1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang

97 574 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chun

Trang 1

ĐỖ THỊ KIM OANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH

TỰ NHIÊN DƯỚI TÁN RỪNG TRỒNG TẠI HAI XÃ

AN BÁ VÀ HỮU SẢN, SƠN ĐỘNG, BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - năm 2012

Trang 2

ĐỖ THỊ KIM OANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH

TỰ NHIÊN DƯỚI TÁN RỪNG TRỒNG TẠI HAI XÃ

AN BÁ VÀ HỮU SẢN, SƠN ĐỘNG, BẮC GIANG

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với nhân loại Rừng giữ cho đất khỏi xói mòn, điều hoà dòng chẩy giữa mùa mưa và mùa khô, rừng nuôi dưỡng các loài chim thú và các loài động vật khác, rừng còn là nơi lưu trữ nguồn gen và bảo vệ sự đa dạng sinh học Rừng còn có vai trò điều hoà khí hậu, làm cho khí quyển trong lành nhờ sự cân bằng lượng ôxi và cácbônic v.v

Bởi vậy mất rừng sẽ dẫn đến hiểm hoạ về nhiều mặt

Hiện nay chúng ta đều nhận thấy rất rõ Việt Nam là một trong năm quốc gia trên thế giới chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu mà một trong những nguyên nhân sâu xa là do diện tích rừng trên thế giới nói chung

và ở Việt Nam nói riêng bị suy giảm Bên cạnh sự suy giảm về số lượng còn phải kể tới sự suy giảm về chất lượng của rừng Theo Lê Văn Khoa (2010) [26], ở Việt Nam năm 1945 có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43 %; năm

1975 có 11169000 ha rừng, độ che phủ là 33,8%; năm 1985 có 9892000 ha rừng, độ che phủ 30,0 %; năm1995 có 9302000 ha rừng, độ che phủ 28,2 %; năm 2005 có 12640000 ha rừng, độ che phủ là 36,3 % Bởi vậy chính phủ đã phải đóng cửa rừng, cấm khai thác gỗ ở nhiều nơi, sử dụng nhiều chế tái mạnh mẽ để hạn chế tổn thất về rừng Tuy vậy thực trạng về rừng hiện nay vẫn tiếp tục bị suy giảm đến mức báo động Không nói đến các công trình xây dựng của nhà nước như các công trình thuỷ điện lớn, quá trình đô thị hoá diễn

ra mạnh mẽ, các công trình giao thông được mở rộng về các tỉnh như tuyến đường Hồ Chí Minh, chỉ xét riêng đến việc phá rừng làm nương rẫy và khai thác rừng trái phép, sai mục đích trong những năm qua ở các tỉnh có rừng như Bình Thuận, Gia Lai, Quảng Ninh, Nghệ An, Lào Cai, Bắc Giang v.v cũng đã gây ra những thiệt hại rất lớn về rừng Bên cạnh đó phải kể đến những vụ cháy đã thiêu trụi hàng nghìn hec ta rừng ở nườc ta

Trang 4

Thảm hoạ mất rừng kéo theo thảm hoạ về môi trường như hạn hán, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, dịch bệnh, lũ lụt sạt lở đất ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc và các tỉnh miền trung trong những năm gần đây

đã gây ra những tổn thất nặng nề cả về người và của Quan trọng hơn cả là số lượng các trận bão lũ có những diễn biến phức tạp và chiều hướng bất thường ngày càng nhiều và có mức độ huỷ hoại ngày càng nghiêm trọng Mà một trong những nguyên nhân là do sự thu hẹp diện tích rừng đầu nguồn

Bởi vậy việc bảo vệ và phục hồi rừng là điều hết sức cần thiết Có như vậy mới góp phần bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, bảo tồn nguồn gen, nâng cao khả năng cung ứng các nhu cầu kinh tế - xã hội về lâm sản, giải quyết công ăn việc làm chính đáng cho các cộng động dân cư thuộc vùng sâu vùng xa, các dân tộc miền núi đang sống dựa vào rừng

Sơn Động là một huyện vùng cao của tỉnh Bắc Giang có phía Nam và Đông Nam giáp với tỉnh Quảng Ninh, phía Tây và Tây Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, Phía Tây giáp với huyện Lục Ngạn, phía Tây Nam Giáp với huyện Lục Nam Đây Sơn Động là một trong những huyện của tỉnh Bắc Giang có diện tích rừng thuộc vào diện lớn trong đó khu rừng nguyên sinh của huyện Sơn Động tập trung chủ yếu thuộc xã An Lạc có diện tích 7153 ha trong đó có

5092 ha là rừng tự nhiên Khu rừng có 236 loài thực vật và cây lấy gỗ,255 loài dược liệu quý hiếm, trong rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài

bò sát đặc biệt có 7 loài thuộc loài động vật quý hiếm, đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực đông bắc Việt Nam Ngoài diện tích rừng nguyên sinh nói trên ở Sơn Động còn có một số lượng diện tích rừng trồng và khu đất trống đồi núi trọc được tập trung chủ yếu ở hai xã là An Bá và Hữu Sản cần phải tiếp tục trồng rừng để phủ xanh Trên thực tế cho thấy các quần

xã rừng trồng đặc biệt là rừng thuần loài, rừng được trồng trên hệ thống đồi núi trọc khó đáp ứng yêu cầu về phòng hộ,bảo vệ nâng cao sự đa dạng sinh

Trang 5

học về nguồn gen, chúng dễ bị sâu bệnh và thoái hoá trong một thời gian ngắn

Vì vậy một trong những giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của rừng trồng là kết hợp giữa trồng rừng với xúc tiến tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng Tuy nhiên việc nghiên cứu về vấn đề này còn nhiều hạn chế và chưa được làm rõ kể cả về thực tiễn lẫn cơ sở lý luận

Việc tìm hiểu những đặc điểm quá trình tái sinh dưới tán rừng trồng là

cơ sở cung cấp những kiến thức thực tế cũng như cơ sở khoa học cho việc lựa chọn khoanh nuôi, phục hồi thích hợp cho từng đối tượng, điều kiện địa lý, chất đất tại khu vực Sơn Động cũng như các khu vực khác Xuất phát từ

những vấn đề trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm

cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã An Bá và Hữu Sản thuộc huyện Sơn Động, Bắc Giang” Nhằm mục đích nâng cao diện tích

rừng tự nhiên ở đầu nguồn và để rừng Sơn Động thực sự đúng với vai trò là khu bảo tồn thiên nhiên thuộc dải phía tây Yên Tử

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng biểu hiện đặc trưng của tái sinh hệ sinh thái rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh hệ sinh thái rừng (hoặc mất đi chưa lâu): Dưới tán rừng, lỗ trống trong hệ sinh thái rừng,

hệ sinh thái rừng sau khai thác, trên đất hệ sinh thái rừng sau làm nương, đốt

rẫy v.v Vai trò lịch sử của thế hệ cây con này là kế tục cây gỗ già cỗi Vì vậy

tái sinh hệ sinh thái rừng, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của hệ sinh thái rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Sự xuất hiện lớp

cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong quần lạc sinh vật (thực vật , động vật , vi sinh vật ), đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng và làm thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và

năng lượng diễn ra trong hệ sinh thái Do đó tái sinh rừng có thể được hiểu

theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng Tái sinh hệ sinh thái

rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học, đảm bảo cho hệ sinh thái rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử dụng hệ sinh thái rừng thường xuyên ở đây cần khẳng định tái sinh hệ sinh thái rừng không chỉ là một hiện tượng sinh học mà còn là một hiện tượng địa lí Xét về bản chất sinh học tái sinh hệ sinh thái rừng diễn ra dưới ba hình thức: Tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm (các loài tre nứa) Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác

Đứng trên quan điểm triết học , tái sinh rừng là một quá trình phủ định biện chứng : Rừng non thay thế rừng già trên cơ sở được thừa hưởng hoàn

Trang 7

cảnh thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên Đứng trên quan điểm chính trị kinh tế học , tái sinh rừng là một quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng Đương nhiên điều kiện này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ta nắm chắc các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, nhằm điều hòa và định hướng các quá trình tái sinh nhằm phục vụ mục tiêu kinh doanh đã đề ra Như vậy tái sinh rừng không còn chỉ là t ự nhiên, kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế xã hội ( Sinh thái rừng – Hoàng Kim Ngũ, Phúng Ngọc Lan,1998) [41]

Theo Nguyễn Xuân Lâm (2000) [31] Tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau khi làm nương rẫy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên thay thế thế hệ cây già

Phục hồi rừng: Theo Trần Đình Lý (1995) [38] Phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp, gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ ( tre nứa) bắt đầu khép tán Nói cách khác phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu nó chi phối quá trình biến đổi tiếp theo

1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau

1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới

1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho

Trang 8

hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật và thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính

là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tế cấu trúc rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã

Richards P.W(1933-1934), Baur.G.N (1962), Odum (1971)…tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng

Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965) [6], Plaudy.J đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến…

Tác giả Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên

cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Khái niệm

hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học

1.2.1.2 Mô tả về hình thái cấu trúc rừng

phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu

đồ mặt cắt đứng của rừng do Davit và P.W Richardr (1933-1934) đề xướng

và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài

Trang 9

cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều

Phương pháp biểu đồ trắc diện do Davit và Richards (1933 -1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài

và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng

Richards P.W (1952) đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản.Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Cũng theo tác giả này thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn

có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây

Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi

Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn

đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng

Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao

Trang 10

mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới

1.2.1.3 Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng

Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô

tả định tính sang định lượng với sự thống kê của toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kêt quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất

Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như : Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1976) Rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán

để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001) [12] Rollet

B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, … cũng được nhiều tác giả sử dụng để

mô hình hóa cấu trúc rừng

Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu

mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng

Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng

Trang 11

1.2.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam

1.2.2.1 Về phân loại rừng

Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả Thái Văn Trừng (1978) [54] đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu Đây là công trình tổng quát đáp ứng được yêu cầu về quy luật sinh thái

Với tác giả Vũ Đình Phương (1985-1988) [43,44,45,46,47].đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ công tác điều chế với đơn vị phân chia

là lô và dựa vào 5 nhân tố : Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển

và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong qúa trình phân chia Phương pháp phân chia này đã được đưa ra áp dụng trong khi xây dựng phương án điều chế cho một số lâm trường ở Tây Nguyên và Quảng Ninh đã tỏ ra có nhiều ưu điểm

Như vậy, có rất nhiều tác giả trong nước cũng như của nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam là tối cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm Công trình của Thái Văn Trừng đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên của nước ta một cách tổng quát Phương pháp của Vũ Đình Phương tỉ mỉ hơn và cho ta những thông số cơ bản về tình trạng rừng hiện tại không chỉ ở góc độ về trữ lượng,

vì vậy người quản lí dễ phác họa được các biện pháp xử lí lâm sinh tác động vào rừng Phương pháp này tỏ ra hữu hiệu khi áp dụng ở nơi có trình độ kinh doanh tương đối cao và ổn định

1.2.2.2 Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng

Trong những năm gần đây, việc đi vào chiều sâu nghiên cứu cấu trúc rừng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm như những công trình nghiên cứu

Trang 12

mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là công trình nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) [21] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên

Tác giả Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc của rừng thứ sinh, đồng thời cũng

áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng

trúc tán lá cây, hàm Weibull mô phỏng cấu trúc chiều cao và đường kính Đồng thời cũng tiến hành khảo nghiệm hàm Hyperbol và Meyer cho các cấu trúc này

Nhìn chung các nghiên cứu định lượng cấu trúc đã được nhiều nhà lâm sinh học trong nước quan tâm ở các mức độ khác nhau nhưng đều nhằm một mục đích là xây dựng các cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh hợp lí Các nghiên cứu không dừng lại ở mức độ mô tả chung chung mà đã đi sâu vào phân tích các quy luật kết cấu và theo xu hướng chung của thế giới Đó là khái quát hóa, mô phỏng các quy luật bằng toán học, đồng thời các giải pháp lâm sinh được xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu định lượng

1.2.2.3 Nghiên cứu cấu trúc và xây dựng mô hình cấu trúc mẫu

Nghiên cứu cấu trúc rừng định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựng các mô hình mẫu chuẩn phục vụ khai thác, nuôi dưỡng rừng là mục tiêu quan trọng nhằm vạch ra phương hướng và phương pháp điều chế rừng Nguyễn

cấu trúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loại và đề xuất các mô hình cấu trúc mẫu định lượng bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng Theo tác giả đây

là những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại

Trang 13

Để xây dựng mô hình cấu trúc cho các loài, kiểu rừng ứng với từng điều kiện hoàn cảnh, Nguyễn Hồng Quân (1975, 1981, 1982) [50,51,52] đã sử dụng hàm mũ theo dạng Meyer để phân cấp các lâm phần chặt chọn trên cơ

sở thay đổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi Lê

trên 3 cấp năng suất cho rừng tự nhiên hỗn loài ở ĐăkNông Từ đó làm cơ sở

đề xuất hướng khai thác và nuôi dưỡng rừng

Nguyễn Ngọc Lung (1985) [33] đã cho rằng: Trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một mặt nào đó như

tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo kích cỡ thì ta có thể chọn được một loại trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp lí nhất, có đủ thế hệ cây gỗ, cũng cho phép sản lượng ồn định Ta coi đây

là mẫu chuẩn tự nhiên và đây cũng chính là cái mà con người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng

Phùng Ngọc Lan (1986) [28] cũng đã nêu lên : Mô hình cấu trúc mẫu là

mô hình có khả năng tận dụng tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phối hợp hài hòa giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhất, nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh nhất định

Vũ Đình Phương (1987) [45] cũng đồng quan điểm trong việc xây dựng mô hình cấu trúc rừng và vốn rừng cho rằng, cần phải tìm trong tự nhiên những cấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế trong từng khu vực Để nghiên cứu cấu trúc sinh trưởng rừng hỗn loại, ông đã đề xuất quan điểm: Tổng thể hỗn loài hay còn gọi là rừng cây là do các phần tử thuần loài hợp thành

Trong lĩnh vực này, các tác giả đều xây dựng các cấu trúc mẫu từ nghiên cứu cơ sở cơ bản các quy luật kết cấu, từ đó đề xuất các hướng tác

Trang 14

động vào rừng Các mẫu này đều được xây dựng trên cơ sở các mẫu tự nhiên

đã chọn lọc thông qua tài liệu quan sát và được coi là ổn định, có năng suất cao nhất Tính ổn định của các cấu trúc này thường được tính toán theo lí thuyết trước khi đi vào khảo nghiệm Cấu trúc mẫu được quan tâm nhiều nhất

là cấu trúc N-D1.3 , nó cũng là cơ sở cho việc khai thác và nuôi dưỡng thông qua việc điều chỉnh cấu trúc này

1.3 Nghiên cứu về tái sinh

1.3.1 Trên thế giới

1.3.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên

Hiện nay vấn đề tái sinh rừng trên thế giới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu Nhưng đối với rừng nhiệt đới thì được nghiên cứu vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh rừng các loài cây có mục đích trong các kiểu rừng Các tác giả bàn đến như Taylor (1854), Kennedy (1935), Lancaster (1953) Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernand (1954,1959), Wyatt smith (1961,1963) [74] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã lai , Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijeria và Gana Nội dung chi tiết, các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh

đã được Baur (1961) tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa

Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới ở Châu phi, A.obrevin (1938) đã nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm Ông đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu phi để đúc kết lên

lí luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lí giải các hiện tượng đó còn hạn chế

Vì vậy lí luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản

Trang 15

xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra

Tuy nhiên những kết quả quan sát của Davit và P.W richards (1933), Bot (1946), Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam mỹ lại khác hẳn với những nhận định của A.obrevin Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài

Trong công trình nghiên cứu của Risa (1952), Roole (1974) cho thấy tái sinh có dạng phổ cụm, một số ít phân bố poisson Ở Châu phi theo số liệu của A.Ôbrêvin (1938) nhận thấy cây con của cây ưu thế trong hệ sinh thái rừng mưa có thể cực hiếm hoặc vắng hẳn Ông gọi đó là hiện tượng “ không bao giờ sinh con đẻ cái” của cây mẹ trong thành phần tầng cây gỗ của hệ sinh thái rừng mưa Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều Tương tự theo Taylor (1954), Bơoat Berwad (1955), số lượng cây tái sinh trong rừng thiếu hụt cần phải bổ sung bằng rừng trồng nhân tạo Ngược lại ở Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinôt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ

số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn đưới tán rừng (theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [10]

H Lamprecht (1989) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây rừng trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng, nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần

tụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ

là 0,6 – 0,7

Trang 16

Sự phân bố cây theo đường kính là cấu trúc cơ bản của lâm phần và cũng được nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1952) Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằng phương trình toán học mà dạng của nó là một đường cong giảm liên tục Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay còn được gọi là hàm Meyer Tiếp đó nhiều tác giả đã dùng phương pháp giải tích

để tìm phương trình đường cong phân bố N/D của lâm phần thuần loài đều tuổi M.Prodan và A.Ipalatscase (1964), Bill và K.Aremken (1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phương trình Logarit Đặc biệt một số tác giả hay dùng các hàm khác nhau Loetsch (1973) dung hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm.J.LF Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazil đã dùng hàm Weibull mô phỏng sự phân bố N/D (dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, năm 2003) [4]

Để xác định mật độ cây tái sinh người ta đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất với diện tích (1 đến 4m2), ô có kích thước lớn (10 đến 100m2), điều tra theo dải hẹp ô có kích thước từ (10 đến 100m2) Phổ biến nhất là ô bố trí theo

hệ thống trong các diện tích nghiên cứu từ 0,25 đến 1,0 ha (Povar nix bun, 1934; Yuskevich,1938) để giảm sai số trong khi thống kê, Barnard (1950) đã

đề nghị một phương pháp “ điều tra chuẩn đoán” mà theo ông kích thước ô đó đếm được có thể thay đổi tùy theo thời gian phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác V.G Nextorov (1954, 1960) đề nghị dùng 15 đến 26 ô kích thước từ 1 đến 2m2

thống kê cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10 đến 15 ô kích thước từ 4 đến 5m2

thống kê cây con từ 5 đến 10 năm A.VPobedinxki (1961) đề nghị dùng 25 ô dạng bản 1x1m cho một khu tiêu chuẩn (0,5 đến 1,0 ha), XW.Belov (1983) nhấn mạnh phải áp dụng thống kê toán học để điều tra

Trang 17

và đánh giá tái sinh Việc phân tích chi tiết lí luận các phương pháp thống kê toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng đã được trình bày trong các công trình của PG.Smith (1976), VI.Vasilevich (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003) [65]

Tóm lại thông qua những kết quả công trình nghiên cứu tái sinh tự nhiên của các thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta thấy được các phương pháp nghiên cứu của một số tác giả cũng như những quy luật sinh thái ở một số nơi Thông qua đó các tác giả cũng đưa ra một số biện pháp lâm sinh phù hợp thúc đẩy quá trình tái sinh theo hướng có lợi Như vậy ta đều nhận thấy các công trình nghiên cứu tái sinh trên thế giới chủ yếu tập chung vào trạng thái rừng tự nhiên mà rất ít đề cập tới trạng thái rừng thứ sinh nhân tác, phục hồi nhân tạo

1.3.1.2 Những nghiên cứu về phục hồi bằng trồng rừng (phục hồi nhân tạo)

Trên thế giới trồng rừng đã xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Một số nước ở Tây Âu như: Pháp, Italia đã tiến hành trồng các rừng Bạch Dương cho sản lượng cao trên một phạm vi lớn với mục đích cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy Nhiều nước trên thế giới đã phát động trồng rừng với nhiều mục đích khác nhau như cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, trồng rừng nhằm mục đích bảo vệ môi trường như rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng chống cát bay, rừng phòng hộ chắn sóng ven biển… Các nước nhiệt đới và á nhiệt đới rừng trồng đã được hình thành ngay cả trên đất trước là đồi trọc do nhu cầu của ngành công nghiệp giấy sợi và tính cấp bách phải bảo vệ môi trường

Với vai trò to lớn mà rừng đã đem lại cho nhân loại và hiện nay khi nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, môi trường bị suy thoái thì vai trò

Trang 18

của rừng ngày càng không thể phủ nhận, các nước trên thế giới càng phải chú trọng tăng diện tích rừng đặc biệ t là rừng tự nhiên Điều đáng nói là tại dưới tán rừng trồng có thể xuất hiệ n các lớp cây gỗ tái sinh tự nhiên có triển vọng phát triển thành rừng Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu kịp thời và đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm chuyển dần diện tích rừng trồng thành rừng gần giống vớ i tự nhiên để tăng tính đa dạng sinh học , tăng khả năng phòng hộ của rừng Chính vì vậy việc trồng rừng và tái sinh rừng ngày càng được nhiều nước quan tâm và phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Tuy nhiên hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn

đề rừng trồng

Wads worth (1960) khi nói về vai trò của rừng trong kinh doanh, ông

đã khẳng định trồng rừng thâm canh sẽ là nguồn cung cấp gỗ duy nhất có kinh

tế ở các miền nhiệt đới (Baur, 1976) [1]

RCatinot (1965) [6] cho rằng ở vùng nhiệt đới ẩm Châu phi sau khi khai thác có thể thay thế một quần thể rừng tự nhiên bằng rừng trồng mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên để mang lại hiệu quả kinh tế cao tác giả cũng lưu ý rằng cần phải nắm chắc kĩ thuật lâm sinh thì quá trình thực hiện mới có hiệu quả

G Raur (1976) [1] đã khẳng định việc trồng rừng là cần thiết để mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng nhưng nếu trồng rừng như của Wadsnorth (1960) thì chỉ là giải pháp trước mắt, còn về lâu dài thì phải dựa vào những kiến thức đúng đắn về sinh thái học của quần lạc đó

A.Miyawaki (1991) [72] đã đưa ra khẩu hiệu cây bản địa trên đất bản địa, xuất phát từ quan điểm rừng là một hệ sinh thái ông đã thực hiện nhiều dự

án phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bằng biện pháp trồng rừng Phương pháp tác giả đề xuất được áp dụng ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malayxia, Indonexia(61, 63, 68) Các nghiên cứu này được thể hiện chủ yếu

Trang 19

bằng việc trồng rừng Trong đó giống cây trồng là tập đoàn những cây bản địa được xác định bằng phương pháp sinh thái thảm thực vật của Clement (1916)

và trồng rừng được thực hiện bằng phương pháp do ông đề xướng được gọi là phương pháp Miyawaki Theo phương pháp này thì việc phục hồi lại rừng mưa nhiệt đới ở Malayxia chỉ khoảng 40 đến 50 năm trong khi đó để đạt trạng thái này theo con đường diễn thế tự nhiên thì cần phải 200 đến 250 năm (Miyawaki,1991) [72]

Tansley (1994) cho rằng trồng rừng là quá trình rút ngắn quá trình diễn thế thảm thực vật nhưng Beard (1947) lại phản đối việc trồng rừng và cho đó

là “bệnh sởi trồng rừng đã mắc phải do thiếu sinh tố sinh thái học” (dẫn theo

G Baur,1976)[1]

Trong hội nghị lâm sinh thế giới lần thứ 7 (10/1972) tại Buenos – Aises

đã khẳng định cần đẩy mạnh việc trồng rừng Nhưng hội nghị cũng lưu ý trồng rừng chỉ cho hiệu quả khi phối hợp chặt chẽ các biện pháp kĩ thuật tạo điều kiện cho cây rừng sinh trưởng (Vorobiev,1981)[70]

1.3.2 Ở Việt Nam

1.3.2.1 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên

Ở nước ta vấn đề nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đã được nghiên cứu từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX và những năm gần đây việc

đi vào nghiên cứu rừng tự nhiên ở Việt Nam ngày một nhiều , bởi đằng sau những hệ sinh thái rừng còn rất nhiều điều bí ẩn Điều đó đã thu hút rất nhiều tác giả quan tâm tới Từ những năm 1962 – 1967, việc điều tra và quy hoạch rừng đã được thực hiện chuyên đề “Tái sinh rừng tự nhiên” tại một số khu rừng trọng điểm thuộc các tỉnh Yên Bái (Văn Đàn), Quảng Ninh (Tiên Yên,

Ba Chẽ, Yên Hưng), Nghệ An (Quỳ Châu, Nghĩa Đàn), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình (Long Đại)

Trang 20

Nghiên cứu quy luật phát sinh, tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh của các xã hợp thực vật rừng nhiệt đới Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [66] đã nhận định:

Sự phát sinh các loại hình quần thể có thành phần loài cây khác nhau được nghiên cứu đ ầy đủ trước kia cho nên lúc đó chúng tôi cho rằng trong thiên nhiên nhiệt đới khôn g có quần hợp và chỉ có những loài ưu thế do đó chúng tôi có đề nghị lấy những kiểu thảm thực vật làm đơn vị cơ bản của thảm thực vật Như trên đã trình bày trong thiên nhiên nhiệt đới có thể có những dạng quần hợp thực vật ở những môi trường khắc nghiệt, còn đại bộ phận là những

ưu hợp thực vật có một ưu thế tương đối của cá thể các loài cây trong tầng ưu thế sinh thái (hay lập quần) của quần thể và có lẽ phổ biến hơn là những phức hợp mà độ ưu thế chưa phân hóa rõ rệt

Những vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu là tác nhân nào đã tác động trong quá trình phát sinh những xã hợp thực vật nguyên sinh , và quá trình tái sinh tự nhiên sẽ diễn ra như thế nào và chỉ tiêu về chế độ khắc nghiệt của môi trường có còn là nguyên nhân duy nhất khống chế sự hình thành những quần hợp, ưu hợp, phức hợp tự nhiên nữa hay không?

Vấn đề này đã được Lê Viết Lộc cùng các cộng tác viên nghiên cứu sơ bộ trong khi điều tra các loại hình ưu thế trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương Lê Viết Lộc đã dùng một số chỉ tiêu khác , ngoài số lượng cá thể cây

để tính sinh khối trên diện tích điều tra như c hiều cao, tiết diện ngang v v để tính độ ưu thế của các loài và đã thấy các nhân tố phát sinh của loại hình ưu thế là khu hệ thực vật , tiểu địa hình , đặc điểm lý tính của đất và nhữn g hoạt động của con người (Lê Viết Lộc; 1964; bước đầu điều tra thảm thực vật trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương)

Trong những khu vực tự nhiên nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam , một quần thể sinh ra , lớn lên , thành thục, già cỗi và sẽ tàn lụi hoặc từ ng cá thể

Trang 21

hoặc từng bộ phận , hoặc toàn bộ quần thể , nhưng cũng có nhiều trường hợp quần thể chưa thành thục , già cỗi mà một số cá th ể, một bộ phận hay cả quần thể có thể bị gió bão, lũ lụt hay các thiên tai khác hủy diệt

Nếu môi trường khí hậu đất đai chưa biến đổi, thì quần thể có xu hướng lại phục hồi tình trạng nguyên sinh: Đó là quá trình tái sinh tự nhiên của quần thể Trong thiên nhiên nhiệt đới, rõ ràng là rất hiếm những loài cây có tuổi thọ dài hàng ngàn năm , vạn năm như loài cây Cù tùng (Metasequoia gigantea) ở Mỹ hay Bạch đàn vua (Eucalyptus regnans) ở Úc , mà có nhiều loài cây có tuổi thọ ngắn hay trung bình m ột vài trăm năm , cho đến 1000 năm thậm chí

có loài chỉ sống hai , ba chục năm , cho nên ở một số địa phương nhất định , chắc chắn có nhiếu thế hệ của các loài cây đã sinh ra lớn lên , chết đi và cá thể của các loài cây ấy đã tái sinh nhiều lần ở đấy

Thái Văn Trừng cũng khẳng định : Một thực tế mà bất kỳ tác giả nào khi đã nghiên cứu thảm thực vật rừng nhiệt đới , cũng đều nhất trí là tình hình tái sinh rất thưa và yếu dưới tán rừng, của những loài cây đang chiếm ưu thế ở tầng trên Theo những số liệu điều tra và thống kê của Aubreville A ở Coote

d’Ivoire (Bờ biển ngà ở châu phi ) hay của David T A.W và Richards P W ở Moraballi (Guyana) về tình hình đại biểu các cấp thể tích của các loài tro ng các ô tiêu chuẩn thì các loài cây ưu thế của các tầng trên có rất ít đại biểu trong các tầng dưới tán rừng , thậm chí nhiều khi không có đại biểu , như vậy khi các loài cây ưu thế này chết đi , thì thành phần của xã hợp có biến đổi không? Một số hợp khác giữa cá thể các loài cây ưu thế có thể thay thế cho xã hợp hiện nay không ? Loài cây tái sinh được nhiều nhất , có phải là loài chiếm

ưu thế hiện nay không? Thế thì điều tra tình hình tái sinh cây con của các loài

mà không nắm được quy luật tái sinh của quần thể , không biết tập tính của từng loài cây đối với ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ dưới rừng thì làm sao mà phán đoán nổi hướng diễn thế của quần thể , thành phần của các xã hợp , ưu hợp sẽ

Trang 22

phát sinh? Có loài cây hiện nay, cây mạ mọc rất nhiều nhưng vì sao lại không thấy cây con, cây nhỡ ở tầng trên, có loài thì không thấy cây mạ, cây con, cây nhỡ tái sinh dưới rừng , nhưng nếu đó là một loài ưa sáng và chặt rừng đúng vào năm sai hạt , đúng vào mùa quả chín , hạt già thì có thể bảo đảm được tái sinh tự nhiên của các loài cây ấy hay không?

Nguyễn Trọng Đạo (1969)[18] đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên dựa vào tiêu chuẩn phân loại rừng, theo ông rừng loại một thì không tu bổ và xúc tiến tái sinh

Đồng Sỹ Hiền (1974) đã dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson

để nắm phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu đồ thể tích và biểu độ thân cây rừng Việt Nam Khi nghiên cứu rừng tự nhiên, ông cho rằng phân bố số cây theo chiều cao N/H ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu rừng phức tạp của rừng chặt chọn Các tác giả đã sử dụng nhiều phương trình toán học khác nhau để biểu diễn tương quan này

Thái Văn Trừng (1978) [66] trong “thảm thực vật rừng Việt Nam” đã nhấn mạnh một số nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã ảnh hưởng điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật là ánh sáng Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo Lê Minh Trung (1991) đã thử nghiệm một số phân bố xác suất mô tả phân bố N/D1.3 và nhận xét là, phân bố Weibull là thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lắc Gần đây nhất, Trần Xuân Thiệp (1996) [60], Lê Sáu (1985) [54] cũng khẳng đinh sự hơn hẳn của phân bố Weibull trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên tục hay một đỉnh

Trang 23

Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan (1984) [27] đã nêu ra kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng (Lạng sơn) Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, bọ xít là nhân tố sinh vật đầu tiên gây ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ nẩy mầm Tiếp theo các đề tài trên, tác giả đã nghiên cứu và nêu lên sự cần thiết của việc bảo vệ và phát triển Lim xanh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lí hạt giống, gieo trồng loài cây này Theo tác giả không nên trồng thuần loài Lim xanh Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới quá trình tái sinh

tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Hoàng Kim Ngũ (1984), Phùng Ngọc Lan (1984), Nguyễn Ngọc Lung (1985), Nguyễn Duy Chuyên (1995).v.v

Vũ Đình Phương (1987) [46] đã khẳng định giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệ mật thiết theo dạng đường thẳng Tác giả đã thiết lập phương trình cho một số loài cây lá rộng như: Vạng, Lim xanh, Chò Chỉ trong lâm phần hỗn giao khác tuổi để phục vụ công tác điều chế rừng

Phạm Đình Tam (1987) [55], nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các lỗ trống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã có nhận xét: Số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [35] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tùy thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức cao nhất là tái sinh nhân tạo

Lê Mộng Chân (1994) [7] khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi cao vườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100-7440 cây/ha

Trang 24

Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phấn lớn là những cây chịu bóng

Khi nghiên cứu vai trò của cây tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, vùng Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng trung tâm, Trần Xuân Thiệp (1996) [60]

đã nhận định rằng vùng Đông bắc có năng lực tái sinh khá tốt với số lượng

8000 – 12000 cây/1ha, tỉ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho việc phục hồi rừng

Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D lớn hơn hoặc bằng 6cm) có hai dạng chính như sau: Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, dạng một đỉnh hình chữ J Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn lọc những mô hình toán học thích hợp để mô phỏng

Đỗ Hữu Thư, Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [64] khi nghiên cứu năng lực tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng trong các trạng thái thực bì ở Việt Nam đã nhận xét: Về số lượng và chất lượng của lớp tái sinh tự nhiên, tốc độ sinh trưởng và những thay đổi của lớp tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu của quá trình phục hồi thảm thực vật rừng thì các dạng thực bì ở trạng thái IB, IC, IIA, IIB đều có thể xếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng

Nhiều tác giả cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tự nhiên trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núi nước ta như: Lê Thị Kim Thuần (1985) [61]; Lê Sáu (1985) [54]; Phạm Đình Tam (1987) [55]; Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1990) [17]; Vũ Tiến Hinh (1991) [20]; Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1994) [62]; Hà Văn Tuế và cộng sự (1995) [69]

Trần Xuân Thiệp (1996) [60], căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loại

Trang 25

của Loschau) theo ba cấp: tốt, trung bình, xấu Về phân bố theo cấp chiều cao đều có sự tương đồng ở các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Meyer từ cấp 1 đến 5 (< 3m), cấp 6 có chiều cao cộng dồn của cây có đường kính

<10cm nên không thể hiện rõ quy luật này

Qua tham khảo các tài liệu có liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân

bố N/D trong thời gian gần đây không chỉ dùng ở mục đích phục vụ công tác điều tra như xác định tổng diện tích ngang, trữ lượng, mà chủ yếu là xây dựng

cơ sở khoa học cho giải pháp lâm sinh trong nuôi dượng rừng Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996) [25], Lê Sáu (1995) [54], đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây

Các tác giả đều đi đến nhận xét chung là, phân bố N/D có dạng một đỉnh chính và nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull

Lê Ngọc Công (2004) [14] trong nghiên cứu phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho thấy rằng trong diễn thế phục hồi rừng giai đoạn 1- 6 năm mật độ cây gỗ thay đổi rõ rệt ở tuổi

1 từ 9-10 loài, ở tuổi 3 từ 19 đến 21 loài, ở tuổi 15 từ 15 đến 16 loài và tiến tới

Trang 26

năng tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp lâm sinh cần thiết Cũng theo tác giả nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loài cây sống thích nghi với điều kiện đồi núi trọc

Nguyễn Ngọc Lung (1994) [36] cho rằng nước ta trong nền kinh tế hàng hóa, nên dành hẳn một tỉ lệ đất đai để trồng rừng kinh tế có mục đích cụ thể như sản xuất nguyên liệu giấy, gỗ dán bằng phương thức trồng rừng thuần loại đều tuổi là hợp lý và có hiệu quả cao Nhưng cũng phải có những biện pháp lâm sinh là luân canh hoặc trồng xen với nhừng loài cây cố định đạm nhằm bảo vệ và cải tạo đất đồng thời đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái rừng trồng

Trần Đình Lý (1995) [39] đã phân tích cụ thể về ưu, nhược điểm của giải pháp trồng rừng và khoanh nuôi Các tác giả cũng lưu ý việc chọn giải pháp nào cũng phải phụ thuộc vào điều kiện địa chất , khí hậu, điều kiện kinh

tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương, có như vậy mới đạt được kết quả như mong muốn

Nguyễn Tiến Bân (1997) [3] cho rằng cần phải phục hồi hệ sinh thái rừng rừng nhiệt đới bằng các loài cây bản địa nhằm duy trì, bảo vệ nguồn gen

và tạo hệ sinh thái rừng hỗn loài bền vững

Theo Hà Chu Chử (1997) [11] trong những năm qua thông qua việc trồng rừng đã bù đắp được một phần diện tích rừng đã biến mất, nâng cao độ che phủ của rừng từ 27,7 % (năm 1990) lên 28,15% (năm 1995) Tác giả cũng lưu ý rằng rừng trồng không thể so sánh với rừng tự nhiên về sinh khối, về chủng loại gỗ và nhất là về tác dụng phòng hộ

Trang 27

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 2.1 TỈNH BẮC GIANG

Tỉnh Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành phố Bắc Giang là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh và 9 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên và Hiệp

Hoà Tổng số đơn vị hành chính cấp xã là 230 xã, phường, thị trấn (Mới thành

lập thêm: xã Tuấn Mậu và thị trấn Thanh Sơn (huyện Sơn Động), xã Đồng Tâm(huyện Yên Thế), thị trấn Tân Dân (huyện Yên Dũng), giải thể thị trấn Nông Trường (huyện Yên Thế)

2.1.1 Đặc điểm,điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, trong toạ độ địa lý: Từ 210 07’ đến

210 37’ vĩ độ Bắc ; Từ 1050 53’ đến 1070 02’ kinh độ Đông (kinh tuyến trục

1070 00’) Trung tâm của tỉnh là thành phố Bắc Giang nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh

Trang 28

Khí hậu được chia làm bốn mùa: Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, thịnh hành gió Đông Nam; mùa đông lạnh và khô, ít mưa, thịnh hành gió Đông Bắc; xen kẽ là mùa xuân và mùa thu có tính chuyển tiếp

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23oC, tháng nóng nhất là tháng

7 (trung bình 290C), tháng lạnh nhất là tháng 1 (trung bình 160C) Số giờ nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, tập trung từ tháng 5 đến tháng 11

Độ ẩm không khí bình quân khoảng 80% (70- 75% vào mùa Đông và

85 - 90% vào mùa Hè); lượng mưa bình quân 1.400-1.500 mm/năm

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên đất

Toàn tỉnh có 384.157,63 ha đất tự nhiên, bao gồm 272.913,31 ha đất nông nghiệp chiếm 71,04%; 92.339,78 ha đất phi nông nghiệp chiếm 24,04%; còn lại là 18.904,54 ha đất chưa sử dụng chiếm 4,92% Quỹ đất đai có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, đất nông nghiệp ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát

triển rau màu và cây ăn quả

* Tài nguyên rừng

Toàn tỉnh có 140.192,44 ha đất lâm nghiệp có rừng chiếm 36,49% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có trên 50% là rừng sản xuất có giá trị kinh tế lớn Rừng tự nhiên còn tại 2 khu bảo tồn Khe Rỗ và Tây Yên Tử với hơn 200 loài thực vật, nhiều chủng loại cây hỗn giao phong phú, động vật rừng quý hiếm đang được bảo tồn Tỷ lệ che phủ của rừng toàn tỉnh là 39,10% Ngoài tác dụng tán che, cung cấp gỗ, củi, dược liệu, rừng còn có tác dụng điều hoà khí hậu và tạo cảnh quan đẹp kết hợp phát triển

du lịch sinh thái

* Tài nguyên khoáng sản

Trang 29

Trên địa bàn tỉnh có một số nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp như than đá ở các huyện: Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn có trữ lượng hơn 114 triệu tấn, trong đó mỏ than Đồng Rì có trữ lượng trên 100 triệu tấn phục vụ phát triển công nghiệp (đã triển khai đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện); quặng sắt 0,5 triệu tấn ở Yên Thế; gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục Ngạn, Sơn Động; trên 600 nghìn tấn quặng barit; có tiềm năng về sét làm gạch ngói, với 16 mỏ và điểm mỏ, tổng trữ lượng khoảng 360 triệu m3; cát, sỏi lòng sông, cuội kết ở Hiệp Hoà, Lục Nam với tổng trữ lượng trên 8 triệu

m3

* Tài nguyên nước

Tỉnh có nguồn tài nguyên nước khá phong phú: Nguồn nước mặt, hệ thống thuỷ văn tự nhiên được phân bố tương đối đồng đều Tỉnh có 3 con sông lớn là: Sông Thương, Sông Cầu, Sông Lục Nam với tổng chiều dài 347 km; hồ lớn như hồ Cấm Sơn rộng gần 3.000 ha, các hồ: Khuôn Thần, Làng Thum, Lòng Thuyền, Bầu Lầy (Lục Ngạn), Khe Chão (Sơn Động), suối Nứa (Lục Nam) mỗi hồ hàng trăm ha Nguồn nước ngầm có chất lượng tốt bảo đảm cho tưới và sinh hoạt, với trữ lượng trên 920 nghìn m3/ngày đêm và mực nước ngầm nằm không quá sâu

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Kết cấu hạ tầng

* Hệ thống cung cấp điện

Tỉnh Bắc Giang được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia thông qua trạm 220/110/22KV Bắc Giang có công suất 1x125MVA đặt tại Đồi Cốc Trên địa bàn của tỉnh có hai trạm 110KV, trạm Đồi C ốc có 3 máy với công suất 80 MVA và trạm Đình Trám có một máy với công suất 25 MVA Nhìn

Trang 30

chung nguồn cung cấp điện của tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng điện trong tỉnh

* Hệ thống cấp nước

Tổng công suất cung cấp nước sạch của toàn tỉnh hiện nay là 26.500

m3/ngày đêm, phục vụ cho khoảng 17 vạn dân, các cơ sở sản xuất trong thành phố, khu công nghiệp Đình Trám, cụm công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng Các công trình nước sạch nằm rải rác ở 9 huyện phục vụ cho 7 vạn dân Các công trình cấp nước như hồ, đập, trạm bơm đảm bảo được nhu cầu cho sản xuất

* Hệ thống giao thông

Tỉnh có trên 4.000 km đường bộ bao gồm: 292 km đường quốc lộ,

340 km tỉnh lộ, 529 km huyện lộ, 2.875 km đường xã, 31 km đường nội thị, gần 3.500 km đường nông thôn và nội đồng; Đường sắt có 87 km, trong đó tuyến Hà Nội - Lạng Sơn dài 36 km, Kép - Lưu Xá 23 km, Kép - Bãi Cháy 28 km Đường thuỷ có ba con sông lớn là: Sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu với tổng chiều dài 347 km Hệ thống giao thông được phân bố tương đối hợp lý giữa các địa phương, có đường nhựa đến tất cả các huyện lị, đường ô tô đến trung tâm các

xã trong toàn tỉnh

* Hệ thống thông tin liên lạc

Toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn có máy điện thoại, có điểm bưu điện văn hoá xã và có báo đọc trong ngày; tỷ lệ điện thoại đạt 5,6 máy/100 dân 10/10 huyện, thành phố đã được phủ sóng điện thoại di động, hạ tầng viễn thông, lnternet đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại và đang tiếp tục phát triển

2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Tỉnh Bắc Giang với vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết và điều kiện địa hình, thổ nhưỡng thuận lợi cho việc phát triển trồng cây ăn quả đặc sản, cây

Trang 31

công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi gia súc, phát triển kinh tế rừng Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại đang trên đà phát triển

Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm 8,7% Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch một cách tích cực

Tỷ trọng nông sản hàng hoá mỗi năm đều tăng, những cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được phát triển, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản chiếm 38% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp Ngoài diện tích trồng cây lương thực với sản lượng hàng năm 620 nghìn tấn, kinh tế trang trại và kinh tế rừng phát triển mạnh; đã hình thành vùng cây ăn quả tập trung

Toàn tỉnh đã quy hoạch 05 Khu công nghiệp với diện tích 1209,8 ha: Khu công nghiệp Đình Trám rộng hơn 100 ha, Khu công nghiệp Quang Châu rộng hơn 400 ha đang hoàn thành hạ tầng kỹ thuật; Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng khoảng 150 ha, Khu công nghiệp Vân Trung 425,46 ha Toàn tỉnh có 30 Cụm công nghiệp tại các huyện, thành phố với diện tích 591,3 ha Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển

Thương mại - dịch vụ có bước phát triển, một số trung tâm thương mại, chợ đầu mối được đầu tư xây dựng và nâng cấp, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khá, các doanh nghiệp dân doanh và hợp tác xã ngày càng phát triển

2.1.2.3 Đặc điểm văn hoá - xã hội

* Nguồn nhân lực

Năm 2009 dân số toàn tỉnh là 1.560.171 người (tỷ lệ nam 49,65%, nữ 50,14%) với 17 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 90%, dân tộc Nùng 3,5%, dân tộc Tày gần 2%, còn lại là các dân tộc khác Dân số nông

đều, tập trung đông ở khu vực đô thị (thành phố Bắc Giang bình quân 3.132 người/km2

) Tốc độ tăng dân số thấp và đang giảm dần (từ 1,183% năm 2004

Trang 32

còn 0,4% năm 2009) Số người trong độ tuổi có khả năng lao động năm 2009 khoảng 89 vạn người trong đó lao động thành thị khoảng 10 vạn người, chiếm trên 10%

* Giáo dục, khoa học, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường

Toàn tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

và đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Chất lượng giáo dục được nâng cao, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn vượt chỉ tiêu đề ra, công tác xã hội hoá giáo dục được tăng cường

Công tác y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình có nhiều tiến bộ: 95% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, các chính sách xã hội về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân được thực hiện có hiệu quả Tỷ lệ sinh giảm bình quân 0,2%/năm

Công tác văn hoá, thông tin được tỉnh quan tâm chỉ đạo; báo chí, phát thanh - truyền hình, thông tin cổ động tiếp tục đổi mới Sự nghiệp thể thao có bước tiến mới, các công trình văn hoá, thể thao được quan tâm đầu tư, phát triển

- Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn;

- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh;

- Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ninh;

- Phía Tây giáp hai huyện Lục Nam và huyện Lục Ngạn

Trang 33

Huyện có 21 xã và 2 thị trấn với nhiều thôn xóm và điểm dân cư nằm rải rác ở nhiều khu vực, huyện có 2 tuyến đường quốc lộ (gồm quốc lộ 279 và quốc lộ 31) và 2 tuyến tỉnh lộ (tỉnh lộ 291 và tỉnh lộ 293) chạy qua, tuy là huyện miền núi nhưng Sơn Động có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hoá với các huyện trong tỉnh cũng như với các tỉnh lân cận, với Trung Quốc qua cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn Với vị trí địa lý phù hợp với từng tuyến

du lịch, đường giao thông tương đối thuận tiện , tạo cho Sơn Động có nhiều tiềm năng du lịch sinh thái Lòng chảo An Châu là trung tâm huyện lỵ , được bao bọc bởi những dãy núi cao đã tạo thành một vòng tròn khép kín biến vùng

An Châu, An Lập thành một lòng chảo An Châu có ngã ba gọi là ngã ba thị trấn An Châu đi về các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn và thành phố Bắc Giang

2.2.1 2 Địa hình, địa mạo

Sơn Động có địa hình đặc trưng của vùng miền núi cao, chia cắt mạnh Hướng dốc chính từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ dốc khá lớn Ngoài ra huyện còn có các cánh đồng nhỏ, hẹp xen kẽ với các dải đồi núi Nói chung, huyện Sơn Động nằm trong khu vực núi cao có đặc điểm địa hình, địa mạo khá đa dạng, cao hơn các khu vực xung quanh, độ dốc lớn là đầu nguồn của sông Lục Nam nên việc khai thác sử dụng đất đai phải gắn với phát triển rừng, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện nói riêng và cả khu vực hạ lưu sông Lục Nam nói chung

2.2.1.3 Khí hậu

Tuy huyện Sơn Động nằm cách bờ biển không xa, nhưng do án ngữ của dãy núi Yên Tử, nên mang đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi khá rõ rệt, một năm có 4 mùa, nhưng khí hậu chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa và lượng mưa, có thể phân làm hai mùa chính:

Trang 34

- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, kèm theo gió mùa Đông Nam, nhiệt độ cao nhất 36 – 38oC

- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thịnh hành gió Đông Bắc, nhiệt độ thấp nhất từ 5- 10oC, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23oC

- Lượng mưa mùa hạ từ 1400mm đến 1800 mm, cả năm đạt khoảng 1400 – 1600 mm, trung bình là 1321 mm

- Độ ẩm không khí trung bình là 81.9%, cao nhất là 85%, thấp nhất là 77%

2.2.2 Kinh tế xã hội

Toàn huyện có 14 xã đặc biệt khó khăn khu vực III, 7 xã khu vực II, 1 thị trấn khu vực I Riêng thị trấn Thanh Sơn mới thành lập nên chưa tiến hành phân định Toàn huyện có 14 dân tộc thiểu số với 34000 người, chiếm 47.2% dân số, trong đó: dân tộc Tày 13684 người, Nùng 5601 người, Sán Chí 3758 người, Dao 3626 người, Cao Lan 5557 người, Hoa 1216 người, dân tộc khác khoảng hơn 500 người Các dân tộc sống đan xen, hòa đồng trên địa bàn các

xã, thị trấn của huyện Số hộ nghèo là các dân tộc thiểu số chiếm 53.39 %

Huyện có trên 74.6% số hộ, 28.7 % làng, bản, tổ dân phố, 66.4% cơ quan đạt danh hiệu gia đình, làng bản, tổ dân phố, cơ quan văn hoá.Xuất khẩu lao động được 78 người, đạt 15.6 %

Sơn Động có vị trí địa lí phù hợp với từng tuyến du lịch , hệ thống giao thông từ thị trấn An Châu đi ba ngả đều được rải nhựa đi lại thuận lợi , hệ thống điện lưới quốc gia đã về tới 21/22 xã và thị trấn trong huyện , việc phủ sóng điện thoại di động của Vinaphone và Viettel đã cơ bản phủ sóng hầu hết các vùn g có điểm du lịch Điểm nổi tr ội nữa của huyện Sơn Động để phát triển du lịch sinh thái đó là diện tích rừng tự nhiên ở đây vào diện lớn nhất trong tỉnh Tài sản rừng rất phong phú , với các loài gỗ quý như : Lim, lát, tấu, vàng tâm, kiêng xanh, Pơmu, dổi…Các loài động vật rừng quý hiếm vẫn bảo vệ tồn tại như : Hươu, hổ, khỉ, vượn, chó sói , chó ngao , gấu, lợn rừng , sơn

Trang 35

dương, tê tê , cầy hương , vòi lang , sóc bay, sóc cảnh , trăn rừng , gà lôi , đại bàng đất, công rừng và hàn h ngàn các loài chim rừng với máu sắ c khác nhau đã làm phong phú vốn động vật rừng ở huyện Sơn Động Ngoài ra rừng Sơn Động còn có nhiều loại lâm sản quý hiếm như : Ba kích, tắc kè, mật ong rừng,

sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ, măng và háng ngàn các loài cây thuốc nam quý hiếm để chữa bệnh góp phần giữ gìn sức khỏe cho người dân Với những tiềm năng và thế mạnh trên Sơn Động đã có 4 điểm để phát triển du lịch sinh thái như điểm du lịch Đồng Cao Hang Vua thuộc xã Thạch Sơn, điểm du lịch Khe Rỗ xã An Lạc; điểm du lịch Suối đường lội đi hồ Khe Chão của xã Long Sơn; điểm du lịch suối Nước Vàng thuộc xã Thanh Sơn bên cạnh nhà máy nhiệt điện Đồng Rì nằm dưới chân khu di tích lịch sử chùa Yên Tử Trong những năm qua các điểm du lịch sinh thái nói trên đã đón hàng ngàn khá ch du lịch trong và ngoài góp phần tăng nguồn thu nhập cho người dân trong vùng thông qua các hoạt động du lịch từ đó góp phần làm thay đổi diện mạo và phát triển kinh tế trong huyện

Trang 36

Khu vực nghiên cứu

Hình 2.Bản đồ hành chính huyện Sơn Động – Bắc Giang

Trang 37

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Về lý luận

Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự nhiên dưới tán rừng trồng tại huyện Sơn Động - Bắc Giang sẽ góp phần bổ sung thêm những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học về việc khoanh nuôi, phục hồi và phát triển rừng tự nhiên Góp phần nghiên cứu các quy luật tái sinh tự nhiên

và bổ sung những tư liệu về việc tái sinh rừng

3.1.2 Về thực tiễn

- Xác định một số đặc điểm cấu trúc của tầng cây cao một số quần xã rừng trồng

- Xác định được các thành phần dạng sống tái sinh dưới tán rừng trồng

- Xác định được một số đặc điểm của lớp cây gỗ tái sinh dưới tán rừng trồng

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến việc khoanh nuôi tái sinh, thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng rừng phục hồi, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái nhằm đáp ứng mục tiêu phòng hộ cũng như bảo vệ nguồn gen và tính đa dạng sinh vật của rừng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Do điều kiện thời gian, kinh phí nên chúng tôi đã lựa chọn đối tượng nghiên

cứu như sau:

1 Rừng trồng thuần loài Thông đuôi ngựa

2 Rừng trồng thuần loài Bạch Đàn

Trang 38

3 Rừng trồng thuần loài Keo lá tràm

4 Rừng trồng hỗn giao giữa Keo và Bạch Đàn

5 Lớp cây tái sinh tự nhiên bao gồm các nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo và dây leo sống tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng trồng bao gồm các trạng thái Rừng thuần loài thông đuôi ngựa, rừng thuần loài bạch đàn, rừng thuần loài keo lá tràm, rừng hỗn giao giữa keo và bạch đàn

- Tổ thành tầng cây cao

- Cấu trúc mật độ tầng cây cao, độ tàn che

- Nắn phân bố số cây theo đường kính ( N/D1.3); số cây theo chiều cao (N/HVN)

- Nghiên cứu sự tương quan giữa chiều cao với đường kính của cây 3.3.2 Nghiên cứu tổ thành loài cây dưới tán rừng trồng

- Xác định số lượng loài của từng nhóm, tỉ lệ %

- Thành phần dạng sống theo bốn nhóm: Nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo

và dây leo

3.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên các loài cây gỗ dưới tán rừng trồng

- Cấu trúc, tổ thành loài cây tái sinh

- Nghiên cứu cấu trúc, mật độ cây tái sinh

- Phân bố số cây theo cấp chiều cao và cấp đường kính

- Đánh giá chất lượng cây tái sinh

3.3.4 Nghiên cứu một số tính chất lý, hoá của đất dưới rừng trồng

3.3.5 Đề xuất một số biện pháp nhằm xúc tiến khả năng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng ở hai xã An Bá và Hữu Sản thuộc huyện Sơn Động - Bắc

Giang

Trang 39

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội

Sử dụng phương pháp thu thập số liệu kế thừa có chọn lọc về điều kiện

tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu, thông qua các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

- Tài liệu về địa lí, đất đai, thổ nhưỡng

- Tài liệu về khí hậu, thuỷ văn

- Tài liệu về dân sinh, kinh tế - xã hội

- Bản đồ tài nguyên rừng

- Các tài liệu báo cáo có liên quan

3.4.2 Thu thập số liệu ở thực địa

Dựa trên đặc điểm hiện trạng của khu vực rừng trồng thuộc huyện Sơn Động, căn cứ vào tình hình thực tế rừng trồng thuộc khu vực này có các trạng thái rừng trồng thuần loại bao gồm Keo , Bạch đàn và Thông nên chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu điều tra chi tiết theo ô tiêu chuẩn (ÔTC) tạm thời, điển hình cho từng đối tượng Mỗi quần xã rừng chúng tôi lập một ÔTC, mỗi ÔTC có kích thước là 400m2

(20m x 20m) Mỗi đối tượng được bố trí thí nghiệm 5 lần lặp lại

3.4.2.1 Điều tra tầng cây cao

Tại mỗi ÔTC tạm thời điển hình ta tiến hành mô tả các chỉ tiêu như : Vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao Sau đó xác định chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao:

Đường kính ngang ngực (ở độ cao 1,3m trên mặt đất – D1.3m), được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến cm, được đo theo hai hướng

Đông - Tây và Nam – Bắc, sau đó tính trị số trung bình

Trang 40

- Chiều cao vút ngọn (HVN ,m) và chiều cao dưới cành (HDC ,m) được đo bằng thước Blumeliss ( đo theo nguyên tắc lượng giác ) và thước sào với độ chính xác đến cm

+ HVN được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây

+ HDC được xác định từ gốc đến điểm phân cành đầu tiên tạo tán cây rừng

- Đường kính tán lá (DTL, m) được đo bằng phương pháp điều tra rừng

Đo hình chiếu tán lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông – Tây, Nam - Bắc Sau đó tính trị số trung bình

Kết quả sau khi đo được ghi chép, thống kê đầy đủ và chi tiết vào phiếu điều tra tầng cây cao

- Xác định độ tàn che: Dùng phương pháp trắc đồ rừng của Richards và Davis (1934) biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500m2 tỉ lệ 1/200, sau đó tính diện tích độ tàn che trên giấy ô ly, tính tỉ

lệ (%) Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp đo độ tán che bằng máy

đo độ tán che

3.4.2.2 Điều tra thành phần dạng sống thực vật trên ÔTC

Tiến hành điều tra thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên ÔTC của khu vực nghiên cứu sau đó phân loại theo nhóm ( nhóm cây gỗ, nhóm cây bụi, nhóm cây thảo và nhóm dây leo) Sau đó xác định số lượng loài của từng nhóm và tỉ lệ %

3.4.2.3 Điều tra lớp cây tái sinh

Trong các ÔTC có diện tích 400 m2 bố trí các ô dạng bản (ÔDB) có kích thước 4m2

(2x2m) ÔDB được bố trí trên đường chéo, trung tâm, bốn góc và các cạnh của ÔTC theo sơ đồ hình (3.1) Tổng diện tích ÔDB phải đạt

ít nhất 1/3 diện tích ÔTC

20m

Ngày đăng: 04/10/2014, 14:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baur.G.N. (1976), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng m-a (V-ơng Tấn Nhị dịch), NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng m-a
Tác giả: Baur.G.N
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1976
3. Nguyễn Tiến Bân (1997), “ Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi hệ sinh thái vùng cao núi đá vôi Cao Bằng bằng các loại cây gỗ quý bản địa” , Kû yếu Hội nghị môi tr-ờng các tỉnh phía bắc tại Sơn La, Sở Khoa học CNMT tỉnh Sơn La, Sơn La, tr.97 - 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi hệ sinh thái vùng cao núi đá vôi Cao Bằng bằng các loại cây gỗ quý bản địa
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1997
4. Nguyễn Thanh Bình (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sinh học của Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại tỉnh Bắc Giang , luận văn thạc sĩ lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sinh học của Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2003
5. Bộ Tài nguyên và Môi tr-ờng (2003), Chiến l-ợc bảo vệ môi tr-ờng quốc gia đến năm 2010, Kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi tr-ờng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến l-ợc bảo vệ môi tr-ờng quốc gia đến năm 2010
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi tr-ờng
Năm: 2003
6. Catinot, R. (1965), Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi (V-ơng Tấn Nhị dịch), Tài liệu khoa học Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Hà Néi, tr. 2 - 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi
Tác giả: Catinot, R
Năm: 1965
7. Lê Mộ ng Chân, Điều tra tổ thành thực vật rừng núi c ao Ba Vì kết quả nghiên cứu khoa học 1990, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tổ thành thực vật rừng núi c ao Ba Vì kết quả
8. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), Thực vật rừng, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
9. Hoàng Chung (2003), địa thực vật, giáo trình học, đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: địa thực vật, giáo trình học
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 2003
10. Nguyễn Duy Chuyên (1995), “ Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng th-ờng xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu Nghệ An” , KÕt quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp 1991 -1995, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 53 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng th-ờng xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
11. Hà Chu Chử (1997), “ H-ớng tới đóng cửa rừng tự nhiên - nguyên nhân và những vấn đề đặt ra” , Tạp chí Lâm nghiệp (5), tr. 6 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: H-ớng tới đóng cửa rừng tự nhiên - nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Hà Chu Chử
Năm: 1997
12. Trần Văn Con (2001), “ Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên” , Nghiên cứu rừng tự nhiên, NXB Thống kê, Hà Nội, tr. 45 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên
Tác giả: Trần Văn Con
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
13. Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1998), “ Ảnh h-ởng của thảm thực vật rừng đến một số tính chất lý, hoá học của đất Thái Nguyên” , Thông báo khoa học Tr-ờng Đại học S- phạm Việt Bắc (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Ảnh h-ởng của thảm thực vật rừng "đến một số tính chất lý, hoá học của đất Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công, Hoàng Chung
Năm: 1998
14. Lê Ngọc Công (2004), Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật pr Thái Nguyên , Luận án tiến sĩ sinh học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật pr Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 2004
15. Lâm Phúc Cố (1994), “ Vấn đề phục hồi rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Cang Chải” , Tạp chí Lâm nghiệp, 94 (5), tr. 14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phục hồi rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Cang Chả"i
Tác giả: Lâm Phúc Cố
Năm: 1994
16. Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Th-, Phạm Huy Tạo, Lê Đồng Tấn (1988), “ Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên ở một số vùng đất trống đồi núi trọc ở Sơn La” , Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp (12), tr. 15 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên ở một số vùng đất trống đồi núi trọc ở Sơn La
Tác giả: Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Th-, Phạm Huy Tạo, Lê Đồng Tấn
Năm: 1988
17. Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Th-, Phạm Huy Tạo, Lê Đồng Tấn (1990), Nghiên cứu các biện pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi tại Sơn La, Báo cáo đề tài 04A - 00 - 03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi tại Sơn La
Tác giả: Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Th-, Phạm Huy Tạo, Lê Đồng Tấn
Năm: 1990
19. Bùi Thế Đồi (2001), Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa ph-ơng ở miền Bắc Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Tr-ờng Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa ph-ơng ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Bùi Thế Đồi
Năm: 2001
20. Vũ Tiến Hinh (1991), “ Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên” , Tạp chí Lâm nghiệp (2), tr. 3 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
21. Đồng Sỹ Hiền (1974), Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam
Tác giả: Đồng Sỹ Hiền
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1974
22. Nguyễn Công Hoàn , Lê Ngọc Công (2006),Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử – Bắc Giang, tạp chí Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử – Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Công Hoàn , Lê Ngọc Công
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.Bản đồ hành chính huyện Sơn Động – Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 2. Bản đồ hành chính huyện Sơn Động – Bắc Giang (Trang 36)
Bảng 4.1. Tổng hợp một số đặc điểm tầng cây cao rƣ̀ng trồng tại khu vƣ̣c  xã An Bá - Hƣ̃u Sản huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.1. Tổng hợp một số đặc điểm tầng cây cao rƣ̀ng trồng tại khu vƣ̣c xã An Bá - Hƣ̃u Sản huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang (Trang 46)
Bảng 4.4. Thành phần dạng sống trong các trạng thái rừng trồng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.4. Thành phần dạng sống trong các trạng thái rừng trồng (Trang 53)
Bảng  4.5.  Đặc  điểm kết cấu tổ thành l ớp  cây tái sinh dưới tán rừng  Thông đuôi ngƣ̣a tại xã An Bá  –  Hƣ̃u Sản ,  huyện Sơn Độ ng,  tỉnh Bắc  Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
ng 4.5. Đặc điểm kết cấu tổ thành l ớp cây tái sinh dưới tán rừng Thông đuôi ngƣ̣a tại xã An Bá – Hƣ̃u Sản , huyện Sơn Độ ng, tỉnh Bắc Giang (Trang 56)
Bảng 4.6. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớ p cây tái sinh dưới tán rừng trồng  Bạch đàn tại xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.6. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớ p cây tái sinh dưới tán rừng trồng Bạch đàn tại xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Trang 58)
Bảng 4.7. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớp c ây tái sinh dưới tán rừng tr ồng  Keo lá tràm tại xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.7. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớp c ây tái sinh dưới tán rừng tr ồng Keo lá tràm tại xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Trang 59)
Bảng 4.8. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng  trồng  hỗn giao thuộc xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.8. Đặc điểm kết cấu tổ thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng trồng hỗn giao thuộc xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Trang 61)
Bảng 4.11. Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao dưới tán rừng trồng tại  xã An Bá- Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.11. Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao dưới tán rừng trồng tại xã An Bá- Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Trang 66)
Hình 4.5. Biểu đồ phân bố số cây theo cấp c hiều cao dưới tán rừng trồ ng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 4.5. Biểu đồ phân bố số cây theo cấp c hiều cao dưới tán rừng trồ ng (Trang 67)
Bảng 4.12 Mật độ cây tái sinh theo cấp đường kính dưới tán rừng trồng  tại khu vực hai xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Bảng 4.12 Mật độ cây tái sinh theo cấp đường kính dưới tán rừng trồng tại khu vực hai xã An Bá – Hƣ̃u Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Trang 68)
Hình 4.6. Biểu đồ phân bố N/D 1.3  của cây tái sinh dưới tán rừng trồng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 4.6. Biểu đồ phân bố N/D 1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng (Trang 70)
Hình 4.7. Biểu đồ phân bố N/D 1.3  của cây tái sinh dưới tán rừng trồng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 4.7. Biểu đồ phân bố N/D 1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng (Trang 70)
Hình 4.8.Biểu đồ phân bố N/D 1.3  của cây tái sinh dưới tán rừng trồng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 4.8. Biểu đồ phân bố N/D 1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng (Trang 71)
Hình 4.9. Biểu đồ phân bố N/D1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng - nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại hai xã an bá và hữu sản, sơn động, bắc giang
Hình 4.9. Biểu đồ phân bố N/D1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN