1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

51 3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 590,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Các tác động tích cực của tư tưởng tự do kinh tế tới các nước . Chủ nghĩa tự do ngày càng thâm nhập sâu hơn trong các nước, cả trên phương diện kinh tế cũng như chính trị, huy động được các thiết kế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Nhận diện chủ nghĩa tự do mới là điều rất cần thiết trong bối cảnh chủ nghĩa tự do đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế vĩ mô, đến chính trị và sinh hoạt quốc gia và quốc tế. Mô hình kinh tế tự do mới đề cao vai trò cá nhân. Thật vậy, một xã hội muốn phát triển thịnh vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mọi cá nhân và muốn làm được như vậy phải có một môi trường xã hội tự do, thông thoáng. Sự can thiệp quá sâu của Nhà nước có thể dẫn đến tình trạng mất đi tự do và khả năng tự chủ, sáng tạo của cá nhân. Chính sách kinh tế dựa trên tư tưởng thị trường tự do với yếu tố chủ đạo của tư tưởng này là cần hạn chế vai trò của Chính phủ và thay thế bằng các lực lượng thị trường. Nền kinh tế của CHLB Đức sau khi áp dụng lí thuyết nền kinh tế thị trường xã hội đã có những đổi mới đáng kể như : - Đưa nước Đức từ một nước thua trận trong chiến tranh thế giới thứ hai trở thành một nước cường quốc kinh tế. Sau Thế chiến thứ hai kinh tế và xã hội Đức nằm ở đáy thấp. Sau cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 việc tái xây dựng kinh tế đã thành công trong cái gọi là điều huyền diệu kinh tế (Wirtschaftswunder), đồng thời người dân được bảo vệ bởi một nhà nước xã hội. Nước Đức trở thành nước xuất khẩu đứng đầu; năng suất và chất lượng các sản phẩm Đức, đặc biệt là của ngành chế tạo máy, đã và vẫn luôn là tốt trên thế giới. Suốt cho đến đầu thập niên 1970 kinh tế Tây Đức hầu như tăng trưởng liên tục nhưng bắt đầu từ suy thoái kinh tế đầu thập niên 1980 mức tăng trưởng ngày càng kém đi. Sau đấy là 8 năm liền tăng trưởng, được giữ ở mức trung bình là 1,5% từ sau khi tái thống nhất. Tỷ lệ thất nghiệp nằm không ngừng ở mức độ cao. - Sau khi tái thống nhất nước Đức tạm thời phải gánh vác thêm nền kinh tế suy tàn của các tiểu bang mới. Việc này chủ yếu được trang trải bằng cách mượn thêm nợ mới và chuyển một số khoản phí tổn vào các hệ thống bảo vệ xã hội. Sau mười năm tái thống nhất Đức, có thể nhận ra được nhiều tiến bộ to lớn trong việc nâng cao mức sống của người dân Đông Đức, một nền kinh tế thị trường được thiết lập và hệ thống hạ tầng cơ sở được cải tiến. Nhưng đồng thời quá trình cân bằng giữa Đông và Tây kéo dài lâu hơn là dự định ban đầu, theo một số thước đo nhất định quá trình này đã dừng lại từ giữa thập niên 1990. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Đông Đức thấp hơn ở Tây Đức, tỷ lệ thất nghiệp cao gấp hai lần, vì thế nhiều lao động có tay nghề đi tìm việc làm ở Tây Đức. Năng suất lao động ở Đông Đức vẫn ở mức thấp. Lượng tiêu dùng ở Đông Đức phụ thuộc trực tiếp vào số tiền chi viện từ Tây Đức, hằng năm vào khoảng 65 tỷ $ hay hơn 4% tổng sản phẩm quốc nội của Tây Đức. - Nền kinh tế Đức đã đảm bảo được sự tự do cá nhân, các doanh nghiệp được tự do trao đổi cả trong và ngoài nước giúp nền kinh tế Đức phát triển: Trong năm 2004 – cũng như năm trước đó – Pháp đứng đầu trong danh sách các nước Đức xuất khẩu sang, trước Mỹ và Anh. Trong năm 2004 tổng giá trị hàng hóa Đức xuất sang Pháp là 75,3 tỷ euro (chiếm tỷ lệ 10,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu), sang Mỹ là 64,8 tỷ euro (8,8%) và sang Anh 61,1 tỷ euro (8,3%). Về nhập khẩu ba nước đứng đầu – cũng như năm trước đó – là Pháp (52,2 tỷ euro; chiếm tỷ lệ 9,0% trong tổng kim ngạch nhập khẩu), Hà Lan 847,9 tỷ euro; 8,3%) và Mỹ (40,3 tỷ euro; 7,0%). - Đức đã thực hiện hai mục tiêu là tự do cá nhân và đoàn kết xã hội và kết hợp được khả năng công nghiệp lớn mạnh dựa trên công nghiệp hiện đại với sự phát triển thương mại thế giới mở rộng. Để đạt được những thành tựu đó Đức đã coi trọng năng suất cao, coi trọng nguồn nhân lực và việc đào tạo nhân lực và đào tạo bồi dưỡng con người, coi trọng nghiên cứu _ triển khai, quan tâm mạnh đến các vấn đề xã hội. Chủ nghĩa tự do kinh tế mới đã đem lại những thành công nhất định ở các nước phát triển và đang phát triển. Sự thắng lợi của nền kinh tế theo chủ nghĩa tự do mới được minh chứng bằng sự thăng hoa của kinh tế Mỹ nửa sau thập kỷ 90 với tăng trưởng kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp khá thấp và ít lạm phát, sản lượng và năng suất cao hơn. -Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một năm cụ thể. Tổng sản lượng này của Mỹ tăng liên tục, từ hơn 3,4 nghìn tỷ USD năm 1983 lên khoảng 8,5 nghìn tỷ USD năm 1998. Tuy những số liệu này giúp đánh giá tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, nhưng chúng không đo được hết mọi phương diện của phúc lợi quốc gia. GDP cho biết giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra, nhưng nó không đo được chất lượng cuộc sống của một quốc gia. Và một vài biến số quan trọng - ví dụ như sự bình an và hạnh phúc cá nhân, hoặc môi trường trong sạch hay sức khỏe tốt - hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của nó. -Hệ thống doanh nghiệp tự do của Mỹ nhấn mạnh đến sở hữu tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân tạo ra phần lớn hàng hóa và dịch vụ, và gần hai phần ba tổng sản lượng kinh tế của quốc gia là dành cho tiêu dùng cá nhân (một phần ba còn lại được mua bởi chính phủ và doanh nghiệp). Trên thực tế, vai trò của người tiêu dùng lớn đến mức quốc gia này thỉnh thoảng được mô tả là có một “nền kinh tế tiêu dùng”. -Sự nhấn mạnh này đối với sở hữu tư nhân xuất phát một phần từ niềm tin của người Mỹ về tự do cá nhân. Ngay từ thời lập quốc, người Mỹ đã lo sợ quyền lực quá mức của chính phủ, và họ luôn tìm cách hạn chế uy quyền của chính phủ đối với cá nhân - bao gồm cả vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh tế. Hơn nữa, người Mỹ nhìn chung đều tin rằng một nền kinh tế được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân dường như hoạt động hiệu quả hơn so với nền kinh tế đặc trưng bởi sở hữu nhà nước. - Mô hình kinh tế tự do mới ở Mỹ giúp tăng tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp dẫn đến nền sản xuất sẽ hiệu quả hơn, hàng hóa sẽ đa dạng và phong phú hơn, giúp cho đồng vốn lưu thông dễ dàng hơn. Điều đó giúp cho các nước đang phát triển thu hút được nhiều vốn đầu tư từ đó hấp thu, tiếp cận nhanh hơn với khoa học – công nghệ cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân bản xứ đồng thời nâng cao thu nhập, mức sống người dân. Vào giữa năm 1986, Việt Nam bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoach hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Các mục tiêu về cải cách này là tự do hoá giá cả, loại bỏ sự trợ cấp cho người sản xuất, cho phép doanh nghiệp đặt giá và tự do hoá thương mại; ủng hộ quyền tài sản cá nhân, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khu vực tư nhân, tự do hoá các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài -Từ năm 1922 đến năm 1996, thực trạng kinh tế bắt đầu thể hiện dấu hiệu tích cực. GDP tăng bình quân 8.9 % mỗi năm. Năm 1996 nền kinh tế Việt nam thể hiện dấu hiệu tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm bởi vì chính phủ vẫn coi các doanh nghiệp nhà nước như là lực lượng quan trọng trong nền kinh tế. Khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 diễn ra, điều này đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các năm sau. Chúng ta có thể thấy trong hình sau: Tự do hoá thương mại đã đóng góp vào tăng trưởng nhanh của hàng hoá xuất khẩu trong giai đoạn 1993-1997, thương mại quốc tế đã mở rộng mạnh mẽ kể từ năm 1990. Hàng hoá xuất khẩu tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 24,7% trong giai đoạn từ 1990 đến 2001, trong khi đó hàng hoá nhập khẩu tăng 92,2% cùng kỳ. Tổng hàng hoá xuất khẩu đạt 15.207 triệu đôla vào năm 2001 và tổng hàng hóa nhập khẩu đạt 16.200 triệu đôla trong cùng năm. Luật đầu tiên về Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài đã được ban hành ngày 29/12/1987. Kể từ dó đến nay Luật này đã được sửa đổi nhiều lần vào năm 1990, 1992, và trước khi Luật mới về Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài được Quốc hội Việt nam thông qua vào tháng 6/2000. Các tổ chức tư nhân được phép thành lập liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 1992. Các thủ tục cấp giấy phép đầu tư dần dần được hoàn thiện, thời gian để nhận được giấy phép đầu tư ngắn hơn từ một vài năm xuống còn một vài tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp đầy đủ. Nhằm thu hút nhiều hơn FDI, nhiều cản trở đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được dỡ bỏ và môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Do đó, Việt nam đã thu hút được một lượng đáng kể dòng FDI chảy vào Việt Nam. FDI ở Việt Nam đã tăng trưởng rất nhanh từ năm 1988 đến năm 1995. Vào năm 1997, khủng hoảng tài chính Châu Á xảy ra, dòng FDI chảy vào Việt nam giảm. Để ngăn cản sự giảm sút của dòng vốn FDI chảy vào, chính phủ Việt nam đã ban hành Luật Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài mới vào tháng 6/2000. Chúng ta có thể thấy điều này dưới hình sau: Vào năm 1986, Việt nam thực hiện cải cách khu vực nông nghiệp. Đất đai được trả lại các hộ gia đình nông dân và được phép sử dụng trong thời gian dài, các hợp tác xã nông nghiệp được giải thể. Điều này đã khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất nông nghiệp và đóng góp vào sự gia tăng nhanh chóng của xuất khẩu gạo. Trong thời kỳ 1977-1980, Việt Nam phải nhập khẩu 3 triệu tấn gạo hàng năm. Đến năm 1988, Việt nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới. Trong suốt cơ chế hợp tác, sản xuất gạo bị đình trệ, đặc biệt vào năm 1977 và 1978. Mặc dù sản xuất gạo vào năm 1979 đã phục hồi, nhưng vẫn không đạt được mức 1976. Để đáp ứng nhu cầu trong nước, Việt Nam buộc phải nhập khẩu một lượng lớn gạo. Chúng ta thấy rằng cơ kế hợp tác xã đã thất bại: Trong năm 1988 chính phủ Việt Nam chính thức công nhận tầm quan trọng của khu vực tư nhân và phát triển nó. Vào năm 1990 Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, đã đưa ra khung pháp lý cho sự phát triển của khu vực tư nhân. Vào năm 1992 Hiến pháp mới khẳng định lại sự hợp pháp của khu vực tư nhân. Kết quả là số lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam không được đối xử công bằng so với các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, tiếp cập ngân hàng. Vào năm 1997 khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra. Nền kinh tế Việt nam gặp khó khăn. Phản ứng lại trước tình hình này, chính phủ Việt nam đã ban hành Luật Doanh nghiệp mới vào 1/1/2000. Luật mới này dỡ bỏ rào cản tham gia đối với các doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia dễ dàng hơn. Chi phí đăng ký kinh doanh đã giảm mạnh mẽ; thời gian đăng ký kinh doanh cũng được rút ngắn lại. Đồng thời luật này công nhận sự tự do kinh doanh, huỷ bỏ 180 giấy phép trong lĩnh vực kinh doanh. Kết quả là, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ gia tăng mạnh mẽ từ tháng 1/2000 đến tháng 8/2001. Trong suốt năm 2000, 14.400 doanh nghiệp vừa và nhỏ mới và 140.000 hộ kinh doanh được đăng ký. Vì vậy nếu Việt Nam áp dụng các thể chế và các chính sách phù hợp với tự do kinh tế, khi đó sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của hành vi doanh nhân và sự phát triển hành vi doanh nhân này tạo ra sự phát hiện mới, điều này sẽ tạo ra động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nền kinh tế Việt Nam đình trệ khi chính phủ dựng lên rào cản để giảm tự do kinh tế và khi đó điều này cản trở hành vi kinh doanh. Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Chủ trương này dựa trên quan điểm “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một Nhà nước vì dân, một nền kinh tế công bằng, một xã hội không còn đói nghèo, dốt nát và kém văn hóa. Đây là mục tiêu quan trọng mà Việt Nam hướng tới chứ không phải một kiểu tự do hại người lợi mình, cạnh tranh không lành mạnh, lấy bất bình đẳng làm động lực của phát triển, lấy thị trường làm thống soái, đặt cá nhân quyền thế và giàu sang lên trên hết.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

I Câu hỏi lý thuyết

Câu 1: Các tác động tích cực của tư tưởng tự do kinh tế tới các nước

Chủ nghĩa tự do ngày càng thâm nhập sâu hơn trong các nước, cả trên phương diện kinh tế cũng như chính trị, huy động được các thiết kế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Nhận diện chủ nghĩa tự do mới là điều rất cần thiết trong bối cảnh chủ nghĩa tự do đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế vĩ mô, đến chính trị và sinh hoạt

quốc gia và quốc tế

Mô hình kinh tế tự do mới đề cao vai trò cá nhân Thật vậy, một xã hội muốn phát triển thịnh vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mọi cá nhân

và muốn làm được như vậy phải có một môi trường xã hội tự do, thông thoáng Sự can thiệp quá sâu của Nhà nước có thể dẫn đến tình trạng mất đi tự do và khả năng tự chủ, sáng tạo của cá nhân Chính sách kinh tế dựa trên tư tưởng thị trường tự do với yếu tố chủ đạo của tư tưởng này là cần hạn chế vai trò của Chính phủ và thay thế bằng các lực lượng thị trường Nền kinh tế của CHLB Đức sau khi áp dụng lí thuyết nền kinh tế thị trường xã hội đã có những đổi mới đáng kể như :

- Đưa nước Đức từ một nước thua trận trong chiến tranh thế giới thứ hai trở thành một nước cường quốc kinh tế Sau Thế chiến thứ hai kinh tế và xã hội Đức nằm ở đáy thấp Sau cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 việc tái xây dựng kinh tế đã thành công trong cái gọi là điều huyền diệu kinh tế (Wirtschaftswunder), đồng thời người dân được bảo vệ bởi một nhà nước xã hội Nước Đức trở thành nước xuất khẩu đứng đầu; năng suất và chất lượng các sản phẩm Đức, đặc biệt là của ngành chế tạo máy, đã và vẫn luôn là tốt trên thế giới Suốt cho đến đầu thập niên 1970 kinh tế Tây Đức hầu như tăng trưởng liên tục nhưng bắt đầu từ suy thoái kinh tế đầu thập niên 1980 mức tăng trưởng ngày càng kém đi Sau đấy là 8 năm liền tăng trưởng, được giữ ở mức trung bình là 1,5% từ sau khi tái thống nhất Tỷ lệ thất nghiệp nằm không ngừng ở mức độ cao

Trang 2

- Sau khi tái thống nhất nước Đức tạm thời phải gánh vác thêm nền kinh tế suy tàn của các tiểu bang mới Việc này chủ yếu được trang trải bằng cách mượn thêm nợ mới và chuyển một số khoản phí tổn vào các hệ thống bảo vệ xã hội Sau mười năm tái thống nhất Đức, có thể nhận ra được nhiều tiến bộ to lớn trong việc nâng cao mức sống của người dân Đông Đức, một nền kinh tế thị trường được thiết lập và hệ thống hạ tầng cơ

sở được cải tiến Nhưng đồng thời quá trình cân bằng giữa Đông và Tây kéo dài lâu hơn là dự định ban đầu, theo một số thước đo nhất định quá trình này đã dừng lại từ giữa thập niên 1990 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Đông Đức thấp hơn ở Tây Đức, tỷ

lệ thất nghiệp cao gấp hai lần, vì thế nhiều lao động có tay nghề đi tìm việc làm ở Tây Đức Năng suất lao động ở Đông Đức vẫn ở mức thấp Lượng tiêu dùng ở Đông Đức phụ thuộc trực tiếp vào số tiền chi viện từ Tây Đức, hằng năm vào khoảng 65 tỷ $ hay hơn 4% tổng sản phẩm quốc nội của Tây Đức

- Nền kinh tế Đức đã đảm bảo được sự tự do cá nhân, các doanh nghiệp được tự do trao đổi cả trong và ngoài nước giúp nền kinh tế Đức phát triển: Trong năm 2004 – cũng như năm trước đó – Pháp đứng đầu trong danh sách các nước Đức xuất khẩu sang, trước Mỹ và Anh Trong năm 2004 tổng giá trị hàng hóa Đức xuất sang Pháp là 75,3 tỷ euro (chiếm tỷ lệ 10,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu), sang Mỹ là 64,8 tỷ euro (8,8%) và sang Anh 61,1 tỷ euro (8,3%)

Về nhập khẩu ba nước đứng đầu – cũng như năm trước đó – là Pháp (52,2 tỷ euro; chiếm tỷ lệ 9,0% trong tổng kim ngạch nhập khẩu), Hà Lan 847,9 tỷ euro; 8,3%) và

Mỹ (40,3 tỷ euro; 7,0%)

- Đức đã thực hiện hai mục tiêu là tự do cá nhân và đoàn kết xã hội và kết hợp được khả năng công nghiệp lớn mạnh dựa trên công nghiệp hiện đại với sự phát triển thương mại thế giới mở rộng Để đạt được những thành tựu đó Đức đã coi trọng năng suất cao, coi trọng nguồn nhân lực và việc đào tạo nhân lực và đào tạo bồi dưỡng con người, coi trọng nghiên cứu _ triển khai, quan tâm mạnh đến các vấn đề xã hội

Chủ nghĩa tự do kinh tế mới đã đem lại những thành công nhất định ở các nước phát triển và đang phát triển Sự thắng lợi của nền kinh tế theo chủ nghĩa tự do mới được minh chứng bằng sự thăng hoa của kinh tế Mỹ nửa sau thập kỷ 90 với tăng trưởng kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp khá thấp và ít lạm phát, sản lượng và năng suất cao hơn

-Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một năm cụ thể Tổng sản lượng này của Mỹ tăng liên tục, từ hơn 3,4 nghìn tỷ

Trang 3

USD năm 1983 lên khoảng 8,5 nghìn tỷ USD năm 1998 Tuy những số liệu này giúp đánh giá tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, nhưng chúng không đo được hết mọi phương diện của phúc lợi quốc gia GDP cho biết giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra, nhưng nó không đo được chất lượng cuộc sống của một quốc gia Và một vài biến số quan trọng - ví dụ như sự bình an và hạnh phúc cá nhân, hoặc môi trường trong sạch hay sức khỏe tốt - hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của

-Hệ thống doanh nghiệp tự do của Mỹ nhấn mạnh đến sở hữu tư nhân Các doanh nghiệp tư nhân tạo ra phần lớn hàng hóa và dịch vụ, và gần hai phần ba tổng sản lượng kinh tế của quốc gia là dành cho tiêu dùng cá nhân (một phần ba còn lại được mua bởi chính phủ và doanh nghiệp) Trên thực tế, vai trò của người tiêu dùng lớn đến mức quốc gia này thỉnh thoảng được mô tả là có một “nền kinh tế tiêu dùng”

-Sự nhấn mạnh này đối với sở hữu tư nhân xuất phát một phần từ niềm tin của người

Mỹ về tự do cá nhân Ngay từ thời lập quốc, người Mỹ đã lo sợ quyền lực quá mức của chính phủ, và họ luôn tìm cách hạn chế uy quyền của chính phủ đối với cá nhân - bao gồm cả vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh tế Hơn nữa, người Mỹ nhìn chung đều tin rằng một nền kinh tế được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân dường như hoạt động hiệu quả hơn so với nền kinh tế đặc trưng bởi sở hữu nhà nước

- Mô hình kinh tế tự do mới ở Mỹ giúp tăng tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp dẫn đến nền sản xuất sẽ hiệu quả hơn, hàng hóa sẽ đa dạng và phong phú hơn, giúp cho đồng vốn lưu thông dễ dàng hơn Điều đó giúp cho các nước đang phát triển thu hút được nhiều vốn đầu tư từ đó hấp thu, tiếp cận nhanh hơn với khoa học – công nghệ cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân bản xứ đồng thời nâng cao thu nhập, mức sống người dân

Vào giữa năm 1986, Việt Nam bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoach hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Các mục tiêu về cải cách này là tự do hoá giá cả, loại

bỏ sự trợ cấp cho người sản xuất, cho phép doanh nghiệp đặt giá và tự do hoá thương mại; ủng hộ quyền tài sản cá nhân, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khu vực

tư nhân, tự do hoá các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài

-Từ năm 1922 đến năm 1996, thực trạng kinh tế bắt đầu thể hiện dấu hiệu tích cực GDP tăng bình quân 8.9 % mỗi năm Năm 1996 nền kinh tế Việt nam thể hiện dấu

Trang 4

hiệu tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm bởi vì chính phủ vẫn coi các doanh nghiệp nhà nước như là lực lượng quan trọng trong nền kinh tế Khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 diễn ra, điều này đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các năm sau Chúng ta có thể thấy trong hình sau:

Tự do hoá thương mại đã đóng góp vào tăng trưởng nhanh của hàng hoá xuất khẩu trong giai đoạn 1993-1997, thương mại quốc tế đã mở rộng mạnh mẽ kể từ năm 1990 Hàng hoá xuất khẩu tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 24,7% trong giai đoạn từ

1990 đến 2001, trong khi đó hàng hoá nhập khẩu tăng 92,2% cùng kỳ Tổng hàng hoá xuất khẩu đạt 15.207 triệu đôla vào năm 2001 và tổng hàng hóa nhập khẩu đạt 16.200 triệu đôla trong cùng năm

Luật đầu tiên về Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài đã được ban hành ngày 29/12/1987

Kể từ dó đến nay Luật này đã được sửa đổi nhiều lần vào năm 1990, 1992, và trước khi Luật mới về Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài được Quốc hội Việt nam thông qua vào tháng 6/2000 Các tổ chức tư nhân được phép thành lập liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 1992 Các thủ tục cấp giấy phép đầu tư dần dần được hoàn thiện, thời gian để nhận được giấy phép đầu tư ngắn hơn từ một vài năm xuống còn một vài tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp đầy đủ Nhằm thu hút nhiều hơn FDI, nhiều cản trở đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được dỡ bỏ và môi trường đầu tư thuận lợi hơn Do đó, Việt nam đã thu hút được một lượng đáng kể dòng FDI chảy vào Việt Nam FDI ở Việt Nam đã tăng trưởng rất nhanh từ năm 1988 đến năm 1995 Vào năm

1997, khủng hoảng tài chính Châu Á xảy ra, dòng FDI chảy vào Việt nam giảm Để ngăn cản sự giảm sút của dòng vốn FDI chảy vào, chính phủ Việt nam đã ban hành Luật Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài mới vào tháng 6/2000 Chúng ta có thể thấy điều này dưới hình sau:

Vào năm 1986, Việt nam thực hiện cải cách khu vực nông nghiệp Đất đai được trả lại các hộ gia đình nông dân và được phép sử dụng trong thời gian dài, các hợp tác

xã nông nghiệp được giải thể Điều này đã khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất nông nghiệp và đóng góp vào sự gia tăng nhanh chóng của xuất khẩu gạo Trong thời

kỳ 1977-1980, Việt Nam phải nhập khẩu 3 triệu tấn gạo hàng năm Đến năm 1988, Việt nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới Trong suốt cơ chế hợp tác, sản xuất gạo bị đình trệ, đặc biệt vào năm 1977 và 1978 Mặc dù sản xuất gạo vào năm 1979 đã phục hồi, nhưng vẫn không đạt được mức 1976 Để đáp ứng nhu cầu

Trang 5

trong nước, Việt Nam buộc phải nhập khẩu một lượng lớn gạo Chúng ta thấy rằng cơ

kế hợp tác xã đã thất bại:

Trong năm 1988 chính phủ Việt Nam chính thức công nhận tầm quan trọng của khu vực tư nhân và phát triển nó Vào năm 1990 Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, đã đưa ra khung pháp lý cho sự phát triển của khu vực tư nhân Vào năm 1992 Hiến pháp mới khẳng định lại sự hợp pháp của khu vực tư nhân Kết quả là số lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh mẽ Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam không được đối xử công bằng so với các doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, tiếp cập ngân hàng Vào năm 1997 khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra Nền kinh tế Việt nam gặp khó khăn Phản ứng lại trước tình hình này, chính phủ Việt nam đã ban hành Luật Doanh nghiệp mới vào 1/1/2000 Luật mới này dỡ bỏ rào cản tham gia đối với các doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia dễ dàng hơn Chi phí đăng ký kinh doanh đã giảm mạnh mẽ; thời gian đăng ký kinh doanh cũng được rút ngắn lại Đồng thời luật này công nhận sự tự do kinh doanh, huỷ bỏ 180 giấy phép trong lĩnh vực kinh doanh Kết quả là, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ gia tăng mạnh mẽ từ tháng 1/2000 đến tháng 8/2001 Trong suốt năm 2000, 14.400 doanh nghiệp vừa và nhỏ mới

và 140.000 hộ kinh doanh được đăng ký

Vì vậy nếu Việt Nam áp dụng các thể chế và các chính sách phù hợp với tự do kinh tế, khi đó sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của hành vi doanh nhân và

sự phát triển hành vi doanh nhân này tạo ra sự phát hiện mới, điều này sẽ tạo ra động lực cho sự tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nền kinh tế Việt Nam đình trệ khi chính phủ dựng lên rào cản để giảm tự do kinh tế và khi đó điều này cản trở hành vi kinh doanh Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hình thành và phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Chủ trương này dựa trên quan điểm “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một Nhà nước vì dân, một nền kinh tế công bằng, một xã hội không còn đói nghèo, dốt nát và kém văn hóa Đây là mục tiêu quan trọng mà Việt Nam hướng tới chứ không phải một kiểu tự do hại người lợi mình, cạnh tranh không lành mạnh, lấy bất bình đẳng làm động lực của phát triển, lấy thị trường làm thống soái, đặt cá nhân quyền thế và giàu sang lên trên hết

Trang 6

Câu 2: Hãy cho biết lý luận có vai trò nền tảng trong học thuyết giá trị lao động của

K.MARX

Các nhà kinh tế học trước Mác chỉ phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá :giá trị sử

dụng và giá trị trao đổi có mâu thuẫn(Simondi).trái lại ,Mác khẳng định rằng hàng hóa

là sự thống nhất biện chứng giữa hai thuộc tính :giá trj sử dụng và giá trị Ông là người

đầu tiên đưa ra lý luận về tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá,là lao động cụ

thể và lao động trừu tượng đây là chía khoá để giải quyết một loạt các vấn đề khác

trong kinh tế chính trị như:chất lượng,sự hình thành các bộ phận giá trị (c+v+m) giá

trị hàng hoá ;nguồn gốc của giá trị và giá trị sử dụng

sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính :giá trị và giá trị sử dụng là do lao động của người sản

xuất ra hàng hoá đó có tính hai mặt.chính tinh hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

quyết định tính hai mặt cua bản than hàng hoá

+lao động cụ thể là những lao động gắn với nhưng nghề nghiệp chuyên môn cụ thể và

mỗi lao động cụ thể thì có đối tượng khác nhau ,sản phẩm khac nhau, công cụ khác

nhau,trình độ khác nhau do đó tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng khác

nhau.chính vì vậy lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng

VD :lao động cụ thể của người thợ môc,mục đích là sản xuất cái bàn ,cái ghế, đối

tượng lao động là gỗ,phương pháp của anh ta là các thao tác về cưa,về bào,khoan

đục;phương tiện sử dụng là cái cưa,cái đục,cái bào,cái khoan,kết quả là tạo ra cái

bàn,cái ghế

+lao động trừu tượng là sau khi gạt bỏ tất cả những hình thức cụ thể thì giữa các lao

động xuất hiên điểm chung đồng nhất đó là tiêu hao sức lao đông , đó là cơ sở để trao

đổi các hàng háo cho nhau.lao động trừu tượng tạo ra giá trị cua hàng hoá

Lưọng giá trị hàng hoá được xét cả về mạt chất và lượng:

Chất giá trị của hàng hoá là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng háo kết

tinh trong hàng hoá.vậy,lượng giá trị của hàng hoá là do lượng lao đông hao phí để sản

xuất ra hàng hoá đó quyết định

Câu 3: Vì sao sau khi áp dụng học thuyết keynes một thời gian thì lạm phát trở nên

nghiêm trọng ?

Trang 7

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và suy thoái

diễn ra một cách phổ biến và ngày càng nghiêm trọng ở các nước tư bản Thực tiễn đó

đã chứng tỏ rằng lý thuyết “Bàn tay vô hình” và “Tự điều chỉnh kinh tế” của các

trường phái phái cổ điển và tân cổ điển không còn phù hợp, không đảm bảo cho nền kinh tế được phát triển một cách cân đối, ổn định Cơ chế thị trường tự do tỏ ra không còn hữu hiệu, vì vậy phải có sự can thiệp tích cực của nhà nước vào các hoạt động

kinh tế để chống đỡ khủng hoảng và giải quyết những mâu thuẫn

Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ và tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực

lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đưa đến một đòi hỏi khách quan là phải có sự điều tiết của nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế Trong bối cảnh đó, nhu cầu phải có các

lý thuyết kinh tế mới thích ứng, để cứu vãn nền kinh tế tư bản khỏi sự sụp đổ, trở nên bức thiết Thuyết “Chủ nghĩa tư bản được điều tiết”, “Tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước” xuất hiện, và người sáng lập ra nó chính là John Maynard Keynes

Học thuyết kinh tế của Keynes ra đời với các lý thuyết về việc làm,và các điều

chính kinh tế vĩ mô của Nhà nước, lãi suất, tiền tệ, đặc biệt Keynes coi nguyên lý cầu

là nền tảng của phát triển kinh tế đã giải quyết được cơ bản các vấn đề khủng hoảng , suy thoái kinh tế của các nước TBCN thời bấy giờ.Đưa các nước TBCN thoát khỏi các cuộc khủng hoảng kinh tế lớn( 1929-1933) Tuy nhiên một thời gian sau khi áp dụng học thuyết Keynes thì các nước TBCN lại lâm vào một tình trạng chung là lạm phát trở nên nghiêm trọng

Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì? Tại sao các nước TBCN đã cơ bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế nhưng lại lâm vào tình trạng lạm phát gia tăng, nghiêm trọng? Sau đây chúng ta sẽ cùng làm rõ vấn đề này

Để hiểu được vì sao thời kì lúc bấy giờ lạm phát gia tăng chúng ta cần hiểu được lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát?

Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước

đó Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi

Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát

Trang 8

một con số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)

Một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trước khi chiến tranh thế giới nổ ra, một USD có giá trị tương đương với 4 mark Đức, nhưng chỉ 10 năm sau, một USD đổi được tới 4 tỉ mark Vào thời đó, báo chí đã đăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này: người ta vẽ cảnh một người đẩy một xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đó đồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu

Lý thuyết của Keynes đề cao vấn đề tiêu dùng, coi tiêu dùng là giải pháp hữu hiệu của tăng trưởng kinh tế, vì thế nội dung chủ yếu của học thuyết Keynes là lý thuyết trọng cầu, với các chính sách kích cầu.Gia tăng tiêu dùng, tăng chi tiêu công của chính phủ Nguyên lý cầu của keynes khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái

Trong lịch sử, cuộc khủng hoảng kinh tế dài nhất nổ ra giữa những năm 1970, 1980

và kết thúc trong vòng 16 tháng Trước tình hình này, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đang tìm cách thuyết phục các nước áp dụng các gói kích cầu cho nền kinh tế thông qua chi tiêu của chính phủ cỡ khoảng 2% GDP Không chỉ một vài nước, mà đồng loạt các nền kinh tế từ mới nổi cho đến phát triển, trong đó có Việt Nam, đã có kế hoạch kích cầu bằng ngân sách nhà nước

Tổng thống mới của Mỹ, Barack Obama dự tính dùng 819 tỉ đô la để thực hiện kích cầu, khoản kích cầu lớn nhất kể từ sau những năm 1950, vào việc xây dựng và phát triển hạ tầng như hệ thống đường cao tốc liên bang, trường học, Internet, công nghệ trong lĩnh vực năng lượng Các nước châu Âu đang lo lắng về nguy cơ thâm hụt ngân sách trên diện rộng kéo dài sau khủng hoảng nhưng lãnh đạo các nước trong khu vực

đã đi đầu trong vấn đề kích cầu mặc dù hệ thống phúc lợi xã hội của châu Âu khá tốt

và phần nào đã có hiệu ứng kích cầu Tương tự, ở châu Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam đều công bố thực hiện các gói kích cầu ở các quy mô khác nhau Trung Quốc dự tính chi 586 tỉ đôla để cải thiện cơ sở hạ tầng như đường sắt, sân bay Việt Nam cũng có kế hoạch huy động số tiền tương đương 1-6 tỉ đô la cho nhiệm

vụ kích cầu

Trang 9

Tuy nhiên kích cầu lại kéo theo những vấn đề kinh tế nóng bỏng khác.Thâm hụt ngân sách là điều khó tránh khỏi ở những nước có kế hoạch kích cầu trên quy mô lớn Thâm hụt ngân sách có thể dẫn tới việc lãi suất tăng, đầu tư vào các khu vực tư nhân (khu vực có hiệu quả sử dụng vốn cao, từ đó có thể cải thiện tình hình xã hội)

giảm.Hàng tý đôla chi tiêu công cộng được sủ dụng sẽ không tránh khỏi việc lãng phí tiền đầu tư vào những dự án không cần thiết Hơn nữa, các gói kích cầu đều chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng, trong khi đó các dự án liên quan đến cơ sở hạ tầng luôn chậm tiến độ và vượt dự toán như dự án đường cao tốc Big Dig ở Boston đã phải mất hơn 20 năm mới hoàn thành, vượt dự toán 5 lần Nhật cũng đã lãng phí tiền đầu tư vào các sân bay ít dùng, cầu đường dẫn đến các đảo ít người

Những năm 1960, 1970 kích cầu theo học thuyết Keynes tiếp tục phổ biến khắp nơi trên thế giới mà kết quả là nền kinh tế Mỹ, châu Âu và một số nền kinh tế khác ở châu Mỹ Latin đã phát triển hơn Tuy nhiên kéo theo đó là nền kinh tế Mỹ Latin

thường xuyên trong tình trạng lạm phát phi mã Chỉ số chung về lạm phát và thất nghiệp ở Mỹ cũng luôn ở mức cao, lên đến 20,8% năm 1980, tăng hơn 10% so với 10 năm trước đó

Tuy nhiên, chi tiêu công quá đà là một giải pháp không bền vững khi hệ thống tài chính của nhiều nước châu Âu như Bồ Đào Nha, Ý, Ai-len, Hy Lạp, Tây Ban Nha và nhiều khả năng có thêm Hungary - đang lung lay Các nước này rơi vào cuộc khủng hoảng nợ và tình trạng lạm phát kéo dài, ngày càng nghiêm trọng

Chính những điều này đã nêu bật hạn chế của một trong những quan điểm cốt lõi của Keynes - chi tiêu của chính phủ nhằm kích thích kinh tế sẽ mang lại hiệu quả Nhưng như chúng ta đã thấy, không phải lúc nào một chính phủ chi tiêu nhiều hơn cũng thu được nhiều thuế hơn cho ngân sách.Học thuyết Keynes đề cao tiêu dùng, chi tiêu công, coi tiêu dùng là vấn đề cốt lõi của tăng trưởng kinh tế tuy nhiên đã mắc phái một sai lầm là những chi tiêu công cộng lại có thể gây ra mức thâm hụt ngân sách cao

và gây ra tình trạng lạm phát nghiêm trọng.Ở đây chúng ta có thể thấy rõ Keynes đã lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát.keynes đã lựa chọn tăng trưởng kinh tế

và chấp nhận sự lạm phát.Tăng chi tiêu mở rộng tiêu dùng và tất yếu sau đó các nước lâm vào tình trạng lạm phát kéo dài.Chấp nhận tăng chi tiêu công kích thích tiêu dùng, việc làm đòng nghĩa với việc ngân sách thâm hụt với những khoản nợ khổng lồ và kéo theo đó là tình trạng lạm phát

Trang 10

Như vậy có thể nói rằng, học thuyết kinh tế của Keynes đã giải quyết được các vấn

đề tạm thời mang tính chất ngắn hạn là kích cầu- tăng trưởng kinh tế mà lại để lại hậu quả những khoản nợ ngân sách khổng lồ tất yếu kéo theo đó là lạm phát – một vấn đề kinh tế nóng bỏng của mọi thời đại.Điều này giải thích cho chúng ta rằng vì sao sau một thời gian áp dụng học thuyết Keynes thì các nước lại lâm vào tình trạng lạm phát nghiêm trọng

Câu 4: Tại sao nói Keynes đã “dùng đại bác bắn vào cơ chế thị trường” ?

Nói Keynes đã “dùng đại bác bắn vào cơ chế thị trường” vì các học thuyết kinh

tế của ông đã quá coi nhẹ cơ chế thị trường Đó là một trong những hạn chế đáng tiếc trong các học thuyết kinh tế của Keynes

a.Biểu hiện của việc coi nhẹ cơ chế thị trường:

Việc quá coi nhẹ cơ chế thị trường của ông được thể hiện ở việc ông đã đánh giá quá cao vai trò của nhà nước mà ông lại bỏ qua sự vận động linh hoạt, biến đổi không ngừng của cơ chế thị trường:

Trái ngược với quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển về vai trò của Nhà nước với thị trường, Keynes khẳng định : cần có Nhà nước trong việc điều tiết nền Kinh tế thị trường, vai trò đó thể hiện tập trung ở việc điều chỉnh tổng cầu ( bao gồm tổng cầu về tiêu dùng và tổng cầu về đầu tư) Chỉ có vậy nền kinh tế mới có thể thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp

* Tổng cầu đầu tư: Trên cơ sở phát triển những nguyên nhân gây ra thiếu hụt

về đầu tư (lãi suất, hiệu quả giới hạn trung bình đầu tư), Keynes đưa ra những thí nghiệm mà tập trung nhất là việc sử dụng ngân sách nhà nước để khuyến khích đầu tư

tư nhân và bản thân Nhà nước cần chủ động đầu tư cụ thể:

 Nhà nước cần thực hiện tăng thêm những lá đơn đặt hàng đối với các công ty Trước hết là những công ty lớn về các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng tiêu dùng…Ông cho rằng việc thực hiện những đơn đặt hàng như vậy là biện pháp chủ động tăng cầu về tư liệu tiêu dùng và cầu về sức lao động

 Tăng cường trợ cấp tín dụng về ngân sách để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận cho các tổ chức độc quyền cũng có nghĩa là đảm bảo hiệu quả đầu tư ở mức

có lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn để họ yên tâm đầu tư

Trang 11

Các biện pháp mà Nhà nước cần áp dụng là giảm lãi suất, thực hiện tín dụng ưu đãi đối với những chương trình trọng điểm, giảm thuế đối với các doanh nghiệp

 Thực hiện “ lạm phát có mức độ” Ông cho rằng để đầu tư, việc giảm lãi suất cần phải tăng thêm một số lượng tiền tệ vào lĩnh vực lưu thông( Để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước, ông chủ trương in thêm tiềnđể cấp phát cho ngân sách hoạt động, mở rộng đầu tư Nhà nước và đảm bảo chi tiêu cho cổ phần) Đây là biện pháp hữu hiệu để kích thích thị trường và không có gì nguy hiểm Khi nền kinh tế đạt tới trạng thái cân bằng mới, sản lượng và việc làm cao hơn thì lạm phát sẽ tự động ngừng lại

 Cùng với các biện pháp trên thì Sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế : tăng thuế để điều tiết bớt một phần tiết kiệm từ thu nhập của người lao động , đưa vào ngân sách để Nhà nước mở rông đầu tư, giảm thuế với nhà đầu tư để tăng đầu

 Thực hiện khuyến khích mở rộng các hình thức đầu tư như đầu tư vào việc sản xuất các phương tiện kinh doanh (Tạo việc làm, mở nhiều hình thức đầu tư để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, chống khủng hoảng, có thể với nghề ăn bám như sản xuất vũ khí, chạy đua vũ trang)

*Tổng cầu về tiêu dùng: Để nâng cao hiệu quả tiêu dùng, J.M.Keynes cho

rằng cần phải kích thích tiêu dùng cá nhân của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là khuyến khích sự tiêu xài xa hoa của các tầng lớp giàu có thực hiện quân sự hóa nền kinh tế

b Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này:

Ngay từ đầu trong cách tiếp cận vấn đề của Keynes, ông đã xuất phát và đi thẳng vào quan điểm giá cả, tiền lương ổn định, cứng nhắc, không có sự biến động Theo quan điểm của Keynes, các chính sách tiền tệ và tài khóa có thể thay thế cho giá cả tiền lương linh hoạt, kích thích nền kinh tế trong thời kì suy thoái, làm giảm tổng cầu trong thời gian khủng hoảng kinh tế, nhằm ngăn chặn các xu hướng lạm phát Những người thuộc trường phái Keynes tin tưởng rằng: chính phủ có thể tác động đến hoạt động kinh tế thực sự, bằng cách thi hành các chính sách tiền tệ hay tài khóa nhằm thay đổi tổng cầu trong hoạt động kinh tế bị đình trệ Hoăc kìm chế chi tiêu trong thời kì lạm phát Khi chi tiêu chính phủ tăng, giảm thuế hay tăng cung tiền, tất cả đều tạo sẩn phẩm hơn và vì vậy khuyến khích đầu tư

Trang 12

Trong khi thực tế lại hoàn toàn ngược lại Thị trường không đứng yên, nó không ngừng biến động giữa hai đại lượng cung và cầu hàng hóa Khi cung không đổi mà cầu lại tăng thì lẽ đương nhiên giá hàng hóa sẽ phải tăng hay khi cung tăng cầu không đổi, giá hàng hóa sẽ giảm xuống Các sự tác động ấy sẽ kéo cung- cầu về vị trí cân bằng,

ổn định nền kinh tế Về vấn đề tiền lương, khi cung hàng hóa tăng các nhà sản xuất cần một lượng lớn sức lao động, lúc này tiền lương sẽ tăng Ngược lại, khi cung hàng hóa giảm làm giảm cầu về nguồn lao động dẫn tới tiền lương giảm Nhưng đấy là sự điều tiết khách quan của thị trường mà Keynes đã không nhìn ra khi quá kì vọng vào bàn tay Nhà nước

Trang 13

II Câu hỏi mở

Câu 1 Giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng nhƣ ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu A/S mặt trời

W.P( 1632 - 1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế trường phái cổ điển anh Ông là người áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học được gọi là phương pháp khoa học tự nhiên W.Petty có công lao to lớn trong việc nêu

ra lí luận về giá trị lao động Ông đã đưa ra các phạm trù về giá cả hàng hoá Gồm giá

cả tự nhiên và giá cả chính trị Tuy vậy lí thuyết giá trị lao động của ông còn nhiều hạn chế, chưa phân biệt được các phạm trù giá trị giá cả và giá trị

ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lượng Ông chỉ giới hạn lao động tạo ra giá trị phụ thuộc lao động khai thác vàng và bạc Ông so sánh giá lao động khai thác vàng và bạc với lao động khác, lao động khác chỉ tạo nên của cải ở mức độ so sánh với lao động tạo ra tiền

Như vậy W.Petty cho rằng lao động tạo ra tiền mới là lao động tạo ra giá trị nên giá trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị của tiền, giá trị hàng hoá là sự phản ánh giá trị của tiền

tệ “ như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời “ ông đã không thấy được rằng tiền đo làm thời gian tách làm hai, một bên là hàng hoá thông thường, một bên là tiễn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị

* “ lao động là cha còn đất đai là mẹ của của cải” đây là luận điểm nổi tiếng trong lí thuyết giá trị lao động của ông

- Xét về mặt của cải (giá trị sử dụng) thì ông đã nêu lên được nguồn gốc của cải Đó là lao động của con người Kết hợp với yếu tố tự nhiên Điều này phản ánh TLSX để tạo

Trang 14

Câu 2 W Petty là nhà kinh tế học phản ánh bước quá độ từ CNTT sang KTCT

từ cổ điển

* Lý luận giá trị W.Petty

Trong tác phẩm bàn về thuế khoá và lệ phí (1662) W.Petty nghiên cứu về giá cả chia giá cả thành hai loại giá cả tự nhiên và giá cả chính trị

- Giá cả tự nhiên do hao phí lao động quy định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó Giá cả tự nhiên là giá trị của hàng hoá Như vậy ông là người đầu tiên tìm thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động , thấy được quan hệ giữa lượng giá trị và năng suất lao động * Kết luận: Số lượng lao động = nhau bỏ vào sản xuất là cơ

sở để so sánh giá trị hàng hóa, giá cả tự nhiên (giá trị), tỷ lệ nghịch với NS lao động khai thác vàng và bạc

- Giá cả chính trị chính là giá cả thị trường của hàng hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên và khó xác định CP lao động trong giá cả chính trị thường cao hơn chi phí lao động trong giá cả tự nhiên

- Tuy nhiên lí thuyết gt lao động của ông chịu ảnh hưởng của CNTT Ông chỉ tập chung nghiên cứu mặt lượng , nghĩa là nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hóa, một bên là tiền tệ Ông giới hạn giả thiết đào tạo giá trị trọng lao động khai thác vàng và bạc Các loại lao động khác chỉ so sánh với lao động tạo ra tiền tệ Giá trị hàng hoá là

sự phản ánh giá trị tiền tệ

- Mặc dù bị ảnh hưởng của phái TT nhưng trong trường phái thị trường chỉ thoả mãn với việc đơn thuần đưa ra những biện pháp kinh tế hay chỉ mưu tả lại những hiện tượng kinh tế theo kinh nghiệm như W.Petty đã tiếp cận với các quy luật khách quan

=) nghiên cứu lĩnh vực sản xuất

- Trong những t/y đầu tiên W.Petty còn mang nặng tư tưởng TT nhưng trong t/y cuối cùng của ông thì không còn dấu vết của CNTT Ông là người đầu tiên nhấn mạnh t/c khách quan của những quy luật tác động trong XHTB

Câu 3 Ptty là người đặt nền móng cho giá trị lao động

Trình bày lí luận giá trị lao động : Giá cả tự nhiên và giá cả chính trị (câu 2) - Ông là người đầu tiên đã tìm thấy chỉ số của giá cả tự nhiên là lao động, thấy được quan hệ giữa lượng giá trị và năng suất lao động (tỷ lệ nghịch )

-) Hạn chế mang nặng

Trang 15

- Lí luận này của ông đã được Ađam Smith kế thừa và phát triển ông đã đưa ra 1 nghị định giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định Đây là K/n đúng đắn về giá trị nhưng ông vấp phải vđ giá

- Chỉ khi đến Ma rkitng mới phân biệt số 2 thuộc tính của hàng hoá đó là giá trị sử dụng và giá trị có sự thống nhất biện chứng Đây là chìa để khoá giải quyết một loạt các vấn đề trong KINH Tế có

Như vậy W Petty đã đặt nền móng cho hàng hoá giá trị Từ những lí luận của ông , các nhà kinh tế học đã kế thừa và phát triển lí luận đó và khi được hoàn thiện bởi Ma

rk đây là công lao to lớn của ông

Câu 4.Ad Smith là nhà lí luận giá trị lao động song lí luận giá trị của ông vẫn chưa đươc nhiều và sai lầm

* Lí luận giá trị của Adam Smith

AdamSmith (1723- 1790) đã mở ra giai đoạn phát triển mới của sự phát triển các học thuyết kinh tế Ông đi sâu phân tích bản chất để tìm ra các quy luật sự vận động của các hiện tượng và các quá trình kinh tế

So với W.Petty và trường phái trọng nông, lý thuyết giả thiết lao động của A.Smith có bước tiến đáng kể

Cũng chỉ ra rằng tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị lao động là thước

đo cuối cùng của giá trị

- Phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và kđịnh Giá trị sử dụng không quy định giá trị trao đổi Ông bác bỏ quan điểm ích lợi quyết định giá trị trao đổi

- Khi phân tích giá trị hàng hoá: Giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi của hàng hoá trong mối quan hệ với số lượng hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát

Trang 16

triển nó được biểu hiện ở tiền

- Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hoá do lao động hao phí lao động trung bình cần thiết quy định Lao động giản đơn và lao động phức tạp ảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị hàng hoá Trong cùng một thời gian, lao động chuyên môn, phức tạp xẽ tạo ra một lượng giá trị nhiều hơn so với lao động có chuyên môn hay lao động giản đơn

- Phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường : giá cả tự nhiên là biểu hiện = tiền của giá trị Ông khảng định hàng hoá được bán theo giá cả tự nhiên, nếu giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, địa tô, và lợi nhuận Theo ông giá cả tự nhiên

là Truy tâm, giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hoá giá cả này nhất trí với giá

cả tự nhiên khi được đưa ra thị trường với số lượng đủ “thoả mãn lượng cầu thực tế’’ Giá cả tự nhiên có tính chất khách quan còn giá cả thị trường phụ thuộc vào những yếu

tố như quan hệ cung cầu và các loại quan hệ đường khác

* Mâu thuẫn và sai lầm :

- Đưa ra hai định nghĩa :+ “giá trị toàn điểm là do lao động quy định, giá trị là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá qđ”

+ Giá trị của một hàng hóa = số lượng lao động mà nhờ hàng hoá đó có thể mua được -) Đây là điều sai lầm, luẩn quẩn của Ađam Smith Ông đã đưa vào hiện tượng, một bên là chủ nghĩa lao động cho nhà tư bản, một bên là nhà tư bản trả lương cho công nhân

- Về cấu thành lượng giá trị hàng hoá : Theo ông trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của mọi giá trị tác động A Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn Song ông lại lầm ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị tác động Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, hơn nữa, ông cũng xem thường tư bản bất biến â; coi giá trị có (v+m)

Câu 5 A Smith đã sai lầm trong quan niệm về cơ cấu giá trị, rica.rdo đã khắc phục và sửa chữa sai lầm đó nhƣng vẫn chƣa triệt để

- Nêu lí luận của A Smith về cơ cấu giá trị (câu trên)

Hạn chế: chỉ có v+m, không có c

- David Ricardo đã gạt bỏ tính không triệt để, không nhất quan điểm về các xác định

Trang 17

giá trị của A Smith ( giả thiết bàng lao động mua được ) D Ricardo kiên định với quan điểm: lao động là nguồn gốc giá trị, công lao to lớn của ông đã được đứng trên quan điểm đó để xác định lí luận khoa học của mình Đồng thời ông cũng phê phán A smith cho rằng giá trị là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành Theo ông giá trị hàng hoá không phải do các nguồn thu nhập hợp thành mà ngược lại được phân thành các nguồn thu nhập

Về cơ cấu giá trị hàng hóa, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo diễn của A.Smith

bỏ c ra ngoài giả thiết hàng hoá Ông cho rằng : giả thiết hàng hoá không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra mà còn là lao động cần thiết trước đó nữa như máy móc, nhà xưởng ( tức ông chỉ biết có C1 - chỉ có đến Mã mới hoàn chỉnh được công thức tính giả thiết hàng hoá = c+vm

- Ricardo đã có những nhận xét tiến gần đến lợi nhuận lq, ông cho rằng những tư bản

có đại lượng = nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau Nhưng cũng không chứng minh được vì ông hiểu được giá cả sản xuất Theo ông sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là ngoại lệ, trên thực tế chỉ có giá trị chứ không có giá cả sản xuất Mã đã chỉ ra cơ cấu lẻ háo giá trị thặng dư thành lợi nhuận bg và giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất trong điề kiện tự do cạnh tranh Từ đó Mã đã giải quyết được nhiều vấn đề mà các nhà kthh trước không vượt qua được

Câu 6 Theo A Smith tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập và cũng là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị thời điểm

- Đặc điểm nổi bật của học thuyết Keynes là đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô

Trang 18

Theo ông việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ những các mọi lượng lớn để tìm ra công cụ tác động vào khuynh hướng, làm phát triển mọi lượng

- Keynes đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với mọi đại lượng

+ Đại lượng xuất phát: không phát triển hoặc phát triển chậm( như các nguồn v/c: TL sản xuất, số lượng slđ, trình độ chuyên môn hoá của chủ nghĩa, cơ cấu chế độ xã hội ) + Đại lượng khả biến độc lập: những khuynh hướng tâm lí ( tiết kiệm, tđ, đầu tư ) nhóm này là cơ sở hoạt động của mô hình,là đòn bảy cho sự hoạt động của các tổ chức kinh tế

+ Đại lượng khả biến phụ thuộc vào: cụ thể hoá tình trạng của nền kinh tế ( số lượng, quản gia, thu nhập quân dân.)

R= c+s

Q= c+I I=S

R= Q

 việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi tăng I, giảm S

Có như vậy mới giải quyết được khối lượng thất nghiệp

* Lí thuyết về việc làm của Keynes

Khi việc làm phát triển lên thì thu nhập thực tế phát triển -) phát triển tiêu dùng nhưng tốc độ phát triển tiêu dùng chậm hơn tốc độ phát triển thu nhâp nên có khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập Do đó các doanh nghiệp xẽ bị thua lỗ nếu sử dụng toàn

bộ số lượng lao động tăng thêm Nếu muốn khắc phục tình trạng này cần phải kích thích quần chúng tiêu dùng thêm phần tiết kiệm của họ, và cần phải có một lượng tái bản đầu tư để kích thích các chủ doanh nghiệp sử dụng số lượng lao động phát triển thêm Khối lượng tái bản đầu tư phụ thuộc vào sở thích đầu tư của nhà kinh doanh mà

sở thích đầu tư phụ thuộc vào hiệu quả giới hạn của TB (hiệu quả giới hạn của TB có

xu hướng giảm đến khi bằng lãi suất ) do đó để phân tích lí thuyết chung về việc làm phải sáng tỏ các lí thuyết về khuynh hướng tiêu dùng, hiệu quả giới hạn của TB

- Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn:

* Khuynh hướng tiêu dùng phụ thuộc vào : thu nhập, nhân tố khách quan ảnh hưởng tới thu nhập sự hoạt động phát triển tiền cùng danh nghĩa, sự phát triển chênh lệch giữa thu nhập với thu nhập vậy những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng như dự phòng dùng cho tương lai

+ Khuynh hướng tiết kiệm phụ thuộc vào : động lực kinh doanh, động lực tiền mặt,

Trang 19

động lực cải tiến và động lực thận trọng về tài chính

-) Khuynh hướng sử dụng giới hạn là khuynh hướng phân chia thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng -ký hiêụ dc/ dR =)

khuynh hướng này có su hướng giảm dần nghĩa là cùng với sự tăng lên của thu nhập thì tiêu dùng tăng lên nhưng với tốc độ chậm hơn, vì phần thu nhập tăng thêm đem phân chia cho tiêu dùng ít hơn Từ đó tạo khoảng cách giữa tiêu dùng và thu nhập đó

là tiết kiệm Khi đó khuynh hướng tiêu dùng giới hạn giảm dần còn khuynh hướng tiết kiệm giới hạn tăng dần -) sự thiếu hụt cần tác động là xu hướng vĩnh viễn của mọi nền sản xuất =) gây ra khủng hoảng, thất nghiệp

- Lãi suât và hiệu quả giới hạn của tư bản

+ Lãi suất của sự trả công cho số tiền vay Nó là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản” trong nền kinh tế, lãi suất tỷ lệ nghịch với số lượng tiền cần thiết trong lưu thông ( i tăng, I giảm)

+ Theo đã tăng lên của vốn đầu tư thì “ hiệu quả của tư bản “ sẽ giảm dần và nó được gọi là “hiệu quả giới hạn của tư bản “ “ vậy hiệu quả giới hạn tư bản” là quan hệ giữa phần lời triển vọng được đảm bảo bằng đơn vị bổ sung của tư bản và cỏ phần để sản xuất ra đơn vị đó

- Số nhân đầu tư : số nhân là tỉ số giữa tốc độ tăng thu nhập và tăng đầu tư Nó xử dụng sự gia tăng đầu tư để làm cho gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần

Nếu dR: gia tăng thu nhập

DI: gia tăng đầu tư

Trang 20

* Các trường phái nhấn mạnh vai trò của Nhà nước

- CNTT: Khi chủ nghĩa tư bản mới ra đời, tài sản đã dựa vào Nhà nước để tích luỹ vốn

vì Nhà nước nắm đường về ngoại thương, đề ra luật lệ, c/s, kiểm soát buôn bán giúp ts thu được lợi nhuận từ hoạt động ngoại thương

- Học thuyết của Keynes: trước cuộc khủng hoảng 29-33 -) đưa ra vai trò tất yếu của Nhà nước Nhà nước trong các c/s vĩ mô sẽ khắc phục khủng hoảng, ổn định tăng kinh

tế -) nhấn mạnh vai trò của Nhà nước

- Chủ nghĩa tự do Kinh Tế : Nhà nước chỉ can thiệp vào kinh tế ở một mức độ nhất định

VD: Nền kinh tế ở Đức, Nhà nước can thiệp theo hai nguyên tắc: hỗ trợ và tương hợp

- Samuelson: coi trọng cả cơ chế tập thể và Nhà nước: Nhà nước phải có chức năng can thiệp điều tiết kinh tế nhưng tôn trọng quy luật kinh tế kết quả của kinh tế tập thể

Câu 8 Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson

- Nguyên nhân: cơ chế tập thể tồn tại những khuyết tật vốn có như ô những MT mà doang nghiệp không phải trả giá cho sự huỷ hoại đó, những thất bại thị trường do đường gây ra, tệ nạn như khủng hoảng, thất nghiệp, phương pháp thu nhập bất bình đẳng do hệ thống thông tin mang lại-) cần có sự can thiệp của Nhà nước

* Vai trò: 4 chức năng chính

1 Thiết lập khuôn khổ PL: Cp đề ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các doang nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân CP cũng phải tuân thủ Bao gồm quy định về tài sản , quy tắc về hợp đồng, và hoạt động kinh doang trách nhiệm và cả những quy định trên nhiều lĩnh vực khác nhau , đó là những nguyên tắc sử sự chuộc lỗi mọi người phải tuân theo

2 Sửa chữa những thất bại của tập thể để tạp thể hoạt động có hiệu quả:

- Sự can thiệp của CP để hạn chế đường, đảm bảo tích hiệu quả của cạnh tranh tập thể

- Nhà nước tác động bên ngoài cùng dẫn đến tính không hiệu quả của các hoạt động thị trường và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp Tác động bên ngoài xảy ra khi doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chi phí lợi ích cho doang nghiệp khác hoặc người khác

mà các doanh nghiệp hoặc các con người đó không nhận được đúng số tiền cần được trả hoặc không phải trả

- Cần phải đảm bảo việc sản xuất các hàng hoá công cộng Tư nhân thường không

Trang 21

muốn sản xuất hàng hóa công do lợi ích giới hạn thu được là rất nhỏ, mà có nhiều hàng hóa công cộng có ý nghĩa với Qgiá như Qp, Lp trật tự trong nước nếu không thể giao cho tư nhân được Do đó cổ phẩn phải sản xuất hàng hóa công cộng

3 Đảm bảo sự công bằng :

Sự phân hoá, bất bình đẳng sinh ra từ cơ chế tập thể là tất yếu CP phải thông qua cs phân phối thu nhập,công cụ quan trọng nhất của Nhà nước là thuế luỹ tiến và lưới an toàn bảo vệ người không may khỏi bị huỷ hoại về kinh tế Đôi khi cp trợ cấp tiêu dùng, trợ cấp thất nghiệp

4 ổn định kinh tế vĩ mô: vấn đề nan giải cơ bản của kinh tế vĩ mô là : không nước nào trong một thờ gian dài có thể được kinh doang tự do, lạm phát thất nghiệp và việc làm đầy đủ Nền kinh tế luôn gặp khủng hoảng chu kì Do đó cp = bằng các công cụ vĩ mô như c/s tài khoá, tiền tệ sẽ góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô =) vai trò : duy trì tăng trưởng ổn định, kiềm chế lạm phát

+ Nhược điểm của bàn tay hữu hình đó là đường, bảo thủ trì trệ, có những khi sai lầm

về đường lối Do vậy phải kết hợp cả hai cơ chế tập thể xác định giá cả sản lượng, trong khi đó cổ phần điều tiết tập thể bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ

Câu 9.Thời kì tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tƣ bản cũng là thời kì thống trị của CNTT

- CNTT là hệ thống quan điểm tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, mà trước hết là tầng lớp tư sản thương nghiệp Nó ra đời trong thời kì tan ra của PTSX phong kiến Đó là thời kì chuyển từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa hay còn gọi là thời kì tích luỹ nguyên thuỷ tư bản

- Thời kì tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa là thời kì tạo ra những tiền đề cho sự

ra đời của PTSX tư bản chủ nghĩa K Mã đã chỉ ra rằng để cho chủ nghĩa tư bản ra đời thì phải cần có hai điều kiện đó là + Tích luỹ được một lượng tiền nhất định để trở thành tư bản.+ Phải giải phóng được số lượng để trở thành hàng hoá slđ=) quan trọng Hai tiền đề này có từ khi kinh tế hàng hoá ra đời , nhưng sự ra đời của nó rất chậm chạp vì vậy khi giai cấp tư sản ra đời nó sử dụng phương pháp bạo lực như tước đoạt những người sản xuất nhỏ, buôn bán nô lệ da đen Để thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời của hai tiền đề trên yêu cầu tập thể của thời kì này là sự ra đời của chủ nghĩa tập thể, bởi lẽ thương nghiệp mang lại cho giai cấp tư sản nhiều lợi nhuận Đặc biệt trong

Trang 22

thời kỳ này vơí những phát kiến địa lí đã làm thúc hoạt động ngoại thương từ đó cho thấy sự quan trọng của hoạt động ngoại thương

=) Đòi hỏi có học thuyết như vậy =) CNTT thống trị trong thời kì tích luỹ nguyên thuỷ

- CNTT chỉ bám sâu ở lĩnh vực lưu thông mà chưa đi sâu vào lĩnh vực sản xuất những kết luận cho rằng “tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại, còn hàng hoá chỉ là phương tiện làm tăng địa vị tiền tệ” là sai lầm vì lưu thông chỉ là một khâu trong quá trình sản xuất, nên chủ nghĩa tập thể chỉ đến được cái vỏ bên ngoài mà chưa đi sâu nội dung bên trong Họ chưa thấy phải qua sản xuất mới có lợi nhuận

- Trong lúc đánh giá cao ngthg, họ đánh giá thấp vai trò Nhà nước và chủ nghĩa Coi như ngành trung gian, chủ nghĩa không phải là nguồn gốc của cải (trừ chủ nghĩa khai thác vàng, bạc)

- Họ chưa thấy được những quy luật kinh tế khách quan thống trị trong đời sống kinh

tế

* Vai trò/s : Mặc dù chưa biết đến quy luật kinh tế và còn hạn chế về tính lí luận, nhưng hệ thống quan điểm kinh tế của trường phái TT đã tạo ra những tiền đề lí luận kinh tế xã hội cho các lí luận kinh tế tập thể sau này biểu này ở chỗ họ đưa ra quan điểm: sự giàu có không phải là ở gtsd mà là tiền Tư tưởng Nhà nước can thiệp pkt=) sau này vận dụng

- Đối với tập thể : chỉ ra biện pháp cho giai cấp tư sản tích luỹ được vốn sâm nhập vào lực lượng sản xuất Muốn tích luỹ được vốn thì phải làm kinh tế, hơn nữa trong cơ chế tập thể phải tăng cả nội thương, lẫn ngoại thương

Câu10 Monchetien “nội thương” một hệ thống ống dẫn, ngoại thương máy bơm Muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải qua nội thương

- Tập thể của chủ nghĩa tập thể đó là họ coi trọng tiền tệ, họ coi tiền tệ như là thước đo

Trang 23

tiêu chuẩn của sự giàu có và mọi sự hùng mạnh của một quốc gia Do đó mục đich kinh tế của mỗi nước đó là phải tăng kl tiền tệ Nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu có; họ coi hàng hoá chỉ là phương tiện tăng kl tiền tệ Họ coi tiền là đại b duy nhầt của của cải, tiêu chuẩn để đánh giá mọi hinh thức hành nghề hoạt động nghề nghiệp,

những hoạt động nào mà không dẫn đến tích luỹ tập thể là hoạt động không có lợi, hoạt động tiêu cực Họ coi nghề nông là một nghề trung gian những hoạt động tích cực

và tích cực vì nghề nông không làm tăng hay giam của cải, hoạt động chủ nghĩa thì không thể là nguồn gốc của cải ( trừ chủ nghĩa khai thác vàng bạc ) do đó nội thương chỉ có tác dụng di chuyển của cải trong nước chức không thể làm tăng của cải trong nưóc

- Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng = con đường ngoại thương Trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện c/s xuất siêu( xuất nhiều, xuất ít) Học thuyết trọng thương cho rằng lợi nhuận tạo ra cho lĩnh vực lưu thông nó là kết quả việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có v

=) Ngoại thương là động lực tăng kinh tế chủ yếu của một nước, không có ngoại

thương không thể tăng được của cải Ngoại thương được ví như máy bơm đưa lượng tiền nước ngoài vào trong nước

=) Quan điểm này đánh giá cao ngoại thương xem nhẹ nội thương vì ông chỉ chú ý đến lĩnh vực lưu thông (T-H-T) mà chưa hiểu được toàn bộ quá trình sản xuất và bước chuyển của việc tạo ra lợi nhuận đó là do gt sản xuất =) giải pháp số một là tăng cả nội thương và ngạoi thương

- Tích luỹ tiền tệ chỉ thực hiện được dưới sự giúp đỡ của Nhà nước Nhà nước nắm độc quyền về ngoại thương, thông qua việc tạo điều kiện pháp lí cho công ty thương mại độc quyền buôn bán với nước ngoài

Câu 11 “Thương mại là hòn đá thử vàng để thử sự phồn thịnh của một quốc gia, không có phép nào để kiếm tiền trừ thương mại”

*Hoàn cảnh ra đời:

- Ra đời trong giai đoạn thể kỉ XVII - giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại Đại biểu điển hình là Thomas Mun (1571- 1641) Giám đốc công ty Đông ấn Hoạt động của công ty này đã dẫn đến việc xuất khẩu rất nhiều kim khí, điều mà học thuyết tiền tệ phản đối ( học thuyết tiền tệ giữ để lượng tiền không ra nước ngoài )

Trang 24

- Bảng cân đối thương mại “ chúng ta phải giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho người nước ngoài lượng hàng hoá lớn hơn số lượng chúng ta phải mua vào của họ để đạt được sự cân đối đó ông khuyên mở rộng cơ sở cho công nhân, thu hẹp tiêu dùng quá mức hàng tiêu dùng của nước ngoài, đẩy mạnh cạnh tranh =) hạ giá thành, nâng cao chất lượng hàng hoá Anh Theo quan điểm của ông việc xuất khẩu tiên nhằm mục đích buôn bán là chính đáng Bởi vì “ vàng đẻ ra thương mại, còn thương mại làm ra tiền tăng lên” tình trạng tiền thừa thãi trong nước là có hại, làm cho giá cả hàng hoá tăng cao

* Nhận xét

- Đúng: trong điều kiện phát triển kinh tế : Vận dụng như nước ta hiện nay

- Sai: chưa đề cập đến quá trình sản xuất (giống cầu trên)

*ý nghĩa: Đối với nước ta trong điều kiện kinh tế tích luỹ vốn hiện nay cần tăng thương mại, còn về lâu dài cần tăng sản xuất (giống câu 11)

Câu 12 “ Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương, trong họat động ngoại thương phải thực hiện cs xuất siêu”

- Để có thể tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại, trước hết là ngoại thương Trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu, tiền sinh ra trong lưu thông, qua trao đổi không ngang giá (quan điểm của chủ nghĩa tập thể)

- Bảng cân đối thương mại Trong buôn bán thương mại phải đảm bảo xuất siêu để có chênh lệch tăng tích luỹ tiền, T.Mun viết: “Chúng ta phải thường xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho người nước ngoài số lượng hàng hoá lớn hơn số lượng hàng hoá chúng ta phải mua của họ”

Nếu H1- T- H2=) H1>H2

T1- H - T2=) T1>T2

- Để có xuất siêu họ cho rằng chỉ xuất siêu thành phẩm chứ không xuất khẩu nguyên liệu, thực hiện thương mại trung gian, mang tiền ra nước ngoài để mua rẻ ở nước này bán đất ở nước khác, thực hiện c/s thuế qun bảo hộ, nhằm kiểm soát hàng hoá nhập khẩu, khuyên khích tăng hàng hoá xuất khẩu

- Quan điểm này cũng sai lầm vì chỉ tăng

- Chỉ dùng trong điều kiện tăng kinh tế

Trang 25

Câu 13 Học thuyết về sản phẩm thuần tuý của phái trọng nông

- Đây là lí thuyết trọng tâm của trường phái trọng nông

- “ Sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữa hai sản phẩmvà chi phí sản xuất Nó là số dõi ra ngoài chi phí sản xuất Nó được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp”

- Những người trọng nông cho rằng “ chủ nghĩa không tạo ra sản phẩm thuần tuý” theo T.Ques ney có hai nguyên tắc hình thành giá trị tương ứng với hai lĩnh vực chủ nghĩa

Nguyên nhân:

+ Trong công nhân: Quá trình tạo ra sản phẩm mới chỉ là quá trình kết hợp giản đơn những nguyên tố cũ mà không có sự tăng thêm về chất nên không tạo ra sản phẩm thuần tuý

+ Trong Nhà nước: Nhờ có sự tác động của tự nhiên nên có sự tăng thêm về chất , tạo

ra chất mới -) tạo ra sản phẩm thuần tuý

VD: Khi reo một hạt lúa -)trổ bông

-) cho hàng chục hạt lúa mới Đó là sự tăng thêm về chất và như vậy chỉ có lĩnh vực nhà nước mới tạo ra sản phẩm thuần tuý

- Công lao của Quesney là đã cho rằng sản phẩm thuần tuý được tạo ra trong những ngành nông nghiệp nghĩa là ông cũng đã gắn việc tìm tòi sản phẩm thuần tuý với lĩnh vực sản xuất ( khác với chủ nghĩa tập thể là trong lĩnh vực lưu thông)=) đặt vấn đề một cách khoa học

- Tuy nhiên chưa giải quyết triệt để:

- Phái trọng nông đã giải thích của cải theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa( trường phái tự nhiên) và đã thụt lùi một bước so với CNTT Phái trọng nông đã tầm thông hoá khái niệm của cải, không thấy được tính chất hai mặt của nó “hiện vật và giá trị”

Ngày đăng: 03/10/2014, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w