1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tu lieu on su 7

51 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới đã lần đầu tiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua Hù

Trang 1

Quèc Kú níc céng hoµ x héi chñ nghÜa viÖt nam ·

Quèc huy níc céng hoµ x héi chñ nghÜa viÖt nam ·

Trang 2

Quèc ca níc céng hoµ x héi chñ nghÜa viÖt nam ·

Trang 3

Chủ tịch hồ chí minh Ngời thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam Ngời sáng lập Đảng ta, xây dựng Nhà nớc ta.

Trang 4

"Các Vua hùng đã có công dựng nớc, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nớc"

Hồ Chí Minh

Lời giới thiệu

"Dân ta phải biết sử ta, Cho tờng gốc tích nớc nhà Việt Nam".

Lịch sử nớc ta - Hồ Chí MinhCuộc thi tìm hiểu "60 năm Nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" do ban Tuyên giáo Huyện uỷ Diễn Châu triển khai không ngoài mục đích đó

Đây là một cuộc thi có tính chất rộng rãi đối với mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là giới học sinh và thế hệ trẻ Thế hệ chủ nhân tơng lai của đất nớc

Đây cũng là dịp chúng ta tìm và hiểu về lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của ông cha ta trong suốt hơn bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc Từ thời Hồng Bàng (năm 2879 trớc công nguyên) cho tới nay - thời đại Hồ Chí Minh, thời đại vẽ vang nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc.

Trong suốt hơn bốn nghìn năm, dân tộc Việt Nam ta đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài và vinh quang Đó là quá trình lao động gian khổ và chiến đấu kiên cờng để dựng nớc và giữ nớc, xây đắp Tổ quốc Việt Nam thống nhất hùng cờng Trong quá trình lịch sử đó, tổ tiên ta đã xây dựng đất nớc có bờ cõi rõ ràng, sáng tạo ra nền văn minh đậm màu sắc dân tộc, lập nên những chiến công kỳ diệu, sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt mà tên tuổi đời đời sống mãi với non sông đất nớc.

Bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc đã tôi luyện truyền thống dân tộc anh hùng, bất khuất, thông minh cần cù, đoàn kết trong chiến

đấu và sản xuất

Ngày nay đất nớc ta đã thanh bình nhân dân ta đợc tự do, cuộc sống của mọi ngời đã từng bớc đợc nâng lên Kinh tế xã hội đang từng bớc phát triển tốc độ năm sau hơn năm trớc, đời sống nhân dân tiếp tục đợc cải thiện, các chính sách xã hội đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm, an ninh quốc phòng đợc giữ vững, bộ mặt xã hội thay đổi từng ngày

Đạt đợc những thành quả trên chính là nhờ công ơn của Đảng, của Bác Hồ vô cùng kính yêu, của các vị cách mạng tiền bối, các anh

Trang 5

hùng đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng cao cả, vì hạnh phúc của nhân dân

Nhân dịp tham gia dự thi tôi xin chân thành cảm ơn Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, ban tổ chức cuộc thi, th viện huyện Diễn châu, các bạn

đồng nghiệp đã cung cấp và giúp đỡ những t liệu quí để tôi hoàn thành bài thi này.

Khái quát về điều kiện tự nhiên nớc Việt Nam

Nước Việt Nam nằm ở đụng nam lục địa chõu Á, bắc giỏp nước Cộng hũa nhõn dõn Trung Hoa, tõy giỏp nước Cộng hũa dõn chủ nhõn dõn Lào và vương quốc Campuchia, đụng và nam giỏp Biển Đụng (Thỏi Bỡnh Dương), cú diện tớch 329.600 km2 đất liền, gần 700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo Từ thời cổ sinh của trỏi đất (cỏch ngày nay từ 185 - 520 triệu năm) đõy đó là một nền đỏ hoa cương, võn mẫu

và phiến ma nham vững chắc, tương đối ổn định Vào kỷ thứ ba của thời tõn sinh (cỏch ngày nay khoảng 50 triệu năm) toàn lục địa chõu Á được nõng lờn và sau nhiều biến động lớn của quả đất, dần dần hỡnh thành cỏc vựng đất của Đụng Nam Á Nhiều giả thuyết khoa học cho rằng, vào thời kỳ đú Việt Nam và Inđụnờxia cũn nối liền nhau trờn mặt nước biển

về sau do hiện tượng lục địa bị hạ thấp nờn cú biển ngăn cỏch như ngày nay

Sự hỡnh thành lõu đời và bền vững của lục địa chõu Á đó ảnh hưởng rất lớn đến sự ra đời của con người và xó hội trong khu vực Năm

1892, nhà bỏc học Hà Lan Ơgien Duy boa (Engốne Dubois) đó tỡm thấy hài cốt của người vượn Java, sống cỏch đõy khoảng 180 vạn năm Việc phỏt hiện hài cốt người nguyờn thủy trong cỏc thập niờn qua đó chứng tỏ rằng Đụng Nam Á là một trong những quờ hương của loài người

Một số di cốt của người nguyờn thuỷ cựng cỏc cụng cụ đỏ của họ được tỡm thấy trờn lónh thổ Việt Nam xỏc nhận trờn cỏch đõy hàng vạn năm, đó cú những tập đoàn người nguyờn thuỷ sinh sống trờn đất nước ta

Vị trớ thuận lợi của Việt Nam từ xa xưa cũng đó gúp phần quan trọng vào việc giao lưu của cỏc nền văn húa Đụng Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và sau này với cỏc nền văn húa phương Tõy

Địa hỡnh vựng đất liền của Việt Nam khỏ đặc biệt với hai đầu phỡnh

ra (Bắc bộ và Nam bộ) ở giữa thu hẹp và kộo dài (Trung bộ) Địa hỡnh miền Bắc tương đối phức tạp Rừng nỳi trải dài từ biờn giới Việt Trung cho đến tõy Thanh Húa với nhiều nỳi cao như Phanxipăng (3.142m), nhiều khu rừng nhiệt đới, và nhiều dóy nỳi đỏ vụi như Cao Bằng, Bắc Sơn, Hũa Bỡnh, Ninh Bỡnh, Phong Nha - Kẻ Bàng với hàng loạt hang động, mỏi đỏ Cựng với nhiều loại thực vật khỏc nhau, rừng Việt Nam cũn cú hàng trăm giống thỳ vật quý hiếm; nhiều loại đỏ, quặng, tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sống và phỏt triển con người

Địa hỡnh Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phớa tõy về giải đồng bằng hẹp ven biển Vựng đất đỏ Tõy Nguyờn ,vựng ven biển Trung

bộ và cực nam Trung bộ, nơi cư trỳ của đồng bào nhiều dõn tộc trong đại gia đỡnh dõn tộc Việt Nam là khu vực nụng nghiệp trự phỳ, cú điều

Trang 6

kiện khai thác thuỷ, hải sản hết sức thuận lợi

Địa hình Nam Bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúa của cả nước, hàng năm đang tiếp tục lấn ra biển hàng trăm mét

Việt Nam có nhiều sông ngòi Hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) bồi đắp lên hai châu thổ lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam còn có hệ thống sông ngòi phân bổ đều khắp từ bắc tới nam với lưu vực lớn, nguồn thuỷ sản phong phú, tiềm năng thuỷ điện dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và tụ cư của con người, hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời của người Việt bản địa

Biển Việt Nam bao bọc phía đông và nam đất liền nên từ lâu đời được người Việt Nam gọi là biển Đông Việt Nam có khoảng 3.200 km

bờ biển, 700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo như: Hoàng

Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Sơn Biển đông là một phần của Thái Bình Dương với diện tích 3.447.000 km2, là biển lớn hàng thứ ba trong

số các biển có trên bề mặt Trái Đất Bờ phía bắc và phía tây của Biển Đông bao gồm : một phần lãnh thổ phía nam Trung Quốc, Việt Nam , Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia Bờ phía đông là vòng cung đảo kéo đài từ Đài Loan qua quần đảo Philippin đến Calimantan, khiến cho Biển Đông gần như khép kín

Phần biển Đông của Việt Nam là ngư trường phong phú và là con đường giao lưu hàng hải quốc tế rất thuận lợi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Bờ biển Việt Nam là những điểm du lịch hấp dẫn có di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh Trong nước biển và thềm lục địa của Việt Nam có nhiều tài nguyên quý Từ lâu đời nhà nước Việt Nam đã khẳng định chủ quyền đối với biển Đông, các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và nhiều đảo khác trên biển Kinh tế biển là nguồn sống lâu đời của nhân dân ta, là thế mạnh của ®ất nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nằm trong khoảng 8"30' - 23"22' độ vĩ bắc với một chiều dài khoảng 1650 km, Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đíi gần xích đạo Nhờ gió mùa hàng năm, khí hậu điều hòa, ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật Miền Bắc, khí hậu ẩm, độ chênh lớn: ở Hà Nội, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 12 độ 5, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là

29 độ 3 Miền Trung, như Huế, nhiệt độ chênh lệch dao động trong khoảng 20 - 30 độ C Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiệt độ chênh lệch giảm dần dao động giữa 26 - 29,8 độ C Những tháng 6,7,8 ở Bắc và Trung bộ là tháng nóng nhất, trong lúc ở Nam bộ,nhiệt độ điều hòa hơn Mùa xuân, mùa hạ, mưa nhiều, lượng nước mưa trong năm có khi lên rất cao: Hà Nội năm 1926 là 2,741 mm, Huế lượng mưa trung bình là 2.900 mm, thành phố Hồ Chí Minh trung bình là 2.000 mm mỗi năm

Là một quốc gia ven biển Việt Nam có nhiều thuận lợi về địa hình, khí hậu, động thực vật nhưng cũng là quốc gia có nhiều thiên tai, đặc biệt là bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa đông bắc, gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải và đời sống con người

Trang 7

phÇn tr¶ lêi c¸c c©u hái

C©u 1 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói với cán bộ, chiến sĩ một

đơn vị quân đội: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu

ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Bác Hồ đã nói câu đó ở đâu, vào thời gian nào, với cán bộ, chiến sĩ đơn vị nào ?

Thời kỳ nhà nước

Văn Lang (Hùng Vương)

và nhà nước Âu Lạc (An

Dương Vương) thuộc

giai đoạn nào trong lịch

Tr¶ lêi: Sau 9 năm

kháng chiến chống thực

dân Pháp thắng lợi, trên

đường từ chiến khu Việt

quản thủ đô, Bác Hồ đã nó câu nói bÊt hñ: "Các vua Hùng đã có công

dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới

đã lần đầu tiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua Hùng đã có

công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Như vậy, lần đầu tiên lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

ta được Người tổng kết trong câu nói bất hủ đó Sự khẳng định của Người đã trở thành phương hướng và cơ sở cho các nhà khoa học Việt Nam khi nghiên cứu về thời đại Hùng Vương trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Lời dạy của Bác còn là tổng kết khoa học về quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta, đó là dựng nước đi liền với giữ nước Câu nói của Bác có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức dân tộc, nâng cao tinh thần đại đoàn kết, nguồn sức mạnh to lớn chi phối toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc;

là động lực cổ vũ lớn lao tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

B¸c Hå nãi chuyÖn víi §¹i ®oµn 308 t¹i §Òn Hïng

Phó Thä, n¨m 1954

Trang 8

Hiện nay tại Đền Hùng có đặt tấm bia đỏ, nội dung ghi lời căn dặn vào ngày 19/9/1954 của Chủ tịch Hồ Chớ Minh khi Người về thăm Đền Hựng:

“Cỏc Vua Hựng đó cú cụng dựng nước, Bỏc chỏu ta phải cựng nhau giữ lấy nước.”

nhà nớc văn lang ra đời

Dựa vào tài liệu khảo cổ học, tài liệu thành văn (sử cũ của Trung Quốc và của nước ta) cú thể sơ bộ phỏc hoạ cấu trỳc của nhà nước thời Hựng Vương theo hệ thống 3 cấp của bộ mỏy cai trị tương ứng với

3 cấp quan chức Đứng đầu nước Văn Lang là Hựng Vương Ngụi Hựng Vương cha truyền con nối Hựng Vương đồng thời là người chỉ huy quõn sự, chủ trỡ cỏc nghi lễ tụn giỏo

Dưới Hựng Vương và giỳp việc cho Hựng Vương cú cỏc lạc hầu, lạc tướng Lạc tướng cũn trực tiếp cai quản cụng việc của cỏc bộ Nước Văn Lang cú 15 bộ (trước là 15 bộ lạc) Lạc tướng (trước đú là tự trưởng) cũng thế tập cha truyền con nối, cũn gọi là phụ đạo, bố tướng Dưới bộ là cỏc cụng xó nụng thụn (bấy giờ cú tờn ghi là kẻ, chạ, chiềng) Đứng đầu kẻ, chạ, chiềng là cỏc bồ chớnh (cú nghĩa là già làng) Bờn cạnh bồ chớnh cú lẽ cũn cú một nhúm người hỡnh thành một

tổ chức cú chức năng như một hội đồng cụng xó để tham gia điều hành cụng việc của cụng xó nụng thụn Mỗi cụng xó cú nơi trung tõm hội họp, sinh hoạt cộng đồng, thường là một ngụi nhà cụng cộng

Căn cứ vào lời tõu của Mó Viện lờn vua nhà Hỏn về tỡnh hỡnh Âu Lạc trước khi nhà Hỏn xõm lược và đụ hộ nước ta, cú thể nghĩ rằng, bấy giờ nhà nước Văn Lang đó cú phỏp luật để điều hành xó hội Sỏch Hậu Hỏn thư viết “luật Việt” khỏc luật Hỏn hơn mười việc” Cú lẽ “luật Việt” mà Mó Viện dựng là một thứ luật tục Sử sỏch thường ghi cư dõn nước ta bấy giờ là người Lạc Việt và quốc hiệu là Văn Lang do vua Hựng đặt

Đại việt sử lược ghi rằng: Đến đời Trang Vương nhà Chu

(696-682 tr.CN) ở bộ Gia Ninh cú người lạ, dựng ảo thuật phục được cỏc bộ lạc, tự xưng là Hựng Vương, đúng đụ ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang Việt Vương Cõu Tiễn (505-462 tr.CN) cho người đến dụ hàng nhưng Hựng Vương khụng theo

Dựa vào cỏc tài liệu và những thành tựu nghiờn cứu về thời đại

Hựng Vương hiện nay, cú thể đoỏn định cú cơ sở rằng thời điểm ra đời của nước Văn Lang với tư cỏch là một nhà nước sơ khai là vào khoảng thế kỷ VII-VI tr.CN (ở giai đoạn Đụng Sơn)

Sự ra đời của nước Văn Lang dự cũn sơ khai và cú phần sớm khi trong xó hội phõn húa chưa sõu sắc (như do tỏc động mạnh mẽ của

Trang 9

yờu cầu thuỷ lợi và chống ngoại xõm thỳc đẩy cho sự ra đời sớm) nhưng đó đỏnh dấu một bước phỏt triển mạnh mẽ cú ý nghĩa thời đại của lịch sử Việt Nam- mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiờn của dõn tộc

nhà nớc âu lạc ra đời

Từ trước cuộc xõm lăng của quõn Tần, giữa vua Hựng và họ Thục

đó xảy ra một cuộc xung đột kộo dài chưa phõn thắng bại Trong bối cảnh đú, cuộc xõm lăng của quõn Tần xảy ra ồ ạt Đứng trước tỡnh hỡnh mới, hai bờn chấm dứt xung đột, cựng chiến đấu chống ngoại xõm Khỏng chiến thắng lợi, Thục Phỏn với tư cỏch người chỉ huy chung đó

được thay thế Hựng Vương làm vua, đặt tờn nước mới là Âu Lạc Quốc gia Âu Lạc ra đời khoảng đầu thế kỷ III tr.CN

Nước Âu Lạc là bước kế tục và phỏt triển cao hơn của nước Văn Lang và trờn một phạm vi rộng lớn hơn của người Việt và người Tõy Âu

Tổ chức bộ mỏy nhà nước và cỏc đơn vị hành chớnh dưới thời Âu Lạc vẫn chưa cú gỡ thay đổi khỏc với thời Văn Lang của cỏc Vua Hựng Đứng đầu nhà nước là Thục An Dương Vương Dưới đú, trong triều vẫn cú cỏc Lạc hầu giỳp vua cai quản đất nước Ở cỏc địa phương (bộ) vẫn do cỏc Lạc tướng đứng đầu quản lý Đơn vị hành chớnh cấp cơ sở vẫn là cỏc cụng xó nụng thụn (kẻ, chiềng, chạ)

Mặc dự nước Âu Lạc tồn tại khụng lõu, chỉ trong khoảng từ năm

208 đến năm 179 tr.CN, nhưng về cỏc mặt vẫn tiếp tục được phỏt triển trờn cơ sở kế thừa những thành tựu đó đạt được thời Văn Lang, nhất là trờn lĩnh vực quõn sự

Câu 2.Trong quỏ trỡnh dựng nước và giữ nước, nhõn dõn ta

đó nhiều lần đứng lờn đỏnh đuổi giặc ngoại xõm, giành chủ quyền, bảo vệ độc lập cho đất nước .

Hóy kể tờn những cuộc khởi nghĩa và những cuộc khỏng chiến chống ngoại xõm tiờu biểu trong lịch sử từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ( năm 40) đến chiến thắng mựa xuõn năm Kỷ Dậu

Trả lời: Trong suốt bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân

tộc, ông cha ta đã từng đánh đuổi rất nhiều giặc ngoại xâm giành chủ quyền, bảo vệ non sông bờ cõi và quyền độc lập cho dân tộc Đặc biệt từ năm 40 (Sau CN) cho tới năm 1789, dân tộc ta đối đầu với nhiều giặc ngoại xâm hùng mạnh Và lần nào cũng vậy chiến thắng lại về với chúng

ta Đó là do ý chí anh dũng quật cờng, tinh thần dân tộc, tình yêu quê

h-ơng đất nớc, yêu giống nòi của ông cha ta từ hàng ngàn năm trớc

Trong phần này tôi xin đợc dựa theo bài "Lịch sử nớc ta" của Bác

Hồ để kể lại những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống ngoại xâm tiêu

Trang 10

biểu của nhân dân ta từ năm 40 (sau công nguyên) đến năm Kỷ Dậu

1789 (Nguyễn Huệ đại phá 20 vạn quân Thanh)

Các mốc son lịch sử

Năm 40 sau CN Khởi nghĩa Hai Bà Trng.

Năm 248 Khởi nghĩa Bà Triệu.

Năm 542-544 Khởi nghĩa Lý Bí-Nớc Vạn Xuân thành lập.

Năm 722 Khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

Năm 1418-1427 Khởi nghĩa Lam Sơn Chiến thắng Chi Lăng

-X-ơng Giang.

Năm 1771 Khởi nghĩa Tây Sơn.

Năm 1784-1785 Kháng chiến chống quân xâm lợc Xiêm Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút.

Năm 1786 Phong trào Tây Sơn lập lại nền thống nhất đất nớc.

Năm 1788-1789 Kháng chiến chống quân xâm lợc Thanh Chiến thắng Ngọc Hồi-Khơng Thợng.

1-Khởi nghĩa Hai Bà Trng: (40-43 sau công nguyên)

Đầu thế kỷ II trớc công nguyên, An Dơng Vơng mắc mu giặc, để mất nớc vào tay Triệu Đà Thảm hoạ ấy đã đa dân tộc ta bớc vào những

đêm dài Bắc thuộc Dới ách thống trị của các triều đại phong kiến nhân dân Việt Nam không ngừng trỗi dậy, giành lại chủ quyền đất nớc, và thật

đáng tự hào là cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên lại là do những phụ nữ anh hùng lãnh đạo

Trng Trắc và Trng Nhị là hai chị em ruột, con gái Lạc tớng huyện

Mê Linh (Miền Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phú), thuộc dòng dõi Hùng Vơng Trng Trắc là một phụ nữ đảm đang, dũng cảm, mu trí, chồng bà là Thi

Trang 11

Sách, con trai Lạc tớng huyện Chu Diên (Miền Hà Tây -Nam Hà), cũng là một ngời yêu nớc và có chí khí quật cờng Tháng 3 năm 40, Hai bà Trng Trắc và Trng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát trên sông Hồng, thuộc huyện Phúc Thọ Hà Tây ngày nay Do cú tớnh chất quần chỳng rộng rói, nên đã giành được thắng lợi trong cả nước với 65 huyện thành Nền độc lập đợc phục hồi, Trng Trắc đợc suy tôn lên làm vua,

đóng đô ở Mê Linh Lời thề của bà trớc ba quân : " Một xin rửa sạch

n-ớc thù, hai xin đem lại nghiệp xa họ Hùng " đã đợc thực hiện Chủ

quyền dân tộc chỉ giữ vững quyền tự chủ trong 3 năm Song tiếng vang của nó đời đời bất diệt

Trong bài "Lịch sử nớc ta", Bác Hồ viết:

"Hai Bà Trng có đại tài, Phất cờ khởi nghĩa diệt ngời tà gian,

Ra tay khôi phục giang san, Tiếng thơm dài tạc đá vàng nớc ta."

2-Khởi nghĩa Bà Triệu (248)

Tiếp sau Trng Vơng, Triệu Thị Trinh năm 19 tuổi đã quyết " cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lng làm tì thiếp ngời" (1) , cùng anh là Triệu Quốc Đạt phất cờ khởi nghĩa trên đỉnh núi Na (Thanh Hoá), "mặc áo giáp, cài trâm vàng, đi guốc ngà cỡi đầu voi" dũng mãnh tiến công các quận huyện của bọn quan lại nhà Ngô.

Nhõn dõn hai quận Giao Chỉ, Cửu Chõn đó nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, đỏnh thắng quõn Ngụ nhiều trận Nhà Ngụ

lo sợ phải đưa thờm 8000 quõn sang nước ta đàn ỏp phong trào khởi nghĩa

Bà Triệu Thị Trinh đó hy sinh trờn nỳi Tựng (Phỳ Điền, Hậu Lộc, Thanh Húa)

"Tỉnh Thanh Hoá có một bà, Tên là Triệu ẩu tuổi vừa đôi mơi.

Tài năng dũng cảm hơn ngời, Khởi binh cứu nớc muôn đời lu phơng.

(1) Lời Bà Triệu.

Trang 12

phơng Bắc, khẳng định dân tộc Việt Nam là chủ nhân đất nớc và vận mệnh của mình

Ít năm sau, cuộc khỏng chiến bảo vệ chủ quyền đất nước của Lý Nam Đế thất bại, ụng bị bệnh mất thỏng 4-548

4-Khởi nghĩa Triệu Quang phục (548-571)

Khởi nghĩa Triệu Quang Phục nổ ra vào những năm 548–571, ở vựng Hưng Yờn ngày nay Triệu Quang Phục là con một tự trưởng, quờ ở Hưng Yờn được Lý Bớ (Lý Nam Đế) trao quyền lónh đạo cuộc khỏng chiến chống quõn nhà Lương ễng lập căn cứ khỏng chiến tại vựng Dạ Trạch, tổ chức đỏnh du kớch, tiờu hao sinh lực địch Năm 550, nghĩa quõn đó giết được tướng giặc là Dương San, chiếm thành Long Biờn

Ngày 13-4-548, Triệu Quang Phục lờn ngụi vua, xưng hiệu là Triệu Việt Vương

Năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử phản bội, thua chạy và tuẫn tiết ở cửa biển Đại Nha

5-Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687)

Lý Tự Tiờn đó phỏt động một cuộc khởi nghĩa lớn vào năm 687 chống ỏch đụ hộ của nhà Đường Lý Tự Tiờn hy sinh, nhưng cỏc cộng

sự của ụng như Đinh Kiến, Tư Thõn vẫn tiếp tục lónh đạo cuộc khởi nghĩa Nghĩa quõn võy phủ thành Tống Bỡnh (Hà Nội) Viện binh của nhà Đường đàn ỏp dó man, nghĩa quõn tan vỡ

6-Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)

Khởi nghĩa Mai Thỳc Loan nổ ra năm 722 Mai Thỳc Loan quờ ở Mai Phụ, miền ven biển Thạch Hà, Hà Tĩnh (cú sỏch chộp ở Thiờn Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh sau theo mẹ đến sống ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Năm 722 ụng kờu gọi những người dõn phu, nổi dậy chống lại ỏch thống trị của nhà Đường Nhõn dõn khắp cỏc chõu Hoan, Ái, Diễn (Thanh-Nghệ-Tĩnh) tụ tập dưới cờ khởi nghĩa, buộc tờn trựm đụ hộ Quang Sở Khanh thỏo chạy về nước Đất nước được giải phúng, Mai Thỳc Loan xưng đế và đúng đụ ở thành Vạn An dới chân Rú Đụn (Nam

Trang 13

Cuộc khởi nghĩa kộo dài 20 năm, cú thời gian đó chiếm được thành Tống Bỡnh (Hà Nội) ễng được tụn là Bố Cỏi Đại Vương

8-Cuộc khởi nghĩa Khỳc Thừa Dụ - Khỳc Hạo (905-917)

Khởi nghĩa Khỳc Thừa Dụ - Khỳc Hạo nổ ra từ năm 905 đến năm

917 tại vựng Hải Dương ngày nay Khỳc Thừa Dụ là một hào trưởng quờ

ở Cỳc Bồ, Ninh Thanh, Hải Dương, lónh đạo nhõn dõn khởi nghĩa, chiếm thành Tống Bỡnh (Hà Nội), đuổi giặc về nước, tự xưng là Tiết độ sứ Nhà Đường buộc phải cụng nhận ụng là người đứng đầu nước Việt

Năm 907, Khỳc Thừa Dụ truyền ngụi cho con là Khỳc Hạo Nhà Hậu Lương cũng phải cụng nhận Khỳc Hạo là An Nam đụ hộ tiết độ sứ

Năm 917, Khỳc Hạo truyền ngụi cho con là Khỳc Thừa Mỹ Khỳc Thừa Mỹ bị nhà Nam Hỏn đỏnh bại vào năm 923

9-Khởi nghĩa Dơng Đình Nghệ (931-938)

Khởi nghĩa Dương Đỡnh Nghệ nổ ra năm 931-938 Dương Đỡnh Nghệ người Ái Chõu (Thanh Húa), tướng của họ Khỳc, khởi binh đỏnh đuổi quõn Nam Hỏn giải phúng thành Đại La giành quyền tự chủ cho đất nước được 6 năm ễng bị nội phản sỏt hại năm 938

10-Cuộc khỏng chiến của Ngụ Quyền chống quõn Nam Hỏn (938)

Ngụ Quyền (897-944) ngời ở Đường Lõm, Ba Vỡ, Hà Tõy, cựng quờ với Phựng Hưng, là Tựy tướng đồng thời là con rể của Dương Đỡnh Nghệ

Tháng 11 năm 938 khi quân Nam Hán đang ngấp nghé ngoài bờ cõi, Ngô Quyền kéo quân từ châu ái (Thanh Hoá) ra Bắc giết chết tên bán nớc Kiều Công Tiễn-kẻ ám hại Dơng Đình Nghệ đoạt chức tiết độ sứ-

để trừ mối hoạ bên trong

Nắm vững điều tiến quân của quân Nam Hán từ mặt biển vào, Ngô Quyền cho đẻo cọc gỗ, đầu bịt sắt nhọn, cắm đầy lòng sông Bạch Đằng tại nơi hiểm yếu gần cửa biển Khi nớc triều lên, ông cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến dụ thuỷ quân Nam Hán từ Vịnh Hạ Long kéo vào vợt qua trận

địa ngầm, rồi đợi khi nớc triều xuống mới hạ lệnh cho toàn quân nhất tề

đánh quật lại Chiến thuyền địch rút lui chạy đâm phải cọc ngầm bị vỡ và

đắm rất nhiều, xác giặc trôi đầy sông, tớng giặc Hoàng Thao bỏ mạng

Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất

n-ớc kéo dại hơn một nghìn năm, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc ta Một thời kỳ độc lập, xõy dựng đất nước vững mạnh bắt đầu

"Ngô Quyền (*) quê ở Đờng Lâm,

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm."

(Lịch sử nớc ta - Hồ Chí Minh)

Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), Ngụ Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phương Bắc, tự xưng vương, lập nờn nước độc lập ngang hàng với phương Bắc Cổ Loa (kinh đụ của nước Âu Lạc thời An

(*) Ngô Quyền (899-944): Anh hùng dân tộc, một tớng lĩnh tài giỏi, chí lớn mu cao, quê ở Đờng Lâm (nay thuộc

Ba Vì-Hà Nội).

Trang 14

Dương Vương) được chọn lại làm kinh đô Điều đó càng chứng tỏ ý chí lưu giữ truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời của tổ tiên ta.

Nhưng sự nghiệp củng cố nền độc lập và thúc đẩy chế độ phong kiến phát triển từ sau Ngô Quyền vẫn ở trong tình trạng bị ngoại xâm đe dọa

11-§¸nh ®uæi qu©n x©m lîc Tèng cña Lª Hoµn (981)

Trong thư gửi Đinh Toàn (con nối ngôi Đinh Tiên Hoàng), vua Tống

đã nói rõ việc "lấy lại Giao Châu bị mất" vì cuối đời Đường "nhiều khó khăn chưa kịp khu xử" Đất nước ta lại bị đe dọa Đã vậy Đinh Toàn lại còn nhỏ Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga đã biết đặt quyền lợi quốc gia, quyền lợi cộng đồng lên trên quyền lợi dòng họ, trao ngôi vua cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn,(HiÖu lµ Lª §¹i Hµnh-sö gäi lµ TiÒn Lª) vì mục đích giữ vững và bảo toàn chủ quyền quốc gia

Đầu năm 981, quân Tống do Hầu Nhân Bảo hùng hổ kéo vào nước

ta Theo gương Ngô Quyền lúc trước, díi sù chØ huy cña Lª Hoµn quân dân ta đã đóng cọc trên sông Bạch Đằng và mai phục đường bộ Cuối mùa xuân 981, quân xâm lược Tống bị đại bại Lại một lần nữa truyền thống giữ nước được phát huy

12-§¸nh ®uæi qu©n x©m lîc Tèng (1075-1077)

Sau nhà Tiền Lê đánh giặc giữ nước, phát huy truyền thống của cha ông, rồi đến nhà Lý Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ vùng núi non hiểm trở (Ninh Bình) địa thế chật hẹp ở Hoa Lư về Đại La (Hà Nội) và đổi tên là thành Thăng Long Điều này chứng tỏ thế mới của một quốc gia độc lập mà Lý Công Uẩn đã nêu trong Chiếu dời đô: "Đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu mai sau"

Nhà Lý bắt tay vào xây dựng đất nước với quy mô lớn Năm 1042,

Lý Thái Tông cho ban hành bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta: Bộ Hình thư Năm 1054, nhà Lý đặt tên nước là Đại Việt Năm 1070 lập Quốc Tử Giám, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên chọn nhân tài Từ đây là thời kỳ củng cố nền độc lập, vừa chống giặc ngoại xâm, vừa xây dựng đất nước thành một nhà nước phong kiến tập quyền ngày càng vững mạnh, thời kỳ phát triển của dân tộc Việt Nam cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự Thời kỳ văn hóa văn minh Đại Việt bắt đầu

Sự kết hợp chặt chẽ giữa dựng nước và giữ nước được thể hiện trong nhiều chủ trương của nhà Lý Chính sách "ngụ binh ư nông" (gửi quân lính ở nhà nông) nhằm vừa đảm bảo yêu cầu quốc phòng, vừa duy trì lực lượng lao động cần thiết cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng đất nước Chế độ đăng ký quân dịch và ngụ binh ư nông cho phép nhà Lý khắc phục được điều kiện dân số ít, mà vẫn có lực lượng quân sự hùng hậu có thể huy động nhanh chóng khi có giặc ngoại xâm Dựng nước kết hợp với giữ nước đã thấm sâu trong ý thức cảnh giác đề phòng của nhà

Biết rõ nhà Tống chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm lược nước ta, nhà Lý thường xuyên theo dõi chặt chẽ âm mưu của chúng và chuẩn bị

Trang 15

cho cuộc khỏng chiến chống Tống với một tinh thần chủ động, trong đú chớnh sỏch đại đoàn kết dõn tộc đó được vận dụng một cỏch đỳng đắn

và cú hiệu quả Biết nhà Tống chuẩn bị lương thảo, khớ giới, quõn lớnh để xõm lược Việt Nam, Lý Thường Kiệt chủ trương "ngồi đợi giặc khụng bằng đem quõn ra trước để ngăn chặn mũi nhọn của giặc" và đưa 110 vạn quõn thủy bộ bất ngờ tấn cụng thành Ung Chõu (nay thuộc tỉnh Quảng Tây -Trung Quốc), chặn mũi nhọn của giặc

Sau khi hạ được thành, quõn ta rỳt hết về nước và dốc sức vào chuẩn bị đối phú với cuộc xõm lược mới của nhà Tống mà Lý Thường Kiệt biết là khụng thể nào trỏnh được Sau hai lần tiến cụng hựng hổ sang nước ta, đạo quõn Quỏch Quỳ đó bị thất bại Chiến thắng trờn sụng Như Nguyệt đó trở thành nột son trong lịch sử chống ngoại xõm của nhõn dõn ta Từ đú và mói 200 năm sau, "Thiờn triều" khụng dỏm đụng đến bờ cừi nước ta Và năm 1164, khụng thể khỏc được, nhà Tống phải cụng nhận cả trờn danh nghĩa lẫn thực tế mối quan hệ bang giao với nước ta và thừa nhận nước ta là nước độc lập (An Nam Quốc), trước đõy chỳng chỉ gọi là quận Giao Chỉ

Nhà Lý đó cú chớnh sỏch đoàn kết dõn tộc đỳng đắn, tranh thủ cỏc

tự trưởng thuộc cỏc sắc tộc phớa bắc và đụng bắc, cú chớnh sỏch củng cố phờn giậu nước ta, làm thất bại õm mưu liờn kết của nhà Tống với vương quốc Chămpa trước khi bước vào cuộc khỏng chiến chống Tống (1075-1077) Tư tưởng chớnh trị, chủ nghĩa yờu nước và chủ nghĩa anh

hựng của nhõn dõn ta, của dõn tộc ta thể hiện rừ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà”, được coi là bản Tuyờn ngụn độc lập lần thứ nhất của dõn

tộc:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiờn định phận tại thiờn thư, Như hà nghịch lỗ lai xõm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

vệ độc lập chủ quyền dõn tộc mà bao thế hệ đó hy sinh xương mỏu và đấu tranh bền bỉ mới tạo lập được

Với danh tớng Lý Thờng Kiệt, ngời có công đánh giặc Tống và là

tác giã của bản "Tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của nớc ta, Bác Hồ đã

liệt vào bậc hiền nhân

Trang 16

"Lý Thờng Kiệt (**) là hiền nhân,

Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.

Tuổi già phỉ chí công danh,

Mà lòng yêu nớc trung thành không phai."

(Lịch sử nớc ta - Hồ Chí Minh)

13-Ba lần đánh tan quân xâm lợc đế quốc Mông - Nguyên

(1258-1288)

Dưới thời Trần, ba lần quõn Nguyờn - Mụng sang xõm lược Kẻ thự

đó từng khua vú ngựa từ Đụng sang Tõy, từ á sang Âu, đỏnh đõu được đấy nhưng xõm lược Đại Việt thỡ cả ba lần đều bị đỏnh bại Cỏc chiến thắng Đụng Bộ Đầu, Hàm Tử Quan, Bạch Đằng vào cỏc năm 1258,

1285, 1288 đó được ghi vào trang sử vàng chúi lọi chống ngoại xõm của dõn tộc như những chiến cụng hiển hỏch

Lần thứ nhất vào mùa xuân năm 1258, trong trận đầu thử sức với

đạo quân viễn chinh đế quốc Mông Cổ do Ngột Lợng Hợp Thai chỉ huy, quân và dân nhà Trần chiến thắng vang dội Đông Bộ Đầu, đánh tan quân

địch đánh chiếm thành Thăng Long, trong vòng cha đầy một tháng quân

ta đã quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi

Lần thứ hai, năm 1285 khoảng nữa triệu quân Nguyên do Thoát Hoan - con trai vua Nguyên Hốt Tất Liệt chỉ huy, ồ ạt từ phía Bắc tiến xuống, từ phía nam đánh thốc lên, hòng nuốt chửng nớc đại Việt trong thời gian ngắn nhất Quân và dân nhà Trần đã đoàn kết một lòng, quyết tam chống giặc Trần Quốc Tuấn đã viết bài Hịch tớng sỹ để cổ vũ ba

quân; các chiến sỹ tự khắc lên tay hai chữ Thát sát (giết giặc Mông) Hội nghị Diên Hồng, đại biểu cho ý chí toàn dân, vang lên tiếng hô

"Đánh!" Thiếu niên Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản dựng cờ "Phá cờng

địch, báo hoàng ân" , tự mình chiêu mộ quân sỹ, sắm vũ khí, góp phần

cứu nớc Ngời anh hùng Trần Bình Trọng, bị dịch bắt và giở trò dụ giỗ,

mua chuộc, đã thét vào mặt chúng:" Ta thà làm quỹ nớc Nam chứ

không thèm làm vơng đất Bắc! " Với khí thế đó, sau một cuộc rút lui

chiến lợc tạm thời để bảo toàn lực lợng, quân ta đã khéo léo phá thế bao vây của địch, dàn thế trận căng mỏng chúng ra rồi giáng trả những đòn sấm sét, chém tớng Toa Đô ở Tây Kết, buộc Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân lính khiêng chạy trốn về nớc

Lần thứ ba, quá cay cú vì thất bại ở hai lần trớc vào cuối năm 1287, nhà Nguyên lại tung hàng chục vạn quân thủy, bộ tiến đánh nớc ta Quân

và dân đại Việt chặn đánh quyết liệt, tiêu hao địch, chặn mọi nguồn tiếp

tế của chúng; cuối cùng với sự chỉ huy chiến lợc tài tình của Trần Quốc Tuấn, đã mở cuộc phản công với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (9-4-1288) chôn vùi đạo quân thuỷ của địch, bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp,

đuổi đạo quân bộ của Thoát Hoan chạy tan tác về nớc

(**) Lý Thờng Kiệt (1019-1105): Anh hùng dân tộc quê ở phờng Thái Hoà-Hà Nội Ông là nhà quân sự lỗi lạc và nhà ngoại giao xuất sắc.

Trang 17

Nh vậy trong vòng ba mơi năm, quân và dân ta đã ba lần đánh tan

đạo quân viễn chinh hung bạo đã xâm lợc phần lớn châu á, châu Âu và

đánh đâu thắng đó, giữ vững nền độc lập cho nớc nhà Đây có thể gọi là bản hùng ca bất hủ, thể hiện rực rỡ lòng yêu nớc, khí phách anh hùng, trí thông minh, sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta

"Quân Nguyên binh giỏi tớng tài:

Đánh đâu đợc đấy, dông dài á, âu, Tung hoành chiếm nữa Âu châu, Chiếm Cao Ly, lấy nớc Tàu bao la, Lăm le muốn chiếm nớc ta,

Năm mơi vạn lính vợt qua biên thuỳ, Hải quân đờng biển kéo đI,

Hai bên vây kín Bắc Kỳ nh nêm, Dân ta nào có chịu hèn,

Đồng tâm, hiệp lực mấy phen đuổi Tàu.

15-Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)

Mựa xuõn 1418, Lờ Lợi người tiờu biểu cho ý chớ đú của nhõn dõn

đó dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, (Thọ Xuân Thanh Húa), truyền hịch cứu nớc, từ tay không mà xây dựng lực lợng, kiên trì chống giặc.Cuộc khởi nghĩa nhanh chúng trở thành cuộc chiến tranh giải phúng dõn tộc trờn quy mụ cả nước Giải phóng một vùng rộng lớn từ Thanh Hoá đến

đèo Hải Vân (1425) Chiến thắng Tốt Động, Chỳc Động (1426) nổi tiếng ,

ta đã tiêu diệt 6 vạn tên địch, vây hảm thành Đông Quan (Hà Nội), quân

và dân ta đã tiêu diệt 10 vạn quân địch tiếp viện trong chiến dịch lịch sử Chi Lăng, Xương Giang chém đấu tớng Liễu Thăng tại sờn núi Mã Yên, buộc Vơng Thông phải cúi đầu xin bãi binh, rút quân về nớc Những chiến thắng vang dội của quân và dân ta đó ghi vào truyền thống chống ngoại xõm của dõn tộc ta những trang vàng chúi lọi

(*) Trần Hng Đạo (1213-1300) tên thật là Trần Quốc Tuấn , là anh hùng dân tộc, văn võ song toàn đợc Triều đình nhà Trần phong tớc Hng Đạo vơng và đợc giữ chức Quốc công tiết chế (Tổng chỉ huy quân đội).

(**) Lê Lợi: Anh hùng dân tộc, sinh ngày 10-9-1385 trong một gia đình "Đời đời làm quân trởng một phơng" Ông

là ngời yêu nớc, cơng trực, khảng khái.

Trang 18

Mặc dầu tớng ít binh đơn không nàn.

Mấy phen sông Nhị, núi Lam, Thanh gơm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.

Kìa Tuý Động, nọ Chi Lăng,

Đánh hai mơi vạn quân Minh tan tành.

Mời năm sự nghiệp hoàn thành, Nớc ta thoát khỏi cái vành nguy nan.

Vì dân hăng hái kết đoàn, Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng".

(Lịch sử nớc ta - Hồ Chí Minh)

Thắng lợi oanh liệt của cuộc chiến tranh giải phúng dõn tộc đầu thế

kỷ XV lại một lần nữa chứng minh tinh thần quật khởi, sức sống mónh

liệt và năng lực sỏng tạo phi thường của dõn tộc ta "Bỡnh Ngụ đại cỏo", bản Tuyờn ngụn độc lập thứ hai của dõn tộc lại dừng dạc vang lờn:

"Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đó lõu

Cừi bờ sụng nỳi đó riờng, Phong tục Bắc Nam cũng khỏc

Trải Đinh, Lờ, Lý, Trần nối đời dựng nước Cựng Hỏn, Đường, Tống, Nguyờn đều chủ một phương, Tuy mạnh yếu cú lỳc khỏc nhau,

Mà hào kiệt khụng bao giờ thiếu"

(Bỡnh Ngụ đại cỏo:Nguyễn Trói)

16-Diệt quân Xiêm, đại phá quân Thanh (1785-1789)

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cầm đầu một thế lực phong kiến đó phế truất vua Lờ, lập ra triều Mạc Khụng thuần phục nhà Mạc, dưới danh nghĩa khụi phục triều đại chớnh thống, nhiều thế lực phong kiến đó nổi lờn Nguyễn Kim (một viờn tướng cũ của nhà Lờ) đó tụn phũ một tụn thất nhà Lờ lập ra một chớnh quyền riờng là triều Lờ Trung Hưng, chiếm giữ Thanh Húa Năm 1545, Nguyễn Kim chết, quyền hành rơi vào tay Trịnh Kiểm Ngoài Bắc do họ Mạc thống trị (Bắc triều), từ Thanh - Nghệ trở vào họ Trịnh thống trị (Nam Triều) Năm 1592 Nam triều thắng Bắc triều, chiếm được Thăng Long Ngay khi Nam - Bắc triều cũn tranh giành quyền lực thỡ xuất hiện một cơ sở cỏt cứ mới do Nguyễn Hoàng chiếm giữ ở vựng Thuận Húa (1558) Cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài với 7 lần vũ trang tấn cụng nhau đó kộo dài từ 1627 đến

1672 Cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kộo dài đó khụng phõn thắng bại, kết cục sụng Gianh trở thành giới tuyến chia đụi đất nước

Mục tiờu độc lập dõn tộc khụng tỏch rời với thống nhất đất nước cũng là truyền thống của dõn tộc Việt Nam Yờu cầu thống nhất quốc gia trở nờn vụ cựng bức xỳc, phong trào nụng dõn Tõy Sơn bựng nổ mónh liệt ở Bỡnh Định (1771) Sau khi dẹp xong thế lực cỏt cứ họ Nguyễn Đàng Trong (1783), nghĩa quõn Tõy Sơn đó vươn lờn làm nhiệm vụ giải phúng

Trang 19

dõn tộc, thống nhất quốc gia Thất bại thảm hại, Nguyễn ánh rước quõn Xiờm vào giày mả tổ Nghĩa quõn Tõy Sơn với truyền thống giữ nước oanh liệt đó lập nờn chiến cụng ở Rạch Gầm - Xoài Mỳt (20-1-1785), đuổi 5 vạn quõn Xiờm ra khỏi bờ cừi nước ta

Năm 1788, tờn vua bự nhỡn Lờ Chiờu Thống đó "cừng rắn cắn gà nhà" rước 20 vạn quõn Thanh vào xõm lược nước ta ý chớ độc lập dõn tộc và truyền thống chống giặc giữ nước thụi thỳc, nghĩa quõn Tõy Sơn lại "thần tốc" tiến cụng ra Bắc lập nờn những chiến cụng ở Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Gũ Đống Đa với sức mạnh kỳ diệu, với sự chỉ dạo tài tình của Quang Trung Nguyễn Huệ, chỉ trong 5 ngày (từ 25 đến 30-1-1789) quột sạch 20 vạn quõn Thanh ra khỏi bờ cừi nước ta

Đõy là một trong những chiến cụng hiển hỏch vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xõm của dõn tộc Truyền thống giữ nước Việt Nam một lần nữa được viết tiếp một trang oai hựng mới

Trong "Lịch sử nớc ta" Bác Hồ đã ngợi ca Quang Trung Nguyễn

Huệ là bậc phi thờng:

"Nguyễn Huệ (*) là kẻ phi thờng Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,

Ông đà chí cả mu cao, Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

Cho nên Tàu dẫu làm hung, Dân ta vẫn giữ non sông nớc nhà."

Câu 3.Chủ tịch Hồ Chớ Minh viết bản Tuyờn ngụn độc lập khai

sinh nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hoà ở đõu ? Vào thời gian nào?

í nghĩa trọng đại của bản Tuyờn ngụn độc lập ?

Trả lời: Trong suốt quá

trình đấu tranh giành độc lập tự

do cho Tổ quốc cuộc cách

mạng tháng tám thành công là

một bớc ngoặt, một trang sử vẽ

vang nhất của dân tộc ta

Đánh dấu cho trang sử vẽ

vang đó chính là bản Tuyên

ngôn độc lập do Bác Hồ thảo

ra

Tháng 8 năm 1945, trớc

tình thế cách mạng đã chín muồi, thời cơ giành độc lập đã đến "Dù có đốt

(*) Nguyễn Huệ, tức Quang Trung (1753-1792) Năm 1788 lên ngô Hoàng đế hiệu là Quang Trung Anh hùng dân tộc trí dũng song toàn có một sự nghiệp vẽ vang trong lịch sử dân tộc.

Hồ Chủ tịch đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945

Trang 20

cháy cả d y Tr ã ờng Sơn cũng quyết tâm dành cho đợc độc lập" 1 Dới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã đoàn kết chung quanh mặt trận Việt Minh đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền Ngày 19 tháng 8 năm 1945 chính quyền ở Thủ đô Hà Nội đã trở về tay nhân dân cách mạng.

Sỏng ngày 26/8/1945, tại ngụi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chớ Minh đó triệu tập và chủ trỡ cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Trong cuộc họp này, Thường vụ quyết định một số chủ trương đối nội và đối ngoại trong tỡnh hỡnh mới, về việc sớm cụng bố danh sỏch thành viờn Chớnh phủ lõm thời Theo đề nghị của Hồ Chủ tịch, Thường vụ nhất trớ mở rộng hơn nữa thành phần Chớnh phủ lõm thời, chuẩn bị Tuyờn ngụn độc lập và tổ chức mớt tinh lớn ở Hà Nội để Chớnh phủ ra mắt nhõn dõn, cũng là ngày nước Việt Nam chớnh thức cụng bố quyền độc lập và thiết lập chớnh thể dõn chủ cộng hũa

Ngày 28/8/1945 tại ngụi nhà lịch sử, 48 phố Hàng Ngang Hà Nội, một căn buồng vừa là phòng ăn, vừa là phòng tiếp khách Chủ nhà là hai ụng bà đại thương gia yờu nước Trịnh Văn Bụ, Hoàng Thị Minh Hồ - nơi đõy Người viết Tuyờn ngụn độc lập Bản Tuyên Ngôn lịch sử trên một cái bàn tròn

Ngày 30/8/1945, Chủ tịch Hồ Chớ Minh mời một số đồng chớ đến trao đổi, gúp ý kiến cho bản Tuyờn ngụn độc lập do Người soạn thảo

Ngày 31/8/1945, Chủ tịch Hồ Chớ Minh bổ sung một số điểm vào

dự thảo Tuyờn ngụn độc lập

Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trờng Ba Đình, Hà nội trớc cuộc mít tinh của hơn 50 vạn nhân dân chào mừng Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã thay mặt Chính phủ lâm thời của Nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn một câu nói nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nớc Mỹ:

“Tất cả mọi người đều sinh ra cú quyền bỡnh đẳng Tạo hoỏ cho họ những quyền khụng ai cú thể xõm phạm được; trong những quyền ấy, cú quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phỳc”.

Và tiếp theo, Ngời nêu lên một câu nữa trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp:

“Người ta sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi; và phải luụn luụn được tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi”.

1 Lời của Bác Hồ nói với đại tớng Võ Nguyên Giáp tại Việt Bắc.

Trang 21

Hồ Chủ tịch đã đề cập đến hai câu trên đây trong hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, là rất có ý nghĩa:

Một là, bản Tuyên ngôn độc lập của nớc Mỹ năm 1776, nói lên nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa Bắc Mỹ đấu tranh để giải phóng khỏi ách thực dân Anh, giành lại độc lập tự do

Hai là, bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, là thành quả của cuộc cách mạng Pháp năm 1789 Là kết tinh của cuộc cách mạng dân chủ t sản điển hình

Sau khi khẳng định ý nghĩa của hai câu nói trên Hồ Chủ tịch đã dùng nó để đã kích mạnh mẽ vào bọn thực dân, đế quốc ngày nay, vạch trần bộ mặt xảo trá của chúng đã lợi dụng lá cờ độc lập tự do, bình đẳng, bác ái để che giấu những hành động xâm lợc và phi nghĩa, chỉ rõ chúng

đã chà đạp lên lẽ phải và tinh thần nhân đạo đã ghi trong bản tuyên ngôn

đó

Hồ Chủ tịch đã lên án những hành động tàn ác dã man của bọn thực dân Pháp trong gần một thế kỷ xâm lợc nớc ta, và trịnh trọng tuyên

bố với thế giới:

"Nước Việt Nam cú quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật

đó thành một nước tự do độc lập Toàn thể dõn tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tớnh mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch phát triển của bản yêu cầu mà Ngời đã gửi cho Hội nghị hoà bình ở Véc - Xây năm 1919, là sự phát triển của chơng trình Việt Minh mà Ngời đã viết năm 1941 Nó kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam và nói lên tâm hồn trong sáng và khí phách hào hùng của nhân dân ta

"Bản tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đ đổ, bao ã nhiêu tính mạng đ hy sinh của những con ng ã ời anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trên những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trờng ác liệt.

Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tởng của hơn hai mơi triệu nhân dân Việt Nam" (*)

(*) Trần Dân Tiên: Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội, 1975, tr.116.

Trang 22

Bản Tuyên ngôn độc lập do

Hồ Chủ tịch tuyên đọc trớc quốc

dân ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã

mở đầu cho ngày Hội lớn của dân

tộc Việt Nam ta Nó tuyên bố

chấm dứt chế độ thực dân và

phong kiến ở nớc ta, đồng thời mở

ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên

- Tuyờn ngụn độc lập là bản khai sinh ra nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hũa, là tỏc phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chớ Minh, là bản “Thiờn cổ hựng văn”, kết tinh truyền thống lịch sử kiờn cường, bất khuất của dõn tộc ta, là bản anh hựng ca mở ra kỷ nguyờn mới của dõn tộc Việt Nam-

kỷ nguyờn độc lập, tử do và gúp phần làm phong phỳ về Quyền tự quyết của dõn tộc trờn thế giới- Quyền độc lập tự do

- Tuyờn ngụn độc lập là văn bản phỏp lý quan trọng đầu tiờn khai sinh ra nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hũa, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhõn dõn ta trước toàn thế giới

- Tuyờn ngụn độc lập khẳng định ý chớ và tinh thần dũng cảm, kiờn cường, bất khuất của toàn thể dõn tộc Việt Nam nhằm bảo vệ quyền độc

lập, tự do, dõn chủ của mỡnh Đú là ý chớ “Khụng cú gỡ quý hơn độc lập tự do”!

Chiếc bàn tròn này là nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập

tại nhà số 48 phố Hàng Ngang Hà Nội

Trang 23

toàn văn "tuyên ngôn độc lập" do chủ tịch hồ chí minh

đọc ngày 2-9-1945 tại hà nội

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra cú quyền bỡnh đẳng Tạo hoỏ cho

họ những quyền khụng ai cú thể xõm phạm được; trong những quyền

ấy, cú quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phỳc”

Lời núi bất hủ ấy ở trong bản Tuyờn ngụn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, cõu ấy cú ý nghĩa là: Tất cả cỏc dõn tộc trờn thế giới đều sinh ra bỡnh đẳng, dõn tộc nào cũng cú quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản Tuyờn ngụn nhõn quyền và dõn quyền của Cỏch mạng Phỏp nǎm 1791 cũng núi:

“Người ta sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi; và phải luụn luụn được tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi”

Đú là những lẽ phải khụng ai chối cói được

Thế mà hơn 80 nǎm nay, bọn thực dõn Phỏp lợi dụng lỏ cờ tự do, bỡnh đẳng, bỏc ỏi, đến cướp đất nước ta, ỏp bức đồng bào ta Hành động của chỳng trỏi hẳn với nhõn đạo và chớnh nghĩa

Về chớnh trị, chỳng tuyệt đối khụng cho nhõn dõn ta một chỳt tự do dõn chủ nào

Chỳng thi hành những luật phỏp dó man Chỳng lập ba chế độ khỏc nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngǎn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngǎn cản dõn tộc ta đoàn kết

Chỳng lập ra nhà tự nhiều hơn trường học Chỳng thẳng tay chộm giết những người yờu nước thương nũi của ta Chỳng tắm cỏc cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể mỏu

Chỳng ràng buộc dư luận, thi hành chớnh sỏch ngu dõn

Chỳng dựng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nũi giống ta suy nhược

Về kinh tế, chỳng búc lột dõn ta đến xương tuỷ, khiến cho dõn ta nghốo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xỏc, tiờu điều

Chỳng cướp khụng ruộng đất, hầm mỏ, nguyờn liệu

Chỳng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng

Trang 24

Chúng đặt ra hàng trǎm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn

Mùa thu nǎm 1940, phát xít Nhật đến xâm lǎng Đông Dương để

mở thêm cǎn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối nǎm ngoái sang đầu nǎm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói

Ngày 9 tháng 3 nǎm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 nǎm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông

tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ

Sự thật là từ mùa thu nǎm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 nǎm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan

hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về

Trang 25

nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrǎng và Cựu Kim Sơn quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 nǎm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy nǎm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền

Tr¶ lêi:

S¬ lîc h×nh thµnh vµ

ph¸t triÓn cña Quèc

Héi ViÖt Nam.

Với bề dày lịch sử h¬n

bèn nghìn năm, với tinh thần

cần cù, sáng tạo trong lao

động, anh dũng trong chiến

đấu để dựng nước và giữ

nước, nhân dân Việt Nam đã

hun đúc nên truyền thống

đoàn kết, nhân nghĩa, kiên

cường, bất khuất của dân tộc

và xây dựng nền văn hiến

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp năm

1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày đăng: 25/10/2014, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5-Tìm hiểu Hiến pháp Nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà-nhà xuất bản Sự thật-Hà nội năm 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Hiến pháp Nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà
Nhà XB: nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1976
6-Sức mạnh Việt Nam-Nhà xuất bản quân đội nhân dân -Hà Nội 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Năm: 1976
1-Website Đảng Cộng sản Việt Nam. http://dangcongsan.vn 2-Website Quốc Hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 3- Báo Nhân dân điện tử. http://www.nhandan.org.vn Link
4-CD-ROM Hồ Chí Minh toàn tập công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 2001 Khác
7-Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hôi IX của Đảng - Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
8-Một số tài liệu liên quan tại th viện huyện Diễn Châu Khác

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH QUỐC KỲ TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH - Tu lieu on su 7
HÌNH ẢNH QUỐC KỲ TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w