năm
Những con người bình thường trong thơ Tố Hữu đã được lí tưởng hóa để mang tầm vóc đại diện cho cả dân tộc, đất nước Cho nên có thể nói đó cũng là những nhân vật rất sử thi
Chất sử thi của thơ Tố Hữu còn được thể hiện khá rõ nét ở cái tôi trữ tình Đó là cái tôi mang tính chất đại diện cho dân tộc, cho giai cấp, cho thời đại Cái tôi ấy dù xuất hiện dưới dạng là anh, là tôi, hay chúng ta, chúng tôi…
thì trước sau đều mang ý nghĩa chung , đại diện
Ngay từ buổi đầu làm thơ, cái tôi của thơ ông đã mang ý nghĩa của cái ta:
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Từ ấy
Sau này, cái tôi trữ tình trong thơ ông chủ yếu bộc lộ dưới dạng cái ta Đó là một cái ta nhân danh dân tộc, nhân danh thời đại Ông nhân danh dân tộc khẳng định con đường đi tới của cách mạng :
Trang 25Ta đi tới, không thể gì chia cắt
Mục Nam Quan đến bãi Cà Mau
Trời ta chỉ một trên đầu
Bắc Nam liền một biển
Ta đi tới
Ông nhân danh lẽ phải, nhân danh công lí, nhân danh thời đại khẳng định sức sống Việt Nam, ý chí Việt Nam:
Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí
Sống, chẳng cúi đầu Chết, vẫn ung dung
Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hóa anh hùng
Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo
Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi…
Quê mẹ
Ông tâm tình với anh vệ quốc quân :
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quôác quân ơi
Sao mà yêu anh thế !
Cá nước
Mà ông cũng có thể tâm sự với đất nước, với miền Nam :
Miền Nam ơi, miền Nam quê hương
Xuân này, Bác không làm thơ nữa
Nóng bỏng lời kêu gọi của Trung ương
Cả nước hành quân, ra tuyến lửa
Trang 26Với giọng tâm tình này thơ Tố Hữu có tính chất chia sẻ Với giọng tâm tình này thơ Tố Hữu đã đi tìm được những tâm hồn đồng điệu, âm vang trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ
Nhưng thơ Tố Hữu không chỉ có giọng tâm tình mà còn có nhiều cung bậc khác nữa Trong thơ ông có giọng dịu ngọt của bà mẹ ru con mà cũng có
giọng rộn rã của những khúc quân hành Trong thơ ông có tiếng thủ thỉ mà cũng có âm vang của lời hiệu triệu…
Trong thơ Tố Hữu nghe phảng phất cái hơi thở của những câu mái nhì, mái đẩy sâu lắng mà ngọt ngào :
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương !
Mái nhì man mác nuóc sông Hương
Hà ơi, tiếng mẹ ru nhè nhẹ
Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường
Quê mẹ
Nhưng trong thơ ông cũng có những khúc ca thật hào hùng :
Đi ta đi, khai phá rừng hoang
Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng ?
Hỏi biển khơi xa đâu luồng cá chạy ?
Hỏi sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy cho điện quay chiều ?
Bài ca xuân 1961
Trong thơ ông có lời thương nhớ của đứa con xa nhớ mẹ :
Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm
Bầm ơi
Nhưng cũng có những lời kêu gọi thật rộn rã :
Anh chị em ơi !
Hãy giương súng lên cao, chào Xuân 68
Xuân Việt Nam
Xuân của lòng dũng cảm
Trang 27Có nhà thơ lớn nào mà lại không mang trong hồn mình máu thịt của quê hương, đất nước Bản sắc dân tộc thấm trong hồn thơ của mỗi người cả ở nội dung cũng như hình thức thể hiện Trong thơ Tố Hữu chúng ta gặp những con người, những cảnh vật rất đỗi quen thuộc của Việt Nam Trong thơ ông có hình
bóng của những “người mẹ nắng cháy lưng, địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” mà cũng có “những hồn Trần Phú vô danh”của người cách mạng Trong thơ ông có bóng dáng “o du kích nhỏ giương cao súng” trước “ thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu” mà cũng có bóng dáng “tung hoành ngang dọc” của anh giải
phóng quân…
Trong thơ Tố Hữu cũng có bao nhiêu cảnh sắc thân yêu của đất nước
Trong thơ ông có “ bóng tre trùm mát rượi” nơi núi rừng Việt Bắc, có “sông Bêán Hải bên bồi, bên lở”, có “ cầu Hiền Lương bên nhớ, bên thương” nơi giới tuyến, có “ Mũi Cà Mau nhọn hoăét mũi chông” nơi tâän cùng của Tổ quốc…
Những bóng dáng âáy đã tạo nên những nét thân thương, gần gũi của thơ ông
Tính dân tộc cũng thể hiện khá rõ nét trong hình thức thơ Tố Hữu
Những thể thơ quen thuộc của dân tộc được ông sử dụng khá thành công Đọc
lục bát của ông trong Kính gửi cụ Nguyễn Du hay trong Việt Bắc ta tưởng như
gặp lại những câu ca dao xưa, những câu thơ Kiều thủa nào Thơ 7 tiếng của
ông trong các bài như Quê mẹ, Mẹ Tơm, Bác ơi… vừa có cái trang trọng của thất
ngôn cổ điển, lại có cái biến hóa, linh hoạt của thơ hiện đại
Tố Hữu cũng là người sử dụng nhuần nhụy ngôn ngữ dân tộc với những biểu hiện phong phú của nó Tiếng Việt qua thơ ông dường như càng trở nên phong phú hơn, lung linh hơn, đẹp hơn Những nét đặc sắc, độc đáo của ngôn ngữ dân tộc trong cách ví von, ẩn dụ, trong cách hiệp vần, phối thanh, ngắt nhịp… đều được ông sử dụng khá thành công và đầy sáng tạo
Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu thật đa dạng Cái hay, cái độc đáo của thơ ông đã tạo nên một chân dung riêng của ông trong văn học sử nước nhà Nói đến thơ ca hiện đại Việt Nam không thể không nói đến thơ Tố Hữu Thơ ông không chỉ làm nên chân dung cho chính ông mà còn có ý nghĩa như một cuốn biên niên sử của thời hiện đại Vì lẽ này mà chúng ta có thể tin là thơ ông sẽ tồn tại được với thời gian
Trang 283.2 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu sinh vào mùa xuân năm Bính Thìn (2.2.1916) tại Vạn Gò Bồi, làng Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Đó là quê má
ông, bà Nguyễn Thị Hiệp, người “Đàng Trong”, làm nước mắm Ông cụ thân sinh
ra ông, cụ Ngô Xuân Thọ, lại là người “Đàng Ngoài”, ở xã Trảo Nha, nay là Đại
Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Đôi lúc sau này Xuân Diệu ký là Trảo Nha, chính là đã lấy tên gọi mảnh đất quê cha để đặt bút danh cho mình Cụ thân sinh nhà thơ đỗ tú tài kép Hán học (hai lần đỗ tú tài), làm thầy đồ dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ ở Bình Định Sau này Xuân Diệu đã viết về cha mẹ mình như sau :
Cha Đàng Ngoài, mẹ ở Đàng Trong Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang kiếm nơi cần chữ
Cha Đàng Ngoài, mẹ ở Đàng Trong
Xuân Diệu bước vào làng thơ Việt Nam từ khi còn rất trẻ Bài thơ ông đăng báo
đầu tiên khi mới 19 tuổi (1935) lập tức đã được chú ý Thế Lữ cho là “một thi sĩ mới đã xuất hiện” Ông gọi thi sĩ đó là “thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng” Và cũng chỉ với tập thơ đầu tay Hoài Thanh đã đưa Xuân Diệu vào
Thi nhân Việt Nam với tư cách là một tác giả chủ chốt, và với lời đánh giá rất cao
: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới” Cũng với tập thơ này, năm sau đó,
1942, Vũ Ngọc Phan đã đưa Xuân Diệu vào Nhà văn hiện đại với lời đánh giá
không kém phần rực rỡ : “Xuân Diệu là người đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”
3.2.1 Thơ Xuân Diệu là thơ của một khát vọng sống mãnh liệt và nồng nàn
Xuân Diệu tự ví mình như “con chim đến từ núi lạ, ngứa cổ hát chơi” khi gió sớm, lúc trăng khuya Con chim đến từ núi lạ ấy không mong vì tiếng hót của mình mà hoa nở, không mong vì tiếng hót của mình, mà trái chín Nhưng nguyện thề rằng đó phải là tiếng hót thiết tha, nồng nàn, đến độ có thể vỡ cổ, có thể trào máu Có lẽ vì thiết tha đến nhường ấy mà tiếng hót ấy đã đọng lại được trong bầu trời thi ca Việt Nam, tạo được một cung bậc riêng, một giọng điệu riêng, càng nghe càng lảnh lót, càng nghe càng đắm say, đó là tiếng lòng của một khát vọng sống mãnh liệt và nồng nàn
Trang 29Dường như không một ai lại không nói đến “nguồn sống rào rạt“, “lòng say mê yêu đời“, “niềm khát khao giao cảm với đời “độ nồng nàn, tha thiết” trong thơ Xuân Diệu Chính khát vọng sống mãnh liệt này đã mang đến cho thơ Xuân Diệu một phẩm chất trữ tình quyến rũ lạ lùng
- Với Xuân Diệu lòng ham sống được bộc lộ một cách tha thiết, cuồng nhiệt, nếu
không nói là đã trở thành một nội dung chính, một cảm hứng chủ đạo của thơ ông
Ngay từ bài đầu tiên của tập thơ đầu tiên của ông là bài Cảm xúc đã cho thấy
bao nhiêu khát khao của lòng ham sống Ông ước được “ru với gió” được “mơ theo trăng“, được “vơ vẩn cùng mây“, được “ràng buộc với muôn dây”, được “chia sẻ với
trăm tình yêu mến“ bao nhiêu trạng thái của hành vi sống trở thành trạng thái của cảm xúc trong thơ ông :
Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây, Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến
Mà không chỉ ở giai đoạn này, trong thơ sau cách mạng của ông cũng rạt rào nguồn sống như vậy, vì như ông viết “sự sống chẳng bao giờ chán nản“ (tên một bài thơ của Xuân Diệu)
- Đưa lòng ham sống thành một nội dung trữ tình, thơ Xuân Diệu đã thể hiện sự sống như một niềm mê say Nói khác đi, lòng ham sống trong cảm xúc của thơ ông đã
trở lòng “say sống“ Thơ ông rất nhiều cung bậc để diễn tả niềm say mê ấy Ông như
“mê man”, “chìm”, “đắm”, “say”, “ngất ngây” với muôn ngàn biểu hiện của sự sống:
“Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi, Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng” (Nhị hồ), “Tôi như con bướm đắm tình thương” (Phơi trải), “Chỉ là tình nhưng tôi rất mê man” (Chỉ ở lòng
ta) Một cuộc gặp tình cờ cũng khiến ông “mê man”: “Một chớp mê man hồn gặp
hồn, lòng chưa kịp hiểu mắt trao hôn” (Tình cờ) Một bóng ai lướt qua cũng khiến
lòng ông như mê, như say “Tôi trải yêu thương dưới gót giày, Ôm chừng bóng lạ giữa mê say” (Tình qua) Cho đến một thoáng nhìn cũng là cái nhìn của say mê “Rồi ngó mê nhau, ta mỉm mắt cười” (Kỉ niệm), một phút giây của yêu đương cũng là phút giây của chìm đắm trong mê say: “Chúng ta chìm trong biển ái ân, Chúng ta say trong chén
Trang 30rượu tuyệt trần, Mà tình ái rót đầy dâng bạn mới“ (Kỉ niệm) Và đến cả khổ đau, cũng
là khổ đau của đam mê: “Lòng vỡ tung, ta say khướt đau thương” (Sầu).v.v
Có thể nói thế giới thơ Xuân Diệu là thế giới của sự sống tràn trề, mạnh mẽ,
hăng say và đầy rạo rực:
Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời Kẻ đựng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời
Hư vô
Thậm chí mạnh mẽ đến mức điên cuồng:
Tôi là một kẻ điên cuồng
Yêu những ái tình ngây dại
Thở than Tôi điên cuồng tất nhiên phải khổ đau Dối trá
Bỗng thấy lòng cuồng yêu ngẩn ngơ Muộn màng
Còn nếu lòng không còn đủ “điên cuồng“ nữa thì cũng xem như không còn sống nữa:
Ngày mai nắng mọc, mưa rơi hết Mắt tạnh cơn điên, lòng cạn hồ,
Ta sẽ thôi yêu như đã dấu, Không hề oán hận lá khoai khô
Nước đổ lá khoai
Xuân Diệu ví lòng mình như “một cơn mưa lũ” (Lòng ta là một cơn mưa lũ-
Nứơc đổ lá khoai), như “ngựa trẻ không cương“ (Và lòng ta như ngựa trẻ không
cương- Mênh mông) như một “vườn hoa cháy nắng“ vì “mang phải sắc lòng tươi quá“ (Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng- Tặng thơ) Hình như ở ông không bao giờ nguôi
nỗi khát thèm được sống, như biển kia không bao giờ nguôi nỗi khát thèm được vỗ sóng vào bờ :
Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm Nên lúc môi ta kề miệng thắm
Trang 31Trời ơi, ta muốn uống hồn em
!(Vô biên.)
Với Xuân Diệu bao giờ cũng “chưa đủ“, bao giờ cũng phải “thêm“, “thêm nữa“ Ông muốn thu vào, ôm vào vòng tay hăm hở của mình tất cả đất trời, tất cả sự sống:
Trong thơ mình và hình như cả trong đời mình nữa, Xuân Diệu bao giờ cũng thể hiện một chất sống mãnh liệt, dào dạt như thế Với ông không có sự thờ ơ nguội lạnh đã đành, mà ngay cả sự nhàn nhạt một cách đơn điệu “trung bình“ ông cũng không chịu được Với ông:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(Giục giã)
Đấy là hai câu thơ rất nổi tiếng của Xuân Diệu Không phải là hai câu thơ của sự hưởng lạc, sống gấp như có người đã nhận xét, mà là hai câu thơ của lòng ham sống, say sống giữa đời với độ nồng nàn Cái chói chang của sự sống cũng giống như cái chói chang của ánh sáng thà bùng lên huy hoàng mà tắt, còn hơn cái leo lét của trăm năm
- Chính độ nồng nàn, mãnh liệt này đã khiến cho Xuân Diệu nhìn mọi cái trong
đời không đứng yên mà luôn luôn vận động, khiến cho thơ ông có những phát hiện thật lạ lùng Một cánh cò lặng lẽ của nghìn năm trước bỗng trở nên “phân vân“ trong thơ
ông để cho ta những câu thơ tuyệt hay:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân
.(Thơ duyên)
Hoài Thanh nhận xét rằng so với cánh cò của Vương Bột thì cánh cò của Xuân Diệu “có sự cách biệt của hơn một nghìn năm và hai thế giới“ (210; tr.117) Đúng như vậy đó là hai thế giới: một thế giới lăïng lẽ, bình an và một thế giới luôn luôn gấp gáp, vội vàng
Có thể nói thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu là một thế giới “động“, rạo rực, không có gì đứng yên, từ ngọn gió cho đến ánh trăng, từ con đường cho tới hàng cây