Sau đó trải qua thời gian sinh sống lâu dài của cư dân nơi đây dần dần tạo thành loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình thể hiện ở một số đặc trưng: • Trong cách ứng xử với môi trườ
Trang 11. Hãy làm rõ: văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình VD minh họa:
Nước Việt Nam ta nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương; phía Nam của Trung Quốc; phía Tây giáp với Lào và Cămpuchia; phía Đông là biển Đông thông với Thái Bình Dương rộng lớn và nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng ẩm, ở giữa vùng khu vực gió mùa điển hình sinh ra khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có lượng mưa vào loại cao nhất thế giới tạo nên những con sông dài rộng với các vùng đồng bằng trù phú, sông rạch chằng chịt, từ đó nghề trồng trọt ra đời và phát triển mạnh Sau đó trải qua thời gian sinh sống lâu dài của cư dân nơi đây dần dần tạo thành loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình thể hiện ở một số đặc trưng:
• Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên: Nghề nông khiến người dân phải chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết quả, kết trái và thu hoạch nên hình thành lối sống định cư ở cố định một chỗ với cái nhà, cái cây của mình và cho rằng ” An cư thì mới lạc nghiệp” Và do đặc điểm của nghề trồng trọt phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên người dân có ý thức tôn trọng, sống hòa hợp với thiên nhiên Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và
lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước như các tín ngưỡng thờ thần sông, thần biển, thần đất và các lễ hội như lễ hội cầu mưa, lễ hội được mùa…
• Về mặt nhận thức: Vì nghề nông cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu, “ trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp - biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng và tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
• Về mặt tổ chức cộng đồng: người Việt có lối sống cố định lâu dài nên tạo ra những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó hình thành nên lối sống trọng tình “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó cộng đồng còn tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội trong cộng đồng làng xã này với cộng đồng làng
xã khác
Trang 2• Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể dẫn đến nhiều triết lý sống như: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà
sa, đi với ma mặc áo giấy; … Tuy nhiên mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật
co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế
• Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng
• Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận Hoặc như ngày xưa, trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, mỗi khi thế thắng thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc trở về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống
2. Triết lý âm dương thể hiện như thế nào trong lối sống người Việt
Triết lý âm dương trong lối sống văn hóa Việt biểu hiện ở nhiều mặt, từ tư duy đến cách sống, từ những dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại ngày nay
Như từ truyền thống xa xưa, trong khi trên thế giới, vật tổ của các dân tộc thường là một loài động vật cụ thể (chim ưng, đại bàng, chó sói, bò…) thì vật tổ của người Việt là một cặp đôi trừu tượng Tiên-Rồng Rồng tượng trưng cho dương, sức mạnh, còn Tiên tượng trưng cho âm, nói lên cái đẹp, cái tinh anh, mỹ lệ Cũng giống như là sự đối lập nhưng hợp nhất của hai cặp Mẹ-Cha và Đất-Trời biểu trưng cho sự âm dương hòa hợp khắng khít và là tín ngưỡng phồn thực của người Việt ta Chiếc trống đồng – biểu tượng sức mạnh và quyền uy của người xưa là một biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực với các hình biểu tượng âm dương vuông-tròn và tròn-vuông lồng vào nhau, hình ảnh các đôi trai gái giã gạo Ngay cả hình ảnh về chùa Một Cột (âm) được đặt trên một cột tròn (dương), cột tròn lại đặt trong cái
hồ vuông (âm)… đều liên quan đến tín ngưỡng phồn thực
Hay trong đời sống hàng ngày thì mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tắc âm dương hài hòa:
“nóng-lạnh”, “đực-cái”, “cao-thấp” Khi xin âm dương thì hai đồng tiền phải một ngửa một sấp, ngói
Trang 3âm dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp, khi ghép gỗ thì phải có tấm gờ lồi ra khớp với tấm kia có rảnh lõm vào Về mặt tư duy thì người Việt ta vẫn nhận thức theo kiểu: “Chim sa, cá nhảy chớ mừng; nhện sa, xà đón xin đừng có lo” Đây là cách diễn đạt quy luật “trong âm có dương” và “trong âm có dương” Ngày xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duy teo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: “Sướng lắm khổ nhiều” hay “Trèo cao ngã đau” Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật “Âm dương chuyển hóa”
Nhờ có nếp suy nghĩ mang đậm tính cách âm dương thấm nhuần từ trong máu thịt, đó là trong âm có dương và trong dương có âm, âm dương chuyển hóa liên tục, không ngừng tạo nên vũ trụ và con người
và con ngưòi cũng chỉ là hai yếu tố âm dương kết thành, nên người Việt có được triết lý sống quân bình, hài hòa, thân ái, qúi mình, trọng người Trong cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai Coi việc đạt được sự hài hòa quân bình âm dương là đạt được sự ổn định vững chắc, là toại nguyện, hạnh phúc :
“ba vuông sánh với bảy tròn Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu” Cũng chính triết lý quân bình này khiến cho người Việt thường có xu hướng an phận thủ thường không có tính hiếu thắng
Hoặc như trong cách ở, người Việt Nam lúc nào cũng cố gắng tạo nên sự thích nghi, hài hòa với môi trường tự nhiên chung quanh Trong việc ăn uống, bửa ăn gồm những món ăn âm tính và dương tính luôn bổ sung cho nhau, để nhờ đó mà có được sự quân bình, hài hòa âm dương cho cơ thể.Để đảm bảo quân bình âm dương giữa con người với môi trường, người Việt còn có tập quán ăn uốn theo mùa và vùng khí hậu Việt Nam là xứ nóng (dương) nên phần lớn nguồn thức ăn sử dụng hằng ngày đều thuộc loại bình, hàn âm như thực vật (rau, củ, quả…) Những gia vị và cách chế biến, làm chín hoặc sống, đều là để bổ khuyết âm hoặc dương tính cho các thức ăn Biểu tượng nguyên lý âm - dương được thể hiện rõ nét nhấtt là qua chiếc bánh chưng truyền thống của ngày Tết Vật liệu là sản phẩm của đất, khí trời, nắng ấm mà tạo thành là sự hòa trộn của âm dương đất trời Về hình dạng thì vuông là âm, tròn là dương Nhân bánh nằm gọn trong bánh: âm dương gắn bó mật thiết…Người Việt còn coi bệnh tật sinh
ra là do mất cân bằng âm dương trong cơ thể nên các món ăn được coi như bài thuốc chữa bệnh Chẳng hạn: Đau bụng nhiệt (dương) cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu đen, trứng gà lá mơ Đau bụng hàn (âm) cần dùng các thứ nhiệt dương như gừng, riềng
Triết lí quân bình âm dương được vận dụng không chỉ cho người sống mà ngay cả người chết: Trong chùa, hộ pháp có ông Thiện – ông Ác( Thiện trước, ác sau) , trong các ngôi mộ cổ ở Lạch Trường TK III TCN được gióng theo Nam Bắc, các đồ vật làm bằng gỗ (dương) được đặt ở phía Bắc (âm), các vật bằng gốm (âm ) lại được đặt ở phía Nam (dương ) – cách sắp xếp âm dương bù trừ nhau để tạo ra sự quân bình Ngoài ra người Việt đặc biệt coi trọng mối liên hệ giữa âm và dương Theo người xưa, chết
là từ động thành tĩnh nên với triết lý âm dương thì hồn đi từ cõi dương (trần gian) sang cõi âm (âm phủ) Với niềm tin chết là về với tổ tiên (“Sống gửi thác về”), người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Tục xưa tin rằng dương sao âm vậy và cũng có một cuộc sống ở cõi âm như cuộc sống người trần trên dương thế Tức là, người chết cũng ăn uống và tiêu pha như người sống Do vậy, ông cha ta vốn coi trọng lễ đốt mã trong ngày cúng giỗ Người sống sắm sửa quần áo, giường màn, bát đĩa,
xe cộ, thuyền bè cho người chết; thậm chí còn đốt hình nhân để hóa người hầu hạ kẻ đã khuất
Trang 4Hơn nữa triết lí quân bình âm dương này còn tạo ra ở người Việt khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh , lối sống ( lối sống linh hoạt), dù khó khăn tới đâu vẫn không chán nản Người Việt Nam còn là dân tộc sống bằng tương lai (tinh thần lạc quan ) : thời trai trẻ khổ thì về già sẽ sướng ( không ai giàu
ba họ, không ai khó 3 đời….), suốt đời khổ thì tin rằng con mình sẽ sướng (hy sinh đời bố để củng cố đời con) Chẳng thế mà trong một cuộc khảo sát gần đây trên toàn thế giới về việc dân tộc nào lạc quan nhất thì người Việt chúng ta đã chiễm chệ nằm ngôi đầu bảng đó sao!
3. Cơ sở hình thành tính cộng đồng, biểu hiện như thế nào, nêu ưu và nhược điểm
Do địa bàn tụ cư của dân tộc ta nằm ở rìa khu vực Đông Nam á với hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, lượng phù sa bồi đắp cho các đồng bằng châu thổ, các loài động vật dưới biển và trên cạn phong phú đã tạo thành loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình Mà cuộc sống nông nghiệp này lại phải phụ thuôc vào thiên nhiên rất nhiều
do đó để chống chọi với môi trường tự nhiên khắc nghiệt nên người dân ý thức được rằng phải liên kết chặt chẽ với nhau, phải dựa vào nhau trong một cộng đồng, tập thể để tồn tại Họ đã tập hợp nhau lại
để tiến hành đắp đê, ngăn sông, ngăn biển để đối phó với lũ lụt hàng năm cũng như để ngăn chặn sự xâm mặn của nước biển Đồng thời, họ xây dựng những công trình thuỷ lợi như đào kênh, mương dẫn nước vào đồng ruộng, khắc phục hạn hán, khơi sông, ngăn dòng, đào những ao hồ nhân tạo để phục vụ mùa màng và cuộc sống Ngoài ra, hàng năm con người còn thường xuyên phải quai đê, hộ đê, trồng rừng ven biển Những công việc ấy đòi hỏi ý chí vì mình, vì cộng đồng, cùng sức lực không phải của một người mà phải là sự đoàn kết, chung sức của hàng nghìn người góp lại tạo thành những cộng đồng tập thể lớn mạnh Hơn nữa cuộc sống định cư mang theo những mối quan hệ huyết thống, láng giềng gần gũi nhau hình thành nên lối sống trọng tình làm cho mọi người dân sống trong một cộng đồng càng thêm khắng khít gắn bó Như ngay từ câu chuyện sự tích “Con Rồng-Cháu Tiên”, sự tích về bọc trăm trứng đã phản ánh rất rõ điều này, người dân Việt Nam là cùng chung một tổ tiên, chung một nguồn gốc Truyền thuyết về bọc trăm trứng là bằng chứng chứng minh hùng hồn nhất về tính cộng đồng dân tộc, dù bầu hay bí nhưng đều chung một giàn Ngoài ra do phương thức sản xuất đa canh của nền nông nghiệp lúa nước phải cần rất nhiều người và mang tính thời vụ cao nên cần phải có sự đoàn kết tương trợ nhau trong lao động sản xuất Chính những điều kiện trên đã bước đầu hình thành tính cộng đồng trong văn hóa của dân tộc Việt Nam mà biểu hiện rõ nét nhất của nó là tạo thành những quần cư làng
xã với những cư dân sinh sống và gắn bó mật thiết với nhau tạo thành nếp sống yêu thương, sẻ chia đùm bọc lẫn nhau như “lá lành đùm lá rách” “tay đứt ruột xót” “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Bên cạch đó, nước ta tuy là không lớn nhưng từ xưa đến nay luôn bị giặc ngoại xâm dòm ngó, lăm le xâm lược nên dân tộc ta luôn ý thức được rằng phải đoàn kết nhau thì mới có thể tạo nên sức mạnh để giữ đất giữ nước giữ lấy mái nhà quê hương Cho nên khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp luôn luôn dâng cao ý thức chung vì dân tộc là phải đoàn kết thống nhất với nhau vì một mục tiêu chung là đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”
Trang 5Chính nhờ những cuộc đấu tranh lâu dài nhằm khắc phục, hạn chế thiên tai và chống giặc ngoại xâm
đã góp phần hình thành nên tính cộng đồng tồn tại và phát triển đậm nét trong văn hóa của người dân Việt nam qua hàng ngàn năm nay
Một số biểu hiện rõ nét của tính cộng đồng có thể thấy như là một cộng đồng cư dân làng xã thường thờ chung vị Thành Hoàng làng Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình bến nước cây
đa, là nơi tập trung của một cộng đồng làng xã về mọi phương diện, văn hóa, tôn giáo tình cảm Ngoài
ra các phong tục, tập quán trong làng xã Việt cũng mang tính cộng đồng rất rõ, chúng xuất phát từ lợi ích của cộng đồng hơn là lợi ích cá nhân VD như trong lĩnh vực hôn nhân, một lĩnh vực có thể nói là riêng tư nhất của con người nhưng ở trong làng Việt trước đây, hôn nhân, trước hết là công việc của hai bên gia đình, của hai họ, vì lợi ích của hai cộng đồng Hôn nhân phải coi trọng quyền lợi của làng, bảo đảm sự ổn định của làng, trước hết là bảo đảm ổn định nhân lực, tránh sự xáo trộn dân cư, xáo trộn văn hóa, lối sống, tránh mang những cái ngoại lai vào làng Bởi vậy, phong tục của làng động viên khuyến khích trai gái trong làng lấy nhau: "Trâu ta ăn cỏ đồng ta, bao giờ hết cỏ mới ra đồng người";
"Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ", v v.v Bởi vậy, nên tục nộp cheo quy định trai gái lấy nhau phải nộp cheo, và cheo ngoại phải nặng gấp nhiều lần cheo nội: "Nuôi lợn thì phải vớt bèo, lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng"; "Lấy vợ mười heo, không cheo cũng mất" Hoặc như phong tục tang ma cũng thể hiện tính cộng đồng sâu nặng như đám tang không phải là công việc riêng của gia đình có người chết mà là công việc của cả họ, của nhiều cộng đồng trong đó có cộng đồng làng xóm:
"Họ đương ba tháng; xóm giềng ba ngày"; "Láng giềng còn ba ngày, chồng cô vợ cậu một ngày cũng không";
Tích cực: Tinh thần đoàn kết tương trợ, {Tay đứt ruột xót , Môi hở răng lạnh , Chị ngã em nâng, Lá lành đùm lá rách}
à Ứng xử trọng tình
Tiêu cực: Tư tưởng bè phái, bao che, “chủ nghĩa thân quen” {Tát nước theo mưa, Rút dây động rừng } Tâm lý dựa dẫm, ỷ lại; Ứng xử cào bằng, kìm hãm vai trò cá nhân
4. Cơ sở hình thành tính tự trị, biểu hiện, nêu ưu và nhược điểm
Phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước: => Sống định cư, không thích sự di chuyển, đổi thay Phương thức sản xuất nông nghiệp tiểu nông: Mỗi làng là một đơn vị kinh tế độc lập, tự cung tự cấp,
à hướng nội, khép kín
Về không gian địa lý : Mỗi làng sống quần tụ trong một không gian khép kín
Về tình cảm: Các thành viên trong làng đều có quan hệ họ hang, Giao lưu tình cảm khép kín trong phạm vi làng
Về tổ chức hành chính : Làng có chức năng tự quản: - Luật pháp - Lập pháp - Hành pháp
Hương ước – tập tục – lệ làng: là luật pháp của mỗi làng, được cụ thể hóa, gắn liền với phong tục tập quán và ăn sâu vào tâm thức cư dân trong làng tồn tại song song với luật pháp nhà nước nhưng có hiệu lực hơn{ Phép vua thua lệ làng}
Trang 6ràng buộc các thành viên trong làng vào một nề nếp, khuôn phép, tạo thành nếp sống chung ổn định của mỗi làng
=>Mỗi làng tồn tại như một “vương quốc” nhỏ khép kín, độc lập với làng khác và tự chủ trong quan
hệ với quốc gia => Tự Trị
Tác động của tính tự trị đến lối sống, tư duy và tính cách của người Việt xưa và nay:
Tích cực:Tinh thần độc lập, tự chủ
Tiêu cực: Tư tưởng địa phương cục bộ {Phép vua thua lệ làng, Nhập gia tùy tục }Lối sống khép kín, bảo thủ {Đóng cửa bảo nhau}
+ Trên nền tảng của phương thức sản xuất nông nghiệp tiểu nông đã hình thành hai đặc trưng cơ bản của văn hóa làng: tính cộng đồng và tính tự trị
9 Cơ tầng văn hóa Việt Nam, nêu thành tựu văn hóa Việt Nam thời Văn Lang Âu Lạc, và Đại Việt
I Tầng văn hóa bản địa
1 Văn hóa Đông Nam Á thời tiền sử:
+ Dấu ấn văn hóa ĐNÁ tiền sử ở Việt Nam:- Văn hóa Núi Đọ, Sơn Vi- Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn à Nông nghiệp trồng trọt (lúa nước)
2 Văn hóa bản địa Việt Nam (thời sơ sử)
- Thời sơ sử là thời kì hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên của Việt Nam: nhà nước Văn Lang của các vua Hùng
- Thời sơ sử tồn tại trong khoảng 2.000 năm trước Công Nguyên, với sự chi phối của các yếu tố:
- Văn minh lúa nước ; - Văn minh đồ đồng ; - Sự hình thành nhà nước
à định hình và phát triển rực rỡ nền văn hóa bản địa Việt Nam - văn hóa Đông Sơn
+ Diện mạo văn hóa Đông Sơn:
- Không gian văn hóa: Bắc bộ và bắc Trung bộ
- Thời gian văn hóa: 1.000 năm (từ TK VII tr.CN à TK III s.CN)
+ Phương thức sản xuất: - Nông nghiệp trồng lúa nước ; - Các nghề thủ công: làm mộc, đan tre nứa, nghề dệt, nghề sơn (sơn đồ mộc), làm thủy tinh,
+ Tổ chức xã hội: - Cư dân sống định cư, quần tụ thành làng à cơ sở hình thành làng Việt truyền thống
+ Phong tục: ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình, các tục ma chay, cưới xin cũng hình thành…
+ Lễ hội và tín ngưỡng nông nghiệp: Hội mùa, hội cầu nước, lễ hiến tế, hội khánh thành trống đồng… + Tín ngưỡng phồn thực và ý niệm về sự cặp đôi, đối ngẫu: trai/gái; đực/cái
+ Các truyện thần thoại và truyền thuyết dân gian: Sự tích trăm trứng; Sự tích bánh chưng bánh dày;
Sự tích quả dưa đỏ; Sự tích trầu cau; Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Chử Đồng Tử
II Tầng văn hóa ngoại sinh
+ Hoàn cảnh lịch sử:
- Năm 178 tr.CN, nước Âu Lạc bị thôn tính vào nước Nam Việt của Triệu Đà
- Năm 111 (tr.CN), nước Nam Việt bị nhà Hán thôn tính, vùng đất Âu Lạc à châu Giao Chỉ à thời kì Bắc thuộc
- Năm 938 cuộc khởi nghĩa Ngô Quyền đã chấm dứt thời kì Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm, bắt đầu
kỉ nguyên độc lập tự chủ của các triều đại phong kiến Đại Việt
1 Sự du nhập của văn hóa Trung Hoa:
Trang 7Quá trình du nhập của Nho giáo: - Nho giáo ra đời ở Trung Hoa (TK VI – V tr.CN); - Du nhập vào Việt Nam: 10 TK đầu CN (Bắc thuộc); - Vùng ảnh hưởng trực tiếp: Bắc bộ và Bắc Trung bộ
Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo: - Tam cương ; - Ngũ thường ; - Thuyết Chính danh
a Tam cương: - Quân - thần: bề tôi phải trung với vua.; - Phụ - tử: con phải hiếu lễ, phải phục tùng cha mẹ.; - Phu - phụ: vợ phải trinh tiết với chồng
b Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
- Nhân: tình người, yêu thương con người và vạn vật
- Nghĩa: sự đối xử công bằng, hợp lẽ phải
- Lễ: lễ giáo, thứ bậc, kỷ cương
- Trí: hiểu biết, sáng suốt, phân biệt đúng sai
- Tín: giữ lời hứa, sự trung thực, tin cậy
à Tam cương, Ngũ thường:
- Là chuẩn mực của quan hệ ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội
- Là biện pháp để xây dựng xã hội trật tự và ổn định
- Là cơ sở để Nho giáo xác lập các tiêu chí xây dựng mô hình nhân cách con người lý tưởng:
Nam nhi à Quân tử:{Tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ.}
“Người quân tử mong kéo mọi người lên cao bằng mình, còn kẻ tiểu nhân muốn hạ tất cả mọi người xuống thấp như mình” (Châm ngôn Trung Hoa)
Phụ nữ: - Tam tòng ; - Tứ đức
c Thuyết Chính danh: Mỗi người phải làm đúng vai trò, danh phận của mình (Thượng bất chính thì hạ tắc loạn)
2 Sự du nhập của Phật giáo (Ấn Độ): Phật giáo ra đời tại Ấn Độ vào cuối TK VI à TK V tr.CN
Du nhập vào Việt Nam từ khoảng TK I tr CN bằng hai con đường (từ Ấn Độ và Trung Hoa) Người sáng lập ra Phật giáo: Siddharta (Tất Đạt Đa) – Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) – Buddha (Phật)
Tư tưởng, giáo lý của Phật giáo: Phật giáo là một hệ tư tưởng triết học – tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc, rộng rãi không chỉ ở phương Đông mà còn ảnh hưởng đến cả phương Tây
v Triết học Phật giáo (triết học nhân sinh):
- Thuyết luân hồi: sự lặp lại chu trình bất tận của kiếp nhân sinh ->Luật nhân – quả , Tư tưởng nghiệp báo
- Thuyết vô ngã: phủ nhận bản ngã à “chiến đấu với chính mình để nhường nhịn người khác”
- Thuyết vô thường: vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình: sinh - trụ - dị - diệt
Triết lý nhân sinh của Phật giáo: Đời là bể khổ (vì luân hồi, nghiệp báo) Tìm giải pháp để giải thoát chúng sinh khỏi kiếp luân hồi (đạt tới Niết bàn) à cứu khổ cứu nạn, phổ độ chúng sinh
v Giáo lý của Phật giáo:
- Tứ diệu đế (bốn chân lý vĩ đại): - Khổ đế: đời là bể khổ ; - Tập đế: nguyên nhân gây đau khổ ; - Diệt đế: có thể diệt trừ được nỗi khổ.; - Đạo đế: con đường diệt khổ để đạt tới giải thoát
à Tu tâm sẽ giúp con người đạt đến “giác ngộ” à từ bỏ tham sân si ; à hạnh phúc, an lạc
+ Thế kỉ I à TK III, Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn của khu vực: Phật giáo nhanh chóng được chấp nhận rộng rãi và khẳng định được vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
à Kết quả của cuộc du nhập Nho giáo và Phật giáo:
= Sự dung hợp giữa tầng văn hóa bản địa với tầng văn hóa ngoại sinh à thay đổi cấu trúc văn hóa bản địa Tạo nên cấu trúc văn hóa truyền thống với ba yếu tố hạt nhân: - Nông nghiệp lúa nước; - Nho giáo; - Phật giáo
III Giai đoạn định hình bản sắc văn hóa VN
Trang 8- Các đặc trưng bản sắc của văn hóa truyền thống được định hình trong gần 10 TK (từ giữa TK X đến giữa TK XIX), trên nền tảng của thể chế nhà nước phong kiến Đại Việt
- Năm 939 Ngô Quyền xưng Vương, dời đô về Cổ Loa (939 - 965)
- Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, dời đô về Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt (968 – 980)
- Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi, dời đô về Đại La, đặt tên kinh đô là Thăng Long
- Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên nước là Đại Việt
- Năm 1225 Trần Thái Tông lên ngôi, lập nên triều đại nhà Trần (1225-1400)
- Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, lập nên triều đại nhà Lê
- Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long, đổi tên nước là Việt Nam, dời kinh đô vào Huế
- Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược, chấm dứt thời kì tự chủ của các triều đại phong kiến Đại Việt
à Cấu trúc văn hóa truyền thống bắt đầu rạn nứt (do tiếp xúc với văn hóa phương Tây)
à Mở đầu quá trình chuyển đổi cấu trúc văn hóa từ truyền thống sang hiện đại
Nhận xét:
Nền văn hóa truyền thống Việt Nam là sản phẩm của quá trình lịch sử lâu dài từ buổi đầu dựng nước đến cuối thế kỷ XIX thông qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội đã hình thành các đặt trưng văn hóa theo thời gian đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc biểu hiện qua lối sống, thói quen, cách tư duy ứng xử…
Văn hóa truyền thống Việt Nam bao gồm hai cơ tầng văn hóa là tầng văn hóa bản địa và tầng văn hóa ngoại sinh
Trong đó tầng văn hóa bản địa hình thành từ thời tiền sử và sơ sử nằm trong cơ tầng chung của văn hóa đông nam á đó là nền tảng của văn minh lúa nước Và tầng văn hóa ngoại sinh là những yếu tố văn hóa được tiếp nhận qua quá trình tiếp xúc và giao lưu với hai nền văn hóa lớn của phương đông là trung hoa(nho giáo) và ấn độ(phật giáo) trong mười thế kỷ đầu công nguyên
Nếu mười thế kỷ đầu công nguyên được coi là thời kỳ quá độ giao thoa với các nền văn hóa ngoại sinh thì từ thế X đến XIX cùng với những hưng thịnh và suy vong của các triều đại phong kiến (ngô-đinh-lý-trần-lê-nguyễn) là thời kỳ định hình các đặc trưng bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam
14 Từ biều đồ tiến trình văn hóa Việt Nam, hãy nêu nhận xét bản thân về quá trình hình thành và phát triễn văn hóa Việt Nam
Tiến trình văn hóa Việt Nam chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử, vắn hóa Văn Lang – Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và Văn hóa hiện đại Sáu giai đoạn này tạo thành 3 lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung hoa và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây
Lớp văn hóa bản địa được hình thành qua hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa tiền sử và giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc được bắt đầu khoảng 3000 năm trước công nguyên Lớp văn hóa bản địa này được tạo thành từ các các nền văn hóa chính là văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa huỳnh, văn hóa Đồng Nai, văn hóa Óc Eo Nền văn hoá Đông Sơn tương ứng với thời đại Hùng Vương ở giai đoạn tiền sử được coi như là sự khởi đầu của lịch sử văn hoá Việt Nam Văn hoá Đông Sơn thời các vua Hùng ra đời dựa trên bước tiến về kĩ thuật kim khí (đồ đồng và sơ kì sắt), sự phát triển của nông nghiệp trồng lúa nước
Trang 9và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Trên cơ sở bước tiến về kinh tế và kĩ thuật đó, người Việt cổ - chủ nhân văn hoá Đông Sơn đã chuyển hẳn từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời tạo thành thời kỳ phát triển văn hóa của giai đoạn Văn Lang –Âu Lạc Bên cạnh làng xã nông nghiệp là cơ cấu xã hội cơ bản thì thành thị đầu tiên là Cổ Loa, trung tâm chính trị của quốc gia cũng đã hình thành Đó cũng là thời kì hình thành tộc người Việt cổ, tổ tiên của người Việt hiện đại; thời kì hình thành những nền tảng cơ bản của bản sắc văn hoá Việt Nam Giai đoạn tiền sử và giai đoạn Văn Lang – Âu Lạc kéo dài từ 3-2 nghìn năm trước công nguyên đến vài trăm năm TCN đã tạo nên một đỉnh cao rực rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc với nhiều thành tựu như nghề trồng lúa nước, nghề luyện kim đồng, chữ viết Với lớp nền Văn hóa bản địa cổ đại như vậy đã để lại cho văn hóa Việt Nam những đặc điểm nền tảng, tạo nên sự tương đồng với văn hóa các dân tộc Đông Nam á và sự khác biệt với văn hóa Hán
Sau đó vào khoảng thiên niên kỉ thứ I sau Công nguyên , nước ta bước vào thời kì giao lưu mạnh mẽ với thế giới bên ngoài, một bên là với văn minh Trung Quốc, một bên là văn minh Ấn Độ và các nước trong khu vực đã tạo thành lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực được hình thành qua 2 giai đoạn: giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc và giai đoạn văn hóa đại Việt Đặc trưng của lớp văn hóa này là sự song song tồn tại của hai xu hướng trái ngược nhau: Một bên là xu hướng hán hóa về mặt văn hóa và bên kia là xu hướng chống Hán hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng Trung hoa Điều kiện lịch
sử tạo thành đặc trưng này chính là do quốc gia Âu Lạc của người Việt cổ tiếp xúc với văn minh Trung Hoa trong điều kiện bị xâm lược, mất chủ quyền, bị thống trị và áp bức tàn bạo Chính trong thời kì khắc nghiệt này của lịch sử, trước thử thách mất còn của dân tộc, tổ tiên ta đã chọn con đường: một mặt, đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, mặt khác, chủ động mở rộng giao lưu, cởi mở tiếp nhận nhiều thành tựu văn hoá Trung Quốc để tự cường nền văn hoá của mình Để cuối cùng, với khởi nghĩa Ngô Quyền năm 938 chúng ta vừa đánh đuổi được quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, khôi phục độc lập dân tộc, vừa tự cường, đổi mới văn hoá Đông Sơn hình thành nền văn hoá Đại Việt,
mở đầu là văn hoá Lý - Trần rực rỡ Có thể nói giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lưu-tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực cũng tức là mở đầu cho quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập vào văn hóa khu vực Đây được coi là giai đoạn chuyển tiếp và tiếp biến văn hoá này vô cùng quan trọng và diễn ra trên nhiều phương diện với nội dung phong phú: chính trị, luật pháp, tổ chức nhà nước, giáo dục, ý thức hệ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, văn học, nghệ thuật Quá trình này không phải "Hán hoá" mà là "bản địa hóa", "nội sinh hoá" văn hoá Trung Hoa Tiếp đến sau giai đoạn chống Bắc Thuộc là đến giai đoạn văn hóa Đại Việt, nền văn hóa này được hình thành và phát triển trên nền tảng của kinh tế nông nghiệp tiểu nông phong kiến và hệ tư tưởng thoát thai từ Tam giáo: Phật
- Đạo - Nho, trong đó Nho giáo là trụ cột, tuy giai đoạn văn hóa này chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hán, nhưng không phải là văn hoá Hán Nhờ có nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp văn hóa bản địa, tinh thần Văn Lang – Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch nước ngầm trong thời kỳ chống Bắc thuộc để khi bước sang giai đoạn văn hóa Đại Việt đã nhanh chóng khôi phục và thăng hoa
Có thể thấy rõ giai đoạn văn hóa Đại Việt là thời kì định hình và phát triển ở trình độ cao văn hoá cổ truyền Việt Nam Tất cả những hình thức và giá trị văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam gắn với nền nông nghiệp tiểu nông phong kiến đều sản sinh và định hình trong khung cảnh của nền văn hoá Đại Việt này Trong suốt 10 thế kỉ từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX của văn hoá Đại Việt hình thành nên nhiều
Trang 10đỉnh cao văn hoá, đạt tới trình độ phát triển và mang các sắc thái văn hoá khác nhau Văn hoá Lý - Trần như là sự khẳng định niềm tự hào và bản sắc riêng của văn hoá Đại Việt, văn hoá Lê phát triển trên nền tảng thống nhất của quốc gia phong kiến tập quyền
Đến cuối thế kỉ XIX, do sự ảnh hưởng xu hướng của thời đại lúc bấy giờ, văn hóa phương Tây bắt đầu xâm nhập vào Việt nam đã hình thành nên lớp văn hóa giao lưu với phương Tây gồm 2 giai đoạn: Văn hóa Đại Nam và Văn hóa hiện đại Giai đoạn văn hóa Đại Nam được chuẩn bị từ thời các chúa Nguyễn
và kéo dài đến hết thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc (năm 1945) Trong giai đoạn văn hóa Đại Nam đã đánh dấu sự vươn lên của văn hoá Nguyễn như là sự vươn lên đỉnh cao mới trên cơ sở mở rộng và thống nhất cương vực quốc gia Lần đầu tiên nước ta có được sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành chính từ Đồng Văn đến Cà Mau Đây là khởi đầu của quá trình thâm nhập của văn hóa phương Tây cũng là thời kỳ văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa nhân loại Chúng ta tăng cường giao lưu với văn hoá Pháp, tiếp thu có chọn lọc để làm giàu nền văn hoá cổ truyền Việt Nam, làm cho văn hoá nước ta biến đổi mạnh mẽ và tự cường, lớn mạnh Và năm 1945, với cách mạng tháng Tám, chúng ta đã đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục lại độc lập, nền văn hoá nước ta đổi mới, phong phú và lớn mạnh hơn trước
Tiếp theo sau là giai đoạn văn hóa hiện đại, giai đoạn này đã được chuẩn bị từ trong lòng văn hóa Đại Nam và chỉ mới hình thành từ mấy chục năm trở lại đây Sự ra đời của nó gắn với sự ra đời nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ 1945 Lúc này, bên cạnh những thành tựu của nền văn hoá cổ truyền, thì hàng loạt những yếu tố và giá trị văn hoá mới được hình thành: ý thức hệ Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, nền tảng kinh tế công nghiệp hoá, đô thị hoá và văn hoá đô thị, chữ quốc ngữ và chế độ giáo dục mới hiện đại, đội ngũ tri thức mới, các ngành khoa học hình thành, nhiều hình thức văn hoá nghệ thuật mới nảy nở và phát triển: tiểu thuyết, thơ mới, sân khấu kịch, âm nhạc, phim ảnh, thể
thao, Trong đó nền văn hoá hiện đại này hình thành và định hình trên cơ sở nền kinh tế công nghiệp hoá, ý thức hệ Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên đây là giai đoạn văn hóa đang định hình nên hiện giờ khó có thể nói về hình hài và những đặc trưng cơ bản của nền văn hoá mới - văn hoá Việt Nam hiện đại Trong quá trình định hình và phát triển ấy, các nhân tố nội lực của nền văn hoá cổ truyền và các nhân tố ngoại sinh của thế giới bên ngoài đang cùng tác động và chuyển hoá lẫn nhau
Hy vọng hệ quả của quá trình này sẽ cho ra đời một nền văn hoá Việt Nam mới tiến bộ và mang đậm bản sắc dân tộc và thế kỉ thứ XXI sẽ là thế kỉ của nền văn hoá Việt Nam