1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sơ lược về xếp hạng các trường đại học

122 545 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc “chấm điểm” của hệ thống USNWR chủ yếu dựa trên hai nguồn thông tin chính: ý kiến của các học sinh tốt nghiệp trung học, những ngườithường đã cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Đức Nghĩa, người thầy đã tận tình định hướng, hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin và Viện đào tạo Sau đại học, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giảng dạy, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học này.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan và bạn bè đã cổ

vũ, động viên tôi trong suốt khóa học.

Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2008

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 7

MỞ ĐẦU 8

Chương 1: Tổng quan về các hệ thống xếp hạng 11

1.1 Các hệ thống xếp hạng quốc gia 11

1.1.1 Mỹ: Tin tức nước Mỹ và thế giới 11

1.1.2 Anh: Phụ trương giáo dục đại học của báo Times 14

1.1.3 Australia: Cẩm nang các trường đại học đạt chất lượng 16

1.1.4 Canada: Xếp hạng của Macleans 17

1.2 Các hệ thống xếp hạng quốc tế 18

1.2.1 Hệ thống xếp hạng quốc tế của SJTU 18

1.2.2 Hệ thống xếp hạng quốc tế của THES 19

1.2.3 Hệ thống xếp hạng Webometrics 21

1.3 Thực tiễn vấn đề xếp hạng tại Việt Nam 22

1.3.1 Bối cảnh kinh tế và xã hội 22

1.3.2 Thực tiễn vấn đề xếp hạng các trường đại học ở Việt Nam 24

1.3.3 Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ Giáo dục & Đào tạo - 2007

30 1.4 Kết chương 34

Chương 2: Các phương pháp xếp hạng 37

2.1 Phương pháp xếp hạng theo dữ liệu thống kê thu thập được 37

2.1.1 Phương pháp xếp hạng theo USNWR 37

2.1.2 Phương pháp xếp hạng theo THES 37

Trang 3

2.1.3 Phương pháp xếp hạng theo GUG 37

2.1.4 Phương pháp xếp hạng theo Macleans 37

2.1.5 Phương pháp xếp hạng theo SJTU 37

2.2 Phương pháp xếp hạng từ việc khai phá thông tin trên Web 37

2.2.1 Cơ sở của phương pháp 37

2.2.2 Mục đích của việc xếp hạng 39

2.2.3 Các chỉ tiêu về thiết kế và định lượng 42

2.2.4 Tập hợp và xử lý dữ liệu 44

2.2.5 Biểu diễn kết quả xếp hạng 45

2.3 Khai phá Web 46

2.3.1 Kiến trúc khai phá Web 48

2.3.2 Phân loại khai phá Web 50

2.3.3 Một số công dụng của khai phá Web 52

2.3.4 Một số kỹ thuật khai phá Web thông dụng 53

2.4 Kiến trúc trang Web 54

2.4.1 Cơ sở về HTML và HTTP 54

2.4.2 Cơ sở về crawling 55

2.4.3 Công nghệ crawler cỡ lớn 57

2.4.4 Tập hợp lại thành một Crawler 66

2.4.5 Tóm lược 66

2.5 Tìm kiếm trên Web và trích chọn thông tin 66

2.5.1 Truy vấn Bool và chỉ số nghịch đảo 67

2.5.2 Thứ hạng liên quan 73

2.5.3 Tìm kiếm tương đồng 84

2.6 Kết chương 87

Chương 3: Hiện trạng và đề xuất cải tổ website các trường đại học Việt

Trang 4

Nam 88

3.1 Hiện trạng website của các trường đại học Việt Nam 88

3.1.1 Về hình thức 90

3.1.2 Về nội dung 93

3.2 Thứ hạng các trường đại học Việt Nam theo Webometrics 95 3.3 Cải tổ website các trường ĐH Việt Nam để phản ánh đúng hiện trạng của trường 99

3.3.1 Đặt tên URL 101

3.3.2 Nội dung: tạo lập 102

3.3.3 Nội dung: Chuyển đổi 103

3.3.4 Kết nối với nhau 103

3.3.5 Ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Anh 104

3.3.6 Các file văn bản và đa phương tiện 104

3.3.7 Thiết kế thân thiện với công cụ tìm kiếm 104

3.3.8 Tính phổ biến và thống kê 104

3.3.9 Lưu trữ và duy trì 105

3.3.10 Tiêu chuẩn nâng cao chất lượng các site 105

Chương 4: Kết luận và hướng phát triển 106

Tài liệu tham khảo 107

Phụ lục

108 A - Các tiêu chí xếp hạng đại học tại Ka-dắc-tan 108

B - Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị) 112

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT USNWR Báo tin tức nước Mỹ và thế giới

THES Phụ trương giáo dục của Anh

GUG Cẩm nang các trường đại học chất lượng tại

Canada

SJTU Đại học Giao thông Thượng Hải

ARWU Bảng xếp hạng học thuật các trường ĐH trên

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Các chỉ tiêu xếp hạng của USNWR

Bảng 1.2 Chỉ tiêu xếp hạng của THES – cấp quốc gia

Bảng 1.3 Chỉ tiêu xếp hạng của GUG

Bảng 1.4 Các chỉ tiêu xếp hạng của Macleans

Bảng 1.5 Các chỉ tiêu xếp hạng của SJTU

Bảng 1.6 Các chỉ tiêu xếp hạng của THES – bảng xếp hạng quốc tế Bảng 3.1 Thống kê lượng thông tin văn bản trên website một số trường đại học

Bảng 3.2 Xếp hạng Đông Nam Á tháng 7 năm 2007

Bảng 3.3 Xếp hạng Đông Nam Á tháng 1 năm 2008

Bảng 3.4 Xếp hạng Đông Nam Á tháng 7 năm 2008

Bảng 3.5 Thay đổi về thứ hạng trên Webometrics của một số trường đại học

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1 Mối tương quan thuận giữa các bảng xếp hạng của SJTU, THES, Webometrics năm 2008

Hình 2.1 Quy trình phát hiện tri thức

Hình 2.2 Phân loại khai phá Web

Hình 2.3 Phân loại khai phá nội dung Web theo hướng tiếp cận dựa trên tác nhân.

Hình 2.4 Sử dụng truy vấn header “If-modified-since”

Hình 2.5 Một số site với các thông tin nhanh về thời gian gửi một thuộc tính Expires trong tiêu đề phản hồi Http

Hình 2.6 Hai dạng khác nhau của cấu trúc dữ liệu chỉ số nghịch đảo Hình 2.7 Cách thức các chỉ số được duy trì trong tập hợp động.

Hình 3.1 Thứ hạng trên Alexa: NUS, ĐH Bách Khoa HN, ĐH Khoa học

tự nhiên TP HCM

Hình 3.2 Giao diện trang chủ website của trường đại học Thương mại

Hà nội

Hình 3.3 Giao diện trang chủ website trường đại học An Giang

Hình 3.4 Giao diện trang chủ website trường đại học Cần Thơ

Hình 3.6 Một phần trang web giới thiệu mảng nghiên cứu khoa học của trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM

Hình 3.7 Kết quả tìm kiếm trên Google theo các sites

Trang 8

MỞ ĐẦU

Nhiều người phương Tây khi đến nước ta đều ghi nhận một điều rằngchúng ta có một nguồn nội lực rất lớn chưa được khai thác, đó là: con ngườiViệt Nam Tiêu biểu cho nhận xét này, nhà báo Seth Mydans của tờ NewYork Times từng viết rằng nếu nguồn nội lực này được khai thác, Việt Nam

sẽ làm cho các nước châu Á khác phải hổ thẹn Điều đó có thể chưa chứngminh được ngay, nhưng sự có mặt của người Việt trên khắp thế giới, đã chothấy một sự thật là: những người Việt, nếu có cơ hội công bằng cũng có thể -trong bất cứ lĩnh vực nào - đứng ngang hàng với bất cứ dân tộc nào trên thếgiới

Chúng ta có thể tìm hiểu nguồn lực con người Việt Nam hiện nay đangđược xây dựng vun đắp như thế nào Việc xây dựng nguồn lực chủ yếu là quagiáo dục, mà bộ phận điển hình là giáo dục đại học

Bản báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới đã nhận định giáo dụcViệt Nam đang có một khoảng cách khá xa so với các quốc gia trong vùng,bởi vì chỉ có 2% dân số có số năm đi học bằng hoặc hơn 13 năm, và ViệtNam cũng được xếp hạng chót trong vùng về số người trong độ tuổi 20-24đang theo học đại học: chỉ 10% Thêm vào đó (và quan trọng hơn nhiều) là

“sự thất bại về cơ bản của hệ thống giáo dục nằm ở chỗ nó không đủ năng lựcđáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cũng như khuyến khích tri thức vàđổi mới” Hiển nhiên là đang có sự khủng hoảng trong giáo dục đại học ViệtNam, do vậy nhu cầu thay đổi cũng đang trở thành cấp bách hơn bao giờ hết Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa và cạnh tranh để tồn tại, cáctrường đại học Việt Nam cần xác định mình đang ở đâu trong tương quan sosánh với các trường cùng loại trong nước, trong khu vực và trên thế giới, từ

đó xác lập những cột mốc làm mục tiêu phát triển cho mỗi chặng đường Vấn

đề xếp hạng các trường đại học và xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế,

Trang 9

hay đại học đạt tầm quốc tế mới nổi lên trong mấy năm gần đây trong sốnhững vấn đề về đổi mới hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục

Sơ lược về lịch sử xếp hạng trường đại học

Chất lượng giáo dục đại học được xem là đòn bẩy quan trọng vào bậcnhất để thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia, và là nguồn đầu tư mang lạilợi ích lớn nhất đối với từng cá nhân Vì vậy, việc xếp hạng các trường đạihọc để xác định vị trí cao thấp của các trường hiện đang là một chủ đề nóngtrong lãnh vực quản lý giáo dục đại học trên thế giới, mặc dù xét về mặt lịch

sử, xếp hạng trường không phải là một việc làm mang tính hàn lâm

Bắt đầu từ giới truyền thông, chủ yếu từ nước Mỹ, các bảng xếp hạng

trường đại học chỉ đơn thuần nhằm mục đích cung cấp những chỉ dẫn nhanh

cho người tiêu dùng khi mua mọi loại dịch vụ, kể cả dịch vụ giáo dục (rượuvang hiệu nào ngon nhất, xe hơi nào chạy ít tốn xăng nhất, trường nào có dịch

vụ cho sinh viên tốt nhất…)

Tuy nhiên, tác động của các kết quả xếp hạng trường đại học đối vớiđông đảo độc giả khiến cho các nhà nghiên cứu trong lãnh vực giáo dục cảmthấy có trách nhiệm phải vào cuộc Mục tiêu đầu tiên của giới khoa học là đểtìm hiểu cơ sở khoa học của những kết quả này (vốn còn rất nhiều điều hạnchế), từ đó đưa ra những nhận định về giá trị (trong thời gian đầu chủ yếumang tính phê phán) và đưa ra những biện pháp cần thực hiện để cải thiệnchất lượng của các kết quả xếp hạng

Để minh họa cho những cải thiện có thể có khi thực hiện đánh giá theonhững phương pháp tốt hơn, một số cơ sở nghiên cứu giáo dục đã tham giathực hiện việc xếp hạng theo những cách làm mà theo lập luận của họ là có cơ

sở khoa học, và vì thế, có giá trị tham khảo tốt hơn và công bằng hơn đối vớicác trường được xếp hạng Sự tham gia của các nhà khoa học vào hoạt độngxếp hạng trường đã giúp cho việc thực hiện xếp hạng ngày càng được cải

Trang 10

thiện và trở thành một nguồn thông tin tham khảo nhanh chóng và tương đối

có ý nghĩa đối với tất cả các bên có liên quan – từ các sinh viên tiềm năng cầnthông tin để chọn trường, đến các nhà tuyển dụng cần sử dụng sản phẩm giáodục, cũng như các nhà lãnh đạo và quản lý các trường đại học để so sánh hiệuquả và chất lượng của mình với các trường tương tự

Song song với xu hướng ngày càng chấp nhận giá trị tham khảo của cáckết quả xếp hạng trường đại học, vẫn còn không ít ý kiến – chủ yếu từ giớiquản lý các trường đại học, một phần không nhỏ trong số này là những trường

có hạng thấp hoặc không đạt được vị trí mà họ mong muốn – tiếp tục phêphán kịch liệt việc sử dụng kết quả xếp hạng để đánh giá chất lượng cáctrường Lập luận của những người này thường xoay quanh những bất cậptrong việc sử dụng các chỉ tiêu mang tính định lượng trong việc xếp hạng.Những lập luận chống lại việc xếp hạng trường của những người này khôngphải là không hợp lý, vì dù cho đã được cải thiện, thì việc xếp hạng một thựcthể hết sức đa dạng và phức tạp như các trường đại học là điều hầu như khôngthể thực hiện được một cách hoàn hảo

Việc xếp hạng như một công cụ không tự nó mang lại lợi ích hay nhữngđiều nguy hại cho người sử dụng, mà quan trọng là nó được sử dụng như thếnào, hiệu quả của hệ thống xếp hạng phụ thuộc chủ yếu vào người sử dụng.Cũng như bất kỳ một công cụ nào khác, muốn sử dụng hiệu quả của việc xếphạng thì người sử dụng ít nhất phải có những hiểu biết cơ bản về công cụ đó Chúng ta sẽ khảo sát một số hệ thống xếp hạng các trường đại học trênthế giới, cụ thể là ở Hoa Kỳ, châu Âu, và châu Á, từ đó rút ra ý nghĩa của vấn

đề xếp hạng và định hướng trên cơ sở thực tiễn của Việt Nam

Tóm tắt nội dung luận văn

Trang 11

Chương 1: Tổng quan về các hệ thống xếp hạng

Chương này tìm hiểu về các hệ thống xếp hạng quốc gia và quốc tế phổ biến trên thế giới Muốn sử dụng hiệu quả việc xếp hạng thì người sử dụng ít nhất phải có những hiểu biết cơ bản về công cụ đó, từ việc tìm hiểu các hệ thống xếp hạng kết hợp với thực tiễn xếp hạng các tổ chức giáo dục tại Việt Nam, tác giả sẽ đưa hướng xếp hạng thuận lợi cho việc thực hiện trong thực

tế

Các hệ thống xếp hạng quốc gia

Trong các hệ thống xếp hạng các trường đại học ở quy mô quốc gia, cóthể nói đi đầu trong việc sử dụng phương pháp xếp hạng là khu vực các nướcnói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh, Australia, Canada, và Mỹ Điều này cũng dễhiểu, vì khu vực này cũng là khu vực hàng năm thu hút lượng người học ở cácnước khác đến theo học ở bậc đại học cao nhất trên thế giới, và nhu cầu cungcấp thông tin so sánh để làm nguồn tham khảo nhanh chóng cho người học vềcác trường đại học trong nước là một nhu cầu có thật Ngoài ra, trong một vàithập niên gần đây, việc xếp hạng cũng ngày càng trở nên phổ biến hơn ở cácnước châu Âu khác như Đức, Hà Lan Riêng tại châu Á, trừ hai hệ thống xếphạng các trường đại học trên toàn thế giới sẽ được đề cập ở phần sau, thì việcxếp hạng các trường đại học vẫn chưa mấy phổ biến Dưới đây là một số hệthống xếp hạng trường đại học tiêu biểu của các nước nói tiếng Anh

1.1 Mỹ: Tin tức nước Mỹ và thế giới

Hệ thống xếp hạng các trường đại học của Mỹ được nhắc đến nhiều nhất

ở trong cũng như ngoài nước là ấn phẩm Tin tức nước Mỹ và thế giới (US News and World Report, viết tắt là USNWR) Xuất hiện lần đầu tiên năm

1983 tại Mỹ, ấn phẩm cung cấp thông tin xếp hạng thường niên của tờ báonày là một nguồn tham khảo quan trọng không chỉ riêng cho người học mà

Trang 12

còn cả các giới khác, kể cả giới hàn lâm cũng như giới quản lý của các trườngđại học Việc xếp hạng được phân theo các ngành học – Kinh doanh, Luật, Y,Giáo dục, Kỹ thuật, Thư viện học, và các chương trình đào tạo Tiến sĩ Các

chỉ tiêu (indicators) được USNWR sử dụng để xếp hạng bao gồm: danh tiếng học thuật, chọn lọc sinh viên, nguồn lực đội ngũ, nguồn lực tài chính, tỷ lệ tốt nghiệp, và sự hài lòng của cựu sinh viên.

Việc “chấm điểm” của hệ thống USNWR chủ yếu dựa trên hai nguồn

thông tin chính: ý kiến của các học sinh tốt nghiệp trung học, những ngườithường đã cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định chọn học tại một trường cụthể nào đó, và ý kiến đánh giá của các nhà quản lý các trường đại học khác(không phải là trường được xếp hạng)

Mục tiêu của việc xếp hạng các trường có thể rất khác nhau ở nhữngnước khác nhau, cũng như đối với các loại trường khác nhau US News &World Report khẳng định rằng mục đích của họ là giúp sinh viên và phụhuynh xác định trường nào là phù hợp với họ về mặt học thuật, xã hội, và tàichính (Morse và Flanigan 2002) [1] Để kiểm soát sự lộn xộn, trước hết họchia các trường thành 4 loại dựa trên sự phân loại của Carnegie: đại học quốcgia, đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, đại học vùng, đại học khoahọc xã hội nhân văn vùng Các trường cấp vùng được chia thành 4 nhóm:Bắc, Nam, Trung Tây và Tây Việc xếp hạng được xây dựng dựa trên sinhviên kiểu truyền thống nhập học sau khi tốt nghiệp phổ thông, tức trongkhoảng 18-24 tuổi, học toàn thời gian và có thể đã nộp đơn xin học nhiềutrường khác trước khi lựa chọn trường này Các chỉ tiêu dùng để xác định chất

lượng đào tạo như trong Bảng 1.1 sau:

Bảng 1.1: Các chỉ tiêu xếp hạng của USNWR

số

Trang 13

1 Danh tiếng học thuật (academic excellence)

qua thăm dò ý kiến của hiệu trường, khoa trưởng 25%

2 Tỉ lệ sinh viên bỏ học và tỉ lệ tốt nghiệp 20%

3

Cơ sở vật chất (qui mô lớp học, lương bổng giáo sư, trình độ giáo sư, tỉ lệ giáo sư toàn thời gian)

20%

5 Chi tiêu của nhà trường tính trên mỗi sinh

Trong những năm gần đây, xếp hạng các trường đại học trở thành mộtvấn đề gây tranh luận ở Hoa Kỳ Một mặt, mỗi trường đều có tính chất đặctrưng riêng và những dịch vụ chỉ riêng họ mới có và khó mà so sánh với nhau.Mặt khác, các trường vẫn tiếp tục khẳng định tính ưu việt về một số mặt nhấtđịnh và mong muốn chứng minh điều này bằng những sự kiện cụ thể đối vớisinh viên và các nhà tài trợ

Hầu như tất cả các nhà quản lý, kể cả các nhà quản lý của những trườngthuộc hàng đỉnh cao, đều đồng ý rằng việc xếp hạng không tạo ra hiệu quảcho các trường, đồng thời họ thừa nhận rằng sinh viên và phụ huynh rất chú ýtới kết quả xếp hạng này khi cân nhắc việc lựa chọn trường của họ (Bain vàCummings 2002)

Ở Hoa Kỳ, các ấn bản về việc xếp hạng đại học trên các báo US News

Trang 14

and World Report, Gourman Report, Newsweek đang nhắm vào số người đọcrất lớn, và có một ảnh hưởng rất mạnh đối với quyết định chọn trường củasinh viên ngay cả khi phương pháp xếp hạng bị cho là không hoàn thiện vàthay đổi hàng năm (Crissey 97; Selingo 97) Mel Elfin, thư ký tòa soạn của ấnbản “Các trường đại học tốt nhất của nước Mỹ”, một phụ trương hàng nămthực hiện việc xếp hạng các trường đại học, đã có lần nói: “Chúng tôi hoạtđộng trên quan điểm vấn đề uy tín, vì cái tên trường mà bạn tốt nghiệp xuấthiện trên lý lịch của bạn có thể mở ra nhiều cánh cửa cơ hội và gây ấn tượngvới người khác” (Sharp 1995)

Tổng hợp kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong việc xếp hạng, có thể kết luậnrằng việc xếp hạng đóng một vai trò quan trọng trong việc thông tin cho côngchúng về phẩm chất của từng trường, sự không hoàn thiện trong việc xếphạng có thể được bù đắp nhờ kiểm định chuyên nghiệp, cho dù kết quả kiểmđịnh chuyên nghiệp không đến được với công chúng một cách rộng rãi như làkết quả xếp hạng

1.2 Anh: Phụ trương giáo dục đại học của báo Times

Tương tự như hệ thống xếp hạng USNWR của Mỹ, hệ thống xếp hạng

phổ biến nhất nước Anh cũng được thực hiện bởi một cơ quan truyền thông là

báo Times qua ấn phẩm Phụ trương giáo dục đại học của báo Times (gọi tắt

là Phụ trương báo Times, tiếng Anh là Times Higher Education Supplement,viết tắt là THES), bắt đầu từ năm 2001

Khác với USNWR sử dụng thông tin do chính các trường được xếp hạng cung cấp và kết quả khảo sát sinh viên, THES sử dụng các nguồn dữ liệu

được công bố chính thức để thực hiện việc xếp hạng Các nguồn dữ liệu được

THES sử dụng gồm có:

 Cơ quan Thống kê giáo dục đại học (Higher Education StatisticsAgency);

Trang 15

 Hội đồng Ngân sách giáo dục đại học (Higher EducationFunding Council);

 Cơ quan Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance Agency);

 Cục Tiêu chuẩn giáo dục (Office for Standards in Education);

 Kết quả khảo sát riêng đối với một số trường đại học

Những chỉ tiêu được THES sử dụng để xếp hạng trường đại học bao gồm

10 loại như sau: điểm thi đầu vào, tỷ lệ giảng viên và sinh viên, dịch vụ nhà ở cho sinh viên, tỷ lệ tốt nghiệp, số lượng sinh viên đạt điểm A, giá trị tăng thêm của nhà trường, chi tiêu cho thư viện, số lượng sinh viên sau đại học, và việc làm của sinh viên sau khi ra trường So với các chỉ tiêu của USNWR, có thể thấy THES chú trọng nhiều hơn đến quá trình đào tạo của nhà trường, và

vì vậy có thể là một nguồn tham khảo đầy đủ hơn cho người học so với hệthống của USNWR

Ở Vương quốc Anh, việc xếp hạng 170 trường công lập do Hội đồngDuyệt cấp Ngân sách Giáo dục Đại học thực hiện Mục đích là xây dựngnhững tiêu chí thích hợp có khả năng nhận diện được sự đa dạng của các loạitrường và đồng thời diễn đạt được những yêu cầu của các bên liên quan cùngvới những mối quan tâm khác nhau của họ đối với giáo dục đại học Khi cónhiều bên liên quan khác nhau, có thể đồng ý rằng khó lòng mà thỏa mãnđược tất cả mọi bên lập tức, và những yêu cầu của Nhà nước, của Hội đồngDuyệt cấp Ngân sách, và của các trường phải được xem xét trước hết

Bảng 1.2: Chỉ tiêu xếp hạng của THES – cấp quốc gia

Trang 16

3 Phần trăm giáo sư là người nước ngoài 5%

4 Phần trăm sinh viên là người nước ngoài 5%

6 Số lần trích dẫn tính trên đầu mỗi giáo sư 20%

Tuy vậy, các tiêu chí để đạt đến kết quả cũng được công chúng rất quantâm Những tiêu chí này được đặt ra nhằm cung cấp những phương pháp đolường thích hợp để có được những thông tin có thể tin cậy về thực chất vàhoạt động của các trường đại học ở Anh quốc Người ta tin rằng bản báo cáodựa trên các tiêu chí này góp phần công bố trách nhiệm của các trường, cũngnhư đảm bảo rằng những quyết định về mặt chính sách sẽ được đưa ra trên cơ

sở những thông tin thích hợp và đáng tin cậy Các tiêu chí rơi vào 5 phạm trùsau: tiêu chí về tiếp cận, nghĩa là, tỉ lệ nhập học của những nhóm có hoàncảnh bất lợi; tỉ lệ bỏ học của sinh viên năm thứ nhất; tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp;

tỉ lệ hoàn thành các học phần đã đăng ký đối với sinh viên học bán thời gian;

số lượng công trình nghiên cứu được hoàn thành; và số sinh viên tìm đượcviệc làm Các tiêu chí này về cơ bản liên quan đến sinh viên chính quy, một

số tiêu chí chỉ giới hạn trong số sinh viên chính quy theo học bằng đại học thứnhất Bảng các tiêu chí cho phép chúng ta so sánh trực tiếp giữa các trường,cũng như giữa từng trường với cả hệ thống Tuy vậy, Hội đồng Duyệt cấpNgân sách tỏ ra rất thận trọng trong việc so sánh giữa các trường khác nhau

và cảnh báo rằng những khác biệt giữa các trường được công bố trong cácbảng xếp hạng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, ít ra là do sựchênh lệch chất lượng đầu vào của sinh viên Tương tự như vậy, sự khác biệt

so với chuẩn trung bình của hệ thống có thể là do đặc điểm của lĩnh vựcnghiên cứu và tiêu chuẩn chất lượng đầu vào khác nhau ở từng trường(Higher Education Statistics Agency 2003)

Tổng quát, việc xếp hạng trường đại học ở Anh có những ứng dụng giới

Trang 17

hạn mặc dù khá quan trọng, và thu hút sự chú ý của các tổ chức tài trợ hơn làcủa công chúng

1.3 Australia: Cẩm nang các trường đại học đạt chất lượng

Cũng là một sản phẩm của giới truyền thông, ấn phẩm nêu thông tin xếp

hạng trường đại học của Australia có tên là Cẩm nang các trường đại học đạt chất lượng (tiếng Anh là Good Universities Guide, viết tắt là GUG) do tờ nhật báo The Australian thực hiện Tương tự như THES, GUG sử dụng các thông

tin chính thức từ 5 nguồn cung cấp sau đây:

 Bộ Giáo dục, Khoa học và Đào tạo;

 Ấn phẩm “Nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp”;

 Trung tâm tuyển sinh đại học ở từng tiểu bang;

 Các bộ dữ liệu quốc gia khác;

 Kết quả khảo sát riêng với các trường đại học

Các chỉ tiêu được GUG sử dụng để xếp hạng gồm 16 loại, trong đó có uy thế và vị trí của nhà trường, các hoạt động hợp tác quốc tế, giảng dạy và các khóa học, việc làm sau tốt nghiệp, và đặc điểm của sinh viên, xem Bảng 1.3.

Những chỉ tiêu này cũng phản ánh quan điểm chú trọng đến người học và quátrình học tập tại nhà trường hơn hệ thống xếp hạng của USNWR

Trang 18

Bảng 1.3: Chỉ tiêu xếp hạng của GUG

15%

2 Điểm chuẩn để tuyển chọn sinh viên 20%

3 Chi tiêu toàn trường tính trung bình trên mỗi

5 Tỉ lệ sinh viên xuất thân từ thành phần kinh tế

1.4 Canada: Xếp hạng của Macleans

Một sản phẩm khác của giới truyền thông là việc xếp hạng các trường do

tạp chí phổ thông của Canada mang tên Macleans thực hiện Kết quả xếp hạng do Macleans thực hiện được công bố lần đầu tiên vào năm 1991 Macleans thu thập 22 chỉ tiêu về chất lượng trường đại học bằng cách gửi các

phiếu hỏi đến các trường đề nghị cung cấp thông tin Các chỉ tiêu dùng để xếp

hạng gồm có sinh viên, lớp học, giảng viên, tài chính, thư viện, và danh tiếng của cựu sinh viên, xem Bảng 1.4 Những chỉ tiêu này cho thấy ảnh hưởng khá

lớn của USNWR đối với Macleans, hay có thể nói cách khác là phản ánhkhuynh hướng xếp hạng trường đại học của các nước Bắc Mỹ (Mỹ vàCanada) so với các nước Anh và Australia

Bảng 1.4: Các chỉ tiêu xếp hạng của Macleans

số

2 Qui mô lớp học và liên lạc giữa giáo sư và sinh

3 Trình độ và danh tiếng của đội ngũ giảng viên 17%

Trang 19

Thượng Hải (tiếng Anh là Shanghai Jiao Tong University, viết tắt là SJTU) và

Bảng xếp hạng các trường đại học quốc tế của THES

1.5 Hệ thống xếp hạng quốc tế của SJTU

Trong quá trình phát triển với tốc độ rất nhanh của mình, Trung Quốcnhận thấy rằng họ cần phải cấp tốc nhân lên nguồn nhân lực có bằng cấp chấtlượng cao Họ đã thực hiện một dự án lớn, với 8 nhà nghiên cứu và khoảng 20trợ lý của trường Đại học Giao thông Thượng Hải nhằm đưa ra kết quả xếphạng các trường đại học độc lập đối với các bảng xếp hạng trên thế giới, vớimục đích chủ yếu là để tìm hiểu xem khoảng cách hàn lâm giữa giáo dục đạihọc Trung Quốc và các trường đại học tầm cỡ quốc tế (world-class) của nước

khác Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học trên thế giới của SJTU, còn gọi là ARWU, lần đầu xuất hiện vào năm 2003

Để xếp hạng các trường, SJTU sử dụng 5 chỉ tiêu là chất lượng cựu sinh viên (tính bằng số lượng cựu sinh viên đoạt các giải thưởng và huy chương đặc biệt như giải Nobel), chất lượng giảng viên (tính theo cùng phương pháp

đo lường chất lượng cựu sinh viên), kết quả nghiên cứu (tính bằng số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học), tầm cỡ của nhà trường (tính bằng kết quả hoạt động so với quy mô của nhà trường), xem Bảng 1.5

Trang 20

Với các chỉ tiêu vừa nêu, có thể thấy rõ đây là một hệ thống xếp hạngnghiêng về đại học nghiên cứu, chú trọng các thành tích nghiên cứu của cựusinh viên và giảng

viên của nhà trường nhưng không quan tâm đến các yếu tố khác như sựhài lòng của sinh viên, hoặc chương trình giáo dục Đây là một đặc điểm

thường xuyên bị chỉ trích của ARWU, vì như đã nêu ở phần mở đầu, nhiệm vụ

của một trường đại học trước hết là cung cấp các chương trình giảng dạy chongười học

Bảng 1.5 : Các chỉ tiêu xếp hạng của SJTU

4 Báo cáo đăng trên tạp chí Nature và Science 20%

5 Báo cáo khoa học được ghi nhận đã được sử

6 Kết quả hoạt động so với quy mô của nhà

Mặc dù vẫn còn những nhược điểm, bảng xếp hạng ARWU của SJTU vẫn

là một trong những hệ thống xếp hạng trường đại học có tầm ảnh hưởng lớnđến công chúng, những nhà lãnh đạo các quốc gia cũng như các nhà quản lýcác trường đại học

1.6 Hệ thống xếp hạng quốc tế của THES

Việc xếp hạng trường đại học quốc tế của THES (Times Higher

Trang 21

Education Supplement – Phụ trương báo Times) bắt đầu từ năm 2004; trước

đó, THES chỉ xếp hạng các trường đại học của Anh Phát biểu tại hội thảo về

Xếp hạng trường đại học tại trường Đại học Leiden (Hà Lan) vào tháng2/2006, Martin Ince, biên tập viên của THES đã cho rằng việc xếp hạng quốc

tế lẽ ra đã phải làm từ lâu vì bản chất của giáo dục đại học luôn mang tínhquốc tế, và trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay thì giáo dục đại học đã trởthành một dịch vụ xuyên biên giới, đòi hỏi phải có những thông tin mang tính

so sánh để cung cấp cho người mua dịch vụ (tức người học) Các chỉ tiêu

được THES sử dụng cho việc xếp hạng bao gồm 5 loại: kết quả khảo sát đồng nghiệp (các giảng viên, nhà khoa học), đánh giá của nhà tuyển dụng, sự hiện diện của giảng viên/ nhà khoa học quốc tế, sự hiện diện của sinh viên quốc tế,

tỷ lệ giảng viên trên sinh viên, và tỷ lệ bài báo khoa học trên giảng viên, xem Bảng 1.6 sau đây:

Bảng 1.6 Các chỉ tiêu xếp hạng của THES – bảng xếp hạng quốc tế

số

1 Kết quả khảo sát đồng nghiệp (các giảng viên,

3 Sự hiện diện của giảng viên/ nhà khoa học quốc

6 Tỷ lệ bài báo khoa học trên giảng viên 20%

So với ARWU vốn rất chú trọng đến các yếu tố bên ngoài trường đại học

(các bài báo, các công trình nghiên cứu, các giải thưởng…) THES chú trọng

nhiều hơn đến chính cộng đồng giảng viên và sinh viên và vì vậy được xem làmột hệ thống bổ sung rất tốt cho ARWU Và cũng như ARWU, hệ thống xếp

Trang 22

hạng của THES luôn được công chúng háo hức chờ đợi, mặc dù những lời chỉ

trích dành cho hệ thống này cũng không hiếm Trong số những điểm bị chỉtrích nặng nhất là sự thiên vị rất rõ đối với các trường đại học của Anh, vàtrọng số quá cao (đến 40%) dành cho đánh giá của các đồng nghiệp đối vớicác trường được xếp hạng, trong khi đánh giá của nhà tuyển dụng đối với chấtlượng nhà trường lại khá thấp (chỉ 10%) Mặc dù vậy, bảng xếp hạng của

THES vẫn được xem là hệ thống xếp hạng trường đại học quốc tế có tầm ảnh

hưởng lớn nhất đến những nhà lãnh đạo các quốc gia cũng như các nhà quản

lý các trường đại học, một phần là do uy tín của chính tờ báo Times và chínhquốc gia thực hiện xếp hạng (nước Anh)

1.7 Hệ thống xếp hạng Webometrics

Hệ thống xếp hạng Webometrics cho các trường đại học trên thế giới làsản phẩm của Cybermetrics Lab (CCHS), một đơn vị thuộc Hội đồng nghiêncứu quốc gia (tiếng Anh là National Research Council, viết tắt là CSIC) củaTây Ban Nha Hệ thống này đưa ra thông tin xếp hạng của 4,000 trường đạihọc trên thế giới theo trang web mà trường đó công bố, được xây dựng với cơ

sở dữ liệu là hơn 16,000 trường đại học 4,000 trường đại học thuộc top đầuđược đưa ra trong bảng xếp hạng chính, ngoài ra còn có các bảng xếp hạngtheo từng khu vực Hệ thống xếp hạng bắt đầu xuất hiện từ năm 2004, vàđược cập nhật một năm hai lần, vào tháng Một và tháng Bảy

Đây chưa phải là hệ thống xếp hạng đại học có ảnh hưởng lớn trên thếgiới, nhưng là hệ thống xếp hạng nhận được sự quan tâm lớn của dư luận ViệtNam trong thời gian qua, nên ta sẽ tìm hiểu kỹ

Mục tiêu và phương pháp của Webometrics được nêu ở trang chủ củaWebometrics Theo đó, mục tiêu của Webometrics trước hết là nhằm “cổ vũcác trường đại học và các viện, trung tâm nghiên cứu công bố thông tin trênmạng Internet” Để phục vụ mục tiêu trên, các tác giả của Webometrics đã

Trang 23

xây dựng một công thức để chấm điểm và xếp hạng trang web của các trườngđại học theo bốn chỉ số:

Kích thước (Size), tính theo số lượng trang web xuất hiện dưới

cùng một tên miền (domain) trên bảy công cụ tìm kiếm Google, Yahoo, LiveSearch và Exalead

Khả năng nhận diện (Visibility), tính theo số các đường dẫn từ

bên ngoài đến các kết nối bên trong trên một tên miền

Số lượng ‘file giàu’ (Rich File), tính theo số lượng các loại file

doc, pdf, ps và ppt có thể truy xuất từ một tên miền

Thư tịch nghiên cứu trên mạng (Scholar): tính theo số lượng các thư tịch khoa học (academic records), tức các bài báo, luận văn luận án, các

ấn phẩm khoa học, cùng các trích dẫn (citations) trên một tên miền thông qua

việc tìm kiếm với công cụ Google Scholar, là một dịch vụ mới của Googledành cho giới khoa học mà hiện nay vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm.Tất cả các chỉ số nêu trên đều được tính toán một cách tự động để đưa racác kết quả xếp hạng Việc tính toán tự động này đã tạo ra hiệu suất cao và là

ưu thế cơ bản của Webometrics so với hai hệ thống xếp hạng quốc tế khác là

THES (Times/QS) và ARWU (Thượng Hải), có thể so sánh như trong Bảng 1.7 dưới đây:

Bảng 1.7: So sánh các hệ thống xếp hạng quốc tế phổ biến

(Thượng Hải)

THES (Times/QS)

Trang 24

Nguồn: www.webometrics.info

Thực tiễn vấn đề xếp hạng tại Việt Nam

1.8 Bối cảnh kinh tế và xã hội

Toàn cầu hóa giáo dục đã đặt ra cho hệ thống giáo dục những yêu cầucao hơn trong việc phát triển có chất lượng, nhằm cung cấp những trọng tâmquan trọng cho sinh viên với nhiều nhu cầu học tập đa dạng, đem lại cho họnhiều lựa chọn trong chương trình đào tạo, và một kết quả đào tạo tốt hơn dựatrên một nội dung chương trình nghiêm ngặt, vì việc đánh giá chất lượng củasinh viên đang chịu ảnh hưởng quan trọng của bối cảnh có tính chất quốc tế.Trong bối cảnh đó, việc xếp hạng các trường đại học trở thành một vấn đềquan trọng bên của việc kiểm soát chất lượng một cách công bằng, và nhiềukhi có tác dụng bổ sung cho quy trình kiểm định

Đó là bối cảnh chung của giáo dục đại học trong thời đại toàn cầu hóa.Những nhân tố này đặc biệt đáng chú ý ở Việt Nam, vì tính chất giao thời của

xã hội Việt Nam hiện nay khi chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thịtrường và gia nhập WTO Con số các trường đại học và số sinh viên ở ViệtNam tăng lên rất nhanh - từ 153 trường năm 2000 đến 255 trường năm 2005,

từ 719,842 người đến 1,016,216 người trong thời gian tương ứng - và các loạitrường cũng rất đa dạng: trường công lập, bán công, dân lập, tư thục, trườngliên kết với nước ngoài, trường 100% vốn đầu tư của nước ngoài… Nhiềutrường mới, ngành học mới xuất hiện Trào lưu du học nước ngoài phát triểnvới một quy mô chưa từng có trước đó: đến năm 2006, tổng số sinh viên ViệtNam du học ở các nước vào khoảng 40,000 người (ước tính mỗi năm nước ta

- bao gồm cả chính phủ, tổ chức, và cá nhân - chi khoảng 1 tỷ đô-la cho việc

du học, trong đó chủ yếu là từ nguồn tiền của gia đình) Đây là một khoản chicực lớn, và cũng chứng tỏ phần nào sự thiếu tín nhiệm đối với giáo dục trongnước; vì nếu giáo dục trong nước có thể chứng minh được hiệu quả, thì tổng

Trang 25

số sinh viên đi du học tương ứng với lượng tiền nước ta đầu tư vào nền giáodục của các nước khác không lớn đến như thế.

Xét về đầu tư, giáo dục cũng rất được chú trọng Theo phân tích của tácgiả Vũ Quang Việt, chi tiêu cho giáo dục ở nước ta chiếm 8,3% GDP (ở Mĩ tỉ

lệ này là 7,2%), và đáng quan tâm hơn, trong số này có đến 40% là dân đóng

góp [4]

Tuy vậy, trong năm 2000, tỷ lệ lao động tốt nghiệp đại học chỉ chiếm 2%tổng dân số, so với 5% ở Trung Quốc và 8% ở Ấn Độ là những nước đôngdân hơn rất nhiều Năm 2005, tỷ lệ sinh viên đỗ đại học ở Việt Nam chỉ là16%, trong khi con số này ở Trung Quốc và Indonexia là 17%-19%, còn ởThái-lan là 43%

Mặc dù số lượng sinh viên đại học đã tăng một cách đáng kể từ năm

1990 nhưng với hạn chế về cả số lượng và chất lượng giảng viên, hệ thốngđào tạo đang ngày càng bị dồn nén Không những thế, chất lượng đào tạo ởcác trường đại học của Việt Nam chưa đạt chuẩn Giảng viên ở các trường đạihọc của Việt Nam có rất ít bài đăng trên các tạp chí quốc tế Nếu nhìn vào sảnphẩm đào tạo thì khoảng phân nửa sinh viên ra trường ở Việt Nam khôngđược làm đúng ngành đào tạo

Yêu cầu về kiểm định là rất bức thiết Nhưng cần kiểm định như thếnào? Ở một đất nước mà xếp hạng tham nhũng thế giới là 121 thì việc kiểmđịnh sao cho công bằng có thể sẽ gây ra rất nhiều tranh cãi [4] Quá trình thamnhũng gây ra nhiều chuyện bực bội không chỉ đối với những sinh viên phảinhận tấm bằng cử nhân hay thạc sĩ của một trường mới toanh sau năm nămhọc mà không thụ đắc được một kết quả giáo dục tương xứng, mà còn đối vớinhững trường khác khi họ thấy rằng những nỗ lực của họ nhằm nâng cao chấtlượng bị tổn thương do việc đánh giá chính thức bị chi phối bởi mức độ hối lộthay vì bởi phẩm chất của chương trình hoặc của nhà trường Do đó, cần xem

Trang 26

việc xếp hạng đại học như một công cụ đánh giá quan trọng bậc nhất, bởi vì

nó có thể là công cụ đánh giá duy nhất không bị ảnh hưởng bởi tham nhũng

1.9 Thực tiễn vấn đề xếp hạng các trường đại học ở Việt NamTìm hiểu vị trí của đại học Việt Nam trong các bảng xếp hạng quốc tế,Việt Nam có thể được xem là chưa có tên trên bản đồ đại học thế giới Theo

GS Bành Tiến Long, thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Đại họcQuốc gia Việt Nam được xếp hạng 62/65 các trường Đại học Châu Á, sau cảcác Đại học nhỏ của Malaysia và Philippin Chưa hề có một công trình nghiêncứu nào thử xác định xem, nếu dùng bộ tiêu chí xếp hạng của Tin tức Hoa Kỳ,hoặc Thời báo Luân Đôn, hoặc Tuần san Châu Á, hoặc một tổ chức nào khác

để đánh giá một số trường được xem là có uy tín nhất của Việt Nam, thì liệunhững trường này sẽ được xếp ở vị trí nào trong bảng xếp hạng, trong tươngquan với các trường đại học khác trên thế giới Giả sử không nằm trong top

200, hay top 500 của thế giới, thì khoảng cách của chúng ta đối với cái trườngnằm chót bảng 200, hay 500 ấy là bao xa?

Trong các bảng xếp hạng quốc tế của Đại học Giao thông Thượng Hải

ARWU, Thời báo Luân Đôn THES, đã nêu ở phần trên, không có tên một

trường đại học nào của Việt Nam Cho đến năm 2007, có 7 trường đại họcViệt Nam lọt vào bảng xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Ácủa Webometrics Sự xuất hiện của thông tin đó trong bối cảnh giáo dục ViệtNam đã tạo ra hiệu ứng tức thì đối với dư luận xã hội Nhiều người phấn khởi

vì cuối cùng thì Việt Nam cũng đã có được những trường “có hạng” vì đượclọt vào danh sách 100 trường hàng đầu của khu vực, nhưng cũng không ítngười tỏ ra lo lắng: Ngay cả trường có thứ hạng cao nhất trong danh sách làĐại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) cũng chỉ mới xếp hạng thứ 1920 của thế giới, thì quyết tâm của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam là đưa một trường đại học của

Trang 27

Việt Nam vào danh sách 200 trường hàng đầu của thế giới vào năm 2020 liệu

có vượt quá xa khả năng thực tế hay không?

Ngoài hai nhóm nói trên, còn có một thiểu số ngày càng đông hơn vớithái độ nghi ngờ kết quả xếp hạng của Webometrics Nhóm này bao gồm đa

số các nhà lãnh đạo và quản lý các trường đại học, mà đặc biệt là từ cáctrường được xem là “có hạng” trong hệ thống giáo dục Việt Nam, khiếnngười ta có thể ngờ rằng phản ứng này chẳng qua thể hiện sự bực tức dokhông đạt được vị trí mong muốn, như các vị lãnh đạo của các trường đại họcphương tây đã từng bị cáo buộc khi không ủng hộ các kết quả xếp hạng củagiới truyền thông Tuy nhiên, trong trường hợp kết quả mới đây củaWebemetrics thì cáo buộc này không thể đứng vững, vì không thể không nghingờ giá trị thông tin của Webometrics khi “nhân thân” của quá nửa số trườngđại học của Việt Nam có mặt trong danh sách xếp hạng là chưa chính xác.Thật vậy, trong bảng xếp hạng tháng 7/2007, trong số 7 trường của ViệtNam đã có đến 4 trường hợp mơ hồ hoặc nhầm lẫn Chẳng hạn, trường có vịtrị thứ hai trong số 7 trường của Việt Nam có tên tiếng Anh mơ hồ là Ho ChiMinh City University of Technology Điều này dẫn đến hai cách hiểu khácnhau: người thì khẳng định đây là Đại học Bách khoa thuộc ĐHQG-HCM,nhưng cũng có những người cả quyết rằng đó là ĐH Dân lập Kỹ thuật vàCông nghệ TP Hồ Chí Minh vì tên tiếng Anh trên trang web của trường nàychính là Ho Chi Minh City University of Technology

Tương tự, trường số 54 trong danh sách trên có tên tiếng Anh là VietNam National University tức là ĐHQG, nhưng không hề nêu rõ đây là ĐHQG

Hà Nội hay ĐHQG TP Hồ Chí Minh Rồi trường có số thứ tự 90 lại một lầnnữa mang tên gọi mơ hồ University of Technology mà không ai có thể đoánđược đây là trường nào, vì cả hai trường ĐH lớn có tên tiếng Việt có thể dịch

ra thành University of Technology là ĐHBK Hà Nội và ĐH BK TP HCM

Trang 28

đều đã có mặt trong danh sách (số 62 và 36) Và có lẽ nhầm lẫn gây khó chịulớn nhất cho các nhà lãnh đạo và quản lý của ĐHQG-HCM là sau khi đã xếphạng hai trường thành viên là ĐH Khoa học Tự nhiên và ĐH Bách khoa,Webometrics lại rất ưu ái xếp luôn ĐHQG-HCM, tức đơn vị “mẹ” của haithành viên vừa nêu, vào danh sách với vị trí thứ 7 trong số 7 “trường” củaViệt Nam mà Webometrics “công nhận”, và là vị trí số 96 trên số 100 trườnghàng đầu của Đông Nam Á.

Nhầm lẫn của Webometrics không dừng lại ở đó Khi vào trang chủ củaWebometrics tìm danh mục các trường đại học Việt Nam trong cơ sở dữ liệucủa Webometrics, ta sẽ thấy chỉ có thông tin về 71 đơn vị, bao gồm một cáchkhông phân biệt vừa các trường đại học/cao đẳng và các viện nghiên cứu, vừacác khoa/ bộ môn hoặc trung tâm nằm trong các trường đại học hoặc các viện

đã nêu Riêng ĐHQG-HCM đã có 7 đơn vị trong danh sách, chiếm xấp xỉ10% tổng số, trong đó, ngoài đơn vị “mẹ” là ĐHQG-HCM còn có 4 trườngthành viên (Tự nhiên, Bách khoa, Xã hội nhân văn, Công nghệ thông tin – vàtrường này cũng vẫn còn bị gọi dưới tên gọi của đơn vị tiền thân của nó làTrung tâm Phát triển CNTT), 1 trung tâm (Trung tâm Đào tạo quốc tế), và 1khoa thuộc trường thành viên (Khoa Việt Nam học thuộc Trường ĐHKH Xãhội và Nhân văn) Như vậy, kết quả xếp hạng của Webometrics đối với cáctrường đại học của Việt Nam chỉ dựa trên số 71 các đơn vị này mà thôi, trongkhi chỉ tính riêng số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam thì tổng số đãđến 322 đơn vị, một sự chênh lệch quá lớn dẫn đến sự sai lệch tất yếu của cáckết quả xếp hạng mà Webometrics đã thực hiện đối với các trường đại họccủa Việt Nam

Tuy nhiên, đây lại là hệ thống xếp hạng quốc tế duy nhất “phủ sóng”được tới các trường đại học Việt Nam, do có cơ sở dữ liệu 16,000 trường đạihọc và 4,000 trường được thực sự xếp hạng Nhờ khả năng tính toán tự động

Trang 29

mà Webometrics đã đưa được các quốc gia hoặc các khu vực được xem làvùng trũng của giáo dục đại học như khu vực Nam Mỹ, châu Phi hoặc cácquốc gia của khu vực Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) vào bảng xếphạng của mình Nhưng khi lựa chọn cách phân tích và xếp hạng tự động nhưtrên thì Webometrics cũng đồng thời đã chấp nhận một cách tất yếu sự rủi ro

là sẽ có nhầm lẫn hoặc thiếu sót thông tin vì nhiều lý do khác nhau Chẳnghạn, các quốc gia hoặc đơn vị ít sử dụng tiếng Anh chắc chắn sẽ bất lợi so vớinhững quốc gia hoặc những đơn vị sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếpchính Cũng vậy, những khác biệt về thói quen lựa chọn và đặt tên miền củacác quốc gia/ đơn vị khác nhau sẽ dẫn đến những sai lệch mang tính hệ thốngtrong kết quả xếp hạng của Webometrics

Kết quả xếp hạng của Webometrics chính là sự mở rộng áp dụng phươngpháp đo lường chỉ số tác động của trang web (WIF, từ viết tắt của cụm từWeb Impact Factor) là phương pháp đánh giá chất lượng thông tin trên cáctrang web được sử dụng rộng rãi trong ngành học thông tin thư viện bắt đầu

từ năm 1996, vào việc đánh giá trang web của các trường đại học Việc đánhgiá này tất nhiên là cần thiết, bởi theo lập luận của các tác giả của hệ thốngxếp hạng Webometrics, trang web là một kênh thông tin rất quan trọng củacác trường đại học và viện nghiên cứu trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay vàcần được tất cả các đơn vị quan tâm

Như vậy, việc sử dụng kết quả xếp hạng của Webometrics để xác định vịtrí tương đối xét về chất lượng của các trường đại học Việt Nam so với nhaucũng như so với các trường khác trong khu vực và trên thế giới là cách làm

hoàn toàn khác với mục đích của Webometrics Vì với thứ hạng mà

Webometrics đưa ra, ta có thể có được thông tin: những trường có vị trí cao lànhững trường có trang web tốt xét theo chỉ số tác động đối với cộng đồng.Nói cách khác, đây là những trang web cung cấp dồi dào các thông tin khoa

Trang 30

học, một việc hết sức đáng làm và có ý nghĩa rất quan trọng đối với mộttrường đại học, đặc biệt là các đại học nghiên cứu Nếu làm tốt điều này (tức

có trang web tốt), chắc chắn vị thế của một trường đại học đối với cộng đồngkhoa học trong và ngoài nước sẽ ngày càng được nâng cao, tức cũng có nghĩa

là vị trí xếp hạng của trường theo những tiêu chí chất lượng thường dùng như

số lượng bài báo khoa học, sự đánh giá của các đồng nghiệp, uy tín của nhàtrường đối với xã hội… sẽ dễ dàng đạt ở mức cao

Sử dụng ngôn ngữ của thống kê, ta có thể đưa ra giả thuyết là giữa sự hiện diện web (web presence) của một trường đại học như được thể hiện qua

kết quả xếp hạng của Webometrics và vị thế của một trường đại học xét theokết quả xếp hạng trường đại học dựa vào các yếu tố truyền thống như đã sửdụng trong ARWU và THES chắc chắn phải có một mối tương quan thuận

Ta có thể hình dung một cách trực quan theo Hình 1.1 (trang sau)

Điều này đã được Webometrics chứng minh bằng cách quan sát vị trí củacác trường trong 3 hệ thống xếp hạng là Webometrics, THES và ARWU, vàhoàn toàn có thể kiểm tra lại được bằng thực nghiệm Như vậy, khi nói rằngViệt Nam (chỉ) có 7 trường lọt vào khu vực top 100 của Đông Nam Á, điều

đó cũng đồng thời có nghĩa rằng sự hiện diện, và qua đó là sự tác động, trênmạng cũng như trên thực tế của các trường đại học Việt Nam đối với cộngđồng khoa học quốc gia, khu vực và quốc tế vẫn còn quá ít ỏi so với cáctrường đại học khác trong khu vực!

Trang 31

Massachusetts Institute of

Stanford University

4 University of

Cambridge

University of Oxford

University of California - Berkeley

5 Massachusetts

Institute of

Technology

California Institute of Technology

Pennsylvania State University

Institute of

Technology

Imperial CollegeLondon

University of Michigan

7 Columbia

University

University College London

Cornell University

8 Princeton

University

University of Chicago

University of Minnesota

9 University of

Chicago

Massachusetts Institute of

Technology

University of Wisconsin Madison

University of Texas Austin

Hình 1.1: Mối tương quan thuận giữa các bảng xếp hạng của SJTU, THES, Webometrics năm 2008 Có những trường thuộc top 10 theo cả hai

hoặc cả ba cách xếp hạng.

Trang 32

Mặc dù trong nhiều năm qua, và cho đến tận bây giờ, trong giáo dục đạihọc Việt Nam cung chưa bao giờ đáp ứng đủ cầu, và cuộc chiến giành chỗngồi trong giảng đường đại học đã khiến các trường ít đầu tư vào việc thu hútsinh viên, đặc biệt là trường công Nhưng sự khủng hoảng trong nền giáo dụcViệt Nam là một sự thật Về mặt bằng dân trí ở nước ta còn thấp, việc xếphạng sẽ dễ dàng đến với người dân hơn là những chương trình kiểm địnhphức tạp Do đó, cần thực hiện xếp hạng giáo dục theo hướng các chỉ tiêunhằm đảm bảo được chất lượng đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của người

sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học Ngoài ra, còn

có thể hỗ trợ trong việc giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hayvới các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Quá trình phát triển các chươngtrình xếp hạng, sẽ góp phần nâng cao tính cạnh tranh giữa các trường đại học,trong việc thu hút sinh viên và các nguồn đầu tư

1.10 Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ Giáo dục & Đào tạo - 2007

Trong nỗ lực kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục vàĐào tạo Việt Nam đã ban hành bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đại học

gồm 10 tiêu chuẩn với 40 tiêu chí 10 tiêu chuẩn được chỉ rõ trong Bảng 1.8: Bảng 1.8: Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học – 2007

Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học 65/2007/QĐ-BGDĐT)

1 Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học

2 Tổ chức và quản lý

3 Chương trình giáo dục

4 Hoạt động đào tạo

5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên

7 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ

8 Hoạt động hợp tác quốc tế

Trang 33

9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác

10 Tài chính và quản lý tài chính

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2007

Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này liên quan đến quản lý hơn là chất lượng Chẳng hạn như tiêu chuẩn về sứ mệnh chẳng có liên quan gì đến chất lượngđào tạo, vì thực sự, đây là những phát biểu mang tính quản lý Thật vậy,những "tiêu chuẩn" như "sứ mệnh và mục tiêu của trường đại học", "tổ chức

và quản lý", hay "tài chính và quản lý tài chính" không thể xem là chất lượng

giáo dục đào tạo được, mà là những khía cạnh của quản lý đại học hay của bất

cứ một doanh nghiệp nào Bất cứ trường đại học nào cũng có thể viết thànhmột phát biểu mang tính sứ mệnh (statement of mission) rất dễ dàng, nhưngviết ra được câu đó, cố nhiên, không có nghĩa là trường đại học đó có "chất

Quy định đáng lẽ là phải nói về tiêu chuẩn chất lượng, nhưng lại không đề ra

tiêu chuẩn cụ thể mà lại yêu cầu phải đảm bảo… chất lượng! [2]

Tìm hiểu về chất lượng giáo dục đại học là gì? Ta thấy chất lượng giáodục đại học là một phạm trù rất khó định nghĩa và đo lường, bởi vìkhông/chưa có một định nghĩa nhất quán Thật ra, ngay cả danh từ "chất

lượng" (hay quality theo tiếng Anh) trong bối cảnh giáo dục đại học cũng đã

mơ hồ Theo các chuyên gia đầu ngành về chất lượng giáo dục [2], chất

lượng có thể được nhìn nhận qua 5 khía cạnh:

 được ngầm hiểu là chuẩn mực cao (high standard);

 đề cập đến sự nhất quán trong thực thi một công tác không có sai

Trang 34

sót;

 là hoàn thành những mục tiêu đề ra trong kế hoạch của trường;

 là những đo lường phản ảnh những thành quả xứng đáng với đầutư;

 là một qui trình liên tục cho phép "khách hàng" (tức sinh viên)đánh giá sự hài lòng của họ khi theo học

Từ việc nghiên cứu về đào tạo đại học qua đầu vào – quy trình – đầu ra,

GS TS Nguyễn Văn Tuấn đã đề nghị các chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo

dục đại học, như trong Bảng 1.9.

Bảng 1.9 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị)

2 Điểm trung bình của thí sinh được tuyển vào đại học;

3 Phần trăm sinh viên nhận học bổng, sinh viên tài năng, từng chiếm giải quốc gia và quốc tế;

4 Phần trăm sinh viên từ tỉnh lẻ hay nông thôn, người dân tộc, hay xuất thân từ các gia đình khó khăn về kinh tế

Cơ sở

vật chất cho

học tập

5 Phần trăm GV/GS toàn thời gian;

6 Phần trăm GV/GS có văn phòng riêng;

Các chỉ tiêu sau đây tính trên đầu người sinh viên:

7 Ngân sách được tài trợ từ Nhà nước;

8 Tổng chi tiêu hàng năm;

9 Tổng chi tiêu về dịch vụ (service);

10 Tổng chi tiêu về thư viện;

11 Số lượng bàn ghế;

12 Số lượng sách và tập chí khoa học;

Trang 35

13 Số lượng nhân viên dịch vụ và phụ trợ;

19 Tỉ số sinh viên trên mỗi GV/GS;

20 Số course dạy tính trung bình trên mỗi GV/GS;

21 Lương bổng trung bình cho GV/GS;

22 Số lần liên lạc giữa GV/GS và sinh viên trong vòng một niên khóa;

30 Số bằng khen cho GV/GS cấp quốc gia và quốc tế;

31 Số GV/GS được mời làm chủ tọa các hội nghị quốc

Trang 36

34 Tỉ lệ sinh viên bỏ lớp hay rời trường;

35 Tỉ lệ tốt nghiệp so với lúc ghi danh;

36 Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm (hay tự lập doanh nghiệp) trong vòng 1 năm sau tốt nghiệp;

37 Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm trong các công ti nước ngoài;

38 Phần trăm sinh viên có bằng ngoại ngữ hay tiếng Anh;

39 Phần trăm sinh viên có bằng vi tính và thông thạo sử dụng máy tính;

40 Lương hay thu nhập trung bình sau khi tốt nghiệp 1 năm;

41 Sự hài lòng của các doanh nghiệp tuyển dụng;

42 Phần trăm sinh viên tốt nghiệp quay lại trường tiếp tục theo học thạc sĩ hay tiến sĩ;

43 Phần trăm sinh viên tốt nghiệp tiếp tục theo học sau đại học tại các trường khác

Nguồn: ykhoa.net

Kết chương

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, các trường đại học Việt Namcần xác định được vị trí của mình đang ở đâu so với trong nước và trên thếgiới, để có thể hoạch định mục tiêu cho mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường Cácbảng xếp hạng là cách tiếp cận trực quan và dễ dàng nhất đối với mọi đối

Trang 37

tượng có quan tâm đến giáo dục đại học Vì đa số người học không có đủ thờigian và kiên nhẫn để nghiên cứu các báo cáo về chất lượng của các trường đạihọc dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Họ mong muốn được nhìn thấy một kếtquả xếp hạng tương đối giữa các trường để có thể đưa ra sự lựa chọn.

Từ các hệ thống xếp hạng trên thế giới, ta thấy xếp hạng đại học theo sốliệu thống kê lấy từ các trường – theo các tiêu chí cụ thể và hợp lý - có thể tạo

ra được bảng xếp hạng có tính phổ biến rộng rãi Tuy nhiên, lấy thông tinthống kê theo các tiêu chí hợp lý rồi xếp hạng hay kiểm định là công việc cầnđược đầu tư nhiều công sức (thí dụ, xếp hạng của SJTU cần tới 8 nhà nghiêncứu và 20 trợ lý), thời gian và tiền bạc (thí dụ, trung bình hàng năm 13 trườngđại học Hà Lan tốn khoảng 1 triệu euro - khoảng 21,6 tỉ đồng VN - cho côngtác kiểm định chất lượng đại học)

Trong thời đại ngày nay, trang Web các trường đại học là một kênh thôngtin quan trọng, được xem là một phần bộ mặt của nhà trường: là nơi quảng báthông tin mới nhất về trường tới những đối tượng quan tâm, và là kênh liên lạcngày càng trở nên quan trọng với sinh viên hiện tại, sinh viên tiềm năng và cựusinh viên… Một sinh viên / gia đình khi quyết định chọn trường đại học để đầu

tư một khoảng thời gian và tiền bạc không nhỏ, sẽ dễ dàng có thể tìm kiếm vàtruy cập vào trang web của trường để có thêm thông tin hỗ trợ cho việc quyếtđịnh Khi nước ta ngày càng trở nên hội nhập với thế giới, sự cạnh tranh để cóđược những sinh viên linh hoạt, năng động về mặt thông tin - những sinh viên

sẽ hỗ trợ không nhỏ cho vị thế của nhà trường, hay để có được các khoản đầu

tư vào nhà trường không phải chỉ đến từ các trường đại học/ cao đẳng trongnước mà còn từ các trường ở khắp nơi trên thế giới Tự phát triển - khẳng định

vị trí của mình, là cách duy nhất để các trường có thể tồn tại

Với khả năng của công nghệ thông tin hiện đại, và sự công bố thông tin

về các trường đại học trên trang Web của trường đại học đó, ta có thể dùng

Trang 38

các công cụ khai phá Web để thu thập các thông tin phục vụ cho việc xếphạng các trường đại học Ban đầu ta có thể định hướng xếp hạng theo websitevới các hệ thống xếp hạng đã có sẵn Sau khi các website các trường đại họcViệt Nam đã phát triển rồi, và xây dựng được bộ tiêu chí cho chất lượng giáodục đại học một cách tương đối phù hợp, ta có thể ứng dụng công nghệ khaiphá trích chọn thông tin trên Web để xếp hạng các trường đại học

Nhằm hỗ trợ các trường trong việc khẳng định vị trí của mình, ở phạm viluận văn này, tôi xin trình bày các phương pháp để tăng thứ hạng của trangWeb các trường đại học trên bảng xếp hạng quốc tế của Webometrics, tươngđương với việc tăng ảnh hưởng của trang Web các trường đại học tới cộngđồng Vì chỉ tiêu đó nằm trong mối tương quan thuận với vị thế của mộttrường đại học xét theo kết quả xếp hạng trường đại học dựa vào các yếu tốtruyền thống Hơn nữa, “thà được có mặt trong bảng xếp hạng với những tiêuchí chưa đạt còn hơn là không có tên trong danh sách xếp hạng” (Not to belisted at all is seen as worse than being listed with information that seems

unsatisfactory) (Michael & Kretovics, 2005) [6], vì trong nền kinh tế mà giáo

dục đại học dần trở thành thị trường, tìm cách để “sản phẩm” –dịch vụ giáodục tiếp cận được với “khách hàng” – sinh viên là điều hết sức quan trọng Kể

cả khi cách xếp hạng là không hoàn hảo, thì nó cũng đưa ra được một số tiêuchí mà các trường có thể làm cơ sở so sánh và phấn đấu, mà nếu phấn đấutheo được các tiêu chí đó, các trường đại học có thể sẽ tiến được những bướcdài trên con đường phát triển của mình

Trang 39

Chương 2: Các phương pháp xếp hạng

Phương pháp xếp hạng theo dữ liệu thống kê thu thập được

2.1 Phương pháp xếp hạng theo USNWR

2.2 Phương pháp xếp hạng theo THES

2.3 Phương pháp xếp hạng theo GUG

2.4 Phương pháp xếp hạng theo Macleans

2.5 Phương pháp xếp hạng theo SJTU

Phương pháp xếp hạng từ việc khai phá thông tin trên Web

Mục tiêu ban đầu của Webometrics được thể hiện rõ ngay trong ý nghĩacủa từ “webometrics” mà bất cứ ai biết tiếng Anh cũng có thể chiết tự rathành “web” và “metrics”, tức là “đo lường trang web”, hoàn toàn tương tựvới các từ“psychometrics” - đo lường tâm lý, “edumetrics” - đo lường (trong)giáo dục, “econometrics” - kinh tế lượng

2.6 Cơ sở của phương pháp

Kết quả xếp hạng của Webometrics chính là sự mở rộng áp dụng phươngpháp “đo lường trang web”, hay nói chính xác hơn là đo lường chỉ số tác độngcủa trang web (WIF, từ viết tắt của cụm từ Web Impact Factor), phương phápđánh giá chất lượng thông tin trên các trang web được sử dụng rộng rãi trongngành học thông tin thư viện bắt đầu từ năm 1996, vào việc đánh giá trangweb của các trường đại học Việc đánh giá này tất nhiên là cần thiết, bởi theolập luận của các tác giả của hệ thống xếp hạng Webometrics, trang web là mộtkênh thông tin rất quan trọng của các trường đại học và viện nghiên cứu trongthời đại toàn cầu hóa hiện nay và cần được tất cả các đơn vị quan tâm

Từ các thứ hạng mà Webometrics đưa ra có thể nhận định: những trường có vị trí cao là những trường có trang web tốt xét theo chỉ số tác động đối với cộng đồng Nói cách khác, đây là những trang web cung cấp dồi dào

Trang 40

các thông tin khoa học, một việc hết sức đáng làm và có ý nghĩa rất quantrọng đối với một trường đại học, đặc biệt là các đại học nghiên cứu Nếu làmtốt điều này (tức có trang web tốt), chắc chắn vị thế của một trường đại họcđối với cộng đồng khoa học trong và ngoài nước sẽ ngày càng được nâng cao,tức cũng có nghĩa là vị trí xếp hạng của trường theo những tiêu chí chất lượngthường dùng như số lượng bài báo khoa học, sự đánh giá của các đồngnghiệp, uy tín của nhà trường đối với xã hội… sẽ dễ dàng đạt ở mức cao Đâycũng là mục đích của các trường đại học Việt Nam trong quá trình toàn cầuhóa và hội nhập.

Theo đó, mục tiêu của Webometrics trước hết là nhằm “cổ vũ các trườngđại học và các viện, trung tâm nghiên cứu công bố thông tin trên mạngInternet” Và để phục vụ mục tiêu trên, các tác giả của Webometrics đã xâydựng một công thức để chấm điểm và xếp hạng trang web của các trường đạihọc với 4 chỉ số:

Kích thước (Size ), tính theo số lượng trang web xuất hiện dưới

cùng một tên miền (domain) trên 4 công cụ tìm kiếm Google, Yahoo, LiveSearch và Exalead

Khả năng nhận diện (Visibility ), tính theo số các đường dẫn từ

bên ngoài đến các kết nối bên trong trên một tên miền

Số lượng ‘file giàu’ (Rich File) , tính theo số lượng các loại file

doc, pdf, ps và ppt có thể truy xuất từ một tên miền

Thư tịch nghiên cứu trên mạng (Scholar) : tính theo số lượng các

thư tịch khoa học (academic records), tức các bài báo, luận văn luận án, các

ấn phẩm khoa học, cùng các trích dẫn (citations) trên một tên miền thông quaviệc tìm kiếm với công cụ Google Scholar, là một dịch vụ mới của Googledành cho giới khoa học mà hiện nay vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm

Ngày đăng: 14/10/2014, 01:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Chỉ tiêu  xếp hạng của THES – cấp quốc gia - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.2 Chỉ tiêu xếp hạng của THES – cấp quốc gia (Trang 15)
Bảng 1.3: Chỉ tiêu xếp hạng của GUG - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.3 Chỉ tiêu xếp hạng của GUG (Trang 18)
Bảng 1.4: Các chỉ tiêu xếp hạng của Macleans - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.4 Các chỉ tiêu xếp hạng của Macleans (Trang 18)
Bảng 1.5 : Các chỉ tiêu xếp hạng của SJTU - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.5 Các chỉ tiêu xếp hạng của SJTU (Trang 20)
Bảng 1.6 Các chỉ tiêu xếp hạng của THES – bảng xếp hạng quốc tế - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.6 Các chỉ tiêu xếp hạng của THES – bảng xếp hạng quốc tế (Trang 21)
Hình 1.1: Mối tương quan thuận giữa các bảng xếp hạng của SJTU,  THES, Webometrics năm 2008 - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 1.1 Mối tương quan thuận giữa các bảng xếp hạng của SJTU, THES, Webometrics năm 2008 (Trang 31)
Bảng 1.9.  Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị) - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Bảng 1.9. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị) (Trang 34)
Hình 2.1. Quy trình phát hiện tri thức - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.1. Quy trình phát hiện tri thức (Trang 49)
Hình 2.2: Phân loại khai phá Web - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.2 Phân loại khai phá Web (Trang 53)
Hình 2.3: Phân loại khai phá nội dung Web theo hướng tiếp cận dựa   trên tác nhân. - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.3 Phân loại khai phá nội dung Web theo hướng tiếp cận dựa trên tác nhân (Trang 54)
Hình 2.4: Kết cấu cơ bản của một crawler cỡ lớn. - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.4 Kết cấu cơ bản của một crawler cỡ lớn (Trang 60)
Hình 2.6: Hai dạng khác nhau của cấu trúc dữ liệu chỉ số nghịch chuyển,  thường được lưu trữ trên đĩa - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.6 Hai dạng khác nhau của cấu trúc dữ liệu chỉ số nghịch chuyển, thường được lưu trữ trên đĩa (Trang 74)
Hình 2.7: Cách thức các chỉ số được duy trì trong tập hợp động. - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 2.7 Cách thức các chỉ số được duy trì trong tập hợp động (Trang 76)
Hình 3. 1. Thứ hạng trên Alexa: Đường trên cao nhất là của đại học  NUS, đường thấp nhất trong khoảng tháng 9-11 là của trường đại học Bách - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 3. 1. Thứ hạng trên Alexa: Đường trên cao nhất là của đại học NUS, đường thấp nhất trong khoảng tháng 9-11 là của trường đại học Bách (Trang 94)
Hình 3.2. Giao diện trang chủ website của trường đại học Thương mại - sơ lược về xếp hạng các trường đại học
Hình 3.2. Giao diện trang chủ website của trường đại học Thương mại (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w