Trần Văn Quyến Nằm Hai bêN bờ sôNg HồNg, Hai TỉNH Nam ĐịNH và THái bìNH Đều Có Ngôi CHùa với TêN CHữ 神 光 寺 THầN QuaNg Tự, TêN Nôm là CHùa Keo, THờ THiềN sư DươNg KHôNg lộ THời NH
Trang 1Chùa Keo
Hành Thiện
? Trần Văn Quyến
Nằm Hai bêN bờ sôNg
HồNg, Hai TỉNH Nam
ĐịNH và THái bìNH Đều
Có Ngôi CHùa với TêN
CHữ 神 光 寺 (THầN
QuaNg Tự), TêN Nôm là
CHùa Keo, THờ THiềN sư
DươNg KHôNg lộ THời
NHà lý Từ TrướC ĐếN
Nay Người Ta THườNg
Hay NHắC ĐếN CHùa Keo
THái bìNH và íT KHi NHắC
ĐếN CHùa Keo HàNH
THiệN ở Nam ĐịNH CHùa
Keo THái bìNH ĐượC gọi
là CHùa Keo THượNg, Tọa lạC ở làNg DũNg NHuệ, xã Duy NHấT, HuyệN vũ THư, TỉNH THái bìNH CHùa Keo HàNH THiệN gọi là CHùa Keo
Hạ, Tọa lạC ở làNg HàNH THiệN, xã xuâN HồNg, HuyệN xuâN TrườNg, TỉNH Nam ĐịNH TrướC THế Kỷ xvi Hai CHùa CHỉ là mộT.
Toàn cảnh tam quan nội - gác chuông
Tam quan ngoại
Trang 2di tích - danh thaéng
Dưới triều Lý, đạo
Phật hưng thịnh, nhiều đền các, chùa chiền được xây dựng, trong
số đó có chùa Nghiêm Quang với quy mô bề thế vào bậc nhất lúc bấy giờ Chùa Nghiêm Quang được xây dựng trên hành cung Quán Các, trong vùng Giao Thủy (nay thuộc xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) Chùa có tên nôm là chùa Keo Năm 1167, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là chùa Thần Quang Vào năm 1611, một trận lụt lớn làm đất sụt lở, cuốn trôi chùa Thần
Quang Sau đó nhân dân vùng Quán Các phải di dân sang vùng đất mới Dân thuộc ấp Dũng Nhuệ dời sang vùng Thái Bình ngày nay lập lên chùa Keo Thái Bình Dân ấp Hành Cung
di dời về phía đông nam hữu ngạn sông Hồng lập ấp, dựng chùa Keo ở làng Hành Thiện Đời Minh Mệnh, năm Quý Mùi
1823, làng Hành Cung được đổi tên là Hành Thiện, có nghĩa
là chỉ làm những việc thiện Tháng 10 năm Tự Đức thứ 18 (1865), làng Hành Thiện được vua ban bốn chữ: 美 俗 可 風
(Mỹ tục khả phong), có nghĩa
là làng có nhiều phong tục đẹp Sau khi ổn định cuộc sống tại vùng đất mới, nhân dân làng Hành Thiện đã xây dựng ngôi chùa có quy mô bề thế như ngày nay vào năm Hoằng Định thứ 13 (1612) Trải qua thời gian, chùa được trùng tu nhiều lần vào các năm Cảnh Trị thứ 9 (1671), Chính Hòa thứ 25 (1704), Thành Thái thứ
7 (1895) Mặc dù chùa Keo Hành Thiện được khởi công xây dựng trước và kiến trúc có nhiều ảnh hưởng đến chùa Keo Thái Bình (chùa Keo Thái Bình được hoàn thành năm (1632), sau chùa Keo Hành Thiện 20 năm nhưng chùa Keo Hành Thiện lại ít được biết đến Chùa Keo Hành Thiện được xây dựng trên khuôn viên rộng khoảng 10.000m2, theo kiểu “nội nhị công, ngoại nhất quốc” Tam quan ngoại ba gian đóng vai trò là cửa chùa nhìn
ra một ao sen nhỏ có hòn non
bộ được dựng theo thế tam sơn, long chầu hổ phục Ngay trước cửa là đôi voi đá phục chầu Tam quan nội được thiết
kế đồng thời là gác chuông, hai tầng ba gian hai trái làm theo kiểu chồng diềm cao 7,5m
Hình voi phục trước tam quan ngoại
Trang 3đứng trên 24 cột lim được đặt
trên đá tảng chạm hình hoa sen
mang đậm phong cách nghệ
thuật thời Hậu Lê Toàn bộ hệ
thống vì kèo được kết cấu theo
lối chồng giường đỡ mái, kết
hợp với việc làm gác lửng với
các đầu dư chạm rồng rất tỉ mỉ
Những con kê và đầu xà uốn
lượn, dùng chính cả khúc gỗ
làm chi tiết trang trí trong tổng
thể tạo ra như một ổ rồng đang
quấn quýt đỡ mái Trên tầng hai
treo quả chuông được đúc vào
năm 1895 và một khánh lớn
bằng đồng được đúc vào năm
1897 Thượng lương tam quan
nội ghi dòng chữ: 成 泰 柒 年
乙 未 春 季 吉 日改 鑄 銅 鍾 重
修 鍾 閣 (Thành Thái thất niên
Ất Mùi xuân quý cát nhật cải
chú đồng chung trùng tu chung
các: ngày tốt tháng Hai năm Ất
Mùi, niên hiệu Thành Thái thứ 7
(1895) đúc lại chuông và trùng
tu gác chuông) Công trình
tam quan nội thiết kế theo kiểu
“thượng gia hạ trì” nhìn ra hồ hình bầu dục dài khoảng 50m rộng khoảng 18m, sâu 3m,
có bậc lên xuống ở hai cổng chùa, nước quanh năm xanh mát Con đường đi bao quanh
hồ được lát đá và gạch, có thể chứa hàng nghìn người trong
những ngày hội
Công trình chính trong nội chùa là hai tòa nhà to kiểu chữ
“công” (工), mỗi tòa có 13 mái lợp ngói mũi hài với 8 góc cong đầu rồng, dựng trên 52 cột lim
kê đá tảng trạm hình hoa sen Tòa trước là chùa thờ Phật gồm
Toàn cảnh chùa nhìn từ gác chuông
Mái cong của gác chuông - tam quan nội
Trang 4di tích - danh thaéng
3 tòa (tòa Hộ, tòa Thiêu Hương
và tòa Tam Bảo) lưu giữ 67 pho
tượng cổ Tòa Thiêu Hương có
thờ tượng Phật Thích Ca bằng
đồng mặc áo đỏ, phía hai bên
áp vách có bát vị Kim Cương
Tòa Tam Bảo có 40 pho tượng
chia làm năm lớp theo thiết
trí thờ tự của đạo Phật Ngay
chính điện tòa tiền đường treo
bức đại tự ghi ba chữ: 神 光 寺
(Thần Quang tự) Ba bộ cửa
của điện thờ Phật đều có nhiều
lớp hoa văn chạm nổi và chạm
lộng rất công phu, tinh xảo với
các đề tài khác nhau, tạo thành
“bức tranh gỗ” rực rỡ Cách
một khoảng sân rộng sau điện
Phật là đền thánh thờ thiền sư
Dương Không Lộ với 4 tòa (Giá
Roi, Thiêu Hương, Phụ Quốc và
Thượng Điện, tức cung ngoài,
cung giữa, hậu cung và cung
cấm) quy mô cấu trúc theo kiểu
“thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy” và
“kẻ nội đấu truyền” Gian giữa
treo bức hoành ghi ba chữ 大 法
師 (Đại pháp sư), hai bên treo
bốn chữ 西 法 嗣 天 (Tây pháp
tự thiên) và 南 海 尊 禪 (Nam
hải tôn thiền) Hậu cung thờ
bài vị Đức Thánh khoác triều
phục Cấm cung thâm nghiêm
đặt hai pho tượng Thánh bằng
đồng và gỗ thơm, chỉ mở cửa
Bức hoành phi ghi ba chữ Thần Quang Tự Tượng Tam Thế Phật
Bia đá thời Lê dựng dưới gác chuông
Trang 5vào ngày lễ hội
Nếu như khu thờ Phật được thiết kế mở với những mảng chạm khắc dản dị đúng như tinh thần siêu thoát của đạo Phật thì khu thờ Thánh là kiến trúc khép kín tạo nên sự thâm nghiêm huyền bí Các kết cấu
gỗ ở các cụm kiến trúc trung tâm được trạm khắc rất công phu tỉ mỉ Đề tài trạm khắc rất phong phú: long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, tứ quý, nghê đội nóc đao, motif hỏa đao mác, vân mây uốn lượn Đặc biệt là những mảng chạm khắc hình rồng ở tòa thờ Thánh rất đa dạng, lúc ẩn lúc hiện vô cùng tinh vi, sắc sảo và sống động
Tượng hộ pháp trong chùa
Khách đồng đúc năm 1897
Trang 6di tích - danh thaéng
Các nghệ nhân có lẽ phải dồn
toàn bộ trí lực và tài hoa mới
có thể tạo dựng được những
đường nét chạm khắc tinh xảo
trên các mảng đố, xà, kẻ, bảy
của từng tòa nhà như vậy
Chùa Keo Hành Thiện là
một quần thể kiến trúc quy mô
phức hợp với 13 tòa rộng, dãy
dài gồm 121 gian nối tiếp nhau
bao gồm: tiền đường 5 gian,
tòa đệ nhị ba gian, tòa thờ
Phật và ba tòa sau thờ thiền
sư Dương Không Lộ, cuối cùng
là 10 gian nhà Tổ và nhà oản,
nhà ký đồ Hai bên các kiến
trúc trung tâm là hai dãy hành
lang gồm 80 gian chạy dài từ
tam quan nội đến nhà Tổ bao
quanh khép kín tạo nên sự cân
đối và vẻ trang nghiêm bề thế
của chùa Hai dãy hành lang
của chùa dùng để khách thập
phương trong ngày lễ hội nghỉ
chân chuẩn bị lễ vật vào dâng
cúng
Ngoài những giá trị về mặt
kiến trúc tiêu biểu cho chùa làng Bắc Bộ thời Hậu Lê, chùa Keo Hành Thiện còn bảo tồn được nhiều di vật cổ có giá trị Như các án thư, sập thờ, thuyền rồng, tượng Phật, tượng Thánh, các văn bia, hoành phi đối liễn … Trong đền Thánh của chùa còn lưu giữ được 38 đạo sắc các triều đại phong cho thiền sư Dương Không Lộ trong
đó đạo sắc năm Cảnh Hưng thứ
4 (1754) là cổ xưa nhất, ngoài
ra còn có các sách, kinh phật Hán Nôm nói về hành trạng
và sự tích của thiền sư Dương Không Lộ cũng như lịch sử của chùa
Một điều khá lạ ở chùa Keo Hành Thiện, từ rất lâu không
có sư tu hành Chùa được một thủ từ coi sóc hương khói và truyền từ đời nay sang đời khác cho đến nay Khi có việc làng, trùng tu hay lễ hội thì thủ từ bàn giao lại cho làng sử dụng, xong việc chùa lại do thủ từ quản lý
Hằng năm chùa Keo Hành Thiện mở hội hai lần vào dịp tết Nguyên Đán và vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch Ngoài các nghi lễ tôn giáo,
lễ hội còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa mang dấu ấn của cư dân nông nghiệp như leo cầu ngô, thi cờ tướng, tổ tôm điếm… Đặc sắc nhất là hoạt động bơi trải với sự tham gia của 15 xóm trong làng, để tưởng nhớ nghề chài lưới mà đức Không Lộ đã từng làm thời niên thiếu
Chùa Keo Hành Thiện được xếp vào hạng cổ tích của xứ
An Nam theo nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 16.5.1925 Đến năm 1962, chùa được xếp hạng di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia Chùa Keo Hành Thiện cùng với chùa Keo Thái Bình, trải qua thăng trầm thời gian và lịch sử vẫn tồn tại vững chãi, ghi dấu nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Hậu Lê, cũng như phản ánh tín ngưỡng thờ đức Thánh Không Lộ thiền sư ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
T.V.Q
Đại hồng chung
Chi tiết chạm khắc trên các cánh cửa ở điện thờ Phật