Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ra đời vào cuối thế kỷ XVII tồn tại và phát triển cho đến giữa TK XIX với các các tác giả chủ yếu: W. Petty, A. Smith và D. Ricardo. Lần Đầu tiên các nhà kinh tế này xây dựng hệ thống phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường, trong đó có học thuyết giá trị lao động với những nội dung chủ yếu sau:
Trang 1+ Đã vạch ra nguồn gốc của giá trị hàng hoá là lao động Phát hiệnnày được bắt đầu từ quan niệm về giá cả tự nhiên của W Petty ông viết, giá
cả tự nhiên do hao phí lao động quyết định
Đến A Smith quan niệm về giá trị được xác định rõ ràng hơn Ôngkhẳng định giá trị trao đổi của hàng hoá do lao động tạo ra, lao động là thước
đo duy nhất, cuối cùng của giá trị trao đổi
D Ricardo đứng vững trên lập trường này của A Smith và nhấnmạnh giá trị là do lao động hao phí để sản xuất hàng hoá quyết định, lao động
là thước đo thực tế của mọi giá trị Ông đã gạt bỏ sai lầm của A Smith vềquan niệm giá trị và cho rằng giá trị do lao động quyết định không chỉ đúngtrong trong kinh tế hàng hoá giản đơn, mà còn đúng cả trong nền kinh tế hànghoá phát triển
+ Đã phân biệt được hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và
Trang 2giá trị trao đổi A Smith là đầu tiên phát hiện ra hai thuộc tính này và khẳngđịnh giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi Tuy nhiên, ông vẫnchưa thấy được mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, nên đãcho rằng, ích lợi của vật không có quan hệ gì đến giá trị trao đổi D Ricardo
đã khắc phục được hạn chế này và khẳng định giá trị sử dụng rất cần thiết chogiá trị trao đổi, nhưng không phải là thước đo của giá trị trao đổi
+ Các ông đã quan tâm nghiên cứu lượng giá trị và các nhân tố ảnhhưởng đến lượng giá trị hàng hoá
A Smith khẳng định, lượng giá trị hàng hoá do hao phí lao độngtrung bình cần thiết quyết định Lao động giản đơn và lao động phức tạp cóảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị hàng hoá Trong cùng một thời gian,lao động chuyên môn, phức tạp tạo ra một lượng giá trị nhiều hơn lao độngkhông có chuyên môn hay lao động giản đơn
D Ricardo phát triển quan niệm này và cho rằng lượng giá trị hànghoá không chỉ do lao động trực tiếp (Lao động sống) mà còn do lao độngtrước đó tạo ra (Như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình sản xuất ).Năng suất lao động có ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá Khi năng suấtlao động trong một phân xưởng tăng lên thì khối lượng sản phẩm làm ra tănglên, nhưng giá trị của mỗi đơn vị hàng hoá giảm xuống Ông có ý định phântích lao động giản đơn và lao động phức tạp, quy lao động phức tạp thành laođộng giản đơn trung bình Ông nói rằng, lao động xã hội cần thiết do điềukiện sản xuất xấu nhất quyết định
+ Về hình thức của giá trị hàng hoá:
W Petty xác định giá cả tự nhiên của hàng hoá bằng cách so sánhlượng lao động hao phí để sản xuất ra bạc hay vàng, tức là còn lẫn lộn giữagiá trị hàng hoá với giá cả của nó
A Smith đã phân biệt giá cả với giá trị Theo ông, giá trị trao đổi của
Trang 3một hàng hoá thể hiện trong tương quan trao đổi giữa lượng hàng hoá này vớilượng giá trị của hàng hoá khác, còn trong nền kinh tế hàng hoá phát triển thì
nó được biểu hiện ở tiền Ông phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thực tế
D Ricardo đã phân biệt rõ giá trị với giá trị trao đổi Vì giá trị traođổi là giá trị tương đối được biểu hiện ở một số lượng nhất định của hàng hoákhác (hay tiền tệ) nên D Ricardo đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối, còn
có giá trị tuyệt đối Đó là thực thể của giá trị, là số lượng lao động kết tinh,giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện giátrị tuyệt đối
Tuy nhiên, học thuyết giá trị lao động của trường phái cổ điển Anhcòn có những hạn chế:
- Học thuyết giá trị lao động của A Smith còn trộn lẫn hai yếu tốkhoa học và tầm thường, không nhất quán trong khái niệm về giá trị hàng hoá,lẫn lộn trong phân phối giá trị và cấu thành giá trị, đã để cho hai yếu tố khoahọc và tầm thường sống yên ổn bên nhau
- Học thuyết của D Ricardo tuy đứng vững trên cơ sở giá trị laođộng, nhưng ông vẫn không giải quyết triệt để lý luận này
+ Ông không thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị hànghoá, chưa làm rõ mặt chất của giá trị do chưa biết đến tính chất 2 mặt của laođộng sản xuất hàng hoá, chưa chỉ ra được giá trị là biểu hiện quan hệ xã hộicủa những người sản xuất hàng hoá
+ Mặc dù đã nêu ra khái niệm thời gian lao động xã hội cần thiết, laođộng phức tạp và lao động giản đơn, nhưng chưa xác định đúng nội hàm củacác phạm này Tuy đã quan tâm đến ảnh hưởng của năng suất lao động tớilượng giá trị hàng hoá
+ Chưa nghiên cứu có hệ thống các hình thái giá trị, nên chưa thấyđược nguồn gốc và bản chất của tiền
Trang 4+ Lý luận của D Ricardo còn mang tính siêu hình, phi lịch sử, chorằng giá trị là phạm trù vĩnh viễn, là thuộc tính của mọi vật
1.1.2 Lý luận giá trị lao động của kinh tế chính trị tiểu tư sản
- Lý luận giá trị lao động của Sismondi: Ông giải quyết các vấn đềkinh tế trên cơ sở lý luận giá trị lao động Lấy lao động làm thước đo giá trịcủa hàng hoá, thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị của hànghoá Ông đã tiến thêm một bước so với D Ricardo khi cho rằng, thước đo giátrị hàng hoá là do thời gian lao động xã hội cần thiết quy định
Tuy nhiên, D Ricardo coi giá trị tương đối của hàng hoá được đobằng lượng lao động chi phí để sản xuất ra hàng hoá, còn Sismondi cho giátrị tương đối của hàng hoá được quy định bởi cạnh tranh, lượng cầu, tỷ lệgiữa thu nhập và lượng cung về hàng hoá Ông đồng nhất giữa giá trị với giá
cả Ông còn đưa ra khái niệm giá trị tuyệt đối hay chân chính, điều mà D.Ricardo không đề cập Nhưng Sísmondi giải thích khái niệm đó theo kiểu tựnhiên và đi tìm giá trị đó trong một đơn vị kinh tế độc lập, theo kiểuRôbinxơn
- Lý luận giá trị lao động của Proudon
Lý luận kinh tế của Proudon tập trung vào lý thuyết “ Giá trị tổnghợp” hay “Giá trị cấu thành”, nó thể hiện 2 tư tưởng là tư tưởng giá trị sửdụng và tư tưởng giá trị trao đổi Giá trị sử dụng thể hiện sự dư thừa, giá trịtrao đổi thể hiện sự khan hiếm Điều đó tạo khó khăn cho trao đổi
Ông đưa ra khái niệm “ Giá trị trao đổi” được tạo ra trong sản xuất vàđược thị trường chấp nhận; chỉ sản phẩm nào được thị trường chấp nhận mớiđược coi là “ Giá trị cấu thành” Việc sản xuất “ Giá trị cấu thành” sẽ giảiquyết được các mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá
Qua đó thấy rõ, trong lý luận “Giá trị cấu thành” về thực chất
Trang 5Proudhon muốn xoá bỏ mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị của hànghoá, xoá bỏ mâu thuẫn giữa hàng hoá và tiền tệ Quan điểm của ông thể hiện
rõ những sai lầm về mặt phương pháp luận: Bảo vệ sản xuất hàng hoá (Mặttốt), xoá bỏ mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị (Mặt xấu) Về cơ bảnông muốn kết hợp giá trị lao động, để từ đó coi cả lao động và trao đổi đều lànguồn gốc của giá trị
1.1.3 Học thuyết giá trị lao động của C Mác
- C.Mác đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng
và giá trị; khẳng định hai thuộc tính này không chỉ đơn thuần có quan hệvới nhau mà đó là một quan hệ biện chứng vừa thống nhất vừa mâu thuẫnvới nhau
- Đứng vững trên quan điểm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển vềnguồn gốc của giá trị hàng hoá là lao động và trên cơ sở phát hiện tính chấthai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừutượng, C Mác đã chỉ ra giá trị hàng hoá do lao động trừu tượng của người sảnxuất hàng hoá quyết định
- C Mác đã phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của lýluận giá trị của các học giả trước ông Đồng thời nhấn mạnh những công laocủa phái cổ điển trong lý luận lao động là nguồn gốc của giá trị và chỉ ranhững hạn chế của họ khi nghiên cứu giá trị về mặt lượng C.Mác định nghĩalượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Chỉ
ra các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá
+ Phát triển nhận thức về hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá,xác định hình thái giá trị, lịch sử của nó, sự ra đời và bản chất của tiền;
+ Phát triển quan điểm giá trị hàng hoá, chứng minh quy luật giá trị làquy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 61.1.4 Lý luận giá trị của các trường phái kinh tế chính trị sau C.Mác
* Lý luận giá trị của trường phái cổ điển mới
+ Lý thuyết giá trị của trường phái thành Viene là lý thuyết giá ích lợi, giá trị chủ quan Trong lịch sử, đã có nhiều nhà kinh tế học ủng hộ lýthuyết giá trị - ích lợi Từ những năm 444 – 356 trước công nguyên Xenophon
trị-đã nêu lên tư tưởng này Ở thế kỷ XVII – XIX, các nhà kinh tế học Pháp nhưAnne Robert Jacques Turgor (1727 – 1781) và Jean Baptic Say (1767 – 1832)cũng ủng hộ lý thuyết giá trị - ích lợi Tuy nhiên, lý thuyết giá trị của pháithành Viên có nét khác biệt Bằng cách kết hợp phạm trù kinh tế và phạm trùtoán học họ đưa ra phạm trù “ích lợi giới hạn” và “giá trị - ích lợi giới hạn”.Phạm trù ích lợi giới hạn được K.Meger (1840 – 1921) phân tích và đưa ra:ích lợi giới hạn là ích lợi của vật cuối cùng đưa ra thoả mãn nhu cầu, ích lợi
đó là nhỏ nhất, nó quyết định ích lợi của tất cả các vật phẩm khác
Trên cơ sở lý thuyết “ích lợi giới hạn” các nhà kinh tế học trườngphái thành Viene xây dựng lý thuyết giá trị “giới hạn” Lý thuyết này phủnhận lý thuyết giá trị lao động của trường phái “tư sản cổ điển” và của C.Mác.Trong lịch sử đã có các nhà kinh tế học thế kỷ XVIII quan niệm rằng ích lợiquyết định giá trị Điểm mới ở chỗ, các nhà kinh tế trường phái thành Vienecho rằng “ích lợi giới hạn” tức là ích lợi của sản phẩm cuối cùng quyết địnhgiá trị của sản phẩm Vì vậy “giá trị giới hạn” chính là giá trị của “sản phẩmgiới hạn” Nó quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm khác
Như vậy, khi sản phẩm tăng lên thì “giá trị giới hạn” cũng giảm dần
Vì thế họ đi đến kết luận muốn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khan hiếm
Sự thực, lý luận giá trị - ích lợi giới hạn không giải quyết được vấn
đề Trên thực tế, sự đánh giá chủ quan về 1 kg lương thực đối với người no đủkhác cơ bản đối với người nghèo đói, nhưng cả hai đều mua 1 kg lương thực
Trang 7và đều phải trả tiền như nhau, mà cơ sở của giá cả đó là giá trị và giá trị lớnhay nhỏ không phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan.
Lý luận “ích lợi giới hạn” làm cho số lượng giá trị hàng hoá phụthuộc vào giá trị cao của hàng hoá ấy, mà giá trị hàng hoá là do hao phí laođộng xã hội cần thiết quyết định Thông qua giá cả thị trường, giá trị hàng hoátác động đến quy mô sức mua và sự cung cấp hàng hoá cũng sẽ thích ứngđược với quy mô của nhu cầu
* Lý thuyết giá trị của Leon Walras
Leon Waras dựa trên cơ sở lý thuyết giá trị của trường phái thànhViene và lý thuyết “khan hiếm” của Auguste Walras (cha của Leon Walras)
Theo A Walras, khan hiếm là một quan niệm khách quan, theo đó,giá trị phát sinh từ tình trạng bất cân xứng giữa cung và cầu Một vật có giá trịkhi cầu lớn hơn cung Nếu cung lớn hơn cầu, thì vật đó trở nên dư thừa, mấtgiá trị
Kết hợp các quan điểm này, Leon Walras cho rằng: “giá trị là tất cảnhững vật hữu hình hay vô hình đang ở trong tình trạng khan hiếm Các vật
đó có ích đối với ta và số lượng của vật có hạn”
Mức độ có ích lợi của vật đối với cá nhân tuỳ thuộc vào tương quangiữa vật và khả năng của vật trong sự thoả thuận nhu cầu cá nhân Ông lậpluận rằng, có một sự trùng hợp giữa ý niệm khan hiếm và cường độ của nhucầu cuối cùng được thoả mãn
* Lý thuyết giá trị lao động của kinh tế học cấp tiến
Năm 1968 ở Mỹ thành lập Liên hiệp kinh tế học Cấp tiến (Union ofRadical Political Economy)
Thành viên của xu hướng này xuất thân từ nhiều tầng lớp dân cư ởthành thị và nông thôn Họ bao gồm cả giáo sư các trường đại học, những nhànghiên cứu khoa học và tầng lớp sinh viên đông đảo Cơ sở của xu hướng này rấtphức tạp Nó được xây dựng trên các quan điểm kinh tế tiểu tư sản và tư sản
Trang 8Một trong những đặc trưng của nền kinh tế cấp tiến là thừa nhận lýthuyết giá trị - lao động của C.Mác và các nhà kinh tế học tư sản cổ điển Họcoi lý thuyết giá trị - lao động là một trong những nguồn gốc hình thành lýthuyết kinh tế học cấp tiến Vì vậy họ tự coi mình là người kế tục và phát triểnC.Mác Theo họ, nhiệm vụ của kinh tế học cấp tiến là trên cơ sở lý thuyết củaC.Mác phải sử dụng tất cả các khoa học và kinh nghiệm lịch sử để nghiên cứucác vấn đề sống còn của Châu Âu hiện đại
1.2 Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư trong lịch sử các học thuyết kinh tế
1.2.1 Lý luận giá trị thặng dư của trường phái kinh tế chính trị tư sản
cổ điển
* Lý luận địa tô của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển
- Lý luận này được bắt đầu từ W.Petty
Ông đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô trong sản xuất Theo ông: Địa
tô là số chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất bao gồm chiphí tiền công và cây, con giống; về chất, địa tô là giá trị dôi ra ngoài tiềncông, là sản phẩm của lao động thặng dư; ông đã nghiên cứu địa tô chênh lệch
và cho rằng các mảnh ruộng xa gần khác nhau có mức địa tô khác nhau Ôngchưa biết đến địa tô tuyệt đối
- Sự phát triển lý luận địa tô của A Smith
Trang 9+ Phân biệt được địa tô chênh lệch do độ màu mỡ và vị trí của ruộngđất đưa lại.
+ Ông đã chỉ ra mức địa tô trên một mảnh ruộng là do thu nhập củamảnh ruộng đó đưa lại, phát hiện ra địa tô trên những ruộng canh tác chủ yếuquyết định địa tô trên ruộng trồng cây khác
Hạn chế:
+ Coi địa tô là phạm trù vĩnh viễn
+ Chưa hiểu đúng sự chuyển hoá của lợi nhuận thành địa tô
+ Coi địa tô là một yếu tố cấu thành giá cả tự nhiên rồi lại coi nó làmột khoản dôi ra ngoài giá cả tự nhiên
+ Chưa hiểu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối
+ Còn bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa trọng nông khi cho rằng năng suấtlao động nông nghiệp cao hơn công nghiệp, do nông nghiệp được sự trợ giúpcủa tự nhiên
- D Ricardo tiếp tục phát triển lý luận về địa tô của W Petty và A.Smith
Ông bác bỏ luận điểm cho rằng địa tô là sản vật của những lực lượng
tự nhiên hoặc do năng suất lao động đặc biệt trong nông nghiệp mang lại và
đã giải thích địa tô trên cơ sở lý luận giá trị lao động
Theo ông, địa tô được hình thành theo quy luật giá trị Giá trị nôngsản được hình thành trên điều kiện ruộng đất xấu nhất Vì diện tích ruộng đất
có hạn nên xã hội phải canh tác cả trên ruộng đất xấu Do tư bản kinh doanhtrên ruộng đất tốt và trung bình thu được lợi nhuận siêu ngạch, khoản nàyphải nộp cho địa chủ gọi là địa tô
Đã phân biệt địa tô với tiền tô và cho rằng chúng phục tùng nhữngquy luật khác nhau và thay đổi theo chiều hướng ngược chiều nhau
Sai lầm của D Ricardo: Gắn lý luận địa tô với quy luật màu mỡ của đất
Trang 10đai ngăy căng giảm sút; chưa biết đến địa tô chính lệch II vă phủ nhận địa tô tuyệtđối, cho rằng thừa nhận địa tô tuyệt đối lă vi phạm quy luật giâ trị.
* Lý luận lợi nhuận của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển
- Lý luận về lợi nhuận của A Smith:
+ S Mith cho rằng: lợi nhuận lă khoản khấu trừ thứ hai văo sản phẩmcủa lao động P, R, lợi tức chỉ lă những hình thâi khâc nhau của giâ trị thặng dư
+ P lă một phần lấy văo câi giâ trị mă công nhđn đê gia thím văo vậtliệu lao động
C.Mâc: Đânh giâ cao S Mith “Níu được nguồn gốc thật sự của giâ trịthặng dư đẻ ra từ lao động”
+ S Mith cho rằng, không chỉ có lao động nông nghiệp mă cả laođộng trong công nghiệp cũng tạo ra P ( Khâc với chủ nghĩa trọng nông)
+ P tăng hay giảm tuỳ thuộc văo sự giầu có tăng hay giảm của xê hội.Thừa nhận sự đói lập giữa tiền công vă lợi nhuận
+ Thấy khuynh hướng thường xuyín đi đến chỗ ngang nhau của " Tỷsuất lợi nhuận" trín cơ sở sự cạnh tranh giữa câc ngănh vă khuynh hướng tỷsuất lợi nhuận giảm sút Theo ông, tư bản đầu tư căng nhiều thì tỷ suất lợinhuận căng thấp
Hạn chế:
- Về lý luận lợi nhuận như: Không thấy sự khâc nhau giữa P vă giâ trịthặng dư Bởi vì, Ông không phđn biệt tư bản bất biến vă tư bản khả biến văÔng cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận lă do toăn bộ tư bản đẻ ra Ôngkhông gắn liền lợi nhuận với việc bóc lột công nhđn lăm thuí ( S Mith lẫnlộn lă: Chỉ coi lợi nhuận vă địa tô lă những hình thâi đặc thù của M nóichung, lă " những khoản khấu trừ văo lao động mă người công nhđn đê nhậpthím văo vật liệu" Vì vậy giâ trị mă người công nhđn nhập thím văo vậtliệu giờ đđy được chia thănh hai bộ phận, trong đó một bộ phận trả cho tiền
Trang 11công của họ, còn bộ phận kia trả cho lợi nhuận của nhà kinh doanh tính theotổng số tư bản đã ứng trước dưới hình thái tiền công và vật liệu dùng việcchế biến Như vậy phần thặng dư đó chỉ là phát sinh từ bộ phận tư bản đã đãchi phí cho tiền công
- Không phân biệt được lĩnh vực sản xuất và lưu thông, tư bản trongsản xuất cũng như trong lưu thông đều đẻ ra lợi nhuận như nhau
- Coi P trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việcmạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản P là một trong những nguồn gốcđầu tiên của mọi thu nhập cũng như mọi giá trị trao đổi
- Lý luận lợi nhuận của D Ricardo
+ P là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công Ông chưa biết đến phạmtrù giá trị thặng dư, nhưng trước sau cho rằng: Giá trị là do công nhân tạo ralớn hơn số tiền công mà họ nhận được
C.Mác nhận xét: So với A.S Mith thì D.Ricacđô đã đi xa hơn nhiều "Ông coi lao động không được trả công của công nhân
+ D.Ricardo có những nhận xét tiến gần đến P bình quân Ông chorằng: Những tư bản có đại lượng bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau.Nhưng Ông không chứng minh được vì ông không hiểu được giá cả sản xuất.Theo ông sự chênh lệch giữa giá trị và giá cả sản xuất chỉ là ngoại lệ Trênthực tế chỉ có giá trị chứ không có giá cả sản xuất
Hạn chế
+ Mô tả lợi nhuận căn cứ vào năng suất lao động, cho đó là quy luậtvốn có của mọi nền sản xuất, chứ không căn cứ vào quy luật đặc thù củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa: quy luật giá trị thặng dư
+ Không phân biệt được lợi nhuận với giá trị thặng dư, chỉ nhìnthấy có hình thức giá trị thặng dư tương đối, không nhìn thấy giá trị thặng
dư tuyệt đối
Trang 12+ Không phân biệt tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận lạigiảm sút, Ông giải thích là do tăng tiền lương.
+ Không chú ý đến cấu tạo hữu cơ của tư bản
- Sự phát triển lý luận lợi nhuận của C.Mác
+ Lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả củatoàn bộ tư bản ứng trước Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức G = c + v+ m sẽ chuyển thành G = k + P ( tức là giá trị hàng hoá tư bản chủ nghĩa bằngchi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận) Như vậy P là hình thứcbiến tướng của M, nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
+ Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng
dư chuyển thành tỷ suất lợi nhuận
+ Nghiên cứu sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, do cạnhtranh giữa các ngành Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì giá trịhàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất
+ Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là phạm trù kinh
tế tương đương với giá cả Nó cũng là cơ sở của giá cả thị trường Giá cả sảnxuất điều tiết giá cả thị trường Giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất.Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiệnthành quy luật giá cả sản xuất
*Lý luận về giá cả ruộng đất và lợi tức cho vay
- Về giá cả ruộng đất
Dựa trên những thành tựu của nghiên cứu lợi nhuận, lợi tức, địa tôUyliam Pét ty còn cố gắng tìm cách tính giá cả ruộng đất Ông đã khẳng địnhmột cách đúng đắn rằng, giá cả ruộng đất phải được quy định một cách đặcbiệt, vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, kết quả vận động lâu dài của vũ trụ,người ta không thể sản xuất ra đất đai và những chi phí về lao động khôngquyết định được giá cả của ruộng đất Ông cho rằng giá cả ruộng đất gắn với
Trang 13mức sinh lời của ruộng đất, do đó bán ruộng đất là bán quyền thu địa tô Vìvậy giá cả ruộng đất là do mức địa tô quyết định.
Tuy nhiên, khi đưa ra công thức tính giá cả ruộng đất bằng địa tônhân 20, ông lại dựa vào thống kê dân số Ông thấy trong một gia đình con 7tuổi, cha 27 tuổi, ông 47 tuổi Họ cách nhau 20 tuổi, ba thế hệ đó sống vớinhau 20 năm nữa Do đó, ông đã lấy số 20 để tính giá cả ruộng đất, đó là điềukhông đúng
- Về lợi tức
A.Smith cho rằng, lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận, được đẻ ra từlợi nhuận Lợi tức của tư bản đi vay được trả bằng cách lấy vào lợi nhuậnthuần tuý và do mức lợi nhuận thuần tuý quyết định Đó là quan điểm đúng,nhưng ông chưa phân tích một cách đầy đủ
1.2.2 Lý luận giá trị thặng dư của kinh tế chính trị tầm thường và tiểu tư sản
* Lý luận giá trị thặng dư của các nhà kinh tế chính trị tầm thường
- Lý luận về lợi nhuận của Man tuýt
+ Man tuýt đã lợi dụng yếu tố tầm thường của S Mith về việc quyđịnh giá trị lao động Cái mới của Mantuýt là: giải thích thước đo giá trị TheoÔng, lao động có thể mua được bằng hàng hoá là do chi phí để sản xuất rahàng hoá đó quyết định Chi phí đó bao gồm: lao động sống và lao động vậthoá đã chi phí để sản xuất ra hàng hoá cộng với lợi nhuận của tư bản ứngtrước Như vậy, Mantuýt phủ nhận vai trò của lao động là nguồn gốc tạo ragiá trị và coi lợi nhuận là yếu tố cấu thành khác của giá trị Từ đó Ông giảithích lợi nhuận như là khoản thặng dư ngoài số lao động đã hao phí để sảnxuất hàng hoá Theo cách giải thích này, lợi nhuận chỉ là khoản cộng thêmdanh nghĩa vào giá cả; lưu thông là lĩnh vực trong đó lợi nhuận xuất hiện, nhờbán hàng hoá đắt hơn khi mua
Trang 14* Lý luận giá trị thặng dư của kinh tế chính trị tiểu tư sản
- Lý luận của Símondi về giá trị thặng dư
Lý luận về tiền công, lợi nhuận, địa tô của Sismondi: Đây là công laocủa Sismondi, ông hiểu vấn đề này hơn cả A Smith và D Ricardo
Về lợi nhuận: A Smith coi lợi nhuận là bộ phận của sản phẩm lao động.Sismondi đã phát triển tư tưởng đó và cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ từsản phẩm lao động Đó là thu nhập không lao động, là kết quả của sự cướp bóccông nhân, là tai hoạ kinh tế của giai cấp vô sản Hạn chế của ông là chưa thấyđược nguồn gốc của lợi nhuận, còn lặp lại sai lầm của A Smith coi lợi nhuận làtiền công của nhà tư bản
- Về địa tô: Ông cho rằng, địa tô cũng là kết quả sự bóc lột công nhânlàm thuê Ông phê phán D Ricardo về ruộng đất xấu không đưa lại địa tô Đó
là một tiến bộ Ông hiểu sâu sắc độc quyền sở hữu ruộng đất và cho rằng,ruộng đất xấu cũng phải nộp tô Điều đó thể hiện Sismondi có tư tưởng địa tôtuyệt đối
Tuy nhiên, Sismondi còn có những hạn chế như lặp lại luận điểm sailầm của A Smith, địa tô là tặng thưởng của tự nhiên, tự nhiên (Đất đai) cũngtạo ra giá trị phụ thêm Từ đó, ông đưa ra luận điểm hình như địa tô từ dưới đấtmọc lên, tức là ông không hiểu địa tô tuyệt đối và bộ máy chiếm hữu địa tô
- Về tiền lương: Sismondi bảo vệ quan điểm của A Smith cho rằng,tiền lương phụ thuộc vào tích luỹ tư bản, số lượng công nhân, cung – cầu vềlao động Ông công khai nói lên tình trạng điêu đứng của công nhân do sựphát triển sản xuất cơ khí theo lối tư bản chủ nghĩa
Hạn chế:
Sismondi là lặp lại quan điểm tầm thường về sự tác động qua lại trựctiếp giữa sự tăng tiền công và tăng dân số Ông rơi vào chủ nghĩa Malthus.Sismondi truyền bá tư tưởng hoà hợp chủ thợ, tăng bảo hiểm xã hội, coi công
Trang 15nhân là người thân trong gia đình Đây là tư tưởng cải lương, thủ tiêu đấutranh Ông chống lại quan điểm cho rằng, việc dùng máy móc làm giảm laođộng ở ngành này, lại tăng nhu cầu lao động ở ngành khác.
1.2.3 Lý luận giá trị thặng dư của C.Mác
- Trước đó, dã có nhiều nhà kinh tế học nêu ra phạm trù giá trị thặng dưdưới những hình thái đặc thù của nó là: Lợi nhuận, địa tô, lợi tức C.Mác đã tiếnhành nghiên cứu giá trị thặng dư dưới dạng thuần tuý của nó Ông cho rằng, giátrị thặng dư là giá trị dôi ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao động do người côngnhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Nhờ vậy, chỉ có C.Mác mới cóthể vạch ra được nguồn gốc giá trị thặng dư, từ đó phân tích một cách sâu sắcbản chất bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê và diễn tả đượcquá trình sản xuất ra giá trị thặng dư về mặt chất, mặt lượng và chỉ ra được quyluật vận động của nó
- C.Mác đã vạch ra bản chất của tiền lương tư bản chủ nghĩa là giá cảcủa sức lao động chứ không phải là giá cả của lao động Nhờ đó chỉ ra được bảnchất bóc lột của tiền lương tư bản chủ nghĩa Từ đó, theo C.Mác khi trả đúng giátrị của sức lao động, nhà tư bản vẫn bóc lột công nhân làm thuê, vì kết quả củaquá trình lao động đã tạo ra một lượng giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị sức laođộng của người công nhân
- C.Mác đã phân tích một cách sâu sắc và khoa học các hình thái của giátrị thặng dư: Lợi nhuận, địa tô, lợi tức Do đó, làm rõ cái bề ngoài giả dối tựa hồnhư: Tiền lương là giá cả của lao động, lợi nhuận là do tự tư bản tự sinh ra, địa tôcũng do ruộng đất và lợi tức cũng do tiền tệ sinh ra
- C.Mác cũng vạch ra cơ chế chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợinhuận và lợi nhuận bình quân, giá cả hàng hoá thành giá cả sản xuất trong điềukiện tự do cạnh tranh, từ đó làm cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề địa tô tuyệtđối, mà các nhà lý luận kinh tế trước không thể giải quyết được
Trang 16- Lý luận giá trị thặng dư là : “Hòn đá tảng” của học thuyết kinh tế củaMác, nó đã vạch trần nguồn gốc, bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nó trở thành lý luận sắc bén của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giaicấp tư sản bóc lột
- C.Mác là người đầu tiên vạch trần được bản chất của tư bản Tư bản làgiá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công củangười khác Có nghĩa là, tư bản là quan hệ xã hội, quan hệ giữa nhà tư bản vàngười công nhân làm thuê, nó là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong chủ nghĩa
tư bản Ông đã phân chia tư bản thành: tư bản bất biến (c), bộ phận tư bản thểhiện dưới dạng máy móc, vật liệu, tư bản khả biến (v) là bộ phận tư bản tồn tạidưới hình thức tiền lương mà nhà tư bản bỏ ra mua hàng hoá sức lao động Nhờlao động cụ thể của người công nhân mà giá trị của bộ phận tư bản bất biến đượcbảo tồn và di chuyển vào giá trị của hàng hoá mới một cách từ từ hoặc ngay mộtlúc, có nghĩa là giá trị của nó không lớn lên, không biến đổi trong quá trình laođộng sản xuất Nhưng trong quá trình lao động, bằng lao động trừu tượng củangười công nhân đã tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, đó làgiá trị thặng dư cho nhà tư bản Từ đó, C.Mác vạch ra nguồn gốc của giá trịthặng dư là do tư bản khả biến, chứ không phải do tư bản ứng trước Tư bản bấtbiến chỉ là điều kiện, chứ không phải là nguồn gốc của giá trị thặng dư
C.Mác không những nghiên cứu giá trị thặng dư dưới dạng thuần tuý,
mà còn phát triển lý luận thặng dư dưới các hình thái lợi nhuận, địa tô, lợi tức
- Về địa tô:
+ Đã phân biệt được địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến.Cho rằng, sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là cơ sở hình thànhđịa tô tư bản chủ nghĩa
+ Địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng dư còn lại saukhi đã trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trongnông nghiệp phải nộp cho địa chủ
Trang 17+ Phân biệt được hai hình thức địa tô: Chênh lệch và tuyệt đối ( Địa
tô chênh lệch là một phần của giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo
ra được biểu hiện thành lợi nhuận siêu ngạch mà địa chủ thu được trênnhững ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi Nó là số chênh lệch giữagiá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đấtbất lợi nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất có điều kiện thuận lợi.Loại địa tô này được hình thành do đặc điểm vận động của quy luật giá trịtrong nông nghiệp và do độc quyền kinh doanh ruộng đất tư bản chủ nghĩa.Ông phân biệt R chênh lệch I và địa tô chênh lệch II Khẳng định địa tôchênh lệch I, địa chủ chỉ thu được khi cho thuê kinh doanh các mảnh đất cóđiều kiện tự nhiên thuận lợi, còn R chênh lệch II lại xuất hiện trên các khuđất đã được thâm canh
R tuyệt đối là một phần của giá trị thặng dư, biểu hiện thành lợinhuận siêu ngạch mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địachủ để được quyền thuê đất trong một thời gian Khác với địa tô chênh lệch,loại địa tô này địa chủ thu được trên tất cả các loại ruộng đất sau khi cho thuêkinh doanh Cơ sở của loại địa tô này do cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp<trong công nghiệp làm cho cùng lượng tư bản và tỷ suất giá trị thặng dư nhưnhau nhưng kinh doanh trong nông nghiệp lại thu được lợi nhuận siêu ngạch.Phần siêu ngạch này phải nộp cho địa chủ do chế độ tư hữu độc quyền ruộngđất quy định
- Ngoài ra, C Mác còn phát hiện ra địa tô đất xây dựng, địa tô hầm
mỏ và địa tô độc quyền ( Là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa, cóthể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các khu đất trongthành thị Chỉ ra nguồn gốc của các loại địa tô này cũng là lợi nhuận siêungạch do giá cả độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai ấy mà nhà tưbản phải nộp cho địa chủ
Trang 18- Trên cơ sở lý luận địa tô, C Mác đã xây dựng lý luận giá cả ruộng đất.+ Giá cả ruộng đất là hình thức địa tô tư bản hoá Bởi ruộng đất đemlại địa tô, tức là đem lại một thu nhập ổn định bằng tiền nên nó được xem nhưmột loại tư bản đặc biệt Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó Do vậy, giá
cả ruộng đất chỉ là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tứchiện hành Nó tỷ lệ thuận với địa tô và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bảngửi vào ngân hàng
Ví dụ: Một mảnh đất hàng năm đem lại một địa tô là 200 USD, tỷsuất lợi tức gửi vào ngân hàng là 5%, thì giá cả mảnh đất là: 200X 100/ 5 =
4000 USD
Với số tiền 4000 USD đó đem gửi vào ngân hàng với lãi suất 5%/năm cũng thu được một lợi tức 200 USD ngang bằng địa tô thu được khi chothuê ruộng đất
- Lý luận về lợi nhuận
+ Lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả củatoàn bộ tư bản ứng trước Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức G = c + v+ m sẽ chuyển thành G = k + P ( tức là giá trị hàng hoá tư bản chủ nghĩa bằngchi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận) Như vậy P là hình thứcbiến tướng của M, nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
+ Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng
dư chuyển thành tỷ suất lợi nhuận
+ Nghiên cứu sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, do cạnhtranh giữa các ngành Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì giá trịhàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất
+ Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là phạm trù kinh
tế tương đương với giá cả Nó cũng là cơ sở của giá cả thị trường Giá cả sản
Trang 19xuất điều tiết giá cả thị trường Giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất.Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiệnthành quy luật giá cả sản xuất.
1.2.4 Lý luận giá trị thặng dư của trường phái kinh tế học sau C.Mác
- Lý luận giá trị thặng dư của kinh tế học cấp tiến
Kinh tế học cấp tiến không phủ nhận giá trị thặng dư Họ đưa raphạm trù “thặng dư kinh tế” để thay cho phạm trù giá trị thặng dư của C.Mác
và bác bỏ quy luật giá trị thặng dư trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiệnđại Theo các đại biểu cấp tiến “thặng dư kinh tế” là sự chênh lệch giữa sảnphẩm do xã hội sản xuất ra và chi phí cần thiết để sản xuất ra chúng Quy môcủa thặng dư kinh tế là chỉ tiêu do lường năng suất lao động và sự giầu có của
xã hội Theo họ, thoạt nhìn “thặng dư kinh tế” gần giống với phạm trù “giá trịthặng dư” trong kinh tế học của C.Mác Nhưng thực ra thì không phải nhưvậy Giá trị thặng dư chỉ là một phần của “thặng dư kinh tế” Bởi vì, trong
“thặng dư kinh tế” còn có “tiền lương siêu ngạch” của công nhân
Như vậy, thặng dư kinh tế = Giá trị thặng dư + tiền lương siêu ngạchNhững người cấp tiến, dựa vào quan điểm của D Ricardo về tiềnlương, cho rằng, tiền lương công nhân được xác định ở mức tối thiểu để nuôisống anh ta và gia đình Họ gọi đó là mức “tồn tại tối thiểu” Như vậy, họ bỏqua yếu tố tinh thần, lịch sử mà chỉ tính tới yếu tố vật chất trong tiền lương
Vì cho tiền lương chỉ là mức “tồn tại tối thiểu”, nên tiền lương của công nhân
ở các nước công nghiệp phát triển bao gồm hai phần: một phần là mức “tồntại tối thiểu Họ coi đó là mức mà nhà tư bản trả lại công nhân Phần thứ hai làtiền lương siêu ngạch Họ coi đây là phần thưởng mà nhà tư bản trả cho côngnhân Phần này phải lấy từ lợi nhuận độc quyền của nhà tư bản
Trang 20TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1 Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế Nxb thống kê HN 2003
2 Lịch sử các học thuyết kinh tế Nxb thống kê HN 1996
3 Lịch sử các học thuyết kinh tế (tập bài giảng) Nxb chính trị quốc gia HN 1997
4 C.Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, tập 26 (phần I, II, III, IV) Nxb chính trị quốc gia HN 1995
3 Sản xuất giá trị thặng dư có đồng nghĩa với bóc lột giá trị thặng dưkhông?
Trang 211.1 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển
* Biểu kinh tế của F.Kene
“Biểu kinh tế’ được đánh giá là một trong những cống hiến to lớn đốivới lịch sử các tư tưởng kinh tế của nhân loại C.Mác nhận xét: Việc làm nàythực hiện vào giữa thế kỷ XVIII thuộc thời kỳ ấu trĩ của kinh tế chính trị, làmột tư tưởng hết sức thiên tài, rõ ràng, là một tư tưởng thiên tài nhất trong tưtưởng mà khoa kinh tế chính trị đã đề ra cho đến bây giờ Mitabeau, mộtngười theo trường phái trọng nông đã ca ngợi biểu kinh tế của F Kene, xem
nó là một trong 3 phát minh quan trọng nhất: Phát minh ra tiền tệ; phát minh
ra nghề in; biểu kinh tế của F Kene
- Những giả định của F.Kene khi nghiên cứu tái sản xuất
+ Chỉ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn Bởi như C.Mác phân tích saunày nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là nghiên cứu yếu tố hiện thực của tíchluỹ, của tái sản xuất mở rộng
+ Lấy tư bản hàng hoá làm điểm xuất phát, sau này C Mác cũng đãlàm như vậy
+ Không tính đến biến động về giá cả (giá cả bằng giá trị)
+ Không tính đến ngoại thương, đây là giả định cần thiết mà sau nàySismondi và phái dân tuý Nga đã không hiểu khi phân tích lý luận tái sản xuất
+ Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội cả về hiệnvật và giá trị Quá trình lưu thông sản phẩm gắn với lưu thông tiền tệ, tiền trở
về điểm xuất phát ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất
Trang 22+ Trao đổi tổng sản phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: Giaicấp sở hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất.
+ Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm 7 tỷ Frăng, trong đó 5 tỷ là sảnphẩm nông nghiệp, 2 tỷ là sản phẩm của giai cấp không sản xuất
+ Trong 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp có: 1 tỷ bù đắp tư bản ứng trướcđầu tiên; 2 tỷ để bù đắp khoản ứng ra hàng năm (tư bản lưu động); 2 tỷ sảnphẩm thuần tuý nộp cho giai cấp sở hữu
+ Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp của giai cấp không sản xuấtđược phân thành: 1 tỷ để bù đắp hao phí nguyên vật liệu; 1 tỷ để bù đắp tưliệu tiêu dùng
- Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiềnmặt với tư cách là tiền tô để trả cho giai cấp sở hữu
* Biểu kinh tế của F.Kene phân tích quá trình vận động của tổng sảnphẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện thông qua 5 hành vi và
có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau:
* Quá trình tái sản xuất diễn ra như sau:
- Giai cấp sản xuất trả cho giai cấp sở hữu 2 tỷ tiền tô Giai cấp sở hữukhông sản xuất gì chỉ tiêu dùng sản phẩm thuần tuý:
+ Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ mua hàng tiêu dùng ở giai cấpsản xuất Vậy là 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp ra khỏi lưu thông đi vào tiêu dùngcủa giai cấp sở hữu
+ Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền còn lại tiếp tục mua hàngcông nghệ của giai cấp không sản xuất Như vậy là 1 tỷ trong 2 tỷ sản phẩmcông nghiệp đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu
+ Hành vi 3: Sau khi nhận được 1 tỷ của giai cấp sở hữu, giai cấpkhông sản xuất đem tiền đó mua tư liệu sinh hoạt của giai cấp sản xuất Nhưvậy, giai cấp sản xuất đã thực hiện được 2/5 sản phẩm của mình
Trang 23+ Hành vi 4: Giai cấp sản xuất lại dùng 1 tỷ vừa nhận được mua tư liệusản xuất của giai cấp không sản xuất Vậy là đã thực hiện xong sản phẩm củacủa giai cấp không sản xuất.
+ Hành vi 5: Giai cấp không sản xuất lại đem 1 tỷ vừa nhận được muanguyên liệu nông nghiệp của giai cấp sản xuất Như vậy, kết quả là giai cấpsản xuất đã bán 3 tỷ sản phẩm, còn 2 tỷ sản phẩm để bù đắp chi phí hàng năm
và số tiền mặt là 2 tỷ
Như vậy có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giản đơn
* Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu biểu kinh tế của F.Kene:những công lao của F Kene là:
- Đã sử dụng khá thành thạo phương pháp trừu tượng hoá khoa học.Đưa ra những giả định cơ bản là đúng và chỉ trên cơ sở những giả định đómới nghiên cứu được quá trình tái sản xuất tư bản xã hội
1 tû mua n«ng s¶n (Hµnh vi 1)
1 tû mua hµng c«ng nghÖ phÈm (Hµnh vi 2)
Trang 24- Đã phân tích sự vận động của tổng sản phẩm xã hội trên cả hai mặtgiá trị và hiện vật, nghiên cứu sự vận động của sản phẩm kết hợp với sự vậnđộng ngược chiều của tiền tệ.
- Phân tích sự lưu thông tiền tệ phải theo quy luật tiền bỏ vào lưu thôngphải quay về điểm xuất phát ban đầu, vì nếu tiền không quay về điểm xuấtphát ban đầu thì quá trình tái sản xuất sẽ không thể diễn ra
Tuy vậy, trong phân tích biểu kinh tế, F Kene còn có hạn chế là chưathấy được cơ sở tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản xuấtgiản đơn trong công nghiệp cũng khó thực hiện được; đánh giá sai vai trò sảnxuất công nghiệp
* Lý thuyết tái sản xuất của A.Smith
A.Smíth dựa trên cơ sở lý luận về giá trị lao động để xây dựng lý luậntái sản xuất, song cho rằng giá trị của hàng hoá bao gồm các thu nhập: tiền -công, lợi nhuận, địa tô Theo ông “tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba cáinguồn ban đầu của bất cứ thu nhập nào tổng giá trị trao đổi hay giá cả củasản phẩm hàng năm, nhất thiết phải chia thành ba bộ phận đó” Như vậy tổnggiá trị của hàng hoá chỉ có ( v + m), chỉ bằng giá trị mới sáng tạo ra, còn bộphận giá trị cũ tham gia vào quá trình sản xuất đã bị A.Smíth loại ra khỏi giátrị của hàng hoá Ông coi giá trị của tư liệu sản xuất nằm trong tiền lương, lợinhuận và địa tô
Sai lầm của A.Smíth là ông lẫn lộn toàn bộ giá trị của sản phẩm với
giá trị mới sáng tạo ra; ông không thấy được tính chất hai mặt của lao độngsản xuất hàng hoá, không thấy được sự chuyển dịch giá trị cũ và sự sáng tạo
ra giá trị mới A.Smíth đã vấp phải vấn đề cần phải phân biệt trong lý luận, đó
là hai hình thức lao động, một thứ cung cấp những vật phẩm tiêu dùng, cònmột thứ cung cấp những sản phẩm không phải để tiêu dùng (máy móc, công
Trang 25cụ) Lênin cho rằng, chỉ cần tiến một bước nữa là thừa nhận hai hình thức tiêudùng Tiêu dùng cho cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất
Như vậy, A.Smíth đã có một bước tiến dài so với những người trước
ông Ở ông đã có mầm mống thiên tài về sự phân chia nền sản xuất thành haikhu vực Chính K.Marx đã bắt gặp “gợi ý” của A.Smíth và đã phát triển lênthành một lý luận đặc sắc về sự thực hiện sản phẩm xã hội trong xã hội tư bảnchủ nghĩa Về tái sản xuất mở rộng, C Mác đánh giá cao A.Smith đã phânbiệt được tích luỹ và cất trữ, tích luỹ thì phải giành một phần giá trị thặng dư
để thuê thêm công nhân Luận điểm này của A.Smith nói rõ nguồn gốc củatích luỹ tư bản là lao động Nhưng ông đã phạm sai lầm cho rằng việc tích luỹ
tư bản chỉ là việc biến giá trị thặng dư thành tư bản khả biến phụ thêm, không
có tư bản bất biến phụ thêm
Lý luận tái sản xuất của A.Smith đã đề cập đến sản phẩm - chia làm hainhóm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng; giá trị sản phẩm gồm có c + v +
m, phân chia nền sản xuất xã hội 2 khu vực, nhưng phân tích lý giải đầy đủ,đúng đắn những vấn đề này phải chờ đến Mác mới giải quyết được
- Đánh giá những sai lầm của A.Smith về lý luận tái sản xuất củaC.Mác: A.Smith mắc phải sai lầm mà C.Mác gọi là sai lầm “Tính điều” là đã
bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá Ông xây dựng lý luận tái sản xuất trên cơ sởcho rằng giá trị của hàng hoá gồm các khoản thu nhập: Tiền lương, lợi nhuận,địa tô Đôi lúc ông thấy sự trái ngược sai lầm “Tính điều”, ông đã dùng kháiniệm tổng thu nhập “Để lén lút”đưa C vào
Nguồn gốc sai lầm của A.Smith là ông đã lẫn lộn toàn bộ giá trị củasản phẩm với giá trị mới sáng tạo ra, ông không thấy được tính chất 2 mặt củalao động sản xuất hàng hoá
* Lý luận tái sản xuất của D.Ricardo
- Không hiểu được sự phân chia C, V nên đã sai lầm giống như A
Trang 26Smith đã bỏ qua C, không thể hiểu được ảnh hưởng C/V của tư bản.
- D Ricardo cũng không phát triển được lý luận tái sản xuất (V.I.Lênin
đã nhận xét: Các nhà kinh tế học sau A.Smith đã lặp lại sai lầm của A.Smith,nên không tiến thêm được một bước nào cả)
- Tuy nhiên, D.Ricardo cũng đã đưa ra được một số luận điểm đúng, ví
dụ, xem tiêu dùng là do sản xuất quyết định và muốn mở rộng sản xuất thìphải tích luỹ, phải làm cho sản xuất vượt quá tiêu dùng, sản xuất tạo ra thịtrường Nhưng ông không nhìn thấy được mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêudùng dưới chủ nghĩa tư bản, D.Ricardo cho rằng, chủ nghĩa tư bản không cóhạn chế trở ngại gì trong việc mở rộng sản xuất, trừ phi có sự giảm sút Ôngphủ nhận khả năng khủng hoảng sản xuất thừa, trong chủ nghĩa tư bản mua,bán là thống nhất Cho nên nếu có mất cân đối chỉ là mất cân đối cục bộ,D.Ricardo mất 1823, bản thân chưa nhìn thấy được khủng hoảng đầu tiên củachủ nghĩa tư bản vào năm 1825 Đó là lý do lịch sử tha thứ cho quan điểm sailầm trên của ông
1.2 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường và tiểu
tư sản
1.2.1 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường
* Lý luận tái sản xuất của Malthus
Malthes xác định nguồn gốc của giá trị là các chi phí về lao động sống,lao động vật hoá và lợi nhuận tư bản ứng trước Ông coi lợi nhuận là khoảndôi ra ngoài chi phí về lao đông sống và lao động quá khứ chứ không phải làkhoản dôi ra từ lao động Từ định nghĩa giá trị như trên, Malthes cho rằng,công nhân không thể mua hết tất cả các hàng hoá được sản xuất ra, vì tổng sốtiền lương của công nhân thấp hơn tổng giá trị hàng hoá một khối lượng bằnglợi nhuận Điều đó dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa Để khắc phục tình
Trang 27trạng khủng hoảng sản xuất thừa phải có giai cấp thứ ba, ngoài công nhân vànhà tư bản đó là tầng lớp không sản xuất như tăng lữ, quân đội, cảnh sát Ông gọi đó là “người thứ ba” để chống khủng hoảng sản xuất thừa.
* Lý luận tái sản xuất của J.B.Say
J.B.Say muốn chứng minh cho tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhịpnhàng không có khủng hoảng kinh tế Do đó, ông cho rằng trong chủ nghĩa tưbản không có mâu thuẫn giữa sản xuất với tiêu dùng, nên không có khủnghoảng kinh tế Ông đưa ra “quy luật thị trường” Nội dung của quy luật là,dưới chủ nghĩa tư bản, khối lượng hàng hoá sản xuất ra bằng với khối lượnghàng hoá tiêu thụ Tổng giá trị của sản xuất sẽ ngang với tổng giá trị củanhững thu nhập được phân phối và tổng giá trị thu nhập này tự nó sẽ gây ranhững chi tiêu (về tư liệu tiêu dùng cũng như tư liệu sản xuất)
Người sản xuất cũng như người tiêu dùng, người bán đồng thời làngười mua, nên cung bằng cầu Vì vậy, không thể có thừa tổng cung Ôngthừa nhận là, có thể mất cân đối giữa cung và cầu, xẩy ra ở một vài loại hànghoá riêng lẻ do những người muốn mua hàng hóa ấy không đủ phương tiện đểmua Điều đó có nghĩa họ không đủ vật phẩm để đổi lấy vật phẩm mà họ cần.Trường hợp này do có sự sản xuất yếu kém ở một bộ phận hoặc một ngànhnào đó Đây là nguyên nhân mất cân đối Có thể giải quyết tình trạng nàybằng đẩy mạnh sản xuất ở những ngành yếu kém ấy
Cũng như D.Ricardo, việc J.B.Say phủ nhận khủng hoảng kinh tế làmột sai lầm Thực tế sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bác bỏ quy luật thị trườngcủa Say
Trong lý luận tái sản xuất, J.B.Say đã đánh tráo đối tượng nghiên cứu:Thay quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng sản xuất hàng hoá giản đơn, từ
đó rút ra kết luận cho sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hàng hoá giảnđơn thì khủng hoảng sản xuất thừa chỉ là mầm mống, khả năng; nhưng trong
Trang 28sản xuất tư bản chủ nghĩa thì khả năng ấy tất yếu trở thành hiện thực Sảnxuất thừa ở đây không phải là sản xuất thừa sản phẩm mà là sản xuất thừahàng hoá, nghĩa là thừa so với khả năng thanh toán của đa số nhân dân laođộng, chứ không phải thừa so với nhu cầu tự nhiên của họ.
1.2.2 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tiểu tư sản
Lý thuyết tái sản xuất của Símondi:
Đây là lý thuyết trung tâm của Símondi Ông cho rằng mục đích củasản xuất là tiêu dùng Từ “tín điều” Smith, ông đi đến kết luận là sản xuất phùhợp với thu nhập, mà thu nhập quyết định tiêu dùng, nên sản xuất phải phùhợp với tiêu dùng Đó là điều kiện để thực hiện sản phẩm Nếu sản xuất vượtquá tiêu dùng, hay nói cách khác, là “tiêu dùng không đầy đủ’, thì có một bộphận sản xuất thừa ra, không thực hiện được giá trị Vì vậy, dẫn đến sản xuấtthừa, khủng hoảng kinh tế
Theo ông, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thị trường trong nướcthường xuyên bị thu hẹp Nguyên nhân của nó là người công nhân bị bầncùng thất nghiệp, nên thu nhập của họ bị giảm sút, nhà tư bản không tiêu dùnghết thu nhập của họ, mà còn tích luỹ lại một phần thu nhập đó Người sản xuấtnhỏ bị phá sản, nên cũng bị giảm thu nhập và giảm tiêu dùng Như vậy, sảnxuất tăng lên mà tiêu dùng lại không đầy đủ, nên thị trường trong nước khôngthể thực hiện được “siêu giá trị”
Muốn thực hiện được “siêu giá trị” ông thấy là phải có ngoại thương.Ông cho rằng, ngoại thương như “lỗ thông hơi” của chủ nghĩa tư bản Nhờ đó
mà “siêu giá trị” có thể được thực hiện Song, vì nước nào cũng đẩy mạnhhoạt động ngoại thương, nên việc thực hiện “siêu giá trị” vẫn khó khăn Dovậy, ông cho rằng, phải có tầng lớp “người thứ ba” để tăng sức mua, tăng tiêudùng “người thứ ba” này không phải là giai cấp công nhân, không phải là nhà
tư bản, mà là giai cấp tiểu tư sản, những người thợ thủ công, nông dân cá thể,tiểu thương
Trang 29Như vậy, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là do giaicấp tiểu tư sản bị phá sản Con đường giải quyết khủng hoảng sản xuất thừa làcủng cố phát triển sản xuất nhỏ
Símondi là đại biểu cho lợi ích của giai cấp tiểu tư sản Lý luận tái sảnxuất của ông có nhiều sai lầm: đã đồng nhất sản xuất với thu nhập nên khôngphân biệt được sự khác nhau giữa tư bản và thu nhập quốc dân (theo A.Smith,ông cho sản xuất hàng năm và thu nhập quốc dân bằng nhau và hơn nữa ông chorằng thu nhập quyết định sản xuất); không phân biệt được tiêu dùng cho sản xuất
và tiêu dùng cá nhân và do đó không thấy được vai trò của tích luỹ sản xuất
1.3 Lý luận tái sản xuất của C.Mác và Ph.Ănghen
Lý luận tái sản xuất của C.Mác đã vạch rõ quy luật vận động của tổngsản phẩm xã hội, mâu thuẫn của quá trình tái sản xuất và những nguyên lý củamột nền sản xuất lớn
Về mặt nội dung, tái sản xuất có những nội dung chủ yếu: Tái sản xuấtcủa cải vật chất, tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất quan hệ sản xuất và táisản xuất môi trường Về mặt quy mô, tái sản xuất được chia thành 2 loại: Táisản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
* Những giả định theo phương pháp trừu tượng hoá khoa học củaC.Mác
Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, C.Mác đã nêu ra 5 giảđịnh sau:
Thứ nhất: Toàn bộ nền kinh tế trong nước là nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa thuần tuý, nghĩa là nền kinh tế tư bản chỉ có hai giai cấp cơ bản là tưbản và công nhân
Thứ hai: Hàng hoá được mua và bán theo đúng giá trị, giá cả phù hợp
với giá trị
Thứ ba: Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) không đổi.
Trang 30Thứ tư: Toàn bộ tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm
trong một năm
Thứ năm: Không xét đến ngoại thương.
Nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội là nghiên cứu điều kiện thực hiệntổng sản phẩm xã hội, do đó C Mác đã sử dụng phương pháp trừu tượng hoávới năm giả định trên
Ví dụ: C.Mác đã chứng minh quy luật cấu tạo hữu cơ c/v nâng cao,nhưng ở đây C.Mác lại giả định c/v không đổi để cho vấn đề không trở nênphức tạp
Chính C.Mác đã khẳng định không thể hình dung nổi chủ nghĩa tư bản
mà không có ngoại thương, thị trường dân tộc tất yếu gắn với thị trường thếgiới Nếu đưa ngoại thương vào chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp hơn, cònbản chất vẫn không đổi
* Điều kiện thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
- Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn+ Sơ đồ của C Mác:
Khu vực I: 4000 c + 1000v + 1000m = 6000 (TLSX)
Khu vực II: 2000c + 500v + 500m = 3000 (TLTD)
+ Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơnĐiều kiện thứ nhất: I (v + m) = IIc; Cung về TLSX của khu vực I vềTLSX mới ra (Ngoài phần bù đắp TLSX của khu vực I) phải bằng cầu vềTLSX của II Điều này phản ánh quan hệ cung – cầu về TLSX và TLTD của
2 khu vực trong nền kinh tế
Điều kiện thứ hai: I (c + v + m) = Ic + IIc ; Tổng cung về TLSX của xãhội bằng tổng cầu về TLSX trong năm của cả hai khu vực
Điều này phản ánh quan hệ cung cầu về TLSX trong xã hội
Điều kiện thứ ba: II (c + v + m) = I (v + m) + II (v + m) tổng cung về
Trang 31TLTD của xã hội bằng tổng cầu về tư liệu tiêu dùng trong năm của xã hội.Phản ánh quan hệ cung cầu về TLTD trong xã hội.
Có đủ 3 điều kiện đó thì tái sản xuất giản đơn tư bản xã hội mới đượctiến hành trôi chảy
- Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng+ Sơ đồ tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác
I: 4000c + 1000v + 1000m = 6000 (TLSX)
II: 1500c + 750v + 750m = 3000 (TLTD)
Điều kiện tiên quyết của tái sản xuất mở rộng là phải tích luỹ tư bản + Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng:Điều kiện thứ nhất: I (v + m) > IIc; khu vực I phải sản xuất nhiềuTLSX hơn so với với tái sản xuất giản đơn, để khu vực II có thêm TLSX mởrộng sản xuất
Điều kiện thứ hai: I (c + v + m) > Ic + IIc
Nhằm đảm bảo cung cấp TLSX cho cả hai khu vực Toàn bộ giá trị sảnphẩm của I > giá trị TLSX đã tiêu dùng của cả 2 khu vực
Điều kiện thứ ba: II (c + v + m) < I (v + m) + II (v + m) Thu nhậpquốc dân phải lớn hơn phần tiêu dùng của xã hội, có như vậy mới có tíchlũy cho TSX mở rộng Giá trị mới của hai khu vực phải lớn hơn giá trị sảnphẩm của khu vực II
Ba điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng
tư bản xã hội, trong đó điều kiện thứ nhất được coi là điều kiện cơ bản, cònđiều kiện thứ hai và thứ ba là điều kiện thực hiện tổng sản phẩm trong tái sảnxuất tư bản xã hội
1.4 V.I Lênin phát triển lý luận tái sản xuất tư bản xã hội
Trang 32V.I.Lênin đã vận dụng lý luận tái sản xuất của C.Mác để nghiên cứu sựhình thành thị trường TBCN do kết quả trực tiếp của việc phát triển lực lượngsản xuất dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật.
- V.I.Lênin đã nêu lên nội dung của quy luật ưu tiên phát triển sản xuấtTLSX Quy luật này là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng trong điềukiện kỹ thuật tiến bộ
- V.I.Lênin chia khu vực I thành 2 khu vực nhỏ: Khu vực sản xuấtTLSX để chế tạo TLSX và khu vực sản xuất TLSX để chế tạo TLTD Điềukiện này thể hiện lao động cơ khí hoá đã thay thế lao động thủ công
- V.I.Lênin đã cho cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) tăng lên, sẽ thấy sảnxuất TLSX tăng nhanh hơn sản xuất TLTD
Như vậy, sản xuất TLSX để chế tạo TLSX tăng nhanh nhất; sau đếnsản xuất TLSX để chế tạo TLTD và chậm nhất là sự phát triển của sản xuấtTLTD Từ sự nghiên cứu của C.Mác trình bày thì có thể rút ra một kết luậnduy nhất đúng là: Trong một xã hội TBCN, sản xuất TLSX tăng nhanh hơnsản xuất TLTD
V.I.Lênin đưa ra các kết luận quan trọng mang ý nghĩa thực tiễn:
Một là, CNTB đã thực hiện được tái sản xuất mở rộng vì nó tự tạo rathị trường cho nó (chủ yếu là thị trường TLSX)
Hai là, muốn tái sản xuất mở rộng phải tích luỹ tư bản
Ba là, muốn tái sản xuất mở rộng phải có quan hệ tỷ lệ thích hợp giữahai khu vực (I và II), giữa các ngành
TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1 Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế Nxb thống kê HN 2003
2 Lịch sử các học thuyết kinh tế Nxb thống kê HN 1996
Trang 333 Lịch sử các học thuyết kinh tế (tập bài giảng) Nxb chính trị quốcgia HN 1997.
4 Lịch sử các học thuyết kinh tế Nxb thống kê HN 1996
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Vai trò của tái sản xuất đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
ở nước ta hiện nay?
2 Từ nghiên cứu lý luận tái sản xuất của chủ nghĩa Mác – Lênin, phântích thực trạng tái sản xuất trong thời gian vừa qua, chỉ ra những bất cập vàđưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy tái sản xuất ở nước ta trong thờigian tới?
Trang 34Tư tưởng tự do kinh doanh được đặt nền móng từ các nhà kinh tế học
tư sản cổ điển, bắt đầu từ Wiliam Petty, được Ađam Smith tục phát triển Saunày được LeonWalras (Trường phái cổ điển mới) kế tục trong lý thuyết “Cânbằng tổng quát” Xuất phát từ quan điểm: giá cả và tiền công linh hoạt nêncác doanh nghiệp chỉ cung ứng ở mức sản lượng tiềm năng, từ đó LeonWalrascho rằng sự can thiệp của nhà nước là có hại Tư tưởng tự do kinh doanh giữ
vị trí thống trị cho đến tận những năm 30 của thế kỷ XX
Wiliam Petty (1623- 1687) là người đầu tiên đề cập đến tư tưởng tự dokinh doanh W.Petty thừa nhận và tôn trọng các quy luật kinh tế, kết quả vạch
ra mối liên hệ phụ thuộc, nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng, Theo Ông,trong chính sách kinh tế cũng như trong y học cần phải tính đến những quátrình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡng bức riêng của mình đểchống lại những quá trình đó
Tư tưởng tự do kinh tế được tiếp tục ở trường phái trọng nông Pháp.Chủ nghĩa trọng nông Pháp xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII Trong thời giannày ở Pháp, phái trọng thương Pháp gắn chặt với chế độ phong kiến chuyênchế Vì vậy đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất, làm cho đời sống nông dânngày càng khó khăn, công nghiệp không phát triển, giao thông khó khăn cản
Trang 35trở thương mại, nông nghiệp bị suy sụp, ruộng đất bị bỏ hoang, nông dân lìa
bỏ ruộng đồng đi kiếm sống, nông nghiệp suy tàn dẫn đến nền kinh tế khủnghoảng Từ đó đã nảy sinh cuộc cách mạng bắt đầu từ nông nghiệp, đưa nôngnghiệp ra khỏi tình trạng bế tắc, suy sụp, vạch rõ con đường và các hình thứcphát triển nông nghiệp, giải phóng người nông dân khỏi quan hệ phong kiến.Chủ nghĩa trọng nông Pháp đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa trọng thương
Những người trọng nông bảo vệ tư tưởng tự do kinh tế, họ cho rằngcác quy luật khách quan chi phối hoạt động của con người Trường phái nàytin tưởng tuyệt đối vào quy luật tự nhiên và tính hơn hẳn của nông nghiệp.Đại biểu xuất sắc nhất của trường phái trọng nông là Francois Quesney, Ông
đã xây dựng lý thuyết về “Trật tự tự nhiên” Theo Francois Quesney, có hailoại quy luật: Quy luật vật lý tác động trong lĩnh vực tự nhiên và quy luật luân
lý tác động trong lĩnh vực kinh tế Quy luật kinh tế cũng tác động tất yếu nhưquy luật vật lý
Họ kêu gọi nên tuân theo quyền tự nhiên và trật tự tự nhiên, đó làquyền chính đáng và tối cao cơ bản Đối lập với quyền tự nhiên là quyền lậppháp đem lại Chủ nghĩa trọng nông Pháp phủ nhận vai trò của Nhà nước Họcho rằng chính quyền nên để nông dân tự lựa chọn đất đai, cây trồng, phươngpháp canh tác, tự do cạnh tranh và hoạt động, tự do trao đổi của cải sản xuấtđược tuỳ theo lợi ích cá nhân của họ Nhà nước nên tránh can thiệp vào cáchoạt động của các cá nhân và của dân chúng, vì sự can thiệp sẽ làm sai lệchtrật tự tự nhiên, mà trật tự tự nhiên bao giờ cũng hoàn hảo
Theo họ tự do hoạt động kinh doanh thực sự phải dựa trên cơ sở: “Conngười phải được quyền sở hữu bản thân mình, sở hữu các động sản, bất độngsản, tức là có quyền chiếm đoạt các sản nghiệp, cũng giống như quyền củacon chim én đói với tất cả con ruồi nhỏ đang bay trong không khí” Họ thừanhận vai trò tự do của con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, khôngthể thiếu được
Trang 36Tuy nhiên, để tự do của người này không xâm phạm vào quyền tự docủa người khác, cần phải có nhà nước và sự bảo vệ của nó bằng luật pháp Do
đó, tư hữu - an sinh - tự do là nền tảng của một trật tự xã hội đầy đủ
Tư tưởng tự do kinh tế này được tiếp tục phát triển trong tác phẩm
nghiên cứu về “Nguyên nhân và bản chất giàu có của các dân tộc”, lý thuyết
về “Con người kinh tế" và “Bàn tay vô hình” của Adam Smith
Học thuyết của A Smith nghiên cứu sâu sắc và ủng hộ tư tưởng tự do
kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế Thuyết “Bàn tay vô hình” là học thuyết chủ đạo của Adam Smith về tư tưởng tụ do kinh tế Theo
Smith trong kinh doanh, các thực thể kinh tế (Con người kinh tế, doanhnghiệp ), luôn chịu chi phối bởi “bàn tay vô hình” và chịu tác động bởi lợiích cá nhân Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế; cầnthiết phải có sự tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch.A.Smith đề cao vai trò cá nhân, ủng hộ sự tư hữu tư nhân, ca ngợi cơ chế tựđiều tiết của nền kinh tế thị trường Theo Ông, lợi ích cá nhân là động lực cho
cá nhân và cả xã hội phát triển Để bàn tay vô hình hoạt động, cần cho cánhân sở hữu các điều kiện vật chất cho sản xuất (người lao động sở hữu bảnthân, tức tự do thân thể; nhà kinh doanh sở hữu các động sản và bất độngsản ), nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, mà chỉ như “Người línhcanh gác đêm” bảo vệ chế độ tư hữu và giữ gìn trật tự an sinh xã hội
Tư tưởng tự do kinh tế của A.Simth được David Ricardo tiếp tục kếthừa và phát triển Ông phát hiện ra những quy luật kinh tế và tôn trọng tự dokinh tế Tư tưởng nêu trên được đề cập trong tác phẩm “Nghiên cứu về bảnchất và nguyên nhân giầu có của các dân tộc” (1776), sau này đượcLeonWalras (trường phái cổ điển mới) tiếp tục trong lý thuyết “Cân bằng tổngquát” Cơ sở lý luận của tư tưởng này là quan điểm: Do giá cả và tiền cônglinh hoạt nên các doanh nghiệp chỉ cung ứng ở mức sản lượng tiềm năng và