Các Dfs links có thể được chuyển từ một server sang server khác mà người dùng không cần biết.. Namespace Người sử dụng có thể truy xuất đến các tài nguyên trên mạng chỉ với một Namespace
Trang 1Các hệ thống file nâng cao
Trang 2Mục tiêu của bài học
Systems - Hệ thống file phân phối)
Service - Dịch vụ nhân bản file)
Trang 3Distributed File Systems (Dfs)
Trang 4Lợi ích của việc sử dụng Dfs (1)
Network
Administratiom Đơn giản hoá việc quản trị mạng Các Dfs links có thể được chuyển từ một server sang server khác mà
người dùng không cần biết
Namespace Người sử dụng có thể truy xuất đến các tài nguyên
trên mạng chỉ với một Namespace đơnMemory
Overhead Windows 2000 client không sử dụng thêm bộ nhớ khi truy xuất tới DFS.Server
Replacement Người quản trị có thể thay đổi files server mà không ảnh hưởng đến namespace được sử dụng bởi các
clientExtensibility Dfs namespace có thể mở rộng mọi lúc để gộp thêm
không gian đĩa
Trang 5Lợi ích của việc sử dụng Dfs (2)
Trang 6Các giới hạn của Dfs
Số lượng tối đa ký tự cho
phép trên đường dẫn 260
Số lượng tối đa lượt luân
phiên cho phép trên một
volume
32
Số lương tối đa Dfs root
cho phép trên một server 1
Số lương tối đa Dfs root
cho phép trên một Domain Không giới hạn
Số lượng tối đa volume
đươc đưa vào trong một
domain hoặc server
Được giới hạn bởi tài nguyên trên mạng Trong stand-alone roots cho
phép khoảng 6000 volume
Trang 7Các kiểu Dfs Roots
• Dịch vụ Dfs được tự động cài đặt trong khi cài Windows 2000 Server.
• Dịch vụ Dfs có thể được dừng, tạm dừng và khởi động nhưng không thể gở bỏ khỏi hệ thống
• Hai kiểu Dfs roots khác nhau có thể được cấu hình trên Windows 2000 Servers:
Stand-alone Dfs roots
Domain Dfs roots
Trang 8Stand-Alone Dfs Roots
Được tổ chức trên các Stand-alone Server.
Thông tin về Stand-alone Dfs được lưu trên Local Registry
Stand-alone Dfs roots có thể đặt trên tất cả các loại file systems (NTFS, FAT…) -> tuy nhiên chúng ta nên đặt trên NTFS Volume
Stand-alone Dfs roots không hỗ trợ việc nhân bản hoặc sao lưu dự phòng.
Trang 9Domain Dfs Roots
Domain DFS Root được tổ chức trên nhiều Server và sử dụng Active Directory services để lưu trữ mô hình cây của DFS
Domain Dfs root được lưu trữ trên Active Directory services
và được nhân bản tới tất cả các Dfs root server thành viên.
Nếu một client không thể kết nối tới tài nguyên với một lý do nào đó, Dfs client sẽ cố gắng kết nối tới những cái khác Dfs client sẽ quay vòng qua các tài nguyên cho đến khi tìm thấy một cái đang tồn tại.
Domain DFS roots phải được đặt trên volume/partition NTFS ver 5.0
Mô hình nhân bản của Dfs sử dụng mô hình nhân bản sẵn có của Active Directory
Trang 10Tạo Dfs Roots (1)
Trang 11Tạo Dfs Roots (2)
Trang 12Tạo Dfs Roots (3)
Trang 13Tạo Dfs Roots (4)
Trang 14Tạo Dfs Roots (5)
Trang 15Bổ sung các Dfs Links
Trang 16File Replication Service (FRS)
• FRS là dịch vụ nhân bản file trong Windows
Trang 17File Replication Service (FRS)
Trang 18Các Sites và sự nhân bản
Trang 19Các Sites và sự nhân bản
Trang 20Knowledge Consistency Checker
Trang 21Unique Sequence Numbers (USN)
Số tuần tự duy nhất
dùng hoặc người quản trị chỉnh sửa đối tượng đó hoặc
do nhận dữ liệu nhân bản từ một DC khác.
gán tăng dần
từ các DC khác Bảng này liệt kế số USN cao nhất nhận được từ các DC khác.
DC (Thông báo này gồm sự thay đổi và số USN cuối cùng) Khi các DC nhận được các thông báo nó sẽ kiểm tra xem số USN nhận được có lớn hơn số USN hiện có của DC tương ứng hay không? -> Tiến hành cập nhật
Trang 22Thực thi FRS
• Nhân bản SYSVOL: Khi có sự thay đổi như bổ sung,
xoá hoặc chỉnh sửa nội dung của thư mục
%systemroot%\SYSVOL trong domain controller bởi
người quản trị.
• Nhân bản để chịu đựng lỗi của Dfs Roots: FRS được
sử dụng bởi Dfs để nhân bản dữ liệu trong domain.
• Định cấu hình nhân bản Inter-Site bởi FRS: Việc
nhân bản Inter-site có thể được định cấu hình bằng cách sử dụng dịch vụ Snap-in “AD Sites and Services” của Active Directory.