1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bao cao ve benh dao on hai lua

41 2,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Bệnh phân bố rộng, gây hại cho cây lúa ở nhiều giai đoạn từ cây mạ đến giai đoạn trổ bông làm cho lá lúa có thể bị cháy khô và hạt lúa bị khô lép, gây thiệt hại từ 10 - 50% năng suất l

Trang 2

Lịch sử và phân bố

• Theo Võ Thanh Hoàng (1993) thì bệnh được phát hiện sớm ở Trung Quốc vào năm 1637, sau đó đến Nhật, Ý, Hoa Kỳ, Ấn Độ

• Ở Việt nam bệnh phổ biến khắp các vùng từ Bắc đến Nam và gây hại ở tất cả các vùng

trồng lúa trong cả nước

Trang 3

• Bệnh phân bố rộng, gây hại cho cây lúa ở nhiều giai đoạn từ cây mạ đến giai đoạn trổ bông làm cho lá lúa có thể bị cháy khô và hạt lúa bị khô lép, gây thiệt hại từ 10 - 50% năng suất lúa

• Ngoài ký chủ chính là cây lúa, bệnh còn có thể lưu tồn trên các cây ký chủ phụ mọc quanh

ruộng như các loài cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chỉ, lúa ma, lúa rày-lúa chét,…

Lịch sử và phân bố

Trang 4

Thiệt hại trên lúa

• Giai đoạn mạ hay nảy chồi: làm lúa bị cháy rụi hoàn toàn

• Giai đoạn trổ: làm thối đốt thân, thối cổ bông nên làm đổ gãy bông, làm hạt lép hay làm giảm trọng lượng hạt

(Võ Thanh Hoàng, 1993; Nguyễn Bé Sáu, 2006)

Trang 6

Triệu chứng bệnh

• Bệnh trên lá ở giai đoạn mạ: Vết bệnh lúc đầu

là những chấm nhỏ màu xanh da trời hoặc xám nhạt, dạng thấm nước, sau đó phát triển thành vết bệnh điển hình, hai đầu nhọn ít hoặc nhiều, giữa phình ra Trung tâm vết bệnh thường màu xám hay trắng nhạt, và mép viền thường nâu hoặc nâu đỏ nhạt

• Sự phát triển tiếp tục của triệu chứng bệnh phụ

Trang 7

+ Giống lúa mẫn cảm: Vết bệnh to, hình thoi,

dạng hình mắt én, dài 1-1,5cm, rộng 0,3-0,5 cm

(Ou, 1983)

+ Trên giống chống chịu cao: Đốm bệnh là

những đốm nhỏ li ti bằng đầu gim 1-2 mm hay hình dạng không đặc trưng (Ou, 1983)

+ Trên giống phản ứng trung gian: Các vết bệnh tròn hoặc bầu dục nhỏ, xung quanh có viền màu

Triệu chứng bệnh

Trang 8

• Theo Agrios (1997) kích thước vết bệnh phụ

thuộc vào tính kháng của cây Giống càng kháng thì vết bệnh càng nhỏ

• Nhìn chung, vết bệnh trên lá non và giống nhiễm thường to, vết bệnh trên lá già và giống chống

chịu bệnh thường nhỏ Trường hợp bệnh nặng

các vết bệnh thường nối liền nhau tạo thành vết

Triệu chứng bệnh

Trang 11

• Bệnh trên nách lá, bẹ lá và đốt thân: Vết bệnh màu nâu đen, ở giữa màu vàng to, choáng hết nách lá làm cho nách lá giòn và gãy ngang.

Triệu chứng bệnh

Trang 12

• Bệnh trên cổ bông: bệnh có thể ở bất cứ nơi nào trên cổ bông hoặc ở các đốt của cổ bông, vết nâu sậm hoặc đen, thắt lại và lõm vào, vết bệnh lan ra

2 phía dài 1-2cm ở phía trên và phía dưới của mắt thân Nếu nặng, bông lúa bạc trắng, gié lúa lép

Cách phân biệt bông bạc do thối cổ bông và bông bạc do sâu ống

Triệu chứng bệnh

Trang 14

Triệu chứng bệnh

Trang 15

• Thông thường sau khi bệnh phát triển mạnh trên

cổ bông thì vết bệnh cũng bắt đầu xuất hiện trên hạt lúa

• Theo Võ Hoàng Thanh (1993), vết bệnh là những đốm tròn, viền nâu, tâm màu xám trắng, đường kính 1 – 2 mm Nhưng Vũ Triệu Mân và Lê

Lương Tê (1998) cho rằng vết bệnh ở hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen

Triệu chứng bệnh

Trang 16

Triệu chứng bệnh

Trang 17

Tác nhân gây bệnh

• Tác nhân gây hại là nấm Pyricularia oryzae Cav hay P griseae(Cook) Sacc (Rosman và ctv., 1990), thuộc lớp nấm bất toàn, bộ

Moniliaes, họ Moniliaceae Nấm có giai đoạn sinh sản hữu tính là Magnaporthe griseae

(Thierion M., và ctv., 1995) thuộc lớp nấm

Nang

Trang 18

Tác nhân gây bệnh

Trang 20

* Đặc điểm hình thái của nấm:

• Bào tử nấm: rất nhỏ, có rất nhiều trong không

khí, theo gió bay đi khắp nơi và lây lan bệnh

(Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993)

Sinh sản vô tính tạo bào tử đính, mọc từng chùm

ở khí khổng, hình quả lê, 2 vách ngăn, phần chân hơi phồng to và nhỏ dần về phía ngọn, không

màu hay màu xanh hơi vàng hoặc màu xám nâu,

Tác nhân gây bệnh

Trang 23

* Đặc điểm sinh lý và gây hại của nấm: 1 vết bệnh điển hình 2000-6000 bào tử/ngày, bào tử nảy mầm tạo đĩa bám và vòi xâm nhiễm, sẽ xâm

nhiễm trực tiếp qua cutin và biểu bì hay khí

khổng

Nấm tiết ra các enzyme để phân hủy vách tế bào biểu bì của lá như cutinase, cellulase

Tác nhân gây bệnh

Trang 25

Nấm cũng tiết ra các độc tố: Acid picolinic

(C6H5NO2)và pyricularin (C18H14C2O3) có tác dụng hút các chất dinh dưỡng, phá vỡ các men

và kìm hãm sự hô hấp của cây, làm cho cây

sinh trưởng kém và dễ nhiễm bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993) Theo Ou J.H (1983),

pyriculanin phá hủy men hô hấp bên trong các

tế bào cây lúa làm cho các tế bào này không còn hô hấp và chết đi

Tác nhân gây bệnh

Trang 26

* Nguồn lưu tồn và phát tán mầm bệnh: Nấm có khả năng lưu tồn rất cao, theo Kuribayashi

(1923) trong điều kiện khô bào tử có khả năng

sống hơn 1 năm và sợi nấm có khả năng sống

được gần 3 năm

• Bào tử nấm yêu cầu giọt nước tự do để mọc mầm

và độ ẩm tương đối cao gần bảo hòa để gây

bệnh, càng có nhiều giọt nước mưa trên lá bị

Tác nhân gây bệnh

Trang 27

• Bào tử nấm có thể phát tán hay bay cao đến

Trang 29

Các yếu tố phát sinh bệnh

* Điều kiện khí hậu, thời tiết: nấm bệnh phát

triển mạnh trong điều kiện mát mẽ

• Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen (1993) cho biết bào tử xâm nhập vào trong lá nhanh hay chậm tùy thuộc nhiệt độ

• Hashioka Y (1968) cho rằng, nhiệt độ thấp cây lúa tích lũy nhiều đạm và quá trình silic hóa của

tế bào xảy ra chậm nên cây lúa dễ nhiễm bệnh

Trang 30

* Đất: Bệnh phát sinh trong điều kiện độ ẩm đất

thấp, ruộng bị khô

* Mật độ gieo trồng: trồng dày thì bệnh dễ phát

sinh hơn

* Phân bón: N, P, K, Si.

* Giống lúa:Trồng các giống lúa nhiễm bệnh khi

gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho nấm bệnh, áp

Các yếu tố phát sinh bệnh

Trang 31

Biện pháp phòng trị

Đặt bẫy để thu thập bào tử nấm với tấm lame

được khử trùng bằng cồn 90o, tẩm dung dịch chất bám dính, đặt tấm lame giữa đầu thanh trúc nhỏ được chẻ làm tư và cắm ngẫu nhiên xuống ruộng lúa, mỗi ruộng 50 tấm lame Sau khi cắm thanh trúc đã gắn tấm lame xuống ruộng được hai ngày một đêm thì thu thập mẫu mang về phòng thí

nghiệm để quan sát, đếm mật độ bào tử dưới kính

Trang 33

Sử dụng giống kháng:

* Cơ nguyên của tính kháng bệnh chủ động: Ở

một số giống cây trồng có mang tính kháng

bệnh, khi bị mầm bệnh tấn công cây sẽ có phản ứng để chống lại sự xâm nhiễm của mầm bệnh

* Thuận lợi và hạn chế của việc sử dụng giống kháng:

Biện pháp phòng trị

Trang 34

Phòng trị bằng thuốc:

* Biện pháp kích thích tính kháng bệnh (induced resistance):

- Sử dụng chất kích thích sinh học:

Hai sản phẩm Biobac-1 ĐHCT và Biosar-3 ĐHCT hay chất kích kháng SAR3-ĐHCT

Biện pháp phòng trị

Trang 35

- Sử dụng vi sinh vật:

Chandransekaran và Vidhydrekaran (1989) cho rằng chủng vi sinh vật không gây bệnh trước

hay cùng lúc với nấm Pirycularia oryzae thì gây

ra tính kháng bệnh cháy lá lúa

Theo Du và ctv (1996), xử lý mạ bằng cách chủng vào cây mạ nguồn bệnh Magnaporthe đã

bị làm yếu đi, 2 ngày sau chủng nguồn bệnh

Biện pháp phòng trị

Trang 36

* Thuốc hóa học: Nên sử lý hạt giống trước và sử dụng các loại thuốc có phổ tác động rộng:

WORKUP 9SL, VICARBEN 50HP, VIXAZOL 275SC, VIRAM PLUS 500SC,… để vừa trừ nấm đạo ôn vừa trừ được mầm bệnh của những loại nấm khác như là nấm gây bệnh đốm nâu, lúa

von, lem lép hạt,…

Biện pháp phòng trị

Trang 37

* Phòng trị bằng kỹ thuật canh tác:

+ Chọn giống kháng bệnh: IR64, VNĐ 95-20,

OMCS 2000, OM 1490, MTL 250, VĐ 20,

Jasmine 85,…

+ Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch

+ Không nên sạ dày

+ Khi bệnh phát sinh, cho thêm nước vào

ruộng, ngưng bón phân đạm, phun các loại

Biện pháp phòng trị

Trang 38

+ Bón Đạm cân đối

Biện pháp phòng trị

Trang 39

+ Thường xuyên thăm đồng.

+ Trong trường hợp ruộng vừa bị ngộ độc

hữu cơ vừa bị bệnh đạo ôn thì xử lý như sau: Tháo nước ra vài ngày Sau đó bơm nước vào ruộng và bón phân lân từ 10 – 20 kg/1000

m2 hoặc bón vôi 10 – 20 kg/1000 m2 Kết hợp phun phân bón lá và phun thuốc trị bệnh đạo ôn

Biện pháp phòng trị

Trang 40

Kết luận

• Mặc dù bệnh đạo ôn đã có thuốc trị nhưng

công tác phòng trừ của nông dân vẫn chưa

được hiệu quả

• Cần áp dụng tổng hợp các giải pháp canh tác ngay từ đầu vụ

• Khi cần sử dụng thuốc hoá học nên chọn loại thuốc đặc trị và hiệu quả cao

Ngày đăng: 20/10/2014, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w