Các bằng sáng chế ban đầu nộp tại Đức Đức bằng sáng chế 2501314, ban hành 1975 đã nêu quá trình như sau: “Một phương pháp để làm một chi tiết rỗng hình thành từ ép phun một loại nhựa nhi
Trang 1Báo cáo tiểu luận:
GAS ASSIST INJECTION MOLDING
Trần Quang Chiếu (11040384)
Trang 3Ngày nay, khoa học kỹ thuật càng phát triển, càng đòi hỏi những chi tiết phức tạp, có độ chính xác cao nhưng giá thành phải hạ Do đó, các nhà sản xuất, các nhà khoa học phải tìm ra những công nghệ sản xuất mới để đáp ứng những nhu cầu trên.
Ép phun có khí hỗ trợ là một kỹ thuật được phát triển từ ép phun truyền thống,
kỹ thuật này khắc phục được một số vấn đề mà ép nhựa truyền thống gặp phải Nó cũng cho phép thiết kế và sản xuất được những chi tiết mà ép nhựa truyền thống không thể làm được.
Ép phun có khí hỗ trợ đã xuất hiện hơn 45 năm về trước tại nước Đức Kỹ thuật này bắt đầu được ứng dụng hơn 20 năm trước, và đã có những cải tiến quan trọng khoảng 10 năm gần đây.
Nhưng ở Việt Nam ta, kỹ thuật này còn mới mẻ và chưa được ứng dụng rộng rãi.
Nhằm mục đích tìm hiểu thêm về kỹ thuật này đồng thời cũng giúp những ai chưa nắm rõ về kỹ thuật này có cái nhìn tổng quát về ép phun có khí hỗ trợ, nhóm
7, lớp CTM 2011 với sự hướng dẫn của PGS.TS Thái Thị Thu Hà xin được thực
hiện tiểu luận, đề tài:
GAS ASSIST INJECTION MOLDING
ÉP PHUN CÓ KHÍ HỖ TRỢ
Trang 4Ernst Friederich của Rohm GmbH ở Darmstadt, Đức, là người đầu tiên phát minh ra một quá trình đúc chi tiết rỗng không cần các quá trình trên Các bằng sáng chế ban đầu nộp tại Đức (Đức bằng sáng chế 2501314, ban hành 1975) đã nêu quá trình như sau:
“Một phương pháp để làm một chi tiết rỗng hình thành từ ép phun một loại nhựa nhiệt dẻo, phương pháp bao gồm việc bơm một lượng nhựa nóng chảy đủ cho việc hình thành chi tiết rỗng từ một vòi phun vào một khuôn, bơm khí áp lực cao qua vòi phun đó
để nhựa nóng chảy mở rộng và phân bố đều trên các bề mặt của khuôn, theo đó, phần rỗng được hình thành bên trong chi tiết, khí cũng góp phần làm mát chi tiết rỗng để nhiệt độ xuống dưới điểm nóng chảy của nhựa, sau đó mở bên trong của chi tiết rỗng để cân bằng áp lực trong và áp lực môi trường xung quanh, và sau
đó mở khuôn để lấy chi tiết rỗng đã thành hình Hình 1.1 minh họa các khái niệm trên.”
Trang 5Hình 1.1 Bằng sáng chế US4101617, Ernst Friederich, phụ lục 10.
Trang 6Hình 1.2 Sơ đồ phả hệ của GAIM, xuất phát từ Ernst Friederic.
Trang 7Ferromatik Milacron (Airpress III)
Trang 8Ép nhựa có khí hỗ trợ liên quan đến việc phun một shot nhựa còn thiếu vào khoang (của khuôn) Khi khí được đưa vào trong vật liệu nóng chảy, nó theo con đường ít trở lực nhất vào các phần của chi tiết với áp suất thấp và nhiệt độ cao Khi khí đi vào chi tiết, nó tạo ra một lõi rỗng bằng cách thay thế vật liệu nóng chảy (Hình 1.3) Vật liệu này nóng chảy điền vào phần còn lại của chi tiết này Sau khi điền đầy đủ, khí được chuyển sang áp lực cao, choán lấy phần co rút thể tích của vật liệu.
Trang 9Có hai loại cơ bản của kỹ thuật khí hỗ trợ ép phun: Giữ cố định thể tích (đẳng tích) và giữ cố định áp lực (đẳng áp)
Trang 10Phương pháp HELGA (Hettinga Liquid Gas Assist) tương đối khác các phương pháp trước đó, phương pháp này sử dụng khí nitơ Hình 1.8 minh họa quá trình này Một phần của nhựa được bơm vào khoang sau đó là phun nhựa có chứa một chất lỏng đặc biệt, độc quyền Khi tiếp xúc với nhựa nóng chảy, chất lỏng được chuyển thành một chất khí, tạo ra các lòng trống Dòng chất lỏng
bị ngắt, và quá trình phun nhựa tiếp tục Khí được chứa trong chi tiết và, tạo áp lực ra bên ngoài, giảm thiểu dấu hiệu co rút của sản phẩm Khi chi tiết nguội đi, khí mất tác dụng và vẫn không hoạt động cho dù chi tiết được nung nóng
Trang 112/ Sau một thời gian trễ đã được thiết định từ trước, khí
được bơm vào trong nhựa nóng chảy để hoàn thành quá trình điền
đầy và nén với khí;
3/ Khí sau đó tiếp tục được ép vào khuôn với áp suất nhất định để bù đắp cho sự co rút thể tích của nhựa khi nó nguội;
4/ Việc cân nhựa (lấy nhựa) trong máy ép nhựa có thể được
bắt đầu ngay sau khi các điểm cấp nhựa đông đặc , hoặc sau khi van vòi phun được đóng lại;
5/ Khí được xả ra ngoài trước khi mở khuôn.
Xin tham khảo file flash đính kèm cho trình tự của quy trình này.
Trang 12có sự thúc đẩy của quá trình phun khí.
Ưu điểm: Giảm đáng kể chi phí từ:
1/ Giảm trọng lượng chi tiết, và do đó giảm chi phí vật liệu;
2/ Giảm theo chu kỳ ép nhựa, và do đó giảm chi phí sản xuất;
3/ Giảm áp lực trong khuôn, và do đó ít mòn khuôn.
Trang 132/ Sau một thời gian trễ đã được thiết định từ trước, khíđược bơm vào ở giai đoạn 1;
3/ Ở giai đoạn thứ 2, khí được bơm vào để bù đắp chophần co rút thể tích của nhựa khi nguội;
4/ Áp suất khí được duy trì đồng đều trong chi tiết nhựa;5/ Khí được xả ra ngoài hoặc rút ra trước khi mở khuôn;6/ Việc cân nhựa (lấy nhựa) trong máy ép nhựa có thể
sau khi van vòi phun được đóng lại
“Full Shot” là phương pháp thường áp dụng cho các chi tiết trong đó có cả phần dày và mỏng Khí chảy vào chi tiết theo đường ít trở kháng nhất là chỗ dày hơn nơi nhựa bên trong vẫn còn trong trạng thái nóng chảy
Trang 14b/ Full-Shot process: Quy trình đầy nhựa
Ưu điểm:
1/ Xóa bỏ sinkmark, đường vân trên bề mặt sản phẩm;
2/ Không cần quá trình nén nhựa từ máy ép nhựa;
3/ Giảm áp lực trong khuôn lên đến 70%, và do đó giảm lực khóa khuôn cho phép ép được các chi tiết lớn hơn trên các máy nhỏ hơn;
4/ Giảm tiêu thụ điện năng;
5/ Giảm ứng suất đúc, và do đó cải thiện sự ổn định kích thước và chi tiết không bị méo.
* Phương pháp này được bảo hộ bởi bằng sáng chế cấp cho CGI và Mitsubishi Gas Chemicals tại Nhật Bản.
Trang 15c/ CGI’s PEP Plastic Expulsion Process: Quy trình CGI’s PEP
Trình tự của quy trình PEP1:
1/ Sau khi đóng khuôn, nhựa được phun đầy hốc khuôn, nhựa được nén tạm thời bằng máy ép nhựa;
2/ Sau một thời gian trễ đã được thiết định từ trước, van vòi phun đóng lại, khí được bơm vào để tiếp tục nén;
3/ Van PEP mở;
4/ Nhựa dư được tống ra hốc khuôn thứ cấp;
5/ Khí được xả ra ngoài hoặc rút ra trước khi mở khuôn đồng thời máy tiến hành cân nhựa.
Trang 16c/ CGI’s PEP Plastic Expulsion Process: Quy trình CGI’s PEP
Ưu điểm:
1/ Việc định lượng một cách chính xác lượng nhựa chưa nén
để bơm vào hốc khuôn (như trong quá trình "Short Shot) là không cần thiết Thời gian phun khí không phải là quan trọng;
2/ Áp lực từ các máy ép nhựa và / hoặc áp lực khí bảo đảm chi tiết có bề mặt, biên dạng tốt;
3/ Không có các điểm vướng của nhựa như trong phương pháp ngắn Shot-Shot;
4/ Cải thiện với lõi khí, trọng lượng giảm và thời gian chu kỳ ép giảm;
5/ Thích hợp cho hầu hết các nhựa nhiệt dẻo, bao gồm cả nylon chứa sợi thủy tinh;
6/ Thích hợp cho nhiều dạng hốc khuôn;
7/ Vị trí của cửa phun nhựa không quan trọng
Trang 17c/ CGI’s PEP Plastic Expulsion Process: Quy trình CGI’s PEP
Trình tự của quy trình PEP2:
1/ Sau khi đóng khuôn, nhựa được phun đầy hốc khuôn, nhựa được nén tạm thời bằng máy ép nhựa;
2/ Sau một thời gian trễ đã được thiết định từ trước, van vòi phun đóng lại, khí được bơm vào để tiếp tục nén;
3/ Van vòi phun mở;
4/ Nhựa dư được tống ra ngược trở lại xy lanh, lúc này trục vít xuay ngược về phía sau để lấy lại lượng nhựa dư này;
5/ Đến một thời điểm được xác định từ trước, van vòi phun đóng lại, quá trình nén của khí để bù co rút (co ngót) bắt đầu
6/ Khí được xả ra ngoài hoặc rút ra trước khi mở khuôn đồng thời máy tiến hành cân nhựa
Một số tác giả gọi quy trình này là “Back-to-Screw process”, quátrình có sự trả nhựa lại vào trong xy lanh – trục vít
Trang 182/ Không cần quá trình cắt nhựa dư;
3/ Không cần van ngắt phía trong khuôn
Trang 19* Sử dụng khí để áp lực lên nhựa trong khi làm mát, đẩy nó về phía
bề mặt hốc khuôn đối diện để cải thiện bề mặt sản phẩm
Trang 20d/ EGM – External Gas Molding: Quy trình EGM, khí hỗ trợ phía ngoài
Lợi ích:
1/ Có thể loại bỏ các sinkmark, đường vân trên bề mặt sản phẩm;
2/ Hầu như loại bỏ ứng suất trong chi tiết ép nhựa và do đó không có sự biến dạng;
3/ Cải thiện sự ổn định kích thước 4/ Có thể làm giảm việc sử dụng vật liệu;
5/ Áp lực được sử dụng hiệu quả hơn, và do đó đòi hỏi ít áp lực hơn:
- Giảm lực kẹp khuôn do đó giảm kích thước máy;
- Giảm hao mòn trên khuôn mẫu;
- Giảm điện năng tiêu thụ;
Trang 21e/ Khí hỗ trợ ngoài với áp suất chân không :
Đối với một số loại nhựa nhiệt cứng, quá trình điền đầykhông tốt, người ta có thể dùng quá trình hút chân không hỗ trợ
Người ta gắn đầu hút khí vào các đường thoát khí (airvent) của hốc khuôn (cavity) Áp suất âm này sẽ hỗ trợ cho ápsuất phun của máy ép nhựa Dòng nhựa chảy nhanh hơn, tránhhiện tượng đông cứng sớm của nhựa; đồng thời nó hút khôngkhí trong cavity ra ngoài hỗ trợ quá trình điền đầy
Hạn chế: Có thể tạo nên ba vớ tại vị trí đường thoát khí
Quá trình này được sử dụng tại một số công ty Nhật, chưathấy sử dụng rộng rãi
Trang 22"thông qua vòi phun" (Xem hình 1.9)
Gas Assist Systems.AVI - YouTube.flv
Trang 23b/ Thông qua kênh dẫn nhựa (Resin delivery system)
Khí được đưa vào hệ thống kênh dẫn nhựa (runner) hoặc cuống rót (sprue bushing) qua những pin khí được gọi là ép nhựa có khí hỗ trợ "qua kênh dẫn nhựa" (Xem hình 1.10) Với những chi tiết có cuống rót đồng thời là cổng phun (gate), các đường khí đều phải bắt nguồn từ cuống rót Phương pháp làm cho cả kênh dẫn nhựa bị rỗng, có thể giúp để giảm số lượng của nhựa phải tái chế.
Trang 24c/ Bơm khí trực tiếp vào hốc khuôn (Mold cavity gas injection system)
Khí được đưa trực tiếp vào hốc
khuôn thông qua pin khí được
gọi là phương pháp ép nhựa có
khí hỗ trợ "in-article" (Xem
hình 1.11) Các chi tiết ép nhựa
với phương pháp này có thể
được thiết kế với các kênh khí
Trang 25Có 2 phương pháp điều khiển dòng khí phun vào:
• Điều khiển thể tích – Tạo áp suất khí không liên tục
• Điều khiển áp suất - Tạo áp suất khí liên tục
1.1 Điều khiển thể tích
1.1.1 Nguyên lý hoạt động
Trang 266.1 Điều khiển thể tích
6.1.2 Đặc điểm
- Áp suất khí bị ảnh hưởng bởi đường kính và chiều dài đầu phun khí, đầu nối vào khuôn và thể tích khuôn.
- Không có quá trình giữ áp.
- Áp suất khí thực trong khuôn không được điều khiển.
Trang 276.2 Điều khiển áp suất
Trang 286.3 Đường cong áp suất khí
Trang 29- Ưu điểm của khí nito:
+ Nó là khí trơ nên không sinh ra các phản ứng hóa học.
+ Không độc hại, không cháy và chi phí thấp.
Trang 30- Thiết bị tạo khí nito
- Thiết bị tạo áp suất
- Thiết bị điều khiển áp suất
- Đầu phun
Trang 318.1 Thiết bị tạo khí nito
Khí nito được lọc từ không khí xung
quanh thông qua một hệ thống nhiều
màng lọc khác nhau, lưu lượng khí
sinh ra có thể đạt 100 – 450 l/ph
Thiết bị có thể được lắp đặt ở gần
hoặc ở xa máy ép phun.
Trang 328.2 Thiết bị tạo áp suất
Một máy có thể cung cấp khí nito cho
một vài máy ép phun, áp suất làm
việc có thể đạt 300bar Thiết bị có thể
được lắp đặt ở gần hoặc ở xa các máy
ép phun.
Trang 338.3 Thiết bị điều khiển áp suất
Một thiết bị điều khiển áp suất bao gồm
hệ thống điều khiển liên kết với một
hay nhiều modun điều chỉnh áp suất
Modun điều chỉnh áp suất có 2 loại:
+ Modun điều chỉnh áp suất (pressure
control module)
+ Modun đơn (monomodule).
Trang 348.3 Thiết bị điều khiển áp suất
- Modun điều chỉnh áp suất có kích thước
khá nhỏ nên nó có thể được lắp đặt gần
đầu phun khí do đó, ít tiêu hao khí nito
- Áp suất khí được điều chỉnh bằng van
có độ chính xác cao, van có thể được
điều khiển bằng điện hoặc bằng khí nén,
dầu ép
Modun đơn có các đặc điểm giống
modun điều chỉnh áp suất, điểm khác biệt
ở đây là hệ thống điều khiển điện
- Modun đơn có chức năng giống như
một modun điều chỉnh áp suất khi liên
kết trong một thiết bị điều khiển áp suất
(mobile control cabinet)
- Modun đơn có thể làm việc độc lập và
được lập trình bằng một thiết bị cầm tay
Trang 358.3 Thiết bị điều khiển áp suất
Tùy thuộc vào thiết kế của khuôn, các modun điều khiển áp suất khác nhau có thể được liên kết.
- Nếu chỉ có một hoặc hai điểm
phun khí thông qua đầu phun
của máy hoặc modun phun khí
lắp trực tiếp lên khuôn thì sử
dụng một hoặc hai đơn modun
với một thiết bị lập trình bằng
tay là một giải pháp kinh tế
hơn
Trang 36NKT8.3 Thiết bị điều khiển áp suất
Tùy thuộc vào thiết kế của khuôn, các modun điều khiển áp suất khác nhau có thể được liên kết.
- Nếu có một vài modun phun
khí trên khuôn, thì một thiết bị
điều khiển áp suất cơ động sẽ
được sử dụng, nó có thể điều
khiển 8 modun điều chỉnh áp
suất hoặc đơn modun
Trang 378.4 Đầu phun khí
Khí có thể được phun vào khuôn ở nhiều vị trí khác nhau
- Khí được phun vào thông qua đầu phun của máy.
- Khí được phun vào ở các vị trí khác nhau trên khuôn.
8.4.1 Đầu phun máy (Machine nozzle)
Trang 388.4 Đầu phun khí
8.4.2 Đầu phun trên khuôn (Machine injector)
Đầu phun có kích thước nhỏ, độ chính xác cao, bao gồm 3 bộ phận chính:
- Đệm kín – có chức năng đệm kín giữa khuôn và đầu phun
- Chốt và vỏ bao – hình thành một khe hở hình vành khăn, khe hở này phải đủ lớn
để khí có thể được thổi vào trong khuôn nhưng phải đủ nhỏ để nhựa không thể lọt vào đầu phun
Trang 418.4 Đầu phun khí
8.4.2 Đầu phun trên khuôn (Machine injector)
+ Phương pháp rút khí ra ngoài
Trang 42Nhựa nhiệt dẻo:
Hầu hết các vật liệu nhựa nhiệt dẻo đều có khả năng sử dụng trong công nghệ khuôn ép phun có sự kết hợp của chất khí : Ví dụ PP, PE, PVC, PS, PC, PET
Các loại vật liệu có cấu trúc tinh thể như polypropylene , nylon và
polybutylene terephtalate (PBT) có nhiều ưu thế hơn bởi vì chúng có điểm nóng chảy cao (sharp melt point ) và độ nhớt thấp, cho phép khí có thể xuyên qua dễ dàng
Sự lựa chọn vật liệu nên dựa trên những yêu cầu về đặc tính ứng
dụng như độ cứng vững , độ bền ,đặc tính ở nhiệt độ sử dụng và độ bền hóa học Cụ thể hơn, khi độ nhớt polymer tăng thì bề dày của kênh dẫn khí sẽ tăng
Ví dụ: polycarbonat và PBT
Độ nhớt polymer có thể thay đổi bằng cách thay đổi nhiệt độ nóng chảy của nó Khi nhiệt độ nóng chảy tăng, độ nhớt giảm ,dẫn đến giảm bề dày của kênh dẫn khí
Trang 43 Nhựa nhiệt dẻo:
Trang 44Nhìn chung, người ta tìm ra các loại vật liệu đệm chất vô cơ có dòng chảy tầng để sử dụng trong công nghệ ép phun có kết hợp chất khí Những vật liệu chứa chất đệm vô cơ có dòng chảy trượt hay dòng rắn ,công nghệ ép phun có sự hỗ trợ của chất khí không được ứng dụng
Nếu chúng ta có ý định dùng công nghệ ép phun có sự hỗ trợ của chất khí đối với nhựa nhiệt rắn, thì chúng ta nên dùng mẫu thử để đánh giá khả
năng tương thích của vật liệu tới quá trình
Trang 45 Tối ưu hóa sự thiết kế chi tiết cho công nghệ ép phun có khí hỗ trợ cần tập trung vào 3 vấn đề chính sau đây:
+ Tối ưu hóa cấu trúc của kênh dẫn
+ Kích thước kênh dẫn
+ Cân bằng sự điền đầy khuôn
Cấu trúc của kênh dẫn khí trong lòng khuôn bao gồm vị trí của miệng phun khí và vị trí các kênh dẫn nhựa vào lòng khuôn Bọt khí sẽ đi theo kênh dẫn mà trở kháng thấp nhất, áp suất thấp nhất,nhiệt độ cao nhất
Cấu trúc kênh dẫn:
Một kênh dẫn hay là một vùng có bề dày lớn hơn của chi tiết thường
sẽ là nơi có nhiệt độ cao hơn vùng có bề dày mỏng hơn bởi vì lượng
nhựa nóng nhiều hơn Vùng có áp suất thấp nhất sẽ đặc trưng cho vùng của chi tiết mà có lượng đông đặc(packing) ít nhất Kết quả dẫn tới là bọt khí đi theo đương dẫn mong muốn, điều này cần thiết cho sự điều khiển cho quá trình điền đầy nhựa cho khuôn vì thế áp suất thấp nhất trong
lòng khuôn tồn tại gần cuối của mỗi kênh dẫn Sự khác nhau về áp sẽ hút các bọt khí qua kênh dẫn ,đẩy nhựa vào các vị trí chưa được điền đầy
Trang 46 Một lưu ý khác trong cấu trúc kênh dẫn khí là tránh trường hợp kênh dẫn vòng kín Kênh dẫn vòng kín sẽ dẫn tới kết quả là sự bịt kín các hạt vật liệu trong vùng kênh dẫn nơi mà bọt khí hội tụ
Trang 47Kích thước kênh dẫn:
Tỷ lệ kích thước kênh dẫn với kích thước tường danh nghĩa từ 2:1 đến 2.5:1 , đây xem như là một giới hạn dưới Giới hạn trên dựa vào đặc điểm hình học của chi tiết và vị trí kênh dẫn trong chi tiết Kênh dẫn lớn dẫn tới vùng xung quanh tường có thể hình thành các rãnh, điều này dẫn tới các vùng tường mỏng lân cận không được điền đầy
Một số hình dạng hình học kênh dẫn khí: