1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật nuôi kỳ đà dông

23 336 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỢI ÍCH TỪ VIỆC NUÔI KỲ ĐÀ VÀ DÔNGKỳ đà là động vật hoang d đang được thuần hóa, nhân nuôi, sức đề kháng cao, có khả năng thích ứng với điều kiện nuôi dưỡng, ít dịch bệnh, nên rất dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao. Vốn đầu tư để chăn nuôi kỳ đà rất ít mà đem lại lợi nhuận cao. Thịt kỳ đà ngon; mật và lưỡi kỳ đà cịn l bi thuốc quý, da kỳ đà với lượng lớn cũng có thể xuất khẩu. Trong tự nhiên, kỳ đà là thành viên tiêu diệt sâu bọ, chuột phá hoại mùa màng. Tuy nhiên, do sức hấp dẫn của các món ăn chế biến từ thịt và trứng kỳ đà cũng như bộ da và đặc biệt là túi mật của nó mà số lượng kỳ đà ngoài tự nhiên hiện nay không cịn nhiều vì bị con người săn bắt, khai thác mạnh. Bởi lẽ đó cả 2 loài kỳ đà ở nước ta đều đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Do vậy, cần thiết phải có biện pháp thuần dưỡng và nhân nuôi loài bị st hoang d ny.Ngoài kỳ đà ra, thì con dơng (kỳ nhơng) cũng là loài dễ nuôi và cho hiệu quả kinh tế cao. Thịt dông được xếp vào loại ngon, được dân sành điệu cho là “thức ăn đặc sản”. Loại thịt ny có trong thực đơn của nhà hàng, quán ăn khắp cả nước. Trong tự nhiên loài dông ngày càng khan khiếm do con người săn bắt, trong khi đó nhu cầu của thị trường đối với loại thịt này ngày càng cao, do vậy mà nhiều người đ mạnh dạn đầu tư nuôi dông để cung cấp cho thị trường. Để việc nuôi kỳ đà và nuôi dông đạt kết quả tốt và mang lại lợi nhuận cao, địi hỏi người nuôi phải nắm vững kỹ thuật từ việc chọn con giống, đến việc thiết kế chuồng trại cho đúng cách thức, cách cho ăn, chăm sóc và phịng trị bệnh… Tất cả những kỹ thuật này được hướng dẫn kỹ lưỡng trong sách.

Trang 1

NGUYỄN VĂN TUYẾN

GIÚP NHÀ NÔNG LÀM GIÀU

KỸ THUẬT NUÔI

KỲ ĐÀ & DÔNG

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

Trang 2

LỢI ÍCH TỪ VIỆC NUÔI KỲ ĐÀ

VÀ DÔNG

Kỳ đà là động vật hoang dã đang được thuần

hóa, nhân nuôi, sức đề kháng cao, có khả năng thích

ứng với điều kiện nuôi dưỡng, ít dịch bệnh, nên rất

dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao

Vốn đầu tư để chăn nuôi kỳ đà rất ít mà đem lại

lợi nhuận cao Thịt kỳ đà ngon; mật và lưỡi kỳ đà

còn là bài thuốc quý, da kỳ đà với lượng lớn cũng

có thể xuất khẩu

Trong tự nhiên, kỳ đà là thành viên tiêu diệt sâu

bọ, chuột phá hoại mùa màng Tuy nhiên, do sức

hấp dẫn của các món ăn chế biến từ thịt và trứng kỳ

đà cũng như bộ da và đặc biệt là túi mật của nó mà

số lượng kỳ đà ngoài tự nhiên hiện nay không còn

nhiều vì bị con người săn bắt, khai thác mạnh Bởi

lẽ đó cả 2 loài kỳ đà ở nước ta đều đứng trước nguy

cơ tuyệt chủng và được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam

Do vậy, cần thiết phải có biện pháp thuần dưỡng và

nhân nuôi loài bò sát hoang dã này

Ngoài kỳ đà ra, thì con dông (kỳ nhông) cũng là

loài dễ nuôi và cho hiệu quả kinh tế cao Thịt dông

được xếp vào loại ngon, được dân sành điệu cho là

“thức ăn đặc sản” Loại thịt này có trong thực đơn của

nhà hàng, quán ăn khắp cả nước Trong tự nhiên loài dông ngày càng khan khiếm do con người săn bắt, trong khi đó nhu cầu của thị trường đối với loại thịt này ngày càng cao, do vậy mà nhiều người đã mạnh dạn đầu tư nuôi dông để cung cấp cho thị trường

Để việc nuôi kỳ đà và nuôi dông đạt kết quả tốt

và mang lại lợi nhuận cao, đòi hỏi người nuôi phải nắm vững kỹ thuật từ việc chọn con giống, đến việc thiết kế chuồng trại cho đúng cách thức, cách cho

ăn, chăm sóc và phòng trị bệnh… Tất cả những kỹ thuật này được hướng dẫn kỹ lưỡng trong sách

Trang 3

PHẦN I

KỸ THUẬT NUÔI KỲ ĐÀ

BÀI 1 ĐẶC ĐIỂM CỦA KỲ ĐÀ

I HÌNH DÁNG

Kỳ đà thuộc lớp động vật bò sát, hình dáng bên ngoài trông giống như con thạch sùng, nhưng to và dài hơn, nhiều con dài đến 2,5 - 3 m, nặng khoảng

10 kg Đầu kỳ đà hình tam giác nhọn về phía mõm, mắt có con ngươi thẳng đứng Kỳ đà có hai chân trước và hai chân sau, mỗi chân có 5 ngón tòe rộng, mặt dưới ngón có các nút bám để nó dễ leo trèo Màu sắc của kỳ đà thay đổi theo màu sắc của môi trường Đây là đặc điểm nổi bất của kỳ đà giúp chúng ngụy trang và săn bắt mồi

Trang 4

II MÔI TRƯỜNG SỐNG

Kỳ đà hoang dã có mặt ở hầu khắp các nước khí

hậu nhiệt đới, nhất là những vùng rừng núi và

thường sống trong những gốc cây, hốc đá, kẽ hở

đất, đá… ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi

kiếm ăn Kỳ đà thích ẩn mình trong các hang hốc,

thích ngâm mình, săn mồi nơi sông suối giống như

cá sấu

III ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN

Kỳ đà sinh trưởng, phát triển nhanh sau mỗi lần

lột lột da Sau mỗi lần lột da, nếu chăm sóc tốt, tốc

độ tăng trưởng của kỳ đà có thể tăng lên 2 - 3 lần

Kỳ đà có thể lột da mỗi năm một lần vào khoảng

tháng 8 đến tháng 10 Kỳ đà trưởng thành sau 18

tháng tuổi, có thể dài 2,5 m, nặng 7 - 8 kg và bắt đầu đẻ trứng

Trong tự nhiên, kỳ đà đẻ trứng mỗi năm một lứa, mỗi lứa 15 - 17 trứng và chỉ khoảng 35% trứng có khả năng nở con Nếu cho ấp trứng nhân tạo đảm bảo yêu cầu kỹ thuật thì tỷ lệ ấp nở có thể đạt 80 - 90%

Kỳ đà nếu được chăm sóc tốt, đúng kỹ thuật thì khoảng 4 tháng đạt trọng lượng 2kg, là con cái sẽ bắt đầu sinh sản, bình quân mỗi con đẻ từ 10 đến 12 trứng một đêm, cá biệt có con đẻ từ 16 đến 18 trứng một đêm Từ 300 con Kỳ đà giống có trọng lượng 8gam, sau 1 năm nuôi đến nay mỗi con có cân nặng

từ 5 đến 12 kg

Kỳ đà chuẩn bị sinh sản

Trang 5

BÀI 2

KỸ THUẬT NUÔI KỲ ĐÀ

I CHỌN CON GIỐNG

Bất kỳ nuôi con vật nào, chọn giống là công việc

hết sức quan trọng Nên chọn con giống to khỏe, có

kích thước trung bình trở lên

Cần phải nhận biết kỳ đà đực và kỳ đà cái Cách

nhận biết là lật ngửa bụng con kỳ đà để quan sát gốc

đuôi và lỗ huyệt:

- Kỳ đà đực: Gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi và

có gờ, khi bóp vào gốc đuôi sẽ thấy gai giao cấu

màu đỏ thẫm lòi ra ở lỗ huyệt

- Kỳ đà cái: Đuôi thon nhỏ, lỗ huyệt nhỏ lép,

khi bóp vào gốc đuôi không có gai giao cấu lòi ra

II LÀM CHUỒNG NUÔI

Chuồng nuôi kỳ đà có thể là chuồng lưới hay chuồng xi-măng, dài 3 - 4 m, rộng 2 - 3 m, cao 2 - 3

m, xung quanh tô láng để kỳ đà không bám tường leo ra ngoài Trong chuồng, có thể làm hang bêtông hoặc để sẵn một số ống cống phi 0,1 - 0,2 m, dài trên 4 m, đảm bảo môi trường thích hợp cho kỳ đà

ẩn trú, nghỉ ngơi và phòng tránh nắng nóng Chuồng nuôi kỳ đà phải có hệ thống thoát nước hợp lý để khi rửa chuồng hay xịt nước tắm cho kỳ đà, nước ứ đọng lại

Nên thiết kế chuồng nuôi kỷ đà ở vị trí phù hợp trong không gian xanh và sử dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý như rọi đèn điện, xây hang bằng bêtông

để đảm bảo nhiệt độ sống thích hợp cho chúng

Trang 6

III THỨC ĂN

Thức ăn của kỳ đà không quá cầu kỳ, chúng

thích ăn các loại thức ăn như nhái, cóc, thịt lợn,

trứng chim cút, sâu bọ, côn trùng như cào cào, châu

chấu, chuồn chuồn, cánh cam, nhện, mối, gián, ong,

bướm, cóc, … hoặc có thể tập cho kỳ đà ăn trứng

gia cầm, cua, tôm, cá hay thịt, lòng gia súc, gia

cầm… Các loại thức ăn này trước khi cho kỳ đà ăn

cần phải rửa sạch để đảm bảo sức khỏe cho kỳ đà

Tuy nhiên loại thức ăn khoái khẩu nhất của kỳ

đà mà hầu hết các giống thú khác đều chê, là xác

động vật đã chết lâu ngày bốc mùi hôi thối

Cách cho ăn: Vào lúc chiều tối thả mồi côn

trùng, sâu bọ hay chuột vào chuồng cho kỳ đà ăn

Mỗi con kỳ đà ăn khoảng 2 - 3 con chuột hay ếch

nhái… là đủ bữa cho cả ngày Tuy nhiên, trong

chuồng nên đặt sẵn máng đựng thức ăn, nước uống

cho kỳ đà ăn, uống tự do

Nước uống: Một con kỳ đà trưởng thành uống

khoảng 2 lít nước mỗi ngày Vì vậy nước trong

máng lúc nào cũng phải đầy để chúng uống tự do

Mỗi ngày nên thay nước mới cho kỳ đà

Chọn giống bố mẹ: Nên chọn kỳ đà nuôi được

1 năm, chọn những con bố mẹ to khỏe, không bị dị tật, không bị bệnh, nhốt chung chuồng bình thường,

tỷ lệ 1 đực 2 cái

II LÀM CHUỒNG CHO KỲ ĐÀ ĐẺ

Do đặc tính khi kỳ đà đẻ trứng, chúng thường ăn lại trứng, nên tỷ lệ trứng bị hao hụt rất nhiều, thậm chí ăn hết số trứng vừa đẻ ra Để khắc phục vấn đề này cần nghiên cứu và thiết kế độc quyền kiểu chuồng đẻ cho kỳ đà, tránh việc kỳ đà ăn lại trứng sau khi đẻ

Có thể thiết kế chuồng xây cao 1,5m (ở trên có lưới và mái che để cho kỳ đà không chui ra ngoài),

Trang 7

chiều rộng 1m, dài 2 m Đáy chuồng đổ cát dày

khoảng 20 – 30cm, sàn chuồng dùng lưới B40, hoặc

lưới mắt cáo vuông 4 cm, cách mặt cát 30cm Khi

kỳ đà đẻ, trứng sẽ rơi xuống cát, trứng không bị dập

vỡ và kỳ đà cũng không ăn trứng được

III CHO KỲ ĐÀ ĐẺ VÁ ẤP TRỨNG

- Khi sờ vào bụng kỳ đà cái, thấy trứng to gần

bằng trứng gà ri, lúc này bắt con cái riêng sang

chuồng đẻ Sau 15 ngày là kỳ đà bắt đầu đẻ, mỗi

con đẻ từ 14 – 15 trứng/lứa, một năm đẻ 2 lứa Lưu

ý: Khi kỳ đà đẻ xong, sau 2 giờ đồng hồ mới mang

vào phòng ấp Trước khi thu trứng phải đánh dấu

đầu trên của trứng, khi xếp trứng đầu trên phải quay lên trên

- Chuẩn bị phòng ấp: Trong phòng ấp cũng đổ cát dày 30cm, dùng hũ bằng sành cao 30cm, đường kính miệng hũ khoảng 22cm Xung quanh thành hũ khoan nhiều lỗ nhỏ (khoảng 1ly) để cát khỏi lọt vào Dưới đáy hũ lót cát 3cm, sau đó xếp trứng kỳ đà vào, không xếp trứng sát thành quá Trong miệng hũ có treo đồng hồ nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong hũ Trên miệng hũ dùng nắp hũ đậy ngược lại, chôn cả

hũ xuống nền cát, sau đó tiến hành tưới nước xung quanh hũ, để giữ độ ẩm Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở là 28-300C độ C, độ ẩm từ 80 – 90%

- Thời gian ấp khoảng 90 ngày là trứng nở, trong thời gian ấp cần kiểm tra thường xuyên nhiệt

độ trong hũ sành, tưới nước hoặc quạt gió để duy trì đúng nhiệt độ nở Nếu ấp trứng vào mùa động thì cần thắp đèn điện để tăng nhiệt độ

- Sau khi kỳ đà con nở được 2 ngày, tách chúng nuôi trong chuồng riêng và bắt đầu cho ăn Thức ăn chủ yếu là cá biển, ếch, nhái băm nhỏ cho ăn, từ khi

nở nuôi thêm 5 tháng là xuất bán giống được

IV CÁCH NUÔI KỲ ĐÀ CON

Trang 8

Đa số kỳ đà con vừa mới sinh ra đều biết chạy

Những con yếu thì nằm một chỗ Ta nên cho kỳ đà

con vào thùng carton và úm bằng bóng đèn điện

trong ngày đầu để chúng được yên tĩnh nghỉ ngơi

Qua ngày thứ hai, bắt đầu cho chúng ăn uống

Thức ăn của kỳ đà lúc này là thịt bò xắt nhỏ hoặc

cào cào, cá con,… Lưu ý là đối vời cào cào thì phải

ngắt bỏ hết chân

Trong tuần lễ đầu, mỗi ngày nên cho kỳ đà ăn

bốn năm bữa, cách vài ba giờ cho ăn một lần Qua

tuần sau, số bữa ăn trong ngày bớt lại dần

Kỳ đà con rất háu ăn, và nhờ thế mà chúng

nhanh lớn Chỉ cần nuôi và chăm sóc trong tháng

đầu Qua tháng thứ hai ta có thề nuôi chúng trong

chuồng như cách nuôi kỳ đà lớn

Nếu số lượng kỳ đà con nhiều, ta nên lựa ra

những con cùng lứa để nuôi chung nhằm tránh

trường hợp tranh giành thức ăn

BÀI 4 PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO KỲ ĐÀ

Kỳ đà là động vật hoang dã nên sức đề kháng cao, ít dịch bệnh Tuy nhiên, kỳ đà cũng thường bị một số bệnh như sau:

1 Chấn thương cơ học

Nếu kỳ đà bị chấn thương nhỏ thì bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn phải khâu Da kỳ đà có khả năng tái sinh nhanh nên chóng lành

2 Bệnh viêm cơ dưới da

- Biểu hiện: Dưới lớp da kỳ đà nổi những mụn

nước nhỏ bằng hạt ngô, hạt đậu, kỳ đà biếng ăn sau

Trang 9

4 Bệnh tiêu chảy

- Nguyên nhân: Bệnh tiêu chảy ở kỳ đà

thường do khẩu phần thức ăn cho chúng không đảm

bảo vệ sinh và không đảm bảo dinh dưỡng

- Điều trị: Có thể dùng thuốc điều trị tiêu chảy

hoặc bổ sung thêm thức ăn, nước uống đắng

- Phòng bệnh: Để phòng bệnh tiêu chảy, không

nên sử dụng các loại thức ăn bị ôi thiu, ẩm mốc và

phải cung cấp chế độ ăn đảm bảo dinh dưỡng

5 Bệnh ký sinh trùng đường ruột

- Biểu hiện: Kỳ đà còi cọc, chậm lớn, trong

phân có ấu trùng giun, sán

- Điều trị: Cần thiết phải xổ sán lãi cho kỳ đà.

chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn

đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng; chuồng trại

luôn sạch sẽ, không lầy lội, không nóng quá, lạnh quá

PHẦN II

KỸ THUẬT NUÔI DÔNG

Trang 10

BÀI 1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DÔNG

I ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

Dông là loài bò sát, tiếng địa phương gọi là kỳ

nhông, có nơi còn gọi là nhông Dông có nhiều

giống, dông vùng đất cát gọi là dông cát benly Tên

Latin: Leiolepis belliana Họ: dông Agamidae Bộ:

Có vảy Squamata

Dông sống trên đất cát ven biển, phù hợp với

các vùng đất ven biển miền Trung nước ta

Vóc dáng: Dông gần giống con tắc kè, da hồng

đỏ, trên lưng có lớp gai chạy dọc theo xương sống

và dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam

II MÔI TRƯỜNG SỐNG

Dông là một loại bò sát, sống thích nghi ở vùng đất cát tự nhiên ven biển của các tỉnh dọc duyên hải miền Trung như Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ như Bà Rịa Vũng Tàu,… nơi có nhiều cánh đồng cát trắng mênh mông mới có dông tập trung sinh sống

Trang 11

Loài bò sát này thường ra khỏi hang để sưởi ấm

vào buổi sáng để điều hoà nhiệt độ cơ thể (chúng

thuộc loài máu lạnh), tìm thức ăn và gây ấn tượng

đối với các con cái xung quanh cả ngày, rồi rút vô

hang vào xế chiều, đóng cửa hang lại bằng cát

1 Trong môi trường tự nhiên

- Trong môi trường tự nhiên, dông thường

sống ở các đồi cát ven biển hoặc các gò đồi, nương

rẫy ở khu vực đồng bằng Chúng thường tập trung ở

các bãi hoang, các cây bụi, các khu vực trồng phi

lao, trồng keo, các ruộng hoa màu, các nghĩa địa và

bãi đất hoang

2 Sống trong hang

- Dông tự đào hang, hang của chúng ngoằn

nghoèo, có cái sâu tới 1m, dài tới 2m Cũng có hang

chúng mở thêm ngách phụ để thoát hiểm Vì hang ở

sâu trong lòng đất nên nhiệt độ trong hang thường

chênh lệch nhiều so với bên ngoài Đây cũng là nơi

điều hòa nhiệt độ (mùa hè thì mát, mùa đông thì

ấm) Nhiệt độ trong hang rõ ràng ổn định hơn nhiệt

độ bên ngoài

- Một yêu cầu bắt buộc mà dông cần đó là độ

ẩm Trong điều kiện khô hạn, dông phải đào hang

sâu xuống dưới lòng cát để tận hưởng độ ẩm trong lòng đất Dông thường lui tới các gốc cây, các bụi cây để đào hang Nhờ lá cây che chắn mà độ ẩm ở

đó khá hơn những chỗ trơ trụi Tuy nhiên, dông không sống được ở những nơi sũng nước hoặc nước thoát chậm Vì vậy mà khi làm chuồng nuôi dông cần phải hết sức lưu ý tới điều này

Trang 12

III CÁC LOÀI DÔNG

1 Loài nhông cát Gutta (nhông hoa)

Con đực có thân dẹp, da 2 bên sườn có thể bạnh

ra khi cần thiết Da có vẩy nhỏ, phần da phía trên cơ

thể có màu phân ngựa, mặt bụng có màu trắng đục

Hai bên sườn có 2 dãy chấm màu da cam

Con cái không có nếp da bạnh ra ở 2 bên sườn

Các chấm màu vàng trên lưng xếp thành dãy chạy

từ sau gáy đến gốc đuôi

Loài nhông này có ở nhiều vùng duyên hải Nam

Trung bộ

2 Loài nhông cát Geun (nhông sọc)

Thân dẹp theo hướng lưng bụng, không có gai trên đầu Vảy lưng nhỏ, vảy ở mặt bụng lớn hơn ở đùi Mặt lưng có những chấm màu ô liu hình lục giác, có 4 sọc màu vàng nhạt chạy song song với nhau từ phần trước ra phần sau cơ thể

Loài này có ở các tỉnh từ Quảng Trị đến Khánh Hòa

3 Loài nhông cát Benli

Giống nhông này có đặc điểm là có các đốm nhỏ trên lưng không liền nhau để tạo ra những đường dọc, chạy dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam Loài nhông này có nhiều ở Kiên Giang

Trang 13

4 Loài nhông cát Rivơ

Loài này tương tự loài Benli nhưng nó khác ở

chỗ là có các đốm trên lưng to hơn tạo thành một

mạng liên tục

Có các đường kẻ theo chiều dài rõ rệt phía trước đôi chân sau, hoa văn bên hông thân không nhiều Loài này phân bố chủ yếu ở các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Trị

IV QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG CỦA DÔNG

1 Dông hoạt động theo mùa

- Mùa hoạt động: Dông thường hoạt động vào mùa nắng ấm, từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này điều kiện nhiệt độ không khí thường 27-380C, nhiệt

độ mặt đất thường 27-390C, độ ẩm khoảng 30-80% Những ngày mưa thì dông ngừng hoạt động Thậm chí khi có giông hay trời âm u là chúng tìm đường trú ẩn Dông không chịu được nhiệt độ lạnh, khi nhiệt độ ngoài trời xuống 24-250C và độ ẩm lên trên 90% là chúng đã tìm đường đi trú

- Mùa trú đông: Mùa trú đông của dông cát thường là từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Vào thời kỳ này, nhiệt độ ngoài trời xuống dưới 250C và

độ ẩm có lúc lên tới 85-900C Mùa này dông thường lấp cửa hang và nằm lì trong hang Tới mùa xuân khi nắng ấm về, nhiệt độ lên cao dần, dông mới chui

ra khỏi hang để kiếm ăn

2 Thời gian hoạt động của dông

Trang 14

- Dông hoạt động vào ban ngày, buổi sáng lúc

8-9 giờ chúng ra khỏi hang, tới 1 – 2 giờ chiều thì

chúng lại vào hang Dông rất cảnh giác, chúng

không bao giờ nhảy ngay lên mặt đất, chúng thường

thò đầu ra khỏi hang nghe ngóng rất kỹ, có khi tới 5

-10 phút, sau đó mới chui ra phơi nắng Chúng phải

tăng cường tích nhiệt dưới ánh sáng mặt trời, một

lúc sau mới đi kiếm ăn

- Thời gian hoạt động của dông không nhiều,

trung bình một ngày chúng chỉ chui ra khỏi hang

4-5 giờ để đi kiếm ăn Thời gian còn lại chúng ằm yên

trong hang để tiết kiệm năng lượng

V ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ HIỆN

TƯỢNG LỘT XÁC CỦA DÔNG

- Sự sinh trưởng: Dông sinh trưởng nhanh, mau lớn và rất ít bị dịch bệnh Hiện nay một số người nuôi dông có phát hiện dông thường bị bệnh

sổ mủi vào mùa lạnh nhưng tự khỏi Tỷ lệ sống của dông khá cao, đạt từ 90 - 95%

- Hiện tượng lột xác: Lột xác là một hoạt động sinh lý bình thường và cần thiết cho quá trình phát triển của cơ thể dông Thậm chí lột xác còn là một chỉ tiêu quan trọng biểu thị trạng thái sức khỏe của chúng Dông muốn lớn phải lột xác, chúng lột xác nhiều lần trong năm Đặc biệt vào mùa hoạt động, chúng lột xác liên tục, lúc đó chúng ăn khỏe và lớn nhanh Trong điều kiện tự nhiên, các nhà khoa học

đã xác định được tần suất lột xác ở dông cát trung bình là:

+ Con cái: 7.83 lần/mùa hoạt động+ Con đực: 8.15 lần/mùa hoạt động+ Quá trình lột xác diễn ra trong 3 thời kỳ Mỗi thời kỳ có những biểu hiện khác nhau

1 Thời kỳ chuẩn bị lột xác (khoảng 3 - 6 ngày)

- Thời kỳ này da dông ở 2 bên sườn, ở các chấm

ô van trên lưng và ở cổ có màu vàng cam Mặt trên của các chi cũng sẽ chuyển sang màu vàng đậm Phần da màu trắng xám dưới bụng, dưới chi và đuôi

sẽ chuyển màu xám tối

Ngày đăng: 16/10/2014, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w