1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhà Văn Việt Nam Hiện Đại Chân Dung Và Phong Cách

286 1,1K 10
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 286
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở thủ đô Paris, viết cho người Pháp và những đồng bào biết tiếng Pháp thì hành văn phải rất hiện đại và “rất Pháp” Phạm Huy Thông như: Paris, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Var

Trang 1

NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHÂN DUNG VÀ PHONG CÁCH

NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHÂN DUNG VÀ PHONG CÁCH

(Hồ Chí Minh – Tố Hữu – Xuân Diệu – Nam Cao – Vũ Trọng Phụng – NguyễnThi – Nguyên Hồng – Nguyễn Tuân – Hoàng Cầm – Nguyễn Đình Thi –Nguyễn Minh Châu – Chế Lan Viên – Nguyễn Lương Ngọc – Nguyên Ngọc –Nguyễn Khải – Tô Hoài – Chính Hữu – Hoài Thanh – Nguyễn Huy Thiệp –

Nguyễn Công Hoan – Quang Dũng – Trần Đăng Khoa)

Tác giả: NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Nhưng chuyện đời, nhiều khi cái vinh đi liền với cái nhục, cái sướng điliền với cái khổ Cũng là ở cái chuyện nói ấy thôi Nói thì phải có nội dung hấp

dẫn, nếu không muốn mỗi giờ lên lớp trở thành một cuộc “tra tấn” đối với học

sinh, sinh viên Nội dung hấp dẫn có nghĩa là phải có ý mới, ý hay, sâu sắc và

bổ ích Phấn đấu để đạt được như thế cho mọi bài giảng của mình, thật khóvậy thay! Ở đại học, yêu cầu ấy lại càng gắt gao hơn Ở cấp học này, đúng

ra, mỗi bài giảng phải là một công trình khoa học

Thực hiện yêu cầu ấy, trong quá trình soạn các bài giảng (môn Văn họcViệt Nam hiện đại), một cách tự nhiên, tôi đã đi từ nghề dạy học đến hoạtđộng nghiên cứu phê bình văn học

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu và giảng dạy của tôi là lịch sử văn học Việt Nam

từ đầu thế kỷ XX đến nay Đây là thời kỳ, trong giới cầm bút, có sự thức tỉnhsâu sắc về ý thức cá nhân Mỗi người viết đều muốn có những tìm tòi riêng về

tư tưởng và nghệ thuật, đều muốn là một tiếng nói riêng Vì thế, trong đờisống văn học, có sự xuất hiện hàng loạt cá tính, phong cách độc đáo Hiệntượng này đã hấp dẫn tôi rất nhiều Và tôi đã lao vào đây, cái chỗ mà Nguyễn

Tuân gọi là “xôm” nhất này, để tìm tòi, phát hiện.

Đấy chính là lý do ra đời của tập sách này Tôi đặt cho nó cái tên: “Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách”.

Tôi không phải là người làm lý luận Nhưng nghiên cứu, phê bình vănhọc, tất nhiên cũng phải trang bị cho mình một số khái niệm lý luận cần thiết

để làm công cụ tư duy

Tôi hiểu phong cách nghệ thuật là một khái niệm thuộc phạm trù thẩm

mỹ Có nghĩa là, nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật sự sáng tạo rađược những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được xem là nhà văn cóphong cách Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật Mỗi nhà văn có phongcách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dùphong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất Cơ sở của tính thống

nhất này là một nhỡn quan riêng về thế giới, và sâu xa hơn nữa, là tư tưởng nghệ thuật (idée poétique) riêng của nhà văn Chừng nào chưa nhận ra tính

thống nhất ấy, thì chừng đó chưa thể xem là đã nắm được phong cách củamột nhà văn Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tácphẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức Nhưng phong cách là mộtcái gì cụ thể, hữu hình, có thể và phải mô tả được Cho nên nói phong cách,

dù có đề cập đến nội dung tư tưởng, cũng phải chỉ ra được nội dung ấy đãđược hình thức hóa như thế nào Trong quá trình sáng tác của nhà văn,phong cách nghệ thuật của ông ta luôn tuôn biến chuyển từ tác phẩm này đếntác phẩm khác Bởi vì viết văn là một hoạt động sáng tạo Sáng tạo thì luônluôn phải đổi mới Nhưng dù đổi mới như thế nào, phong cách vẫn vận độngtrên một cơ sở thống nhất, khiến cho các tác phẩm của nhà văn dù có những

Trang 3

nét rất khác nhau, vẫn là tác phẩm của ông ta chứ không của ai khác Phongcách một khi đã định hình, thì thường có tính bền vững Vì tạo ra phong cách,ngoài thế giới quan, còn có rất nhiều nhân tố khác, như truyền thống gia đình,hoàn cảnh sống, môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, thói quen suy

nghĩ, cảm xúc, cái “tạng” (tempérament) riêng của nhà văn… Những tác động

ấy, những thói quen ấy không dễ gì thay đổi Có ảnh hưởng lớn tới sự hìnhthành phong cách của một nhà văn thường lại là những ấn tượng của ông ta

về môi trường sống của mình từ tuổi ấu thơ

Phát hiện ra một cách đầy đủ và chính xác phong cách nghệ thuật củamột nhà văn, tôi cho là một điều cực khó Khó nhất là tìm ra tính thống nhấtcủa phong cách Còn dựng chân dung văn học lại có cái khó khác Phải làm

sao “chớp” được những nét tiêu biểu, những chi tiết “xuất thần” của nhà văn.

Văn chân dung rất gần với văn sáng tác Nó là một thứ bút ký về người thật

việc thật Phải có điều kiện tiếp xúc nhiều với “người thật” Phải có óc tưởng

tượng và khả năng hư cấu để dựng cảnh, dựng người, tạo không khí… Cóngười vẽ chân dung chỉ dựa vào những chi tiết của con người nhà văn trongđời sống Có người thì chỉ dựa vào văn của ông ta Riêng tôi muốn phối hợp

cả hai Làm sao văn và người soi sáng lẫn cho nhau Tôi quan niệm cái tôingoài đời và cái tôi trong văn của người nghệ sĩ bao giờ cũng có sự thốngnhất - không phải thống nhất ở bề ngoài, ở bề nổi (bề nổi nhiều khi có vẻ rấtkhác nhau), mà ở bề sâu, ở bản chất tâm hồn của ông ta Tìm ra cho thốngnhất này cũng là điều thú vị nhưng rất khó

Trong tập sách này, tôi viết về hai mươi hai cây bút xuất hiện từ nhữngnăm 30 trở lại đây Có nhà văn, có nhà thơ, có người viết phê bình, có lớp già

lớp trẻ, nhưng đại đa số thuộc thế hệ “tiền chiến” Có người tôi viết về phong

cách nghệ thuật Có người chỉ vẽ chân dung Có người viết kỹ Có người chỉphác qua vài nét Hăm hai người Một con số ngẫu nhiên Chẳng hề có sựchọn lựa theo một tiêu chí nào hết Biết được ai thì viết về người ấy Biết đếnđâu thì viết đến đấy Không dám cho mình viết như thế là đúng, là hay Chỉ hyvọng gửi gắm được trong mỗi bài viết lòng biết ơn sâu sắc đối với những

Trang 4

người mà nhờ đọc sách, nhờ những cuộc tiếp xúc, tôi đã học hỏi được rấtnhiều để có được chút ít đóng góp trong công tác giảng dạy và nghiên cứuphê bình văn học mấy lâu nay.

Quan Hoa, 10-12-2000

MỘT SỰ NGHIỆP VĂN HỌC LỚN, PHONG PHÚ, ĐA DẠNG

(Nhân đọc Tuyển tập văn học Hồ Chí Minh)

Đối với Hồ Chí Minh, văn học trước hết phải là một vũ khí, một hoạtđộng cách mạng Có nghĩa là mỗi bài văn, bài thơ viết ra phải hướng vào mộtđối tượng cụ thể nào đó, phải nhằm đạt tới một mục đích thiết thực nào đó.Người thường nhắc đi nhắc lại như một kinh nghiệm thiết thân của mình:

trước khi cầm bút, phải trả lời hai câu hỏi Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì? Từ đó mới quyết định Viết cái gì? (nội dung) và Cách viết thế nào? (hình

thức) Đó là quan điểm sáng tác nhất quán của Hồ Chí Minh thể hiện ở mọibài viết của Người Ngay trường hợp làm thơ chỉ để “khuây khỏa” trong tù(Nhật ký trong tù), Người cũng xác định rõ mục đích và đối tượng:

Ngâm thơ ta vốn không ham, Nhưng vì trongg ngục biết làm chi đây:

Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

Quan điểm sáng tác ấy đã tạo nên tinh thần nhất quán của sự nghiệpvăn học của Người Nhưng cũng quan điểm sáng tác ấy đã đem đến cho vănthơ Người tính chất phong phú, đa dạng ít thấy ở những cây bút khác Bởi lẽ,trải qua hơn nữa thế kỷ hoạt động cách mạng, khi ở Tây Âu, khi ở TrungQuốc, Thái Lan, khi trên đất nước mình, yêu cầu cách mạng từng nơi, từnglúc đã đặt ra cho Người biết bao nhiệm vụ cụ thể phải giải quyết, đã khiếnNgười phải đối phó với biết bao kẻ thù trong những tình huống khác nhau,phải liên kết với biết bao bè bạn, phải thuyết phục nhiều người thuộc sắc tộc

Trang 5

khác nhau, tôn giáo, giai cấp đảng phái khác nhau, giới tính, lứa tuổi, nghềnghiệp, trình độ văn hóa, chính trị, đặc điểm tâm lý khác nhau… Mỗi bài viết,

vì thế, tuy cùng chiến đấu cho một lý tưởng cách mạng duy nhất, nhưng phảitùy theo từng đối tượng, từng mục đích cụ thể mà lựa chọn nội dung viết vàhình thức viết cho phù hợp Ở thủ đô Paris, viết cho người Pháp và những

đồng bào biết tiếng Pháp thì hành văn phải rất hiện đại và “rất Pháp” (Phạm Huy Thông) như: Paris, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Varen và Phan Bội Châu, Sở thích đặc biệt, Động vật học, Nói về loài cầm thú… Nhưng

viết cho người du kích nông dân Việt Nam thì lời văn lại phải hết sức giản dị,phải theo lối truyện chương hồi truyền thống cho phù hợp với thị hiếu bình

dân: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Pháp… Về thơ ca cũng vậy.

Viết cho công nông - trước Cách mạng tháng Tám hầu hết còn mù chữ - thì

phải hết sức nôm na mộc mạc, mượn lối ca, vè quen thuộc với dân gian: Ca dân cày, Ca công nhân, Ca du kích, Ca sợi chỉ, Hòn đá… Nhưng thơ tặng cụ

Đinh Chương Dương, cụ Võ Liêm Sơn, cụ Bùi Bằng Đoàn thì lời lẽ lại phảitrang nhã, cổ kính và tốt nhất là dùng thơ chữ Hán luật Đường

Nhìn chung, đối với Hồ Chí Minh, vấn đề Viết cho ai luôn được đặt lên

hàng đầu Người không ngại nhắc đi nhắc lại điều đó: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem” (1)

Từ khi trở về nước, Người chủ yếu viết cho đối tượng công nông binh Ngườiđặc biệt chú ý khai thác kho tàng thành ngữ, tục ngữ dân gian là cách diễnđạt vừa ngắn gọn, đích đáng, vừa giàu hình ảnh của quần chúng công nông

Nhưng dù đã viết rất dễ hiểu, khi viết xong, Người vẫn cẩn thận “nhờ một số đồng chí công nông binh đọc lại Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra thì phải chữa lại”.

Đó là quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh Nắm được quanđiểm này, có nghĩa là có được chiếc chìa khóa thứ nhất để mở vào kho tàngvăn học của Người Đối với mỗi bài văn, bài thơ của Người, phải căn cứ vào

Trang 6

thời điểm ra đời của nó, phân tích tình hình chính trị của đất nước ở thời điểm

ấy để xác định Người viết cho ai, nhằm mục đích gì Có như vậy mới hiểuđược đúng và đánh giá đúng tác phẩm của Người từ nội dung đến hình thức

Đó là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản nhất của việc nghiên cứu thơ văn

Hồ Chí Minh

***

Tính đa dạng của sự nghiệp văn học Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật ởbình diện thể loại sáng tác và phong cách nghệ thuật Đây là một cây bút lớn,tài năng nhiều mặt, có khả năng thể hiện trong nhiều phong cách khác nhau -

có thể gọi là cây bút nhiều phong cách.

Trước hết tài năng ấy bộc lộ ở văn chính luận Văn chính luận khôngthuyết phục người đọc bằng hình tượng nghệ thuật mà bằng lập luận lôgích

Về thể văn này, Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên những tác phẩm có thể coi là

mẫu mực và bất hủ Tuyên ngôn độc lập là một ví dụ Người ta thường đánh giá tác phẩm này như một áng “thiên cổ hùng văn”, một “Bình Ngô đại cáo của thời đại mới” Nhưng Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi ra đời trong thời đại gọi là “Văn sử bất phân” nên chính luận chỉ là một yếu tố Khí thế “hùng văn” của tác phẩm được truyền đến người đọc chủ yếu nhờ một hệ thống

hình tượng từng từng lớp lớp và một giọng văn sôi nổi, dồn dập, đầy hứng

khởi Tuyên ngôn độc lập thì khác Sức mạnh của nó là ở lý lẽ sắc bén, ở

cách lập luận chặt chẽ, ở những luận cứ đích đáng (hình ảnh nếu có chẳngqua cũng chỉ là để phụ giúp cho lý lẽ thêm sắc sảo và hấp dẫn mà thôi) Nếu

tìm hiểu cụ thể tình hình chính trị của đất nước ta khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn để xác định cụ thể đối tượng Người hướng tới và nắm được cụ thể

những luận điệu của bọn đế quốc mà Người cần bác bẻ, ta sẽ thấy cách lậpluận của Người, cách đưa các luận cứ của Người thật là chặt chẽ, đanh thép

Không phải ngẫu nhiên mà bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đã mở đầu bằng mấy lời văn trích từ bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền là dân quyền của Pháp Từ quyền con người được khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Người khéo léo “suy rộng ra” để khẳng

Trang 7

định quyền độc lập tự do của các dân tộc Luận điểm ấy có thể xem như phátsúng lệnh dõng dạc mở đầu cho phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địanữa sau thế kỷ XX…

Bài Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin cũng là một áng văn chính

luận xuất sắc Nhưng tác phẩm lại được viết theo một phong cách khác Ởđây, độc giả là những người cộng sản trên toàn thế giới Luận điểm cần

thuyết phục là: “Chủ nghĩa Lênin chẳng những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng” Với đối tượng này, Người không dùng nhiều lý lẽ,

không tranh luận, không hùng biện Người thuyết phục bằng kinh nghiệm thực

tế của bản thân mình được diễn tả bằng những dòng hồi ký sinh động, tươitắn và một giọng văn rất mực khiêm tốn Về mặt thể loại, có thể coi đây là một

tác phẩm hồi ký - chính luận rất độc đáo.

***

Hồ Chí Minh là tác giả của nhiều truyện, ký

Về truyện, rất tiếc chưa tìm được văn bản Nhật ký chìm tàu là tác phẩm

có ảnh hưởng lớn trong phong trào cách mạng Việt Nam Ở thể văn này, bútpháp, phong cách của tác giả cũng rất đa dạng Sự khác biệt về phương diệnnày thấy rõ nhất là giữa những truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp và nhữngtruyện Người viết từ khi về nước

Những truyện viết bằng tiếng Pháp, như đã nói, hành văn rất hiện đại

và “rất Pháp” Những truyện này nói chung đều nhằm tố cáo tội ác của bọnthực dân, tư bản, bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động các dântộc thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng.Tuy vậy không truyện nào giống truyện nào, dù là những tác phẩm cùng

nhằm vào một đích (chẳng hạn truyện Vi hành và truyện Lời than vãn của bà Trưng Trắc cùng lên án tên vua bù nhìn Khải Định) Vi hành tạo ra một tình

huống nhầm lẫn rất thú vị, trong đó nhân vật chính (Khải Định) không có mặt

mà lại được khắc họa rất rõ nét Tác giả dùng hình thức viết thư để có thể dễ

dàng chuyển cảnh, chuyển giọng một cách linh hoạt và tự nhiên Lời than vãn

Trang 8

của bà Trưng Trắc lại phát huy trí tưởng tượng để tạo ra một thế giới rùng rợn diễn tả cơn ác mộng của Khải Định bị tổ tiên xỉ nhục và ruồng bỏ Varen và Phan Bội Châu thì vận dụng tài quan sát và ký họa, tạo ra những đoạn văn

tường thuật sắc sảo hệt như quay một cuốn phim tư liệu về hành trình củaVaren, đồng thời khai thác triệt để thủ pháp đối lập để làm nổi bật hai nhâncách: Varen thì bắng nhắng, ba hoa và ti tiện, Phan Bội Châu thì uy nghi, lẫm

liệt Paris sử dụng ngòi bút phóng sự rất linh hoạt, giọng văn thì đi từ mỉa mai chua chát đến căm giận xót xa Con người biết mùi hun khói có thể gọi là một truyện viễn tưởng chính trị, còn Đồng tâm nhất trí lại có dáng dấp một truyện

ngụ ngôn…

Những truyện tác giả viết từ khi về nước thì khác hẳn: dùng lối truyện

kể, không chú ý dựng cảnh, dựng người Sức hấp dẫn của truyện là ở tình tiếtthú vị, gói gọn trong những đoạn văn ngắn tương đối độc lập được xâu chuỗivào nhau, tựa như lối kết cấu chương hồi Mỗi đoạn thường mở đầu và kếtthúc bằng hai câu lục bát lẩy Kiều hóm hỉnh Những truyện này chủ yếu nhằmvào đối tượng công, nông, binh, nên cách viết như thế là thích hợp

Các thể ký chiếm vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp văn học của Hồ

Chí Minh, có lẽ vì Người “có nhiều duyên nợ với báo chí” (1) chăng?

Vào những năm 20, khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết hàngloạt bài ký rất có giá trị: Tri thức uyên bác, hành văn biến hóa, dựng cảnh,dựng người gây ấn tượng đậm nét, nghệ thuật châm biếm sắc sảo, tính chiến

đấu mãnh liệt (Động vật học, Nói về loài cầm thú, Viện hàn lâm thuộc địa, Hành hình kiểu Linsơ…).

Tác phẩm quy mô nhất là tập phóng sự điều tra Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Đây là cuốn sách đầy công phu và tâm huyết Tác giả muốn

cuốn sách phải là một bản án đanh thép đầy luận cứ đích đáng khiến kẻ bị lên

án không thể chối cãi được Muốn vậy phải có tư liệu phong phú và xác thực,tốt nhất là dùng tư liệu do chính người Pháp cung cấp qua những thư từ và

nhật ký của họ Nguyễn ái Quốc rất có ý thức về điều này: “Tôi không muốn

tự mình viết lấy, vì như thế không có giá trị thực sự Tôi sẽ dùng những đoạn

Trang 9

văn trong các sách họ viết về thực dân Pháp Tôi sẽ cố gắng làm cho đậm nét những đoạn ấy”, đó là lời tâm sự của Nguyễn đối với một người bạn trong

thời gian chuẩn bị cho cuốn sách từ 1920

Sau này, nói về công tác tuyên truyền địch vận, Người cũng nhắc lại

kinh nghiệm “lấy gậy ông đập lưng ông” đó.

Bản án chế độ thực dân Pháp gồm 12 chương tố cáo mọi mặt tội ác

của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với người bản xứ Tác phẩm kết thúc bằng

chương Nô lệ thức tỉnh, thể hiện quy luật tất yếu: tức nước vỡ bờ.

Giá trị của tác phẩm không phải chỉ do tư liệu phong phú mà còn docách diễn ý và hành văn đầy nghệ thuật với những mệnh đề có sức khái quátlớn, với những bức ký họa sinh động về một loại “nhà khai hóa”, kèm theonhững chi tiết đặc tả hành vi độc ác khủng khiếp của chúng Tất cả được viếtvới một giọng châm biếm sâu cay và mãnh liệt như dùi đâm, như roi quất:

“Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen “hèn hạ”, những tên Annamít

“hèn hạ”, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe và ăn đòn của các quan cai trị nhà

ta ấy thế mà cuộc “chiến tranh vui tươi” vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị

“nhân hậu” (…) Khi đại bác đã ngấy thịt đen thịt vàng rồi, thì những lời tuyên

bố “tình tứ” của các nhà cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép màu (…): “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt Bây giờ chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”.

Từ khi về nước, Hồ Chí Minh tiếp tục viết nhiều bài ký đặc sắc vớinhiều bút danh khác nhau: Tân Sinh, L.T., T.Lan, Chiến sĩ… Cố nhiên, bútpháp phong cách có đổi khác: bớt đi tính uyên bác, thường trình bày tư liệudưới hình thức truyện kể, thỉnh thoảng điểm xuyết mấy vần thơ lục bát lẩyKiều Những bài ký viết ở Pháp trước kia, nhằm lên án chủ nghĩa thực dân,nên giọng châm biếm quyết liệt là âm hưởng chủ đạo Giờ đây, Người chủyếu viết để ca ngợi nhân dân mình đánh giặc và xây dựng đất nước, nêngiọng văn rất mực đôn hậu và vui Tuy nhiên, để hấp dẫn người đọc tác giảcũng dùng nhiều thủ pháp linh hoạt và biến hóa: có khi là lối viết thư, văn

Trang 10

thông tin báo chí xen với giọng trữ tình, đôi chỗ dùng đến cả thủ pháp đồng

hiện (Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến); có khi mô phỏng lối truyện chương

hồi, mỗi đoạn một chuyện, mở đầu bằng hai câu có vần, kết thúc bằng mấylời khêu gợi đọc tiếp “chương” sau

Ở những bài ký dài (như Vừa đi đường vừa kể chuyện), tác giả rất chú

ý đổi giọng, chuyển cảnh luôn luôn để tránh đơn điệu Ở những bài ký ngắn

có nội dung đả kích, Người thường hư cấu ra những màn hài kịch để nhânvật bị lên án tự mình thông báo những tội trạng và những thất bại của mình

bằng đối thoại, độc thoại (Đế quốc Mỹ bi và bí, Tổng Giôn và vụ giết chết nghị

sĩ R.Kennơđi…).

Đọc những bài ký của Hồ Chí Minh, nhất là hồi ký, nhật ký có một thú vịđặc biệt là được thấy hiển hiện rõ nét cái tôi Hồ Chí Minh: một cái tôi rất đỗitrẻ trung và hồn nhiên giản dị, say mê hoạt động, ham học hỏi, thích du lịchkhi có điều kiện, có năng khiếu quan sát sắc sảo mau lẹ của một ký giả có tài,

ở đâu, làm gì cũng sống hết mình vối công việc với người, với cảnh, tinh thầndân chủ thấm sâu trong tác phong sinh hoạt hàng ngày, trong thái độ chântình và yêu quý những con người bình thường vô danh, nhưng là nền tảngcủa dân tộc, là động lực vĩ đại của lịch sử

***

Thơ Hồ Chí Minh, nhìn về mặt thể loại và phong cách cũng rất đa dạng.Đặt những bài ca, bài vè Người viết ở Việt Bắc thời Mặt trận Việt minh

bên cạnh những bài thơ chữ Hán của Người trong Nhật ký trong tù hay ra đời

trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thoạt xem, tưởng chừng như củanhững cây bút khác nhau

Trang 11

Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây…

Tiếp thu và phát huy nghệ thuật dân gian, nhà thơ dân gian Hồ ChíMinh sử dụng rộng rãi những thủ pháp quen thuộc của ca dao, dân ca Gắn

thơ với ca (Ca dân cày, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ, Ca du kích…), nhà thơ dân

gian Hồ Chí Minh muốn chính trị nhập sâu vào sinh hoạt vui chơi thoải máicủa dân gian và có thể đi theo họ véo von trên nương rẫy, réo rắt giữa cánhđồng, ngân nga nơi sườn non, bờ suối…

Với những bài thơ chữ Hán, Hồ Chí Minh lại trở thành một nhà thơ cổđiển Một con người từng sống lâu năm ở phương Tây hiện đại, từng viết

những truyện ký “như một ngòi bút phương Tây sắc sảo” (Phạm Huy Thông),

khi làm thơ cảm hứng trữ tình cho mình hay những đồng chí gấp gũi với mìnhthưởng thức, lại thường làm thơ chữ Hán đậm màu sắc Đường thi Có quyluật gì ở đây chăng? Có lẽ mọi hồn thơ xưa nay đều hình thành từ tuổi thiếuniên, trong môi trường tình cảm, trong không khí văn hóa nghệ thuật đượcnhà thơ hít thở từ tuổi chín, mười, thậm chí từ khi còn nằm trong nôi Hồ ChíMinh sinh ra trong một gia đình trí thức Hán học, hồn thơ ấy, phải chăng đãhình thành một cách hồn nhiên tự nhiên từ nhỏ trong không khí sinh hoạt vănchương của những ông nghè, ông cử, nghĩa là trong âm hưởng của thơĐường, thơ Tống?

Người để lại cho đời tập Nhật ký trong tù, một thi phẩm lớn Từ ngày bản dịch Nhật ký trong tù ra đời, đã có hàng trăm công trình lớn nhỏ, trong

nước, ngoài nước viết về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm này Ởđây chỉ xin nói thêm về một khía cạnh của tập thơ: tính chất phong phú, đadạng từ nội dung đến bút pháp, phong cách Có thể nói, tập thơ đã tạo nênmột sự thống nhất hài hòa rất độc đáo của nhiều yếu tố tư tưởng và nghệthuật tưởng như đối lập với nhau

Chỉ điểm qua hệ thống đề tài cũng đã thấy như thế: bên cạnh những đềtài rất thi vị vốn quen thuộc với thơ ca cổ điển như phong, hoa, tuyết, nguyệt,triêu cảnh, vãn cảnh, đăng sơn, ức hữu… (người xưa gọi là: giai thì, mỹ cảnh,thắng sự, lương bằng), là những đề tài rất nôm na, đầy chất “văn xuôi” như

Trang 12

các bài Điền đông, Sơ đảo Thiên bảo ngục, Lại sang, Bào hương cẩu nhục, Hạn chế, Nhân đỗ ngã…

Đi vào thế giới hình tượng thì thấy bên cạnh một cái tôi trữ tình cóphong thái ung dung, nhàn tản, bầu bạn với thiên nhiên, tựa như Nguyễn Trãi

ở Côn Sơn, Nguyễn Bình Khiêm ở Bạch Vân Am, là một cái tôi khác khaokhát tự do, khao khát chiến đấu, lòng như lửa đốt hướng về Tổ quốc, về đồngchí, đồng bào đang ngóng đợi mình Nghĩa là bên cạnh một bậc hiền triết củathuở xưa sống thanh thản ở ngoài dòng cháy của thời gian, là một chiến sĩcách mạng luôn tính đếm từng chút quang âm qua đi một cách oan uổng bên

ngoài song sắt nhà lao: “Bốn tháng rồi”, “Tám tháng hao mòn với xích gông”,

“Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu”, “Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng”,

“Ngày đi bạn tiễn đến bên sông, Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng”, rồi “Giam lâu ngày chưa được chuyển” hay “Tiếc ngày giờ”… Nghĩa là sống cao độ từng giờ

từng phút của mình

Mà cả hai đều là Hồ Chí Minh, đều rất Hồ Chí Minh

Ấy là sự thống nhất hài hòa giữa cái cổ điển và cái hiện đại trong mộtnhân cách thơ phong phú và độc đáo

Ông Lê Hữu Mục trong một tâm trạng hằn học đã viết cả một cuốn sách

để chứng minh Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký” Trong bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký in trong cuốn Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Phan Ngọc đã nêu lên tám lỗi về lập luận của Lê Hữu Mục.

Tôi cho rằng ông Mục còn mắc một lỗi khác nữa, ấy là cố tình không hiểu mộtđặc điểm của tập thơ tù: tác phẩm được viết với một phong cách phong phú,

đa dạng Ông Mục lập luận: “Sự tương phản giữa hai phong cách thơ” mà ông gọi là “phong cách khái quát của thơ Đường” (như Tảo giải, Mộ, Dạ lãnh…) và

“phong cách đới tục” (như Bào hương cẩu nhục, Lạc liễu nhất chích cha, Ngục trung sinh hoạt…) để nói rằng tập thơ không thể là tác phẩm của một

người

Nói ông Mục “cố tình không hiểu”, vì trong khi cho rằng những bài thơ

có phong cách Đường thi không phải của Hồ Chí Minh, ông lại thừa nhận bài

Trang 13

Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù, tập leo núi) là của Người Như vậy là

tự ông đã bác bỏ lập luận của mình một cách đích đáng hơn ai hết Vì Mới ra

tù, tập leo núi là một trong những bài hay nhất của Hồ Chí Minh viết theo

phong cách Đường thi

Cũng cần nói thêm điều này: ông Mục cho rằng trong Nhật ký trong tù

có một loạt bài thơ mang phong cách Đường thi Nhận xét ấy cũng chỉ đúngmột nửa Phải thấy rằng những bài thơ ấy, một mặt rất Đường, mặt khác lại

không hẳn là Đường “Đường” ở chỗ khi viết về thiên nhiên, thường chỉ dùng

vài nét chấm phá, để lại nhiều khoảng trống, cốt ghi lấy linh hồn của cảnh hơn

là hình xác của tạo vật “Đường” ở thế giới hình tượng tĩnh, có tính phi thời

gian và ở hình ảnh nhân vật trữ tình ung dung tự tại, tâm hồn hòa hợp với

thiên nhiên Nhưng không hẳn là “Đường”, vì thế giới nghệ thuật của nhà thơ

cách mạng thể hiện một quan niệm khác với người xưa về không gian, thờigian và về con người trong quan hệ với tạo vật Nếu trong thơ xưa, thiênnhiên là chủ thể, con người thường sắm vai ngư, tiều, canh, mục ẩn dật giữachốn thôn dã, lâm tuyền, thì trong thơ Hồ Chí Minh, con người là con người

hành động Con người không ẩn di mà hiện ra, không phải ẩn sĩ mà là chiến

sĩ Con người sống cao độ với thời gian Con người là chủ thể:

Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;

Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

(Đi đường - Tẩu lộ)

Sự đa dạng của phong cách Nhật ký trong tù còn có liên quan đến tính

chất nhật ký của tác phẩm Trong nhà tù, Bác Hồ ngồi ghi chép những sự thậtdiễn ra hàng ngày mà Người quan sát được Cũng là một cách để giải trí,đồng thời có lẽ còn là nhu cầu của một con người hết sức năng động, khôngchịu để cho tâm trí mình được nghỉ ngơi chăng?

Trang 14

Có hai sự thật người tù cách mạng có thể theo dõi, quan sát và ghichép Một là sự thật khách quan, nghĩa là những điều mắt thấy, tai nghe ởtrong tù và trên đường đi đày Đối với sự thật này, tác giả dùng lối thơ hướngngoại là chính, một thứ thơ thiên về bút pháp tự sự - tả thực:

Hỏa lò ai cũng có riêng rồi Nhỏ nhỏ, to to mây chiếc nồi;

Cơm, nước, rau, canh, đun với nấu, Suốt ngày khói lửa mãi không thôi.

(Sinh hoạt trong tù)

Kết hợp những bài thơ mà Lê Hữu Mục gọi là “phong cách đới tục” nàylại, ta có thể hình dung được rất cụ thể, chi tiết, như xem một cuốn phim tàiliệu, bộ mặt của nhà tù và một phần xã hội Trung Quốc hồi 1942, 1943

Nhưng có một loại sự thật khác: ấy là diễn biến tư tưởng và tâm trạngcủa tác giả khi một mình đối diện với thiên nhiên hay với bản thân mình Đốivới sự thật này, tất nhiên phải dùng lối thơ hướng hội, bút pháp trữ tình - mộtthứ nhật ký tâm sự, nhật ký tư tưởng Kết hợp những bài này lại, ta lại đượcchiêm ngưỡng một bức chân dung tinh thần tự họa rất rõ nét và sinh độngcủa nhà thơ

Ở loại bài thứ nhất, người ta thấy, trong nhà thơ Hồ Chí Minh, có nhàbáo Nguyễn Ái Quốc hết sức sắc sảo trong bút pháp ký sự, phóng sự và nghệthuật mỉa mai, châm biếm

Ở loại bài thứ hai, ta thấy ở nhà thơ cách mạng, sự tiếp nối truyềnthống thi ca lâu đời của phương Đông, của dân tộc từ Lý Bạch, Đỗ Phủ… đếnNguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…

Quan Hoa - Tháng 5-1996

Trang 15

VÀI SUY NGHĨ VỀ TƯ TƯỞNG MĨ HỌC HỒ CHÍ MINH QUA SÁNG TÁC THƠ

Nghiên cứu quan điểm nghệ thuật, tư tưởng mĩ học của Chủ tịch HồChí Minh, lâu nay một số công trình có thiên hướng đơn giản hóa những ýkiến của Người Một trong những biểu hiện của thiên hướng ấy là nhập làmmột quan điểm của Bác về văn tuyên truyền chính trị với những ý kiến củaNgười về văn chương nghệ thuật Thực ra Người đã có phân biệt khá rõ.Trong một bức thư trả lời tác giả một luận văn chính trị mà Bác góp ý phê

bình, Người viết: “Ông nói, phải giúp đồng bào ta làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lâu rồi họ cũng sẽ hiểu Có thể làm ngơ như vậy được nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ một tác phẩm văn học… Còn nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được”.Quan niệm này của Bác rất tương ứng với hai loại văn và thơ củaNgười: Có những bài đúng là “ai đọc cũng hiểu được”, nhưng không ít bài

khác (đặc biệt trong Nhật kí trong tù) thì ngay cả những nhà văn hóa uyên bác

nhất nhiều khi cũng phải thú nhận chưa lĩnh hội được thấu đáo

Nói về phía chủ quan của giới nghiên cứu thì như thế, nhưng nói vềđiều kiện khách quan thì nhà khoa học lại gặp phải khó khăn này: về quanđiểm nghệ thuật, hay nói rộng hơn, về tư tưởng mĩ học, Chủ tịch Hồ Chí Minhnhiều khi không phát biểu trực tiếp dưới dạng lí luận và trên những văn bảnchính thức Dưới dạng này, Người thường quan tâm nhiều hơn tới loại văn

chính trị, đến nghệ thuật tuyên truyền Chẳng hạn Người đặt câu hỏi “Viết cho ai” và trả lời “Viết cho đại đa số công nông binh”(1) Nhưng ai nấy đều biếtnhững bài thơ nghệ thuật của Bác chủ yếu viết bằng chữ Hán, chắc không

hẳn nhằm vào những đối tượng ấy Người lại nói: “Về nội dung viết mà các

cô, các chú gọi là “đề tài” thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (2) Nhưng thực ra, có nhiều tác phẩm của Người, nhất

là thơ, không phải chỉ viết về “một đề tài” ấy Ở trường hợp này, nếu ngườibình thơ cứ máy móc quy vào nội dung “Chống đế quốc phong kiến”, tấtkhông tránh khỏi làm nghèo nàn tác phẩm và tư tưởng thẩm mĩ thể hiện trong

Trang 16

ấy Hãy lấy một ví dụ trong nhiều ví dụ: trong Nhật ký trong tù, có một bài thơ thuộc loại sâu sắc và độc đáo nhất của Bác, bài Cảnh chiều hôm (Vãn cảnh):

Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình, Hương hoa bay thấu vào trong ngục

Kể với tù nhân nỗi bất bình.

Bình giảng bài thơ này, người ta thường quy sự “bất bình” của hươnghoa nhằm vào chế độ đen tối, tàn bạo của xã hội Trung Hoa dân quốc Xã hội

ấy vì “vô tình” với cái đẹp nên đã kích động nỗi bất bình kia của hương hoa.Nhà thơ Xuân Diệu từng trăn trở hàng chục năm về bài thơ này, cuối cùng đãnhận ra được tư tưởng đích thực của tác phẩm trong một bài viết cuối cùng

của mình về thơ Bác: “Theo cháu nghĩ, đâu có phải chỉ là thiên hạ vô tình mà hơn nửa kia, tạo hóa vô tình (…) Các lớp hoa hồng nở rụng, rụng nở, tạo hóa vẫn cứ vô tình, chỉ có tạo hóa vô tình” Người bình thơ không nói gì đến chữ

nghĩa của Bác, nhưng thực đã hiểu đúng chữ nghĩa của Người:

Mai khôi hoa khai, hoa hựu tạ Hoa khai hoa tạ, lưỡng vô tình Chỉ có thể hiểu là “Hoa hồng nở, hoa hồng lại tàn” Hoa nở hoa tàn hai cái “sự” đó đều “vô tình” Vậy là trái đất vô tình, tạo hóa vô tình, đúng là như

thế Như vậy là bài thơ đề cập đến số phận mong manh của cái đẹp ở đời,một đề tài vĩnh cửu của thi ca nhân loại Nội dung tác phẩm là nỗi bất bình rấtthi sĩ của hương hoa và tất nhiên cũng là của nhà thơ mà những tâm hồn ítthiết tha với cái đẹp không thể nào hiểu được Vì thế hương hoa đã bay vàotrong ngục để tỏ nỗi bất bình với một người chẳng những có thể hiểu đượctâm trạng của mình mà còn có khả năng giải tỏa được nỗi bất bình ấy nữa: đó

là nghệ sĩ Hồ Chí Minh, thi sĩ Hồ Chí Minh Qua hình tượng thơ, tác giả muốnnói với người đọc một sự thật đau lòng là tình trạng đoản mệnh của biết baocái đẹp trên đời và đặt vấn đề khắc phục nó Nhiệm vụ thiêng liêng và đầykhó khăn này tất nhiên chỉ có thể đặt ra đối với những nghệ sĩ, những thi sĩ

Trang 17

Bởi vì sự có mặt của họ trên đời để làm gì nếu không phải là để phát hiện cáiđẹp, để thấu hiểu nó và tìm cách vĩnh cữu hóa, bất tử hóa nó bằng sáng tạonghệ thuật? Đấy phải chăng là một khía cạnh quan trọng của tư tưởng mĩ học

Hồ Chí Minh?

Tóm lại, nghiên cứu quan điểm nghệ thuật, tư tưởng mĩ học Hồ ChíMinh nhất thiết phải tìm hiểu cả những sáng tác văn chương của người nữa,đặc biệt là sáng tác thơ Mà đây có lẽ mới là căn cứ quan trọng nhất

***

Trong Nhật ký trong tù có bài thơ Buổi trưa (Ngọ):

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa, Một giấc miên man suốt mấy giờ

Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm mơ.

Không thể hiểu đúng tinh thần bài thơ này nếu không chú ý đến sắc tháimỉa mai tự trào của nó Tất nhiên Bác Hồ khao khát tự do hơn ai hết, nhưng

không hề muốn “cưỡi rồng bay lên trời” Bài thơ tự trào thật chua chát cay

đắng nhưng không hề có tinh thần thoát tục Ta liên tưởng đến lời phát biểucủa tác giả nhân dự một cuộc triển lãm hội họa tổ chức tại thủ đô ngay sauCách mạng tháng Tám (7-10-1945): “Những bức tranh này tỏ ra các nghệ sĩcủa ta lâu nay đều đã cố gắng tìm một con đường đi Nhưng tiếc một điều làkhông muốn đi dưới đất mà cứ muốn vụt lên trời (…) Thật là một thế giới tiên!Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tấn, nhà văn hào cách mạng Trung Hoa

đã nói ở đâu một câu đại ý thế này “Người trần lên tiên có lẽ cũng thích thật.Nhưng nhìn thấy mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng thấy chán nản, nhạtnhẽo và mới biết rằng: muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật, phải trở

về cuộc sinh hoạt thực tại của con người”(1)

Trang 18

Như vậy, đối với Bác Hồ, cái đẹp là cuộc sống thực tại trên mặt đấtnày, cuộc sống luôn luôn vận động biến đổi và đầy say mê của con ngườitrong cõi đời trần tục này.

Tập thơ Nhật ký trong tù có thể xem như một minh chứng tiêu biểu choquan điểm mĩ học đó Hơn trăm bài thơ, tuy có đủ cả phong hoa tuyết nguyệt,nhưng đều gắn chặt với mặt đất đầy bụi bặm này Dưới ngòi bút của Người,hiện ra cá một nhân loại lam lũ, đói khát, rách rưới, thuộc những tầng lớpdưới đáy của xã hội Trung Quốc cũ Cuộc sống của họ tuy đầy bất hạnh,nhưng là cuộc sống thực với mọi nỗi vui buồn sướng khổ, với những lo toan,những ham muốn nhiều khi tầm thường vặt vãnh nhưng không có chúng thìkhông có cuộc sống thực tại này Một nhân loại tuy bị đẩy vào bóng tối nhưngvẫn khao khát ánh sáng, tuy chịu đau khổ nhưng không phải không có niềmvui Ở những con người rất đỗi bình dị này, dường như có sống là có vui,được chia sẻ với nhau nỗi khổ thì cái khổ cũng vơi đi một phần Vì thế sinhhoạt trong tù có lúc cũng tưng bừng tiếng cười tiếng hát:

Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm Vang tiếng đàn ca rộn khúc ngâm, Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.

(Chiều hôm)

Trong cái thế giới cùng khổ nhưng sống động ấy, nổi bật lên hìnhtượng người tù vĩ đại Hồ Chí Minh, một tâm hồn, dù trong bất cứ tình huốngnào, cũng hướng thẳng về sự sống, ánh sáng và tương lai Người nhìn cảnhđông tàn như chuẩn bị cho mùa xuân tươi tốt, nhìn nỗi khổ như chuẩn bị choniềm vui, nhìn đêm tối như chuẩn bị cho bình minh rực rỡ

Tinh thần hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai tạo nên ở nhiều thiphẩm của Người qui luật vận động hết sức khỏe khoắn của mạch thơ, tứ thơdẫn đến những bất ngờ thú vị Có thể gọi đó là những tứ thơ chiến thắnghoàn cảnh, cải tạo tình thế rất độc đáo của Hồ Chí Minh:

Trang 19

Đáp thuyền thẳng tới huyện Ung Ninh, Lủng lẳng chân treo tựa giáo hình, Làng xóm ven sông đông đúc thế, Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)

Hai câu trên là hình ảnh người tù chịu khổ hình Hai câu dưới bỗng độtngột chuyển thành một thi sĩ đang ung dung ngoạn cảnh trên một chiếc du

thuyền Cái ung dung mà Xuân Diệu gọi là “đến mục thần thánh” (1) thực ra là

sự vận động đột ngột của hồn thơ Hồ Chí Minh bắt gặp cảnh sinh hoạt đông

vui của nhân dân nơi ven sông: “Làng xóm ven sông đông đúc thế”.

Sự vận động của hồn thơ ấy hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai,

còn cảm động hơn nữa trong bài Đêm ngủ ở Long Tuyền (Dạ túc Long Tuyền):

“Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân, Món “gà năm vị” tối thường ăn, Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh, Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần.

Không nên hiểu nỗi mừng ở đây chỉ là được thoát khỏi một đêm dài bịmuỗi rệp, rét mướt hành hạ Bài thơ từ giọng hài hước chua chát đến câu kếtthúc, bỗng chuyển sang giọng trữ tình tươi mát, trẻ trung khi nhà thơ lắngnghe đâu đây có tiếng chim oanh thánh thót Ôi, phải hiểu trong hệ thống ước

lệ của cổ thi, oanh vàng và liễu biếc là tiếng nói tiêu biểu của mùa xuân, tuổitrẻ và tình yêu, mới thấy biết bao chất sống và niềm vui xốn xang trong câuthơ vút lên từ ngục tối này

Đã coi cái đẹp là sự sống, chất thơ là chất sống đầy tính năng động thìngười nghệ sĩ tất nhiên không chịu để cho bất cứ một khuôn phép vănchương cứng nhắc nào ép buộc Điều đó giải thích một nét độc đáo của thipháp Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, trong văn xuôi cũng như trong thơ:

Trang 20

khuynh hướng phá cách táo bạo về mặt thể loại Ngày nay các nhà nghiêncứu phê bình văn học thường nói đến những cách tân mới mẻ của vănchương hiện đại: yếu tố huyền thoại, huyền ảo trong tiều thuyết hiện thực, thểtruyện viễn tưởng khoa học, dự báo tương lai, sự xâm nhập vào các thể văn

hư cấu những thể văn tư liệu hay chính luận, triết luận, v.v… Tất cả nhữngyếu tố cách tân ấy dường như đều có thể tìm thấy trong những truyện kí của

Nguyễn Ái Quốc ra đời những năm 20 của thế kỷ này: Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Con người biết mùi hun khói, v.v… Trong lĩnh vực thơ, tập Nhật ký trong tù cũng là một

bằng chứng nổi bật về khía cạnh này của quan điểm thẩm mĩ Hồ Chí Minh: từ

đề tài, hệ thống ước lệ đến quy tắc truyền thống về bố cục, về độ số của câu,của chữ v.v… không gì có thể trói buộc được cá tính sáng tạo của tác giả tậpthơ tù Có người nói, Bác Hồ đứng cao hơn văn chương Có lẽ nên nói:Người quan niệm cuộc sống cao hơn nghệ thuật và thể hiện chân thật, sâusắc cuộc sống là thước đo chuẩn mực nhất của mọi hình thức văn chương

***

Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tác phong sinh hoạt (ăn, ở, mặc, đi đứng,giải trí, ứng xử với mọi người…) đến cách nói, cách viết, từ đường lối chínhtrị, quan niệm đạo đức đến tư tưởng thẩm mĩ đều có một cái gì vừa rất mực

cổ điển, rất mực truyền thống lại vừa hết sức hiện đại, thời đại

Đồng chí Trần Độ có một nhận xét thú vị: Bác Hồ nhìn từ xa thấy dáng

đi thật ung dung nhàn nhã Nhưng khi tiếp cận và đi cùng với Người thì thấyNgười đi rất nhanh nhiều khi phải chạy gằn theo mới kịp Ung dung nhàn nhã

là cổ điển, nhưng nhanh nhẹn hoạt bát cũng có thể gọi là hiện đại chứ sao?

Thơ của Người đại bộ phận viết bằng chữ Hán, màu sắc cổ điển rấtđậm nét Nhưng cổ điển mà không phải cổ thi, nghĩa là thoạt xem giống cổ thi,đọc kĩ thấy không hẳn thế Chỗ giống nhau là cảm hứng thiên nhiên phongphú, là sự hòa hợp giữa con người và tạo vật, là phong độ ung dung tự tạicủa nhân vật trữ tình Nhưng chỗ khác nhau là ở tinh thần thép như Bác nói

Trang 21

Có nghĩa là không phải hình ảnh người quân tử khi xử thế, nhà hiền triết ẩndật chốn lâm tuyền, mà là người chiến sĩ hành động cải tạo thế giới:

Non xa xa, nước xa xa, Nào phải thênh thang mới gọi là Đây suối Lênin, kia núi Mác Hai tay xây dựng một sơn hà.

(Pắc Bó hùng vĩ)

Một đặc điểm của cổ thi là cảm quan phi thời gian: nhà thơ thường mộtmình đối diện với vũ trụ bao la, thái độ ung dung như đứng hẳn ra ngoài thờicuộc nhiễu nhương, ra ngoài dòng chảy của thời gian Thơ Bác không phảinhư thế Đọc Nhật ký trong tù, thấy nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh, một mặt cócái tự do bên trong của con người hoàn toàn tự chủ vì biết mình đang đồnghành với lịch sử trên từng bước đi tất yếu của nó, đồng thời lại là một chiến sĩcách mạng đầy nhiệt huyết bị giam cầm giữa không khí sôi sục khẩn trươngcủa phong trào giải phóng dân tộc, có cái tâm trạng nóng lòng sốt ruột đếnđau đớn Hình ảnh Bác trong tập thơ tù không những không phải con ngườiđứng ngoài thời gian, mà trái lại sống cao độ từng giờ, từng phút Chưa baogiờ Bác Hồ phải tính đếm thời gian, phải theo dõi từng phút quang âm qua đimột cách oan uổng bên ngoài song sắt nhà lao một cách căng thẳng đến thế.Một tâm trạng bồn chồn, khắc khoải, thao thức, nhiều khi chuyển thành bực

bội, đó là nét tiêu biểu nhất trên bức chân dung tự họa của tác giả Nhật ký trong tù.

Về mặt bút pháp, chỗ giống nhau giữa cổ thi và thơ Bác là tính hàm súc

cổ điển là lối chấm phá vài nét đơn sơ mà rất đỗi tài hoa như muốn truyền linh

hồn của tạo vật Nhưng chỗ khác của thơ Bác, chỉ nói riêng tập Nhật ký trong

tù, là sự xâm nhập mạnh mẽ của bút pháp phóng sự, bút kí, của lối văn thông

tin tư liệu, đem đến cho những vần thơ tứ tuyệt tính tự sự, tính tả thực ít thấytrong cổ thi

Trang 22

Tính thời đại trong thơ Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật nhất ở tinh thầndân chủ sâu sắc của nó Dân chủ trước hết ở thi đề, thi tứ Một cái răng rụng,một cái gậy chống, một hàng cháo bên đường cũng thành thơ Thậm chí mộtcảnh bắt rận, một cảnh đun nấu một bữa cơm tù cũng thành thơ Người ta nóithơ Bác có đủ cả “mắm muối tương cà” Điều ấy cần được hiểu theo cả nghĩađen trần trụi của nó Dân chủ ở quan điểm đổi mới hệ thống ước lệ của thơ ca

cổ điển Thơ tỏ lòng, nói chí ngày xưa nếu không so sánh những bậc anhhùng, hào kiệt, những đấng hiền nhân quán tứ với tùng cao, bách cả, cọp gió,rồng mây, thì cũng ví von với những mai, lan, cúc, trúc….Thơ Bác hoàn toànkhông có những hình ảnh sang trọng đó Người lại thích ví mình và ví ngườicách mạng với cái răng, cái gậy, với hạt gạo nhỏ bé hiền lành, với cái cột cây

số bên đường, với con gà gáy sáng Dân chủ còn ở giọng điệu, tình điệu củathơ Tập thơ có nội dung giáo dục to lớn, nhưng không hề lên giọng dạy đời

Nhà thơ nếu cần nhắc nhở đến một bài học đạo lý nào thì chỉ là để “tự khuyên mình” (Tự miễn): “Ví không có cảnh đông tàn, thơ đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân” Tập thơ có đầy chất thép, nhưng không thấy lên giọng

thép, nghĩa là không hề dùng lối đại ngôn tráng ngữ, cao giọng lên gân…

Tinh thần dân chủ thể hiện sâu sắc nhất ở bản chất của nhân vật trữtình trong thơ Không phải con người trong cổ thi thường “đăng sơn”, “đănglâu”, “đăng cao”, để đối diện đàm tâm với càn khôn vũ trụ, mà là con ngườisống giữa nhân quần đại chúng, chan hòa với những con người bình thường

nhất trong niềm vui nỗi khổ hàng ngày Nhật ký trong tù có một bài thơ nói về bệnh ghẻ (Lại sang) Tôi ngờ rằng đây là bài thơ duy nhất trong văn chương

Đông Tây kim cổ viết về cái đề tài rất ít thi vị này:

Đầy mình đỏ tía như hoa gấm.

Sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn, Mặc gấm, bạn tù đều khách quý, Gảy đàn, trong ngục thảy tri âm.

Trang 23

Bài thơ có giọng đùa vui thoải mái giống như nhiều bài thơ khác củaBác Hồ Qua tiếng cười rất đỗi hồn nhiên ấy, nhà thơ như muốn nói điều này:

Hồ Chí Minh cũng chẳng phải xương cốt đặc biệt gì, da thịt Hồ Chí Minh cũngnhư da thịt mọi người vậy thôi, bẩn thì ghẻ, ghẻ thì phải gãi và gãi ghẻ cũng

có cái thú vị riêng của nó Cả một nhà lao cùng gãi ghẻ thì thật là hiểu nhau

vô cùng, thật là “tri âm tri kỉ” kém gì Bá Nha với Tử Kỳ ngày trước Có ai đãnói rất đúng rằng, Bác Hồ rất vĩ đại, nhưng điều vĩ đại nhất là Người khôngbao giờ coi mình là vĩ đại Đó chính là trường hợp bài thơ này

Nói về tính truyền thống và tính thời đại trong tư tưởng mĩ học Hồ ChíMinh, có điều này rất đáng chú ý: ấy là hai phương diện đó dường như xuyênthấm vào nhau, khó lòng tách bạch ra được Nghĩa là nhìn mặt này là cổ điển,nhìn mặt kia là hiện đại; nhìn mặt này là truyền thống sâu, nhưng nhìn mặtkhác lại thuộc về thời đại văn minh tiến bộ nhất Chẳng hạn, lối viết giản dị,ngắn gọn của Người, gọi là tính hàm súc cổ điển cũng được, gọi là yêu cầuthông tin lớn trong một thông điệp tiết kiệm nhất của quan hệ giao tiếp giữanhững con người thời đại phát triển rất cao của khoa học kỹ thuật ngày naycũng đúng Ngoài ra còn phải nghĩ đến một cái gì như là có gốc rễ sâu xatrong quan niệm thẩm mĩ của người Việt Nam trong mấy nghìn năm lịch sử:một dân tộc từng có nhiều thành tựu vĩ đại trong công cuộc dựng nước, giữnước: đê sông Hồng, chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện BiênPhủ, chiến dịch Hồ Chí Minh… nhưng về khuynh hướng thẩm mĩ dường nhưlại thích những gì nhỏ nhắn, xinh xắn: chùa Một Cột, cây trúc xinh, câu cadao, tiếng đàn bầu… Hay như cảm quan thiên nhiên đậm đà trong thơ Bácvậy Gọi thế là kế thừa cái thú lâm tuyền của người xưa cũng được Nhưngđấy chẳng phải cũng là yêu cầu bức bách của nhân loại ngày nay đó sao, khiđứng trên những thành tựu kì diệu của sản xuất công nghiệp, lại khao khátđược trở về với một môi trường thiên nhiên tươi tốt trong lành đang có nguy

cơ bị hủy diệt?

… Xem sách chim rừng vào cửa đậu Phê văn hoa núi ghé nghiên soi.

Trang 24

… Kháng chiến thành công ta trở lại Trăng xưa hạc cũ với xuân này.

Đó là hồn thơ cổ điển hay là ước mơ của thời đại? Có ai đó nói rằng,Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là con người của nền văn hóa tương lai củanhân loại, điều đó không phải không có căn cứ

Nói về Bác, nhiều người thích dùng khái niệm “nhà hiền triết” Tôi hiểunhà hiền triết thường là người không chủ tâm phát ngôn một học thuyết triếthọc nào mà là người sống thật sự theo một triết học nào đó Ở đây triết líthành máu thịt tâm hồn, trở thành thái độ sống hằng ngày

Suy nghĩ về tư tưởng mĩ học của Bác Hồ, tôi cũng cảm thấy như thế.Bác Hồ trong đời sống cũng như trong sáng tác thơ là hiện thân sống của một

hệ tư tưởng mĩ học tốt đẹp của dân tộc và của thời đại Gorki nói: “Mĩ học là đạo đức học của tương lai” Bác Hồ, trong đời sống cũng như trong thơ ca, đã

là hiện thân sống của đạo đức học ấy

Tháng Năm 1990 (Trích từ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa.

Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1999, tr.361-368)

TỐ HỮU, NHÀ THƠ CỦA LÝ TƯỞNG CỘNG SẢN

1 Thơ Tố Hữu hay nhất khi cảm hứng thơ kết hợp được một cách tựnhiên ba chủ đề sau:

+ Ngợi ca lẽ sống cao đẹp của người cách mạng

+ Diễn tả niềm vui hướng về tương lai xã hội chủ nghĩa

+ Thể hiện những cảm nghĩ ân tình chung thủy

Khi nhà thơ viết về Bác:

Lẽ sống, niềm tin mong ước lớn

Trang 25

Và tình thương ân nghĩa bao la

Thì cũng là nói về những gì thân thiết nhất đối với hồn thơ ông Trênđường thơ của Tố Hữu, sự kết hợp này dường như trở thành có tính quy luật

ổn định từ cuối giai đoạn Việt Bắc, nhất là từ Gió lộng trở đi Từ đây phần lớn

những bài thơ hay nhất của ông đều thể hiện quy luật ấy

Trong thơ Tố Hữu, ba chủ đề nói trên, thật ra vẫn có một cơ sở thốngnhất: lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Bởi vì niềm vui trong thơ Tố Hữu khôngphải cái gì khác niềm tin ở lẽ sống ấy Và ân tình chung thủy trong thơ ôngcũng là ân tình chung thủy với lẽ sống ấy, thể hiện cụ thể trong quan hệ ântình với Đảng, với Tổ quốc, với Bác Hồ, với đồng chí, đồng bào, với nhữngnguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản, với truyền thống tốt đẹp của chaông…

Cho nên danh hiệu phù hợp với Tố Hữu một cách tổng quát nhất vẫnlà: nhà thơ của lẽ sống cách mạng

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim.

Tố Hữu đã đề từ cho tập thơ đầu của mình như thế Và nhân vật củaông, từ Lênin, Bác Hồ, anh bộ đội, anh giải phóng quân, mẹ Tôm, mẹ Suốt,

chị Lý, anh Trỗi, đến em Lượm, em Hòa… đều mang “Mặt trời chân lý” ấy trong tim - đúng là “những con người như chân lý sinh ra”.

Trong mấy chục năm qua, trên đất nước đầy bão táp và luôn luôn diễn

ra những bước ngoặt lịch sử này, vấn đề lý tưởng cách mạng luôn luôn dượcđặt ra một cách gay gắt hơn đâu hết, chẳng những đối với mỗi con người, màcòn đối với cả dân tộc Thơ Tố Hữu trở thành thân thiết với nhiều thế hệ ViệtNam, trước hết là vì thế

Trong những ngày đen tối dưới ách thực dân, thơ ông đem lẽ sống ấyđến cho những thanh niên đang hoang mang trước ngã ba đường Sau Cáchmạng tháng Tám, thơ ông ngày càng trở thành ý thức về lẽ sống cách mạngcủa toàn dân tộc trên mỗi chặng đường lịch sử

Trang 26

Thơ Tố Hữu mấy chục năm qua, tuy trước sau vẫn trở đi trở lại vấn đề

lẽ sống cách mạng của con người, vấn đề chân lý chính trị của thời đại,nhưng từ tập này qua tập khác, vẫn có những nét khác nhau và tập nào cũng

có một số bài đặc sắc

Tìm hiểu tiến trình thơ của Tố Hữu, thấy lúc đầu lý tưởng cộng sản đếnvới ông như là một luồng ánh sáng mãnh liệt và mới lạ Trong tâm hồn sôi nổicủa nhà thơ trẻ, nó trở thành một năng lượng thẩm mỹ tự phát sáng, tự tỏahương ra thế giới bên ngoài Ông thường dùng những hình ảnh tươi vui rực

rỡ tượng trưng cho ý niệm: chủ nghĩa cộng sản - mùa xuân của nhân loại (có

khi ông gọi là “vườn đầy xuân”, “xuân đào” hoặc “ngày mai gió mới ngàn phương”, “ngày mai muôn thuở với muôn hoa”).

Đặc sắc chủ yếu của thơ Tố Hữu thời kỳ này (Từ ấy) không phải là

những khám phá phong phú về đời sống hiện thực mà là sự biểu hiện mộtcách chân thật cái tôi hết sức trong sáng hồn nhiên của một thanh niên khátkhao lý tưởng, tự ca hát niềm vui lớn của mình khi bắt gặp lý tưởng cộng sảnchủ nghĩa và được chiến đấu hi sinh cho lý tưởng ấy

Đến giai đoạn Việt Bắc, lý tưởng không phải là đối tượng mô tả trực

tiếp Nó được vận dụng như là quan điểm tiếp cận, đánh giá và khái quát hiệnthực Cảnh tượng vĩ đại của toàn dân đứng lên giết giặc đập mạnh vào cảmquan thẩm mỹ của ông Cái tôi của nhà thơ muốn ẩn mình sau những nhânvật quần chúng cách mạng đi vào thơ ông từ hiện thực Thế giới nghệ thuậtcủa ông trở thành hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến toàn dân, toàndiện, trước hết trên địa bàn chiến khu Việt Bắc

Từ cuối giai đoạn Việt Bắc, những khái quát nghệ thuật của Tố Hữu về

hiện thực ngày càng trở nên có ý nghĩa rộng lớn hơn, đồng thời cái tôi của thi

sĩ cũng xuất hiện trở lại một cách tự nhiên thoải mái trong thế giới hình tượngcủa mình:

… Tôi chạy trên miền Bắc Hớn hở giữa mùa xuân…

Trang 27

(…) Huế ơi quê mẹ của ta ơi Nhớ tự ngày xưa tuổi chín mười…

(…) Nửa đời tóc ngả màu sương Nhớ quê, anh lại tìm đường thăm quê…

Cùng với cái tôi ấy, hình ảnh mùa xuân lại trở về với thơ ông, khôngphải cái xuân lòng ngày trước mà mùa xuân hiện thực trên đất nước: mùaxuân của chủ nghĩa xã hội, mùa xuân của những chiến công chống Mỹ

Nhưng cái tôi Tố Hữu trong Từ ấy và cái tôi Tố Hữu trong những tập

thơ này không hoàn toàn là một

Ở Từ ấy, người thi sĩ trẻ tuổi chỉ muốn đại diện cho chính cái cá nhân

cá thể của mình Xét về phương diện này, nó nằm trong phạm trù của cái tôi

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi

Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi

Cổ ta rẻ trăm trận cười, trận khóc!

Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc

Trang 28

Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?

Ta hét huyên thiên, ta chạy khắp nhà

Ai dám cấm ta say, say thần thánh?

Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh Thổi phồng lên, tim bỗng hóa mặt trời…

Cái tôi của Tố Hữu từ cuối tập Việt Bắc, nhất là từ Gió lộng trở đi,

không còn như vậy nữa Nó hầu như mất hẳn cái tính cách cá nhân cá thể đểtrở thành cái ta của Đảng, của dân tộc Nó tự đặt mình trên đỉnh cao của thời

đại, trò chuyện với lịch sử, với nhân loại (Bài ca mùa xuân 61, Chào 1967…).

Nhà thơ tự xem mình là trường hợp tiêu biểu của mối quan hệ Đảng thơ ca cuộc sống:

-Làm bí thư hoài có bí… thơ?

Rằng: thơ với Đảng nặng duyên tơ…

“Nghề” bí thư, đâu chuyện giấy tờ!

Lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ Phải đâu tim cứng thành khuôn dấu?

Càng thấu nhân tình nên vẫn thơ!

(Chuyện thơ)

Tố Hữu tin chắc đây là một mối lương duyên bền chặt Nhưng chính

ông chứ không phải ai khác, từ Ra trận trở đi, đã làm cho mối duyên tình ấy

nhiều lúc trở nên lơi lỏng Nhiều bài thơ của ông, nhất là những bài thơ xuân

(Chào xuân 67, Bài ca xuân 68, Xuân 69, Bài ca xuân 71…) muốn trở thành

một thứ thơ đường lối, thơ huấn thị khô khan, nặng về lý trí

2 Cảm hứng chủ đạo của thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn Đó làkhuynh hướng thẩm mỹ có hứng thú đặc biệt trong việc thể hiện cái tôi cánhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm xúc và về trí tưởng tượng

Trang 29

Khi thơ Tố Hữu ra đời (1937) thì phong trào Thơ mới lãng mạn đã đạt

tới độ cực thịnh Cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca của Thơ với tất nhiên cótác động tới sự hình thành thơ Tố Hữu Nó giúp ông thoát ra khỏi hệ thốngước lệ của thơ cũ đã trở thành công thức xơ cứng Nhưng hồn thơ Tố Hữuchủ yếu ra đời từ một nguồn mạch khác

Cho nên Tố Hữu tuy yêu thích Thơ mới, hiểu Thơ mới hơn ai hết, nhưng không tán thành Thơ mới Và xét ở một phương diện nào đấy, thơ ông còn là sự đối chọi lại Thơ mới nữa Ông cho biết: “Tôi cũng thích nhạc điệu và

hơi thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận…Trong tâm hồn của các anh lúc đó, tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn, đaubuồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy cácanh chưa tìm thấy lối ra và đôi khi rơi vào chán nản”(1)

Thơ Tố Hữu là thơ đã “tìm thấy lối ra”, là thơ của chủ nghĩa lạc quancách mạng, của lý tưởng cộng sản

Nếu Thơ mới là thơ của cái tôi cá nhân khép kín, thì thơ Tố Hữu thoát

khỏi “vòng quanh quẩn” là con chim tung cánh giữa trời xanh:

Rồi một ngày nào tôi thấy tôi Nhẹ nhàng như con chim cà lơi Say đồng hương nắng vui ca hát Trên chín tầng cao bát ngát trời…

(Nhớ đồng)

Nếu Thơ mới là thơ của cái tôi sầu tủi và cô đơn trước vũ trụ bao la,trong tình yêu bất trắc và trong cõi siêu hình của tôn giáo, thì thơ Tố Hữu làtiếng hát của cái tôi gắn bó với xã hội, với nhân quần:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Trang 30

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

(Liên hiệp lại)

Để ca ngợi lý tưởng, chủ nghĩa lãng mạn thường đối lập tương lai rực

rỡ với hiện tại đầy bóng tối, đối lập những ước mơ cao cả với hiện thực tầmthường Sự đối lập nhiều khi được đẩy đến cực đoan với những lời lẽ quágay gắt:

Ta nện gót trên đường phố Huế Dửng dưng không một cảm tình chi!

Không gian sặc sụa mùi ô uế

Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi…

(Dửng dưng)

Chủ nghĩa lãng mạn thường ngợi ca những tính cách phi thường,những khách chinh phu, những trang hiệp sĩ, dứt bỏ mọi tình riêng, dấn thânvào cuộc đời gió bụi và quyết chết trên đường tranh đấu

Cái tôi Tố Hữu trong tập Từ ấy quả có dáng dấp trang hiệp sĩ đó (“dửng dưng” với Huế đẹp và thơ, “gạt phăng hết những tình riêng nhỏ nhặt”), lao vào bão táp “như những con tàu”, say mê nện gót trên đường cát bụi (Dưới trưa) hoặc một mình đi trong đêm tối giữa giờ phút giao thừa (Đêm giao thừa)…

Con người ấy hay nghĩ đến cái chết và sẵn sàng đón nhận cái chết như số

phận tất yếu và đầy vinh quang của người anh hùng (Những người không chết, Trăng trối, Quyết hy sinh, Tranh đấu, Hãy đứng dậy, Đi…).

Trang 31

Cách mạng tháng Tám thành công Ước mơ độc lập tự do đã trở thành

sự thật Nhà thơ không đối lập hiện tại với tương lai, lý tưởng với hiện thựcnữa Giờ đây cảm hứng lãng mạn được khơi dậy từ chính hiện thực - hiệnthực được nhìn bằng con mắt của lý tưởng, được soi dọi bằng ánh sáng củatương lai Từ đây, thơ Tố Hữu là những bức tranh lộng lẫy về đất nước, vềnhân dân trong đấu tranh và xây dựng Công cuộc kiến thiết miền Bắc thật

rộn ràng náo nhiệt (Việt Bắc, Mùa thu mới, Bài ca mùa xuân 61, Tiếng hát sang xuân…), những đoàn quân đi vào chiến trường cũng vui như trẩy hội (Bài ca lái xe đêm, Đường vào) Và mỗi con người thì như những ngôi sao lấp

lánh Tất cả đều đi lên, đều bay lên:

Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên

(Mùa thu mới) Đảng cho ta trái tim giàu

Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay!

(Bài ca mùa xuân 61)

Ở Tố Hữu, chất lãng mạn nhiều khi kết hợp với cảm hứng sử thi, tạonên những vần thơ đẹp một cách khỏe khoắn đầy khí thế Sự kết hợp này

càng hào hứng hơn từ Ra trận, tập thơ thời chống Mỹ, cổ vũ cả nước ra trận:

Chưa bao giờ đẹp thế, sắc trời xanh

Và sắc đỏ của lá cờ ra trận

(Tuổi 25) Nếu Từ ấy thể hiện tâm hồn lãng mạn của một thanh niên mới giác ngộ cách mạng, ca hát lý tưởng của mình, thì Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa phản ánh tinh thần lãng mạn của cả dân tộc hăm hở hướng về tương lai

với niềm tin ở lẽ tất thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội

Trang 32

Cảm hứng lãng mạn của Tố Hữu đều có cơ sở hiện thực, đều bắtnguồn từ những thành tựu có thực trong sản xuất và chiến đấu, từ côngtrường đến chiến trường, từ miền Bắc đến miền Nam Nhưng những thànhtựu ấy, qua con mắt Tố Hữu, đều được nhân lên nhiều lần với kích thước caorộng bát ngát của lý tưởng và tương lai.

3 Tố Hữu trước hết là một nhà cách mạng Cuộc đời ông, trái tim ông

đã “dành riêng cho Đảng phần nhiều” Đảng yêu cầu ông trước hết phải nhằm

vào đại chúng mà tuyên truyền vận động cách mạng Ý thức về đối tượng ấy

đã ảnh hường sâu sắc tới phương hướng phát triển của phong cách nghệthuật của ông Đại chúng là nơi kết tinh sâu sắc và bền vững nhất nhữngtruyền thống tinh thần của dân tộc Thơ ông dễ đi vào đại chúng cũng vì cótính dân tộc đậm đà Người ta thường nói về màu sắc Việt Nam trong thế giớihình tượng của ông, từ phong cảnh đất nước tới những con người, đặc biệt làhình tượng Bác Hồ, những bà mẹ, những anh bộ đội… Bút pháp vẽ cảnh, vẽngười cũng có một cái gì đó rất Việt Nam: màu sắc tươi sáng mà dịu dàng,loáng thoáng mấy nét chấm phá thanh thoát mà tài hoa, không thiên về tảhình xác thế giới, mà muốn truyền được linh hồn của cảnh vật:

Nhớ Người những sớm tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi, rừng núi trông theo bóng Người…

(Việt Bắc)

Tố Hữu, nhất là từ tập Việt Bắc trở đi, xứng đáng được gọi là nhà thơ

của Tổ quốc Việt Nam, là hồn thơ dân tộc Đọc nhiều bài thơ Tố Hữu, cứ thấy

ẩn hiện trên những nẻo đường đất nước, hình ảnh một chàng thi sĩ say mê

đến ngơ ngẩn trước vẻ đẹp của quê hương mình (“Ta đứng vậy ngẩn ngơ mà ngắm mãi…”, “Tôi muôn hỏi như một chàng thi sĩ, Ngẩn ngơ nhìn bát ngát bãi phù sa…”) Chắp lại những áng thơ hay nhất của Tố Hữu, người ta như đứng

trước tấm gương lung linh phản chiếu những gì hết sức thân thuộc với mỗi

Trang 33

người Việt Nam không biết tự bao giờ: ấy là một bóng tre trùm mát rượi trênlưng đèo Nhe, một bông chuối rừng đỏ thắm giữa cái xanh ngắt thăm thẳmcủa núi rừng, là những con đường Việt Bắc về xuôi lượn quanh những đồichè, rừng cọ là con sông Thương bên trong bên đục, là nước sông Hồng đỏ

nặng phù sa, là dải Hương Giang êm ả trôi “trời trong veo, nước trong veo”, là

những dòng kênh, những đường dừa Nam bộ, là tiếng hát giao duyên miền

Bắc “Mình về mình có nhớ ta”, là câu hò đằm thắm miền Trung “Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa”, là vẻ đẹp đầy sức sống của cô gái Bắc Ninh “hát câu quan họ chuyến đò ngang”, là cái duyên “nghiêng nghiêng vành nón” của

những cô gái Huế, là những bà bầm, bà ba Việt Bắc, những bà má miền Namsuốt đời nhẫn nại nuôi con để lại sẵn sàng tiễn con ra trận, là anh bộ đội, anhgiải phóng quân hiền lành mà dũng mãnh, là Bác Hồ vĩ đại mà vô cùng giảndị…

Trên những phong cảnh rất đỗi Việt Nam ấy, ta thấy như tỏa chiếu mộtthứ ánh sáng riêng cũng rất Tố Hữu Có khi là ánh trăng trong trẻo dịu dàng

(“Rừng thu trăng rọi hòa bình”) Nhưng thường thì là ánh sáng mặt trời, ánh nắng Có đôi lần nó là cái nắng chói gắt mùa hạ (Từ ấy, Dưới trưa) Nhưng Tố

Hữu thích nhất ánh nắng ấm áp trẻ trung những buổi sớm mùa xuân và cáinắng vàng rực rỡ trong gió thu lồng lộng Cái ánh nắng trong thơ Tố Hữu bao

giờ cũng đẹp, cũng vui và trìu mến biết bao: “Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát”, “Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt - Nắng soi sương giọt long lanh”,

“Ngoài này nắng đỏ cành cam - Chắc trong ấy nắng xanh lam ngọn dừa” Có

nghĩ đến mùa mưa dầm dề sùi sụt của Huế quê ông (Nguyễn Tuân gọi Huế là

“nàng sùi sụt”) mới thấy quý cái nắng trong thơ ông.

Nhưng sức mạnh thẩm mỹ trội nhất của thơ Tố Hữu có lẽ là ở tính nhạcrất giàu của nó Chất dân tộc sâu đậm nhất ở đấy chăng? Nhiều câu thơ của

Tố Hữu đọc lên cứ thấy réo rắt âm hưởng của câu thơ Kiều, câu thơ Chinhphụ Có khi lại là cái giọng mộc mạc đằm thắm của ca dao, dân ca Sáng tạotài năng nhất của Tố Hữu, nhìn chung, không ở những từ ngữ mới lạ, những

Trang 34

so sánh tân kỳ, mà ở những hòa phối âm thanh, nhịp điệu có sức diễn tả độcđáo Có những phối âm có thể nói là khó có thể đạt hơn được:

Thác, bao nhiêu thác, cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

… Nỗi niềm chi rứa Huế ơi!

Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.

Có khi âm nhạc lại phối hợp với vũ đạo:

Ôi những nàng xuân rất dịu dàng Hát câu quan họ chuyến đò ngang Nhẹ nhàng tay cấy bên sông ấy Súng khoác trên lưng chẳng ngỡ ngàng…

(Xuân sớm)

Cố nhiên thơ dùng nhạc bên ngoài cốt để tạo nên nhạc bên trong Đọcthơ Tố Hữu cứ thấy có cái gì như muốn ca lên, hát lên và ngân nga mãi tronglòng mình Hình như trong thơ ông, nhạc bên trong càng vang dội khi nhạcbên ngoài chỉ khẽ bấm vào những tiếng tơ trầm Tố Hữu có giọng nói thầm rấtthích Nhiều khi lại nói bằng sự im lặng Có lẽ cái độc đáo nhất của nhà thơ làthường nói lẽ sống cách mạng, nói chuyện chính trị bằng giọng điệu và ngônngữ của tình yêu (tình yêu thì có bao giờ phải cao giọng) Thơ Tố Hữu trongphần tiêu biểu nhất, vẫn là thơ tâm sự, thơ tâm tình với giọng thầm kín ngọtngào Người ta đã giải thích giọng thơ này bằng nhiều lý do, trong đó có lý doảnh hưởng của quê hương ông Đúng là có cái giọng Huế trong thơ Tố Hữu,

Trang 35

cái giọng “hờn dịu ngọt” của người Huế, cái giọng hò man mác thiết tha trên

sông Hương và cái giọng thầm thì của chính con sông rất đỗi thơ mộng và trữtình này:

Hương Giang ơi, dòng sông êm Quả tim ta vẫn ngày đệm tự tình.

Giọng tâm tình ngọt ngào của thơ Tố Hữu có lẽ còn bắt nguồn từ giọngnói của người mẹ Tố Hữu từng kể cho nữ sĩ Đimitrôva (Bungari) một câuchuyện cảm động thời thơ ấu: “Có lần… tôi còn bé lắm Tôi đi ra khỏi nhà và

đi chơi Tôi cứ đi không cần biết sẽ đến đâu Trời tối xuống Tôi hoảng sợ Tôivào trong một ngôi chùa, nằm gọn trong một góc và ngủ thiếp đi Tôi tỉnh dậynhờ tiếng gọi của mẹ tôi Mẹ đang đi tìm tôi Lúc ấy tôi hiểu rằng, giọng nóingọt ngào nhất là giọng nói người mẹ”(1)

Giọng nói ngọt ngào ấy sẽ vang vọng mãi trong tâm hồn Tố Hữu để trởthành chất giọng chủ đạo của thơ ông

***

Ấy là mấy nét nổi trội của phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu kể từ tác

phẩm đầu tay Từ ấy đến Máu và hoa Sau tập thơ thứ năm này, người ta thấy

giọng điệu thơ Tố Hữu có những nét đổi khác

XUÂN DIỆU - THƠ

1 Nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời

Xuân Diệu ra đời như một đỉnh cao của phong trào Thơ mới Mà Thơ mới là tiếng nói văn học của cái tôi cá nhân cá thể (individu) Đúng là như thế Xuân Diệu hơn bất cứ nhà Thơ mới nào khác, không muốn hòa tan cái tôi

riêng của mình vào trong cái biển đời vô danh nhạt nhẽo “mờ mờ nhân ảnh”.Cái tôi cá nhân phải được tồn tại một cách đầy ý nghĩa trong đời sống - đó làmột lẽ sống, một lẽ phải mà Xuân Diệu kiên trì bảo vệ suất cả đời mình, như

là đấu tranh cho một bước phát triển đi lên của lịch sử tư tưởng dân tộc ta

Trang 36

của thế kỷ này Nhưng ý nghĩa nhân bản lớn của tư tưởng Xuân Diệu còn là

ở chỗ ông muốn khẳng định cái tôi cá nhân ấy trong quan hệ hòa hợp với đời.Con người ấy rất sợ cô độc và khát khao giao cảm với đời, coi đấy là niềmhạnh phúc tuyệt vời trên thế giới này

Nói Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu (tình yêu nam nữ) tất nhiên làđúng, nhưng có phần quá hạn hẹp, không khái quát được đầy đủ hồn thơrộng mở của Xuân Diệu Khái niệm giao cảm ôm trùm toàn vẹn hơn:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

(Vội vàng)

Ông muốn ôm lấy tất cả cuộc sống này, riết lấy tất cả trong đôi tay hăm

hở của mình Và ông tha thiết mong được mọi người đến với mình - “đây là quán tha hồ muôn khách đến” (Cảm xúc) - ông mở rộng tâm hồn và chào mời

tất cả và muốn lòng mình như phấn thông trên bãi biển bay vàng cả trời đấtmênh mông, đem tình yêu đi khắp thế gian

Là nhà thơ của niềm giao cảm với đời, tất nhiên Xuân Diệu cũng là nhàthơ của tình yêu Tình yêu là tình cảm say mê nhất trong thơ Xuân Diệu, ôngkhao khát muốn đuổi kịp và vượt cả RôngXa (Ronsard) về điểm này

Là nhà thơ của niềm giao cảm với đời nên Xuân Diệu cũng tất yếu trởthành nhà thơ cách mạng, nhà thơ của chủ nghĩa xã hội Hồn thơ Xuân Diệu

bắt vào lửa cách mạng một cách dễ dàng, mau lẹ hơn bất cứ nhà Thơ mới

nào khác Vì cách mạng chẳng phải là niềm giao cảm vĩ đại của hàng triệungười đó sao? Niềm giao cảm trong tình yêu lớn của cả một dân tộc, củanhiều dân tộc đối với một lý tưởng xã hội tốt đẹp

Niềm khát khao giao cảm với đời, ở Xuân Diệu, dĩ nhiên thể hiện rất rõtrong thơ ông Ông cần đến thơ để thả hồn mình vào thế giới, tìm đến nhữngtâm hồn đồng điệu Nhưng thơ chưa đủ thỏa mãn nhu cầu ấy Nó lớn hơn,rộng hơn thơ ông nên tràn ra cả ngoài thơ, thành văn xuôi, bút ký, tùy bút,truyện ngắn, thành cả phê bình, nghiên cứu văn học…

Trang 37

Nó còn tràn cả ra ngoài sự nghiệp viết văn, làm sách của ông nữa,thành những cuộc nói chuyện trực tiếp với công chúng: nói ở hội nghị, nóitrên đài phát thanh, nói trong Nam ngoài Bắc, trong nước, ngoài nước, nói với

đủ mọi hạng người… Có thể nói, trên đời này có bao nhiêu cách để tiếp xúcvới đời, để tìm sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đều không bỏ qua và đều khaithác triệt để Con người ấy đã đi nói chuyện tới mấy trăm lần, đã viết hàngmấy chục quyển sách, đủ mọi thể loại, đủ mọi đề tài, cả một đời lao động miệtmài, cật lực cho đến hơi thở cuối cùng Vì động cơ nào vậy? Vì đây là một tráitim nóng bỏng, trái tim của một con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi

sự giao cảm đầy tính nhân bản kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đốivới cuộc sống và kêu gọi tình yêu của cuộc sống đối với mình Hãy nghe nhàthơ van vỉ cuộc đời, van vỉ chúng ta:

Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ Một giây cũng cảm, một chút cũng đành

(Lời thơ vào tập gửi hương)

Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi

Dù chỉ là trong một phút mà thôi

(Mời yêu)

2 Xuân Diệu và thơ tình

Tình yêu nam nữ là niềm giao cảm kỳ diệu bậc nhất của con người Có

lẽ tôi sẽ làm một việc táo tợn khi muốn đưa ra một định nghĩa về tình yêu Vìtình yêu cũng như thơ ca, cũng như nghệ thuật… là những hiện tượng cònđầy bí ẩn mà loài người đến nay vẫn chưa định nghĩa được cho thấu đáo

Một mặt tình yêu là một cái gì rất trần tục, nó bao giờ cũng có cơ sởnhục thể sâu sắc Tình yêu bắt buộc con người phải là con người Biêlinxki đãtừng chế giễu thứ tình yêu gọi là Platonique mà ông diễn dạt một cách hóm

hỉnh là thứ tình yêu của “Những người bảo vệ hậu cung các vua chúa phương Đông” Enghen cũng nói toạc ra như thế khi châm biếm thứ thơ tình của một

Trang 38

nhà thơ đạo đức giả người Đức thế kỷ XIX mà ông gọi là “thơ của một người thiếu bộ máy sinh dục” Và ông đã ca ngợi thơ tình của Vec-tơ, một nhà thơ

cách mạng, bạn chiến đấu của Mác và Enghen đã “biểu hiện một tính nhụcdục và những thèm muốn nhục dục thật là lành mạnh và cường tráng”(1)

Nhưng mặt khác, tình yêu lại là một cái gì hết sức lý tưởng, hết sứcthánh thiện Bởi vì tình yêu là sự hiến dâng trọn vẹn và tuyệt đối cho ngườimình yêu Tình yêu chân chính không chấp nhận bất kỳ một tính toán thiệthơn nào Vì tình yêu, người ta có thể hy sinh hết thảy, kể cả tính mạng củamình Hi sinh hoàn toàn tự nguyện, thậm chí không cần đến một thứ tiếngvang nào để lại trên đời Tóm lại, đó là sự quên mình tuyệt đối để khẳng địnhmình trong sự tồn tại của người yêu Ta hiểu vì sao tình yêu đã trở thành một

đề tài lớn và vĩnh cửu của thơ ca nhân loại

Trên một đất nước mà chế độ phong kiến kéo dài như nước ta, quanniệm tình yêu nói trên không thể xuất hiện một cách sớm sủa được Tuy vậy,

nó đã bắt đầu cất tiếng nói trong văn học từ thế kỷ trước Khi Nguyễn Du đặt

vào ý nghĩ của Thầy Kiều “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung” thì có nghĩa

là nhà thơ không hề có quan niệm tình yêu Platonique Hồ Xuân Hương đã

phê phán rất ác thói đạo đức giả của những “hiền nhân quân tử” bằng cách

văng vào mặt chúng cái mà chúng vẫn thèm khát một cách tục tĩu nhất

Nhưng đồng thời, nhà thơ lại đã vẽ nên những bức Tranh tố nữ, Cô gái ngủ ngày với một tâm hồn thật khỏe và trong sáng biết bao!

Tuy nhiên, phải đến những năm ba mươi của thế kỷ này, với XuânDiệu, quan niệm tình yêu vừa trần tục vừa lý tưởng, tình yêu thật là tình yêumới cất lên tiếng nói thành thực và đầy ý thức của nó trong văn học ta:

Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực, Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài

Cái điều mà Enghen thế kỷ trước đã nói về nhà thơ cách mạng ĐứcVec-tơ, ngày nay ta có thể phong tặng cho Xuân Diệu

Trang 39

Đúng thế, trong lịch sử văn học Việt Nam, Xuân Diệu là người đầu tiên

trong thơ tình “đã biểu hiện tính nhục dục và những thèm muốn nhục dục thật

Trời cao trêu nhử chén xanh êm Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm Nên lúc môi ta kề miệng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em.

(Vô biên)

Nhưng quan niệm tình yêu như thế chính nó đã dẫn đến cái gọi là bikịch trong thơ Xuân Diệu ngày trước Hồi ấy ông đã đặt yêu cầu giao cảm linhhồn giữa cái thế giới không chịu đón nhận linh hồn chân thật của ông - thếgiới của đồng tiền lạnh lùng trong xã hội thành thị ngày xưa:

Người ta khổ vì thương không phải cách Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người

Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi Người ta khổ vì xin không phải chỗ

(Dại khờ)

Cho nên:

Lòng ta là một cơn mưa lũ

Đã gặp lòng em là lá khoai Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc

Trang 40

Lá xanh không ướt đến da ngoài

(Nước đổ lá khoai)

Linh hồn không được đáp lại Hồi ấy, người đẹp có thể trao thân nhưng

không thể trao hồn Thể xác có thể giao hòa làm một nhưng “Em là em, anh vẫn cứ là anh” Một vạn lý trường thành đã ngăn cách hai tâm hồn như hai vũ

trụ hoàn toàn biệt lập Cho nên con người khao khát yêu ấy cũng là con

người hết sức cô độc “yêu là chết ở trong lòng một ít” Đấy là điệp khúc đau

đớn trong một bài thơ Yêu của Xuân Diệu Cách mạng tháng Tám và xã hộimới đã phá vỡ dần bức tường thành ngăn cách con người với con người

Tâm hồn si mê của nhà thơ không cảm thấy bơ vơ giá lạnh như trướcnữa Nhiều bài thơ tình của ông thể hiện những tình cảm giao hòa đấm ấmgiữa những linh hồn trung hậu

Nếu quan niệm tình yêu có hai giai đoạn: trước hôn nhân là giai đoạnthơ, sau hôn nhân là giai đoạn văn xuôi, thì trước Cách mạng tháng Tám,Xuân Diệu chỉ có thơ về “giai đoạn thơ” của tình yêu mà thôi, nhưng sau cách

mạng, ông còn có nhiều thơ về “giai đoạn văn xuôi” của tình yêu nữa: Áo em, Aragông và Enxa, Đứa con của tình yêu, Em làm bếp, Quạt…

Nhưng cách mạng và xã hội mới cũng không thể chấm dứt được mọi bikịch Hình như trong lĩnh vực tình yêu lại càng như vậy

Ta không nói ở đây nỗi đau riêng của Xuân Diệu mà quan niệm quy luậtchung của tình yêu là như thế

Vì làm sao có thể dò xét đến tận đáy cùng mọi bí ẩn của những tâmhồn yêu nhau Ngay bản thân mỗi con người cũng không hiểu hết mình nữa

là Cho nên tình yêu luôn luôn là một quá trình phấn đấu với những dằn vặt vàđau đớn khôn cùng:

Núi cao chót vót chon von Anh xây xây mãi chưa tròn tình yêu

(Ca khúc)

Ngày đăng: 07/03/2017, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w