Chính vì vậy, một số qui định trong Basle I đã không còn phù hợp khi áp dụng tại những ngân hàng này, đòi hỏi phải có một sự cải tiến toàn diện trong việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế
Trang 1TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN TẮC BASEL TRONG THANH TRA
NGÂN HÀNG
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC
BASEL
I/ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA HIỆP ƯỚC BASEL:
Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của các NHTM ở các nước khác nhau, nên dẫn đến cạnh tranh không công bằng trong cùng một thị trường, đây là điều cấm kỵ trong cô chế hội nhập Vì vậy lãnh đạo các nước phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh nhưng đảm bảo công bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lí do quan trọng cho sự ra đời Hiệp ước Basel Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các ngân hàng thuộc các nước nhóm G10 khởi xướng
và được Ủy ban Quản lí ngân hàng thuộc ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1+88, xuất phát từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt
ở Tây Đức vào thời điểm đó Do tính thiết thực của nó nên cộng đồng các tổ chức tài chính, ngân hàng của hơn 100 nước khác cùng hưởng ứng Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trường, Basel đã được cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006 Ủy ban Basel bao gồm Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 và một số nước
có hệ thồng ngân hàng lớn mạnh hàng đầu thế giới bao gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Itaia, Nhật, Luxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ đã kí Hiệp ước Basel (Basel Accord), một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát ngân hàng quốc tế
Trang 2cũng đã được chính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc thực thi Hiệp ước Ngoài ra, hệ thống ngân hàng của nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã biểu thị đồng thuận tham gia tuân thủ Hiệp ước.
Ủy ban Basel tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington hoặc tại Thành phố Basel (còn gọi la Basle) – Thụy Sĩ Ban thư kí thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Washington DC – Mỹ
Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hê thống Ngân hàng của một quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới Ủy ban Basel thường xuyên tổ chức các cuộc thảo luận về vấn đề xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát ngân hàng, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới Để làm được điều này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện được 3 điều cơ bản:
+ Trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia
+ Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế
+ Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà Ủy ban thực sự quan tâm
II- NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN CỦA BASEL I, BASEL II,
BASEL III 1) Basel I :
Mục tiêu:
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngận hàng
Trang 3nhằm chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị trường vốn quốc tế là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu – đây
là nội dung nền tảng của Basel I (1988) Ngoài những ảnh hưởng của quá trình tự do hóa tài chính và sự tiến bộ trong công nghệ ngân hàng cũng như xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm tài chính diễn ra rầm rộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 thì yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn đến sự ra đời của Hiệp ước Basel I và sau đó hơn 10 năm là Basel II (1999)
Nội dung:
Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I) Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng quốc
tế thuộc nhóm 10 nước phát triển Sau này, Basel I đã trở thành chuẩn mực toàn cầu và được áp dụng ở trên 120 quốc gia Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi
ro, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền
Phương trình 1.1:
Hệ số CAR được tính như sau:
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Tổng vốn / Tài sản có rủi ro (RWA)
- Tổng vốn của ngân hàng được chia làm 2 loại:
Vốn cấp 1_ Vốn tự có cơ bản: bao gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện ủy thác có thể
Trang 4chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng) đó chính là phần vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố.
Vốn cấp 2_Vốn tự có bổ sung: vốn này được xem là vốn có chất lượng thấp hơn, bao gồm: dự trữ không được công bố; dự trữ tài sản đánh giá lại; dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung; các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu); nợ thứ cấp Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này
Các giới hạn: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1;
nợ thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill)
- Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I mới chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng và tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro
Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50%, và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản (Phụ lục 1).Theo biến đổi của thị trường, năm 1++6, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường và rủi ro thị trường
có thể được tính theo 2 phương thức: bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc bằng các mô hình nội bộ của các ngân hàng
Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng Basel I phân loại tài sản có rủi ro và xác định hệ số rủi ro cho từng loại tài sản, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro
RWA Basel I = Tài sản * Hệ số rủi ro
Trang 5Từ ngày 1.10.2010 theo thông tư 13/TT-NHNN ngày 20.5.2010 của NHNN thì tỉ lệ CAR này sẽ được điều chỉnh từ 8% lên +% Ngoài ra, hiệp ước Basel I còn xác định các hệ số rủi ro trong các loại rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.
• Hạn chế:
Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với xu thế phát triển như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basle I với bản sửa đổi năm 1++6 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế
Thứ nhất, phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay Hệ số rủi ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ khả năng tài chính của khách hàng) hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như theo thời hạn) điều này chỉ ra rằng có thể các ngân hàng có cùng tỷ
lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau, ở mức độ khác nhau
Thứ hai, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hoá hoạt động Các
lý thuyết về đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hoá danh mục đầu tư Tuy nhiên, theo Basel 1, quy định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro hơn) Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá trị (ví dụ không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1)
Thứ ba, Basel I chưa tính đến các rủi ro khác Trong quy định vốn tối thiểu của mình, Basle I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng, chưa đề cập đến những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại hối; đề cập chưa đầy đủ về rủi ro thị trường
Thứ tư, một số các quy tắc do Basle I đưa ra không thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng - chi nhánh Xu thế phát triển hiện nay là các ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn
Trang 6lớn có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉ hoạt động trọng phạm vi lãnh thổ quốc gia mà luôn vươn ra tầm quốc tế, mở rộng mạng lưới ngân hàng dưới hình thức hoạt động của ngân hàng quốc tế Chính
vì vậy, một số qui định trong Basle I đã không còn phù hợp khi áp dụng tại những ngân hàng này, đòi hỏi phải có một sự cải tiến toàn diện trong việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và giám sát hoạt động ngân hàng
2) Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng (năm 1999)
Tiếp theo sau Hiệp ước Basel I, để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của các TCTD, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, từ năm 1+++, Uỷ ban Basel
đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu liên quan đến việc giám sát ngân hàng, bao gồm:
- Nguyên tắc về điều kiện cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: nguyên tắc1
- Nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ nguyên tắc 2 đến 5
- Nguyên tắc về quy định và yêu cầu thận trọng: từ nguyên tắc 6 đến 15
- Nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng: từ nguyên tắc 16 đến 20
- Nguyên tắc về yêu cầu thông tin: nguyên tắc 21
- Nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát:
Trang 7Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban đã xây dựng và xuất bản bộ
25 nguyên tắc cơ bản Basel trong công tác giám sát ngân hàng Các nguyên tắc này đã được thiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thị trường nói chung theo nguyên tắc
dễ áp dụng và kiểm chứng Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu sau:
- Các Nguyên tắc thuộc về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: được thể hiện bởi nguyên tắc 1 Nguyên tắc chỉ ra điều kiện của một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả là: i) phải có một khung pháp lý phù hợp; ii) phân định mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định
về chia sẻ và bảo mật thông tin
- Các nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: bao gồm từ nguyên tắc 2 đến nguyên tắc 5, với các nội dung chính: i) xác định rõ ràng các hoạt động tổ chức tài chính được phép làm
và chịu sự giám sát; ii) quyền đưa ra các tiêu chí và bác bỏ đơn xin thành lập nếu không đạt yêu cầu của cơ quan cấp phép; iii) quyền rà soát và từ chối bất kỳ một đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân hàng hiện tại cho các bên khác
- Các nguyên tắc về các quy định và yêu cầu thận trọng: bao gồm từ nguyên tắc số 6 đến số 15 Nội dung chính của nhóm nguyên tắc là đưa ra các chuẩn mực mà các chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng được làm và nhất thiết phải biết xử lý trong hoạt động của mình ví dụ như: yêu cầu
về an toàn vốn cho các ngân hàng, xác định rõ những khu vực nào của vốn ngân hàng chịu rủi ro; đánh giá các chính sách, thực tiễn hoạt động, các thủ tục cho vay vốn, đầu tư, việc kiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng đó; đánh giá chất lượng tài sản và tính thích hợp của các điều khoản
Trang 8chống thất thoát và quĩ dự trữ thất thoát khoản vay.
- Các nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiện nay: bao gồm từ nguyên tắc số 16 đến nguyên tắc số
20 Nhóm nguyên tắc này quy định yêu cầu đối với một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả bao gồm cả các hình thức giám sát từ xa và giám sát tại chỗ.Cơ quan giám sát cần thường xuyên liên hệ với Ban giám đốc ngân hàng để hiểu rõ về hoạt động của ngân hàng, xây dựng phương pháp phân tích báo cáo thống kê và có biện pháp thẩm định độc lập thông tin giám sát thông qua kiểm tra tại chỗ
- Nguyên tắc yêu cầu về thông tin: nguyên tắc số 21 chỉ
ra cán bộ giám sát phải biết chắc mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp cho phép chuyên gia giám sát có thể tiếp cận và thấy được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng
- Nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát: nguyên tắc số 22 chỉ ra các biện pháp giám sát bắt buộc để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản (ví dụ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không đảm bảo, năng lực quản trị điều hành yếu ) Trong trường hợp khẩn cấp, hoạt động can thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động
- Các nguyên tắc về nghiệp vụ ngân hàng xuyên biên giới: bao gồm từ nguyên tắc số 23 đến nguyên tắc số 25 với nội dung hướng dẫn giám sát đối với các nghiệp vụ giao dịch ngân hàng quốc tế, yêu cầu các ngân hàng nước ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn cao bằng tiêu chuẩn của các ngân hàng trong nước và thiết lập quan hệ và hệ thống trao đổi thông tin với các chuyên gia giám sát khác, đặc biệt
Trang 9là với chuyên gia giám sát của nước sở tại.
3) Basel II:
Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế đó là Basel I đã không đề cập đến một loại rủi
ro đang ngày càng trở nên phức tạp và với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro tác nghiệp
Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một
lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1) Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp
Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một
cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2) Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:
- Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức
độ đầy đủ vốn của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó
- Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng
Họ cũng phải có khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn
Trang 10tối thiểu Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này.
- Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định
- Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai
thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3) Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin
về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro
Bảng 1 Trọng số rủi ro theo loại tài sản
Trọng số rủi
ro
Phân loại tài sản
0% Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng.
Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính.20% Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn
Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước
Trang 1150% Các khoản vay thế chấp nhà ở,…
100% Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh nghiệp, các khoản nợ từ các nước kém phát triển, các
khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất động sản,…
Bảng 2.
Loại tài sản Trọng số
rủi ro
Tỷ lệ vốn
Số tiền
Tài sản điều chỉnh theo
Yêu cầu
về vốn tối thiểu
Trái phiếu Chính
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000
USD 200 USD 16 USD
80 USD
Những sửa đổi của Hiệp ước Basel II so Hiệp ước Basel I
- Basel 2 vẫn qui định mức vốn an toàn tối thiểu là 8% và chỉ thay
đổi cách tính ở mẫu số trong công thức tính tỉ lệ đủ vốn Theo đó,
mẫu số phải bao gồm cả ba loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường, rủi ro hoạt động
- Hệ thống đo lường theo Basel 2 phức tạp hơn, nhiều phương pháp
để lựa chọn hơn, nhưng có khả năng đánh giá chính xác mức độ an
toàn vốn, và cho phép quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt
động ngân hàng đối với rủi ro tín dụng, nếu Basel I đưa ra một
phương pháp chung thì Basel II lại đưa ra các lựa chọn Cụ thể, 2
phương pháp được đề xuất: Phương pháp chuẩn và phương pháp
phân hạng nội bộ
Trang 12-Phương pháp chuẩn: Phương pháp tiếp cận này đo lường rủi ro tín dụng tương tự như Basel I, nhưng ở ức độ nhạy cảm với rủi ro hơn
vì sử dụng xếp hạng tài chính do các tổ chức phân hạng độc lập cung cấp làm hệ số khi tính toán tài sản điều chỉnh theo rủi ro
-Phương pháp đánh giá nội bộ: Phương pháp này chủ yếu dựa vào đánh giá nội bộ của ngân hàng về hệ số rủi ro để xác định tỷ lệ vốn cần thiết Tuy nhiên, vẫn dựa vào hướng dẫn của Uỷ ban Basel để xác định rủi ro cho từng loại tài sản, bao gồm: Yếu tố cấu thành rủi ro, Phương trình rủi ro, Mức yêu cầu vốn tối thiểu:
- Basel 2 phân định các mức rủi ro trên cơ sở xếp hạng, do đó các ngân hàng sẽ phải phụ thuộc chủ yếu vào kết quả xếp hạng và đánh giá độ tín nhiệm của các tổ chức độc lập như Moody, S&P
-Xét về phạm vi áp dụng nói chung của Basel II rộng hơn so với
Basle I, bao gồm không chỉ các ngân hàng quốc tế mà cả các công ty
mẹ, hay thay đổi định nghĩa về tài sản có rủi ro
Bảng 3: điểm khác nhau căn bản của Basle II so với Basle I
Mức vốn an toàn tối thiểu là 8%, mẫu số gồm: rủi
ro tín dụng
Mức vốn an toàn tối thiểu là 8%, mẫu số gồm: rủi
ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động Chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động quy trình
giám sát và các quy tắc thị trường
Có một phương pháp duy nhất áp dụng cho tất cả
các trường hợp
Linh động hơn, có nhiều phương pháp để lựa chọn , hướng đến việc quản trị rủi ro tốt hơn
Hệ thống đo lường đơn giản hơn Hệ thống đo lường theo Basel II phức tạp hơn
Basel I chỉ có thể vận dụng ở ngân hàng theo kiểu
đơn thuần túy
Phạm vi ap dụng của Basel II sẽ rộng hơn bao gồm ngân hàng quốc tế và công ty mẹ
Dựa trên caaud trấu theo diện trải rộng Nhạy cảm hơn với rủi ro
Ưu điểm của Basel II so với Basel I:
- Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải
Trang 13pháp quản lý rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường
- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung
một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa
- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ
bộ Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro
- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi
hơn với các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and Development) Basel II quy định từ 0 – 150 hoặc hơn và không
có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài
- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm
bảo Basel II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)
4) Basel III:
Hiệp ước Basel III được phát triển để đối phó với những thiếu sót trong các qui định về tài chính bị bộc lộ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Basel III tăng cường yêu cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng Tổ chức OECD ước tính rằng việc thực hiện Basel III sẽ giảm tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 0,05%-0,15%
Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, Ủy ban
Trang 14Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) đã đưa ra các điều chỉnh trong hướng dẫn đối với các quy định về vốn và hoạt động các ngân hàng như sau:
Trong tài liệu hướng dẫn này trình bày các kiến nghị của
Ủy ban Basel để tăng cường vốn toàn cầu và các quy định về tính thanh khoản với mục tiêu thúc đẩy khu vực ngân hàng trở nên linh hoạt hơn Mục tiêu gói cải cách của Ủy ban Basel là nhằm cải thiện khả năng của lĩnh vực ngân hàng để hấp thụ những cú sốc phát sinh từ sự căng thẳng tài chính và kinh tế, bất kể nguồn gốc, do đó giảm nguy cơ khủng hoàng tràn từ
khu vực tài chính cho các nền kinh tế hiện tại
Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân hàng Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng giữ vốn nhiều hơn và chất lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành Basel
II Các đòn bẩy mới và tỷ lệ tính thanh khoản giới thiệu một biện pháp phi rủi ro nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa trên rủi ro và các biện pháp để đảm bảo đủ kinh phí được duy trì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng
Ngày 19/12/2009 các thành viên BCBS ban hành một thông cáo báo chí trong đó trình bày hai chủ đề để xem xét và bình luận:
- Tăng cường khả năng phục hồi của nghành Ngân hàng
- Đưa ra khuôn khổ về đo lường rủi ro thanh khoản, các chuẩn mực và sự giám sát Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) cho phép một khoảng thời gian bình luận đại chúng (kết thúc vào 16/04/2010), nhận kết quả 272 câu trả lời theo yêu cầu
để lấy ý kiến
PHẦN 2: TIẾN TRÌNH ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN
Trang 15BASEL VÀO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
I) GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI ÁP DỤNG BASEL (NHỮNG
Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số quy định mới để sửa đổi bất hợp lý về vốn của Quy định 1999 và một
số nội dung khác đã được bổ sung cho gần với Basel I hơn Điểm đáng chú nhất trong Quy định 2005 là việc tách bạch giữa hoạt động của ngân hàng thương mại (các hoạt động cấp tín dụng và thanh toán là chủ yếu) và hoạt động của ngân hàng đầu tư (các nghiệp vụ liên quan đến kinh doanh chứng khoán)
2.1 Năm 2005-2006:
Giai đoạn này, nhìn chung, các ngân hàng ở Việt Nam đang
Trang 16ở những bước đầu tiên trong quá trình áp dụng những chuẩn mực quốc tế vào việc xây dựng một hệ thống an toàn, giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động Theo kết quả khảo sát do Công ty Tư vấn Ernst & Young tiến hành năm 2006 để đánh giá mức độ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu của Ủy ban Giám sát ngân hàng quốc tế Basel, có tới 1+trong số 25 nguyên tắc phần lớn không tuân thủ, 1/25 nguyên tắc tuân thủ, 2/25 nguyên tắc không thực hiện phần lớn và 3/25 nguyên tắc không áp dụng Trong đó, hầu hết các nguyên tắc liên quan đến điều kiện tiên quyết bảo đảm giám sát ngân hàng hữu hiệu (mục tiêu, nhiệm vụ, tính độc lập, khung pháp lý, quyền lực, hệ thống thông tin của cơ quan giám sát ngân hàng), cấp phép và chấp thuận thay đổi cấu trúc ngân hàng, các quy định an toàn hoạt động, phương pháp giám sát ngân hàng liên tục được đánh giá không tuân thủ Việc
áp dụng thông lệ, chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng chưa đồng bộ và không triệt để dẫn đến cách nhìn nhận, đánh giá hệ thống ngân hàng chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tình hình
Các quy định của Ngân hàng Nhà nước đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới các điều khoản trong hiệp định Basel I nhưng
có theo chuẩn mực Basel, điều này đảm bảo hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mạiđược an toàn hơn Tuy nhiên, giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn còn tồn tại một số khoảng cách, vì thế cách tính tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực kế toán Việt Nam chưa phản ánh hợp lý rủi ro
Trang 17trong hoạt động của các ngân hàng Việt Nam Hầu hết các Ngân hàng thương mạicổ phần đều đã đạt được hệ số an toàn vốn
(CAR) trên 8%, song nếu so sánh với cách tính hệ số an toàn của Basel như đã nêu ở trên, tức là mẫu số phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị tr ườ ng thì rất ít Ngân hàng thương mạiViệt Nam đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8% Thêm vào đó, tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu là 8% được áp dụng thống nhất cho tất cả các ngân hàng mà không tính đến sự khác biệt trong phạm vi, quy mô
cũng như rủi ro của các ngân hàng Đối với Quyết định số
4+3/2005/QĐ-NHNN, dư nợ tín dụng tại các Ngân hàng thương
mạiphải được phân loại, trích dự phòng rủi ro và có biện pháp đặc biệt đối với các khoản nợ xấu Các khoản nợ được phân loại dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mỗi ngân hàng và chủ yếu dựa vào khả năng thu nợ của mỗi khoản vay Đây đồng thời cũng là cách phân loại nợ mà Hiệp ước Basel đã đưa ra Phương pháp trích lập nêu tại Quyết định 493 đã tiến khá sát với thông lệ quốc tế, cụ thể: (i) Có trích lập dự phòng chung và dự phòng
riêng; (ii) Có tính giá trị Tài sản bảo đảm và loại trừ khi tính toán
số tiền phải trích lập; (iii) Cho phép các Ngân hàng thương
mạiđược trích lập dần trong 3 năm, phù hợp với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại Nhìn chung, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn tín dụng với một nhóm khách hàng có liên quan tương đối phù hợp với yêu cầu của Basel Tuy nhiên, Quyết định 457/2005/QĐ- NHNN quy định giới hạn tín dụng của Tổ chức tín dụng với một nhóm khách hàng có liên quan là 60%, trong khi tỷ lệ này theo Basel chỉ là 25% Ngoài ra, theo quy định trên thì việc trích lập dự phòng của các ngân hàng Việt Nam dựa trên tình trạng nợ quá hạn của các khoản nợ chứ không dựa trên cơ sở hạch toán kế toán nhằm đánh giá khả năng
thu hồi nợ dự kiến Thanh tra ngân hàng cũng chỉ kiểm tra việc tuân thủ của ngân hàng với quy định mà chưa kiểm tra mức dự
Trang 18phòng trích lập có phản ánh đúng khả năng thu hồi dự kiến hay không.
Mô hình tổ chức Thanh tra Ngân hàng và hệ thống pháp luật
về thanh tra, giám sát ngân hàng còn bất cập so với các thông lệ
và chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng, nhất là so với yêu cầu thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro Cụ thể, theo Hiệp
ước Basel, rủi ro tín dụng được xác định chủ yếu dựa trên hệ
thống phân loại nợ nội bộ với hệ thống chỉ tiêu khá phức tạp nhằm đánh giá khả năng thu hồi nợ đối với từng khoản vay Trong khi đó, việc phân loại nợ của các Ngân hàng thương mạiViệt Nam dựa trên các thông số có tính bề mặt như căn cứ chủ yếu vào số ngày gia hạn nợ và số ngày chuyển sang nợ quá hạn Các yếu tố định tính khác phản ánh đúng chất lượng và khả năng thu nợ của khoản vay như tình hình tài chính, rủi ro trong kinh doanh của khách hàng, rủi ro phi tài chính… đều chưa được đưa vào Hệ
thống cho điểm tín dụng của các Ngân hàng thương mại Rủi ro thị trường chưa đóng vai trò trọng yếu trong rủi ro hoạt động của
các Tổ chức tín dụng, chưa có các quy định về rủi ro thị trường và
do đó chưa áp dụng nguyên tắc của Basel về điều chỉnh tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với rủi ro thị trường Ngân hàng nhà nước có thực hiện kiểm tra việc thiết lập các giới hạn cụ thể về rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro cho hoạt động kinh doanh ngoại hối và việc xây dựng hệ thống thông tin và kiểm soát nội bộ để đảm bảo việc tuân thủ các giới hạn rủi ro thị trường của các Tổ chức tín dụng Tuy nhiên, mức độ kiểm tra khác nhau phụ thuộc vào từng loại hình Tổ chức tín dụng và phụ thuộc vào kỹ năng và kiến thức của các cán bộ thanh tra Các Ngân hàng thương mại Việt Nam hầu như vẫn chưa áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro thị trường một cách đầy đủ Các sản phẩm Hedging hầu như chưa được triển khai, ngoại trừ một số biện pháp như quản lý trạng thái ngoại hối, quản lý danh mục đầu tư thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, tránh đầu tư tập trung…Các Ngân hàng thương mại
Trang 19Việt Nam chưa nhận thức đúng và đủ và loại hình rủi ro hoạt động nên cũng chưa có nguồn dự phòng thích đáng và phù hợp đối với loại hình rủi ro này Mặc dù vậy, trong thực tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn luôn phải đối mặt với loại rủi ro này với mức độ nguy hiểm ngày càng lớn
Một quy định cũng đáng lưu ý là năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng
mà hiểu một cách đơn giản, đối với một ngân hàng, đến hết năm
2010 phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng Điều này cho thấy cơ quan giám sát và các ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu ý thức thêm về tầm quan trọng của việc điều chỉnh hoạt động theo Hiệp ước quốc tế Basel
2.2 Năm 2007:
Bối cảnh đã thay đổi kể từ năm 2007, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam gặp phải hai vấn đề lớn gồm: (1) rủi ro về mặt thanh khoản và (2) rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động sản
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung tiền được mở rộng với tốc độ cao cộng với sự nở rộng quá nhanh của một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ mà phần đông
là mới thành lập hay được nân cấp lên từ các ngân hàng nông thôn Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân hàng
Những ngân hàng lớn có lợi thế về mặt huy động vốn do mạng lưới và quan hệ có sẵn, khi cung tiền được mở rộng họ đã huy động được rất nhiều tiền, nhưng khả năng cho vay chỉ ở một mức nào đó nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn Ngược lại các ngân hàng mới nâng cấp hay mới thành lập cần phải
mở rộng hoạt động nên cần vốn Cung - cầu gặp nhau và hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng là khá dễ dàng với lãi suất rất phải chăng
Kết quả là một số ngân hàng đã đi vay các tổ chức tín dụng
Trang 20khác (vay liên ngân hàng) để cho vay lại khách hàng, trong khi về nguyên tắc vay liên ngân hàng với lãi suất rất thấp thường chỉ để
bù đắp những thiếu hụt tạm thời về mặt thanh khoản hay yêu cầu
dự trữ của ngân hàng nhà nước và nguồn vốn sử dụng để cấp tín dụng nên là vốn huy động trực tiếp
Khi lạm phát ở mức báo động, chính sách thắt chặt tiền tệ được đưa ra một quá mạnh và có phần đột ngột đã làm lộ ra những vấn đề về quản lý cũng như rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Thêm vào đó, việc các Ngân hàng thương mạitham gia quá tích cực vào các hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản như cho vay để kinh doanh cổ phiếu hay mua bán bất động sản cũng như một số nghiệp vụ khác của ngân hàng đầu đã tạo
ra những tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho hệ thống tài chính
Một số chính sách có tính chữa cháy như Chỉ thị 03 vào tháng 5/2007 khống chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán không vượt quá 3% tổng dư nợ cho vay đã không những không có tác dụng, mà còn gây ra những tác động tiêu cực khác
Hơn thế, khi Việt Nam gặp khó khăn do lạm phát tăng cao chưa từng có kể từ những năm đầu thập niên 1990, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng
và suy thoái 1929-1933 ở Mỹ xảy ra mà một trong những nguyên nhân chính là việc dỡ bỏ quy tách bạch giữa hoạt động của các Ngân hàng thương mạivà
ngân hàng đầu tư, đã làm cho nhu cầu có một quy định chặt chẽ về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tài chính trở nên cấp thiết hơn Đề án Cải cách tổ chức và hoạt động Thanh tra Ngân hàng (Quyết định số 1976/QĐ-NHNN) đã nêu lên 7 nội dung cơ bản trong đó nhấn mạnh việc chuyển hướng từ thanh tra tuân thủ
Trang 21sang thanh tra - giám sát dựa trên cơ sở rủi ro và hợp nhất kết hợp với thanh tra - giám sát tuân thủ phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng”.
2.3 Năm 2010:
Tháng 5/2010 Ngân hàng Nhà nước (NGÂN HÀNG NHÀ NƯớC) đã chính thức ban hành Thông tư 13/2010/TT-NGÂN HÀNG NHÀ NƯớC có hiệu lực từ 01/10/2010 về Quy định về các
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Thông tư 13 đề cập đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn chính yếu như sau:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
- Giới hạn tín dụng;
- Tỷ lệ khả năng chi trả;
- Giới hạn góp vốn, mua cổ phần;
- Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
(a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:
1 “Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)”
2 Tổ chức tín dụng phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ quy định tại Khoản 1 Điều này, phải đồng thời duy trì
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của
tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất)”
- Tỷ l ệ an toàn vốn riêng l ẻ đư ợ c xác đ ị nh như sau :
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có/Tổng tài sản “Có” rủi ro
Trang 22Trong đó:
- Vốn tự có là tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 trừ đi các khoản phải trừ
+Vốn từ có Cấp 1 bao gồm các khoản để tính vốn cấp 1 trừ
đi các khoản phải trừ
+Vốn từ có Cấp 2 bao gồm các khoản để tính vốn cấp 2 +Các khoản phải trừ khi tính vốn tự có
- Tổng tài sản “Có” rủi ro
( Điều 5, Mục 1, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
- Tỷ l ệ an toàn vốn hợp nhất đư ợ c xác đ ị nh như sau:
(Nguồn: Báo cáo thường niên các ngân hàng )
Biểu đồ 1: Hệ số an tòan vốn CAR của một số các NHTM từ 2005 –
2007
Trang 23( Nguồn: Báo cáo thường niên các ngân hàng)
(b) Giới hạn tín dụng:
- Tổ chức tín dụng căn cứ quy chế nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng để xây dựng, ban hành quy định về các tiêu chí xác định một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, chính sách tín dụng đối với khách
hàng và các giới hạn tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, trong đó tối thiểu phải có các nội dung sau đây:
• Tiêu chí cụ thể xác định một khách hàng, nhóm khách hàng có liên quan
• Giới hạn tín dụng đối với một khách hàng, nhóm khách hàng có liên quan
• Kế hoạch đa dạng hóa hoạt động tín dụng, phương pháp theo dõi và quản lý đối với các khoản cấp tín dụng ở mức từ 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng trở lên
Từng khoản cho vay hoặc bảo lãnh, cho thuê tài chính và tổng các khoản cho vay hoặc tổng các khoản bảo lãnh, tổng các khoản cho thuê tài chính vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng phải được Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người
Trang 24được Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị ủy quyền thông qua theo phân cấp, ủy quyền quy định tại chính sách tín dụng nội bộ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
- Quy định nội bộ về các tiêu chí xác định một khách hàng
và nhóm khách hàng có liên quan, các giới hạn tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan phải được sửa đổi, bổ sung phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng, chính sách tín dụng đối với khách hàng khi hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sửa đổi, bổ sung hàng năm
( Điều 7, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(c) Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá:
Dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng bao gồm dư nợ cho vay theo hợp đồng tín dụng; số dư nợ tổ chức tín dụng ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay; số dư các khoản tổ chức tín dụng đã trả thay do thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng
+Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng
+Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (15% vốn tự có)
Trang 25+Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự
có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (15% vốn tự có)
+Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (25% vốn tự có)
( Điều 8, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(d) Giới hạn cho thuê tài chính
+Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá
30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính
+Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (30% vốn tự có)
( Điều +, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(e) Tỷ lệ về khả năng chi trả:
Cuối mỗi ngày, tổ chức tín dụng phải xác định và có các biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như sau:
+Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả
- Tổng tài sản “Có” thanh toán ngay (Phụ lục 5)
- Tổng Nợ phải trả được xác định bằng số dư trên khoản mục Tổng nợ phải trả (Phụ lục 6)
• Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng
Trang 26tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày).
- Tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau (Phụ lục 6)
- Tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau (Phụlục 7)
( Điều 12, Mục 3, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(f) Giới hạn góp vốn, mua cổ phần:
Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu
tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật
Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó
( Điều 16, Mục 4, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày
20/05/2010)
(g) Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động:
Tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả và các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác quy định tại Thông tư này và không được vượt quá tỷ lệ dưới đây:
• Đối với ngân hàng: 80%
Trang 27• Tiền vay của tổ chức trong nước (trừ Kho bạc, tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài
• Vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy
tờ có giá
( Điều 18, Mục 5, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày
20/05/2010)
Trang 28THÔNG T Ư 19 sửa đ ổi, bổ sung m ột số đ i ều của Thông tư 13 cho sát
vớ i thực tiễn h ơn :
- Các tỷ lệ đảm bảo an toàn quy định tại Thông tư này gồm: Tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu; giới hạn tín dụng; tỷ lệ khả năng chi trả; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
Nội dung cũ là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
Trang 29- Số dư tiền gửi không kỳ hạn, trị giá sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng chính sách Xã hội; Số dư tiền gửi có kỳ hạn, trị giá sổ sách của vàng gửi có
kỳ hạn đến hạn thành toán gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng chính sách Xã hội
Nội dung trong thông tư cũ là "Phần chênh lệch dương giữa số
Trang 30dư tiền gửi không kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội
và số dư tiền gửi không kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng.
Phần chênh lệch dương giữa số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị
sổ sách của vàng gửi có kỳ hạn đến hạn thanh toán gửi tại các tổ chức
Trang 31tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội và số dư tiền gửi có
kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng có kỳ hạn đến hạn thanh toán của các
Trang 32tại Thông tu này và việc cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động không vượt quá tỷ lệ dưới đây:
Đối với ngân hàng : 80%; đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng 85%
- Cấp tín dụng quy định tại Khoản 1 Điều này bao gồm các hình thức cho vay, cho thuê tài chính, bao thanh toán, chiết khấu
Trang 33giấy tờ có giá và công cụ chuyển nhượng (bỏ cấu phần "bảo lãnh").
- Nguồn vốn huy động được bổ sung một số điều theo hướng nới rộng nguồn vốn huy động được đem cho vay bao gồm:
+Tiền gửi của cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn
+Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn
Trang 34của tổ chức tín dụng khác và chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
(không lo ạ i trừ t i ền gửi của Kho bạc Nhà nư ớ c như trong Thông tư
13 chưa sửa đổ i )
+Vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá
- Trong khoản 3.3 điều 18 mục 5 về “Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn
vốn huy động”, thông tư 19 bổ sung khoản nguồn vốn huy động được
Trang 35đem cho vay bao gồm 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) và tiền vay của tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn
từ 3 tháng trở lên(trừ tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước để
bù đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả theo quy định tại Khoản 1 điều 14) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài
Nội dung này không có trong thông tư 13 và được bổ sung
thêm.
Trang 37việc ban hành một văn bản như Thông tư 13 là cần thiết khi kinh tế thế giới vừa trải qua khủng hoảng tài chính và những yếu kém trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng trong nước ngày càng lộ rõ Nhưng
“chiếc áo“ tránh mưa, chống nóng này có vẻ được thiết kế chưa phù hợp với vóc dáng, thói quen của các Tổ chức tín dụng Tuy nhiên, đại
đa số các Ngân hàng thương mại đáp ứng được yêu cầu của Thông
tư 13 Và việc thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ chức tín dụng bao giờ cũng khó khăn, nhưng phải kiên quyết “Có thể phải điều chỉnh Thông tư 13, nhưng không thể lùi thời
Trang 38gian thực hiện”.
Điểm đáng chú ý đầu tiên trong Thông tư 13 là nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các Tổ chức tín dụng từ 8% lên 9% Một số Ngân hàng thương mại cho rằng họ không có khả năng đáp ứng yêu cầu này trong vòng vài tháng (tính từ khi Thông tư 13 ban hành đến 1/10/2010) Tuy nhiên, Ngân hàng nhà nước lập luận,
Trang 39thông tin về việc nâng CAR đã được đưa ra từ lâu, khi nhiều nước đã, đang chịu hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính, bắt nguồn
từ ngành ngân hàng - bảo hiểm Hơn nữa, Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel - nhóm các cơ quan giám sát ngân toàn cầu, đã thông qua Thỏa thuận yêu cầu các ngân hàng tăng gấp đôi tỷ lệ CAR (từ 7% lên 14%) Trong đó, vốn cấp hai tăng mạnh nhất, từ 2% lên 7% tổng tài sản Vốn cấp một cũng phải nâng từ 4% lên 7% Như vậy, dù muốn
Trang 40hay không, các Tổ chức tín dụng Việt Nam phải nâng CAR lên để dần thu hẹp khoảng cách với thế giới, vì Việt Nam đã là thành viên của WTO.
- Quy định thứ hai vấp phải phản ứng mạnh của các Tổ chức tín dụng là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động chỉ được ở mức 80%.
Theo Ngân hàng nhà nước, tỷ lệ này giảm nhằm quản lý nguồn